| Hoàng
Lê nhất thống chí
Ngô gia văn phái
Hồi thứ chín
Tướng Tây Sơn Võ Văn Nhậm đem quân lấn ngoài
bờ cõi
Quan bình chương Trần Công Xán vâng mệnh bàn việc
biên cương
Lại nói, khi ở Cao Bằng bắt đầu nhóm lên việc binh
đao, Lưu Tiệp, Nguyễn Hàn đều có sai trạm đưa thư
về kinh cáo biến. Tiệp bảo Hàn là phản nghịch, Hàn
bảo Tiệp là phản nghịch, và cả hai đều nói "hiện
đã điều quân vây đánh, chỉ khoảng mươi ngày sẽ bắt
được kẻ có tội".
Quan Bình chương là Phan Lê Phiên thấy thư ấy,
rất kinh hãi mà rằng:
- Hai người đều là bậc thanh cao trong hàng triều
sĩ, ra ngoài gánh việc phiên trấn, đáng lẽ phải
vì việc công mà quên việc riêng. Sao họ không chịu
nén lòng theo nhau, lại đi cầm đầu cho cuộc quấy
rối? Đồng loại làm hại nhau, đó cũng là một biến
cố lớn! Đáng ghê! Đáng sợ!
Vừa lúc ấy, các viên trấn thủ ở bốn lộ Lạng, Thái,
Tuyên, Hưng cũng đều lần lượt gửi thư hoả tốc về
cáo biến.
Vua Lê bèn bàn với Bằng công Nguyễn Hữu Chỉnh.
Chỉnh thưa:
Các trấn đem quân đánh nhau, cũng là thói thường
của bọn tù trưởng ở ngoài bờ cõi, chỉ cần hạ một
bức thư, báo cho họ biết đường hoạ phúc, chắc họ
sẽ nghe theo; dẹp yên việc ấy, không có gì khó.
Riêng việc biến cố ở Cao Bằng thì lại do các viên
quan trấn gây ra, bọn tù trưởng trên ấy đều không
đáng trách. Cái tội tự tiện đánh nhau, giết nhau,
triều đình sẽ phải có phân xử, vậy xin giao xuống
cho các quan họp bàn.
Quan đồng bình chương Trương Đăng Quỹ và quan tham
tri Nguyễn Diệu đều xin gấp rút chọn hai viên đốc
trấn, đốc đồng khác có tài cán lên coi thay việc
trấn và luôn thể hạ chiếu chỉ triệu bọn Tiệp, Hàn
về triều, may ra mới dẹp được cuộc rối loạn.
Phan Lê Phiên nói:
- Phải đấy! Rễ chùm, mấu cứng, phải dùng đồ sắc!
Viên quan cử lên coi trấn ấy, không thể dễ dàng
muốn sai ai cũng được.
Quan đồng bình chương Trần Công Xán nói tiếp:
- Việc loạn ở Cao Bằng hồi xưa, viên đại thần đã
qua đời là Nghĩa thành vương (tức Nguyễn Đình Bá)
vâng mệnh lên vỗ về, ở luôn trên trấn ấy bảy năm,
nhân dân các bản đều mến phục. Sau ông mất tại đó,
dân địa phương vì thương tiếc mà nghỉ mấy phiên
chợ liền, lại dựng đền mà thờ. Quan xu mật hiện
nay là Nguyễn Đình Tố (người ở Khoái Châu, Hưng
Yên (Hải Hưng)), chính là con của Nghĩa thành vương.
Ông ta là người rộng rãi có độ lượng, tài xử sự
cũng nhanh, vậy xin gấp rút sai đi ngay.
Vua Lê bèn dùng Nguyễn Đình Tố làm đốc trấn Cao
Bằng, lại sai Nguyễn Huy Túc làm phó đốc trấn. Rồi
hạ lệnh giục hai người lên đường đi nhậm chức. Tố
nói:
- Cha thần sinh ở Cao Bằng, mất ở Cao Bằng, thần
cũng sinh ở Cao Bằng, nay lại lên đó, việc sau này
có thể biết rồi. Vậy xin cho phép mười ngày để thần
xếp đặt việc nhà.
Khi hai người lên đến giáp giới tỉnh Lạng Sơn thì
nghe tin Hàn đã bị hại, Tố giật mình nói:
- Thương thay! Chết cũng bởi số, nhưng cũng lỗi
tại ta đi chậm quá.
Rồi Tố lập tức giục trạm đi dấn lên. Khi trạm đầu
báo tin quan đốc trấn mới là Nguyễn Đình Tố đến,
thì tù trưởng các nơi đều vui mừng chờ đón. Lúc
Tố đến Cao Bằng thì Lưu Tiệp còn đang đóng cửa thành,
đánh nhau với dư đảng của Hàn. Tố vâng lệnh tuyên
bố uy đức của nhà vua, bảo hai bên phải giải tán
quân lính, rồi thong dong xếp đặt mọi việc, trong
cõi lại yên ổn như thường.
Một hôm, vừa gặp lúc đến yết kiến đền thờ Nghĩa
thành vương, Tố bảo Nguyễn Huy Túc:
- Tôi nay có lẽ sắp đi với tiền nhân, trách nhiệm
ở bờ cõi rất nặng, rồi đây sẽ có những việc khó
khăn, lớn lao. Trấn này thông với đất Trung Quốc,
trước đây tôi đã đi sứ, cũng hơi thuộc đường lối,
chỉ giận rằng không ở đây nữa. Ông còn ở đây, hãy
nên cố gắng mà đương lấy mọi việc.
Tố lại ngoảnh sang các phiên trưởng mà dặn rằng:
- Sau khi tôi đi rồi, các ông chỉ nên nghe lệnh
quan phó đốc trấn, chớ như vừa rồi, gây ra nhiều
việc, thì thế nào cũng có vạ lớn.
Mọi người đều lấy làm lạ mà hỏi, thì Tố nói:
- Điều đó rất khó nói.
Chiều hôm ấy, Tố về doanh rồi chết.
Huy Túc một mặt lo liệu việc ma chay, một mặt viết
thư báo tin cho triều đình, rồi vâng chỉ của vua
lĩnh chức đốc trấn Cao Bằng.
Lại nói vua Tây Sơn từ lúc rút quân về Nam, đến
Nghệ An ở lại mười ngày, giao cho phó tướng Nguyễn
Duệ giữ đất này, cùng đô đốc là Chiêu Viễn đóng
quân ở doanh Hà Trung (thuộc Hà Tĩnh).
Sau đó, vua Tây Sơn lại đổi Chiêu Viễn vào đóng
ở châu Bố Chánh, Nguyễn Duệ coi doanh Kỳ Hoa, tả
quân Võ Văn Nhậm đóng một đạo binh quan trọng ở
Động Hải (Bố Chánh thuộc Quảng Bình. Kỳ Hoa thuộc
Hà Tĩnh. Động Hải tức Đồng Hới Quảng Bình (Bình
Trị Thiên)) để làm thanh viện và nương tựa lẫn nhau.
Lúc Nguyễn Hữu Chỉnh theo kịp, thượng công (tức
Nguyễn Huệ) ngỏ lời yên uỷ dỗ dành, và bảo ở lại
Nghệ An làm việc với Duệ. Bề ngoài tuy thượng công
hứa hẹn với Chỉnh bằng những lời ngon ngọt, nhưng
lại dặn riêng Duệ rằng:
- Chỉnh vốn người Bắc, trốn về với ta. Xem bộ hắn
ta là kẻ phản phúc gian dối, không thể tin cậy.
Vả chăng người Bắc oán hắn rất sâu. Ta định bỏ hắn,
để cho hắn chết. Không ngờ hắn lại trốn chết cố
theo. Nghệ An là quê hương của hắn. Nay để nhà ngươi
ở lại đây, ngươi nên xem xét kỹ lòng người xứ này,
xem theo ai chống ai và tình hình động tĩnh của
hắn ra sao. Chiêu Viễn ở gần đấy, gọi một tiếng
là đến. Tả quân cũng không xa đây lắm, có việc nên
chăng, ngươi phải viết thư báo tin cho mau, và cùng
bàn định với ông ta. Sống ở nước ngoài đất khách,
ngươi phải để ý đề phòng cẩn thận, chớ có dễ dàng
tin theo Chỉnh mà mắc mưu của hắn. Ngươi phải cẩn
thận lắm mới được!
Sau khi thượng công về Nam, Chỉnh liền được chiếu
chỉ nhà vua vời đưa quân ra Bắc. Lúc đi, Chỉnh để
đồ đảng của mình là Nguyễn Duật ở lại làm việc với
Duệ. Ngày chia tay lên đường, Chỉnh hai ba lần dặn
dò và mong mỏi Duệ đối xử tử tế với mình; Duệ cũng
tiễn đưa Chỉnh rất ân cần, tử tế.
Sau khi Chỉnh nắm được chính quyền, thường thường
gửi thư qua lại với Duệ và biếu tặng rất hậu. Rồi
Chỉnh lại ngầm sai người gọi Duật về kinh thành,
để hỏi tình hình Tây Sơn và dò ý tứ của Duệ. Khi
đã biết vua Tây Sơn và thượng công gây ra việc binh
đao, anh em đánh lẫn nhau, tiếp đó lại được thư
của Duệ hẹn cùng chung sức đánh vào phương Nam,
thì Chỉnh rất mừng, cho là có thể mưu đồ lấy lại
Nghệ An. Chỉnh bèn thu xếp mười lạng vàng và mười
tấm đoạn, sai Duật đem vào biếu Duệ, nhân tiện lấy
việc lợi hại hoạ phúc mà doạ hắn ta, lại dỗ dành
hắn ta giữ lấy Nghệ An, ngăn chặn Chiêu Viễn, đắp
lại luỹ cũ Hoành Sơn, và vạch sông Gianh làm nơi
biên giới như việc cũ trước đây (chỉ vào cuộc chiến
tranh Trịnh-Nguyễn (1627-1672), sau lấy sông Gianh
làm giới hạn để phân chia Đàng trong (Nam) và Đàng
ngoài (Bắc)).
Lúc đó, người do thám của Võ Văn Nhậm ở Nghệ An
biết rõ việc ấy, vội vàng về báo với Nhậm. Nhậm
lập tức đưa binh phù triệu Duệ về. Duệ chống lại
và nói:
- Tướng ở ngoài, mệnh lệnh của vua cũng có khi
không cần phải theo. Lúc thượng công về, giao cho
tôi đóng giữ đất này, nay tôi không dám tự tiện
rời khỏi trấn này.
Nhậm được thư ấy, liền nói:
- Quả nhiên Duệ làm phản rồi!
Tiếp đó, Nhậm lập tức gửi thư cáo biến với thượng
công; trong thư có đoạn viết: "Ngày trước dùng
Chỉnh tức là nhốt hổ gầm giường; ngày nay để Duệ,
ấy là nuôi ong tay áo. Xin kíp phát quân ra Bắc,
trước hết giết Duệ ở Nghệ An, rồi sau bắt Chỉnh
ở Thăng Long. Dẹp loạn và bình định đất nước ở một
chuyến này, cơ hội không nên bỏ lỡ..."
Trong lúc ấy, thượng công và vua Tây Sơn đang có
việc xích mích, cuộc binh đao giữa hai anh em chưa
dàn xếp xong, việc nội chiến ở miền Nam so với mối
lo ở miền Bắc còn cần kíp hơn nhiều. Bởi vậy thượng
công không quả quyết thi hành, bèn sai người báo
cho Nhậm biết, và giục Nhậm tiến quân ra Nghệ An
bắt Duệ; rồi sau đó sẽ kiểm điểm quân lính, thu
góp lương thực, chia đi đóng đồn ở các nơi hiểm
yếu và viết thư hỏi Chỉnh về tội thông mưu với Duệ,
xem Chỉnh trả lời ra sao. Nếu Chỉnh còn biết sợ
hãi, cố tình chối cãi, thì nên để đó sau này sẽ
liệu, chưa nên đánh vội. Bằng Chỉnh ra mặt chống
lại, thì như thế là đã có cớ, lúc ấy cứ việc tiến
quân ra đánh cũng không muộn gì.
Nhậm vâng lệnh, tự mình đem đại quân đi gấp. Chỉ
trong một ngày một đêm. Nhậm đã đến doanh Kỳ-hoa
nhưng Duệ không còn ở đó nữa.
Số là mùa đông năm trước, thượng công nghe tin
Chỉnh đem quân ra bảo vệ vua Lê, sợ có biến cố gì
khác xảy ra, liền sai Nguyễn Văn Đức đem quân giữ
phủ Diễn Châu cùng làm chức trấn thủ với Duệ, để
nương tựa lẫn nhau. Kịp đến khi nghe miền Nam đánh
nhau, Duệ và Đức đều gửi thư cho Chỉnh, mưu đồ hợp
lực kéo quân về Nam, để thừa cơ làm loạn. Hai người
hẹn rằng, sau khi đắc thắng, sẽ trả các đất từ Hoành
Sơn ra Bắc, nhưng Chỉnh còn chần chừ chưa quyết
định. Đến khi bị Nhậm phát giác, hai người bèn bỏ
xứ Nghệ đem quân theo mạn ngược trở về Nam. Duệ
về với vua Tây Sơn. Còn Đức vốn là một đại thần
của chúa Nguyễn, bị quân Tây Sơn bắt, phải miễn
cưỡng theo, chứ thực ra cũng không thích làm việc
cho họ. Lúc đó, Đức bèn theo đường núi tây nam,
trốn thẳng sang nước Tiêm La. Đức đi đã lâu, thượng
công mới nhận được thư hoả tốc của Nhậm, vội sai
quân đón bắt, nhưng cũng không kịp.
Nhậm đến Nghệ An, kiểm điểm binh lính, trưng thu
lương thực, sửa soạn khí giới, rồi đưa thư ra Thăng
Long, trách móc Chỉnh gay gắt.
Chỉnh được thư, giấu giếm không cho vua Lê biết,
đoạn viết thư tạ tội, đại ý nói:
"Trước kia tôi bỏ nước cũ về với chúa công,
nhờ ơn cho vào nơi mạc phủ, hầu hạ túi cung roi
ngựa đến bốn năm năm. Mùa thu năm ngoái, đại quân
về Nam không cho tôi biết, tôi cũng hiểu là thượng
công muốn dùng cách đó thử tôi, để xem tôi lui tới
ra sao. Lúc bấy giờ người Bắc cố lưu lại, nhưng
tôi quả quyết bỏ họ mà đi. Nghĩ rằng lòng này không
có đổi thay như thế, bậc cao minh hẳn đã soi xét
đến. Lúc vào yết kiến thượng công ở Vĩnh Dinh, tôi
xin đi theo quân đội về Nam, ngài bảo tôi rằng:
"Quận Thạc, quận Nhưỡng còn làm ngang trở không
thể không trừ khử, nhà ngươi hãy ở lại đây, lo liệu
một phen". Tôi dám đâu không theo mệnh lệnh?
Tôi đã đem thân mình mà ruổi rong theo chúa (chỉ
vua Tây Sơn) thì còn dám tiếc gì? Vì thế, tôi tự
mình xông pha tên đạn, quyết chiến với bọn Thạc,
Nhưỡng. Chỉ mong trừ được hai tên ngang ngược ấy,
thì sẽ lập tức quay ngựa về Nam. Nhưng, tháng trước
đây đánh ở Sơn Tây, mới bắt được có quận Thạc. Riêng
Nhưỡng thì vẫn đang vùng vẫy ở miền Hải Dương, còn
cần phải đánh dẹp vất vả. Bởi vậy cho nên tôi chưa
về triều được. Những kẻ ghét tôi, thấy tôi ở lại
đất Bắc, liền đặt lời gièm pha. Sao họ không xét
rằng, sau khi thượng công về Nam, tôi chỉ ở lại
Nghệ An hơn mười ngày, rồi lại ra Bắc ngay, thì
còn thời giờ đâu mà mưu toan với Duệ? Từ đó kẻ Nam
người Bắc, ai làm việc nấy, tôi có hề đi lại gì
với Duệ đâu? Nếu xét rõ tình cảnh ấy, hẳn không
cần phải chờ tôi biện bạch gì thêm. Vả chăng, cái
ngày mà tôi làm việc chung với tướng quân, không
phải không lâu. Nếu quả là tôi có lòng gì khác,
hồ dễ đã giấu được cho khỏi lộ? Tướng quân nên chuyển
đạt lời tôi đến trước chúa công, thì tôi đội ơn
nhiều lắm!".
Nhận được thư ấy, biết Chỉnh còn có ý sợ, Nhậm
bèn viết bức thư khác, dùng lời nói khéo, vỗ về
khuyên giải làm cho Chỉnh yên lòng, để mình còn
có thì giờ sắp đặt công việc ở trấn Nghệ An. Tiện
thể Nhậm cũng không quên buộc Chỉnh phải mau chóng
dẹp yên quận Nhưỡng, rồi rút quân về Nam, để khỏi
trái với ý định.
Chỉnh tiếp thư, không hiểu rõ ý của Nhậm, cho rằng
Nhậm có thể dễ lừa phỉnh, chắc không phải lo gì
về mặt Nam.
Lúc bấy giờ, trong ngoài đều đồn đại rằng tướng
của Tây Sơn là tả quân Nhậm, kéo quân ra Nghệ An,
kén chọn lính tráng, định kỳ xuất phát, chẳng bao
lâu quân Tây Sơn lại tới, Thăng Long sẽ thành nơi
chiến trường. Vì thế, trong kinh nhốn nháo, người
chuyển vận đồ đạc, người bồng bế con cái, tranh
nhau đi lánh nạn, lính Kim Ngô (tên một đội lính
bảo vệ trật tự ở kinh đô) ngăn cấm không nổi. Nhiều
viên đình thần đem việc đó tâu với vua Lê. Vua Lê
liền triệu Chỉnh vào hỏi. Chỉnh tâu:
Người ta đồn nhảm, không cần phải tin. Thần đã
cho người đi xem xét biết hết sự thật rồi. Vua Tây
Sơn từ khi ở đất Bắc về Nam, liền vào thẳng chỗ
quốc thành (tức Qui Nhơn). Còn thượng công thì đóng
ở Phú Xuân, nghỉ quân để vui chơi, ban bố hiệu lệnh,
sửa sang thành luỹ. Bao nhiêu vật liệu, khí giới
và các báu vật lấy được ở Bắc về, thượng công đều
thu chứa lấy. Vua Tây Sơn sai sứ thần tuyên triệu,
thượng công không chịu về triều. Mọi việc phong
quan, ban tước và xử trí này khác, thượng công đều
tự tiện quyết định. Vua Tây Sơn sai người đưa ấn
phong thượng công làm Bắc bình vương và hỏi những
thứ của báu lấy được ở phủ chúa Trịnh. Thượng công
cũng chống lại không chịu dâng lên. Vua Tây Sơn
giận lắm. Vì thế, anh em mới gây ra cuộc binh đao,
ở trong một nhà mà đối với nhau còn dữ dội hơn là
đối với nước thù địch. Ngay trong bọn họ với nhau
cũng không đủ thì giờ để cứu vãn được tình thế cấp
bách, đâu còn dám ra khỏi Hoành Sơn một bước để
tranh quyền với ta? Ta cần làm sao cho việc nội
trị có quy mô yên ổn, thế là sẽ được thái bình.
Đến như trấn Nghệ An, thì chỉ cần sai một sứ giả
đem bức quốc thư sang, bàn bạc với họ, một lời nói
là xong. Ta cùng họ đã thành thông gia, ta cũng
không cần lo xa làm gì.
Quan ngự sử là Nguyễn Đình Giản nói:
- Xưa nay tình hoà hảo thông gia, nói chung đều
không thể tin cậy. Chỉ có bằng vào chước tự cường
của mình, làm sao cho bờ cõi được vững chắc, ngăn
chặn sự dòm dỏ của kẻ địch, thì như vậy mới có thể
tin cậy được. Bắc bình vương cũng là một bậc anh
hùng, xem thường ông ta không được đâu!
Chỉnh nói:
- Tôi đã từng cộng sự với ông ta, há lại không
biết? Ông ta quả thật là bậc anh hùng, nhưng nhân
tài xứ Bắc ta đây cũng không thua lắm. Vạn nhất
xảy ra việc binh đao, tôi xin chọi với ông ta, còn
như bọn Võ Văn Nhậm đã chiếm giữ đất Nghệ An, nhưng
cứ mặc y. Quân nước ngoài ở trọ, chẳng qua cũng
như bọn Chiêu võ, Thuận nghĩa hồi xưa chiếm đóng
bảy huyện phía nam Nghệ An, không bao lâu rồi cũng
lại về ta (chỉ việc các tướng của họ Nguyễn là Thuận
nghĩa hầu, Nguyễn Hữu Tiến và Chiêu võ hầu Nguyễn
Hữu Dật, đánh chiếm được bảy huyện ở nam sông Lam
hồi xưa (1655-1660), trong cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn.
Về sau, các miền ấy, lại bị họ Trịnh giành lại).
Vua Lê nói:
- Nhân tình lo sợ, nghi ngờ, họ đang coi việc động
tĩnh ở phương Nam để định sự thể khinh trọng của
nước nhà. Ngươi nên tính kỹ liệu trước cho lòng
trẫm được thư thái.
Chỉnh tâu:
- Đó là việc trong chức phận của thần, dám đâu
không hết lòng hết sức?
Ngoài mặt, Chỉnh tuy nói năng khuếch khoác để trấn
áp mọi người, nhưng kỳ thực, từ khi được thư của
Nhậm, trong lòng Chỉnh rất đỗi lo sợ.
Một hôm vào chầu, Chỉnh đuổi người chung quanh
ra mà nói kín với nhà vua rằng:
- Võ Văn Nhậm tuy là tả tướng trong soái phủ của
Bắc bình vương, nhưng vốn là rể vua Tây Sơn. Lâu
nay chỉ huy việc quân, y vẫn đóng vai con rể của
nước. Nay thấy anh em Tây Sơn xích mích nhau, Nhậm
là kẻ đứng giữa, cố nhiên là phải tuân theo tướng
lệnh, nhưng trong lòng lẽ nào lại hoàn toàn không
nghĩ gì đến bố vợ? Vừa rồi có tên do thám nói rằng:
"Nhậm ở Động Hải nghe việc biến cố ấy, bèn
xin về hầu. Nhưng Bắc bình vương không cho mà bảo
ra thẳng Nghệ An. Nay Nhậm đang ở vào địa vị nguy
ngập và bị ngờ vực, nên không thể không có ý trông
về bên trong. Thần xin nhân cơ hội này để thương
lượng về việc bờ cõi Nghệ An. Hết sức nhắm nhe vào
ân tình của họ, lại lễ nhiều, lời ngọt, ngoài có
Văn Nhậm tâng bốc, trong có công chúa đỡ lời; Bắc
bình vương dù có lòng nào chăng nữa cũng không thể
không gượng theo mình.
Vua Lê khen phải.
Sáng hôm sau, nhân buổi chầu sớm, vua nói với các
quan rằng:
- Nghệ An liền kề với Thanh Hoa, là một quận phụ
vào đất "thang mộc". Con em đất ấy vẫn
được lựa chọn vào quân túc vệ, làm nanh vuốt cho
nước nhà. Đất ấy không thể để cho người khác chiếm
giữ mãi. Trẫm sắp sai người đi Phú Xuân để bàn với
Bắc bình vương một phen. Vậy các ngươi hãy chọn
xem người nào có thể sung vào sứ bộ?
Trương Đăng Quỹ thưa:
- Nguyễn Đình Giản và Phạm Đình Dư là người ngay
thẳng có thể làm được việc ấy.
Phan Lê Phiên nói:
- Giản cương trực có thừa mà mềm mỏng ôn hoà thì
không đủ. Dư tuy nghị luận vững vàng, nhưng xét
việc hơi chậm. Bắc bình vương là người rất quỷ quyệt,
hay dùng mưu khôn lung lạc người ta. Trong lúc bàn
bạc, khi nén xuống, khi nâng lên, không biết đường
nào mà dò. Thần sợ rằng hai người ấy tranh biện
với ông ta, thế nào rồi cũng làm hỏng việc nước.
Đình thần bàn mãi việc cử người, luôn mấy ngày
vẫn chưa ngã ngũ. Chỉnh bèn tâu để Trần Công Xán
đi.
Vua Lê nói:
- Được đấy!
Nhà vua bèn đòi Công Xán vào triều mà bảo rằng:
- Người là người trung trinh vì nước, lòng trẫm
đã biết. Ngày xưa Phú Bật sang sứ Khiết Đan, làm
cho nước địch phải kính trọng, công việc xong xuôi
(Khiết Đan là một nước ở phía đông bắc Trung Quốc,
thường hay xâm phạm bờ cõi. Đời vua Tống Nhân tông,
quân Khiết Đan đến đóng sát biên giới và bắt nhà
Tống phải cắt đất. Phú Bật được đi sứ, đã hết sức
biện bạch, kết quả làm cho quân Khiết Đan phải lui
và từ đó hai nước hoà bình được đến vài chục năm).
Chuyến đi này, cũng giống như thế. Ngươi cố vì trẫm
vâng mệnh ra đi, cũng là Phú Bật của nước Nam đó.
Một vị hoàng thân cùng đi, trẫm đã sai Duy án (Cương
mục chép là Duy Hiên), còn một viên phó sứ nữa thì
tuỳ ngươi chọn lấy.
Xán hăng hái xin đi, và nói:
- Vua phải lo thì bề tôi mang nhục; thần đâu dám
sợ khó khăn? Trong những người từng làm việc chung
với thần mà thần đã biết, thì có Ngô Nho là có thể
dùng được.
Vua ưng lời, rồi ban mệnh lệnh xuống. Cả triều
đình đều khen là chọn được người xứng đáng.
Duy án là con thứ sáu của vua ý tông, và là ông
chú họ nhà vua. án tính người cẩn thận, nho nhã
và trung thực. Công chúa Ngọc Hân khi chưa lấy chồng,
vẫn thường tôn kính án, mọi việc nên chăng đều hỏi
ý kiến của án. Kịp đến khi công chúa về với Bắc
bình vương, án thường nhân có việc tới gặp, Bắc
bình vương cũng khen án nói năng lui tới có lễ độ.
Lúc đó vì muốn luôn tiện hỏi thăm công chúa, cần
chọn người hoàng thân xứng đáng, nên mới sai án
đi.
Trần Công Xán, người làng Yên Vỹ, huyện Đông An,
đỗ tiến sĩ khoa Nhâm thìn (1772) đời Cảnh Hưng.
Hồi Đoan nam vương còn coi giữ việc nước, Xán đang
ở chức tả thị lang bộ công, được sung chức hành
tham tụng. Trong cuộc biến loạn năm Bính ngọ (1786),
quân Tây Sơn tiến sát kinh kỳ, quân quận Thạc tan
vỡ, các quan văn vỡ đang đêm đua nhau bỏ trốn, riêng
có mình Xán xin với chúa quyết liều một trận sống
chết. Xán bận quần áo trận, tay cầm gươm, hộ vệ
chúa Trịnh ở lầu Ngũ Long.
Lúc Bắc bình vương vào kinh đô, vua Lê trước sai
các quan lần lượt tới yết kiến. Thấy thần sắc của
Bắc bình vương rực rỡ, nghiêm nghị, ai cũng run
sợ, hãi hùng, riêng có Xán là tiến thoái như thường,
không mất phong thể của bậc đại thần. Bắc bình vương
lấy làm lạ, đã mấy lần mời Xán đến, hỏi việc Bắc
Hà. Hỏi đâu Xán đáp luôn đấy, nói như suối chảy,
không có chỗ nào ngập ngừng, ấp úng.
Có lúc Bắc bình vương cố ý hỏi vặn, nhưng Xán vẫn
lật qua lật lại, tranh cãi nhiều lần, không mảy
may chịu khuất phục.
Bắc bình vương bảo với tả hữu rằng:
"Ta nghe Bắc Hà rất nhiều nhân tài, nay đến
tận nơi thì chỉ thấy Trần Công Xán là có khí sắc
con người mà thôi!".
Công Xán vốn được Bắc bình vương kính trọng là
như vậy.
Xán đã từng làm thượng thư bộ Hình, được vào chầu
ở toà Kinh-diên, rồi lĩnh chức đồng bình chương
quân quốc trọng sự. Trong triều đình, Xán là người
cương trực, gặp việc có tài ứng biến, lại thêm có
học thuật, vì vậy ai cũng tôn trọng. Xán lại là
thầy học của Chỉnh. Mỗi khi Chỉnh có tâm sự gì,
không thể nói với người ngoài thì không khi nào
không hỏi Xán để quyết định. Vì thế, chuyến này
Chỉnh mới xin vua để sai Xán đi.
Ngô Nho người làng Tri Chỉ, huyện Phú Xuyên. Trước
kia Xán làm đài quan (tức là chức ngự sử) coi việc
chấm thi, đã lấy Nho đậu tiến sĩ khoa ất-tỵ (1785),
nên Nho vẫn theo lễ thầy học mà đối đãi với Xán,
thường tới nhà Xán luôn. Nho thấy Xán là người khảng
khái, có khí tiết lớn lao, không thèm xu phụ quyền
thế, nên hai bên thanh khí hợp nhau. Xán cũng yêu
và trọng Nho, vì thế bảo Nho đi với mình.
Khi Nho mới nghe lệnh ấy, liền vào gặp Xán. Xán
bảo Nho rằng:
- Nước địch đè lấn, tin báo ngoài bờ cõi đang gấp.
Nay chỉ biết ra đi chưa biết ngày về. Tôi là đại
thần của nước nhà, nghĩa phải ra đi, sống thác không
cần tính đến. Ông mới làm quan, ngôi thứ còn thấp,
ở nhà lại có mẹ già. Trung hiếu không thể vẹn cả
đôi đường, hãy thử nghĩ cho kỹ, tôi không dám ép
ông đâu.
Nho trả lời:
- Tướng công chịu ơn dày của nước, tôi thì chịu
ơn trí ngộ cao cả của tướng công. Đại thần gánh
việc cho nước nhà, kẻ sĩ chết vì người tri kỷ, đều
là nghĩa phải như thế, ngoài ra không biết đến việc
gì khác.
Xán mừng mà rằng:
- Mạnh mẽ thay! Kẻ sĩ như thế đáng gọi là "đạt"
vậy.
Rồi đem Nho vào yết kiến vua. Vua cho Nho lạy ở
nội điện và hỏi:
- Nhà ngươi đã ôm ấp kinh luân, từng trải việc
đời thử liệu xem chuyến đi này ra sao?
Nho tâu:
- Ngửa trông phúc lớn của nhà nước và mưu sâu của
miếu đường, công việc xong xuôi tưởng cũng không
khó. Vả lại lúc ấy đã có vị lương thần chuyên việc
ứng đối, chắc sẽ không để nhục đến mệnh vua. Thần
làm người giúp việc chỉ biết làm hết chức phận mà
thôi.
Nhà vua gật đầu, rồi sai quan bình chương Phan
Lê Phiên cùng với Bằng công Nguyễn Hữu Chỉnh họp
nhau bàn việc thảo quốc thư. Trong thư đại lược
nói rằng:
" Nghệ An là đất nền móng trong cuộc trung
hưng của bản triều, cùng với Thanh Hoa, đều là quận
chân tay của nhà nước, quan văn tướng võ phần nhiều
ở đó mà ra. Quân lính túc vệ cũng đều kén chọn đinh
tráng ở xứ ấy sung vào. Nếu như dùng người mà bỏ
đất, để họ cách trở quê hương, xa lìa thân thích,
xét về nhân tình, rất là trái ngược. Đức vua quý
quốc trọng điều tín nghĩa, hoà với láng giềng, "suy
bụng ta ra bụng người", chắc rằng không việc
nhỏ mọn nào mà không soi thấu, huống chi là việc
rõ ràng như thế. Nghĩ lại đức vua quý quốc lúc mới
ra Bắc, vốn lấy việc tôn phò làm nghĩa thứ nhất.
Tiên đế lúc sinh thời, từng mời ngồi trên giường,
cầm tay cùng trò chuyện. Tiếng ngọc còn văng vẳng
bên tai, vội quên sao được? Kịp đến khi tiên đế
tựa ghế trối trăng mọi việc, ân cần lo cho kẻ tiểu
tử này tuổi còn trẻ nhỏ, muốn nhờ vào phúc ấm của
quý quốc, để làm nơi nương tựa. Gần đây nghe tin
quý quốc sai tướng ra đóng ở Nghệ An, lòng người
ngờ vực, có kẻ cho rằng đó là do bọn bề tôi ở biên
giới gây việc, không phải bản ý của quý quốc vương.
Đến lúc tiếp được bức thư tư ra, mới biết thật là
vâng mệnh lệnh của quý quốc vương. Trong thư vin
vào cớ mùa thu năm ngoái bản quốc đã hứa cắt đất
khao quân. Kẻ tiểu tử này mới lên ngôi, chưa được
rõ nguyên nhân việc trước, đã sai đình thần tra
cứu lại cái ước cắt đất, thì là hai châu Bố Chánh,
Minh Linh (Bố Chánh nay gồm các huyện Bố Trạch,
Quảng Trạch, Tuyên Hoá thuộc Quảng Bình. Minh Linh
nay là Vĩnh Linh, Do Linh thuộc Quảng Trị (Bình
Trị Thiên)), chứ không liên can gì tới bờ cõi xứ
Nghệ An. Vả lại, hồi đó đã vâng lời quý quốc vương
dụ rằng: "Quả là đất đai của nhà Lê, một tấc
cũng không lấy". Nay nếu khao quân bằng đất
thì không bằng khao quân bằng của. Vậy xin tính
số thu nhập hàng năm của đất ấy, dùng làm chi phí
khao quân; rồi cứ hàng năm đưa đến biên giới, làm
thành định lệ lâu dài. Xa trông quý quốc vương xét
cho, để trọn tình hoà hảo của hai nước. Cả nước
chúng tôi đều lấy làm may lắm!".
Thư thảo xong, đệ lên vua xem. Vua sai lấy ở kho
nội phủ một số vàng, đoạn màu, và lụa vải thổ sản
làm đồ biếu tặng. Rồi vời Trần Công Xán vào trước
mặt để dặn dò và giao cho mang đi. Ngay hôm đó,
bọn Xán lên đường. Trăm quan đều tiễn chân đến ngoài
kinh thành. Riêng Nguyễn Hữu Chỉnh thì cùng Xán
ngủ đêm ở chùa Thịnh Liệt. Xán bảo Chỉnh rằng:
- Bắc bình vương là người hiểm sâu khó lường, chuyến
đi này vị tất ông ta đã nghe theo. Nhưng tôi đã
vâng mệnh nhà vua thì cứ liệu chiều biện luận, liều
chết mà cãi. Còn công việc phòng bị thì sau khi
tôi đi, ông phải chú ý thêm, chớ có sơ suất. Dọc
theo địa phận miền núi Thanh Hoa, phải gấp rút chia
đồn đóng giữ các nơi hiểm yếu đề phòng quân bộ.
Cửa biển trong trấn Sơn Nam cũng nên đóng cọc ngang
dòng sông, để chặn quân thuỷ. Nếu họ trái lời hẹn,
mà tới đánh, thì ta đã có phòng bị trước, không
đến nỗi để việc tới nơi mới hấp tấp.
Chỉnh nói:
- Xin thầy cứ đi, không cần phải quá lo. Lời nói
của thầy ai chẳng nghe theo? Nếu không thì việc
điều khiển quân lính của trò đây cũng chẳng kém
ai. Vạn nhất có biến, há lại không làm nổi một trận
sấm vang chớp giật, nghiêng biển, lật núi cho sướng
bụng hay sao? Họ dù kiệt hiệt, cũng chẳng làm được
gì.
Xán không cho lời nói của Chỉnh là phải.
Khi sứ thần đến đầu huyện Quỳnh Lưu thì có viên
tướng của Võ Văn Nhậm sai ra đóng đồn ở đấy đón
vào trong đồn. Xem xét đồ vật xong rồi, y chỉ cho
ba viên sứ thần và mười tám người tôi tớ cùng đi,
còn bao nhiêu đều bảo về.
Đến doanh trấn Nghệ An, Nhậm sai thết tiệc khoản
đãi, rồi thong thả hỏi Xán rằng:
- Quan văn quan võ ở Bắc Hà như cụ phỏng được mấy
người? Vua Lê giao nước cho tên giặc Chỉnh, ý ngài
tự nghĩ ra sao? Tôi nay đã lĩnh binh phù, sớm tối
sẽ kéo thẳng ra Thăng Long, trước chém đầu giặc
Chỉnh sau hỏi tội vua Lê sao lại bội ơn dong nạp
đứa làm phản? Rồi báo cáo rõ ràng với sĩ dân Bắc
Hà, cho họ biết tại sao chúng tôi phải dùng quân?
Vua Lê đã không giữ nổi nước nhà thì các trấn từ
Thanh Hoa trở ra, chúng tôi không lấy, người khác
cũng sẽ lấy. Nghệ An là một mảnh đất cỏn con, cắt
hay không cắt có quan hệ gì đến việc mất còn của
nước nhà mà phải đi xa xin xỏ cho mất công trèo
non lội suối. Tôi chỉ e rằng con chim đã lìa tổ,
đến lúc bay về lại không có cành để đậu nữa mà thôi!
Xán im lặng, mọi người nghe nói đều sợ hãi. Đến
lúc trở ra, Xán bảo Nho rằng:
- Người Tây Sơn hành binh như bay, tiến quân rất
gấp. Xem họ đi lại vùn vụt mau chóng như thần, chống
không thể được, đuổi không thể kịp, xưa nay chưa
hề nghe có giặc nào như thế. ý tôi đã lo xa, phải
đề phòng trước, lúc đi đã dặn ông Bằng phải như
thế, như thế, không biết ông ấy có nhớ không? Nếu
hơi chậm trễ, việc sẽ không kịp.
Nói xong, than thở hồi lâu rồi đi. Nho bèn nói
với Xán rằng:
- Xem mưu kín của chủ tướng họ, thì việc thôn tính
nước mình họ đã sắp đặt sẵn sàng. Việc tôn phù năm
trước chẳng qua chỉ là mượn cớ mà thôi. Bọn lang
sói vốn sẵn bụng ác, quyết không thể nói bằng nhân
nghĩa. Bây giờ xe sứ thần đã ra khỏi bờ cõi, kinh
thành sắp bị nạn đinh đao, sự thế quá gấp, phải
tính đường quyền biến để làm cho được việc, không
nên câu nệ. Vả xem ông Bằng từ khi đắc chí đến nay,
đai vàng ngang lưng, bộ dạng nhơn nhơn tự đắc, không
còn như hồi trước "nhá rễ cây mà làm nên việc".
Tôi e rằng ông ta lính quýnh ra trận, thế nào cũng
bị Võ Văn Nhậm bắt mất. Lúc đó vua ta đi hay ở lại,
cũng chưa dám chắc. Chúng ta phải trù tính thế nào
để ngấm ngầm xoay lại then máy, may ra mới có thể
cứu vãn được. Chỉ cần cho nước được yên, dầu có
tự tiện cũng không hề gì. Nếu cứ vâng chỉ cũ, cố
tranh cãi về việc Nghệ An, thì đúng như người ta
vẫn nói: "Cướp đã vào nhà còn sửa phên dậu".
Như thế thật là thất sách. Vậy xin chữa lại quốc
thư để mang đi.
Xán nói:
- Chữa! Chữa như thế nào?
Nho nói:
- Chữa rằng: "Họ Trịnh chuyên quyền, vua Lê
đã không còn nước. May nhờ quý quốc vương tôn phò.
Nếu trời còn phù hộ nhà Lê, tiên đế đâu đến nỗi
qua đời. Tôi là cháu kế tự còn nhỏ tuổi, nghĩ rằng
gánh vác không nổi, để nhục cho xã tắc. Kinh thư
có chữ "làm khách", Kinh thi nói rằng
"có khách" (hai câu này đều có nghĩa là
muốn nhường nước cho người khác. ở đây, tỏ ý nhường
cả nước cho Tây Sơn, và chỉ xin cắt lại cho một
mảnh để vua Lê lấy chỗ thờ cúng tổ tiên mà thôi),
đều là việc cũ đời xưa. Kính xin cắt cho một phần
đất để được nối đời thờ phụng tổ tiên. Thật là thuận
mệnh trời để mà sống còn, cầu lòng thương của trời
về dài lâu vậy!". Nếu họ chỉ muốn giữ nước,
không có bụng làm hại mình, thấy nói như thế chắc
hẳn phải mừng rỡ, thế nào họ cũng thả sứ thần về
nước và chia đất cho ta. Nhân thế ta có thể khuyên
vua ta hãy tạm ở đất ấy. Họ không có lòng ngờ ta,
thì sẽ không đến dòm giỏ nữa. Bấy giờ ta sẽ lo tính
dần dần như vua Thiếu Khang ở Luân ấp, vua Câu Tiễn
ở Cối Kê, tự nhiên sẽ có ngày trung hưng. Nếu không
thế, họ đã tức giận mà ra tay hung tàn, thì bọn
mình chỉ làm ma biển khơi. Điều đó tuy chẳng đáng
kể nhưng vua ta sau khi phiêu bạt, long đong, không
còn tấc đất để nương tựa, thì dẫu đến tài như Khổng
Minh cũng khó lòng mà trở tay.
Xán nói:
- Không được! Ông Bằng theo việc quân từ lúc đầu
còn để chỏm, là tay lão luyện trong chốn trận mạc,
nếu như đô thành mắc nạn binh đao, tưởng cũng không
đến nỗi khốn đốn lắm. Hai nước đánh nhau, chưa biết
ai thua ai được. Chúng ta vâng mệnh đi sứ, mới ra
khỏi cõi mà đã chữa quốc thư, mạo lời chúa, chẳng
những bị tội với nước mình, mà nếu bên địch khám
phá ra chỗ lừa dối đó, họ cũng không dong mình;
tai vạ càng lớn, tiếng cười không biết bao giờ mới
hết. Chi bằng cứ minh bạch mà làm, việc thành hay
bại là tại ông trời, ta có lo gì.
Từ đó Nho không dám nói nữa.
Khi đến Phú Xuân, các sứ thần bày lễ vật vào yết
kiến Bắc bình vương. Xán trình quốc thư lên. Bắc
bình vương xem qua một lượt, rồi vứt xuống đất mà
nói to:
- Thư này ai làm? Nói ra toàn điều vô nghĩa lý.
Người Bắc quen dùng lời lẽ để dử người. Ta không
phải trẻ con mà lừa dối được đâu!
Xán vẫn không đổi nét mặt, ung dung trả lời:
- Xin đại vương hãy bớt giận, để tôi nói rõ. Nếu
muốn giết tôi, tôi cũng xin nói một lời rồi chết.
Bắc bình vương vốn trọng Xán, liền đổi nét mặt
mà rằng:
- Ngày xưa ta vượt biển ra Bắc, phá Thăng Long,
diệt họ Trịnh, cả nước khiếp sợ, trong triều ngoài
nội đều chịu bó tay, không ai dám làm gì. Lúc bấy
giờ nếu ta chiếm giữ đất nước, xưng đế, xưng vương,
gì mà chả được? Nhưng vì ta xa mến đức của tiên
đến, nên đem cả cõi đất nguyên vẹn trả lại ngài.
Cơ đồ thống nhất đều do tay ta gây dựng lại. Bắc
triều lại dùng chế sách "thượng công"
để đền đáp ta. Chẳng biết "thượng công"?
là danh hiệu gì? Đối với ta có thêm được cái gì
không? Kịp đến khi tiên đế chầu trời, lễ cả sơn
lăng, ta giúp đỡ cho: tự vương nối ngôi, lễ lớn
sách lập, ta chủ trương cho. Nay không cảm ơn những
việc của ta làm, lại chứa chấp kẻ phản ta, chống
cự với ta, mưu đồ dành lại đất Nghệ An. Xử sự như
thế, nhân tình có ai nín nhịn được không? Ta đã
phái ra hai vạn binh mã, sai tả quân Võ Văn Nhậm
thống lĩnh, thẳng tới Thăng Long, chặt đầu cha con
giặc Chỉnh về dâng. Chắc rằng khi Chỉnh nghe tin
quân ta kéo ra, thế nào cũng kèm tự tôn bỏ chạy.
Bấy giờ ở dưới gươm đao, ngọc đá lẫn lộn, không
biết tự tôn có giữ được yên lành hay không? Nếu
có làm sao, người trong nước lại qui oán về ta thì
thật phiền.
Xán thưa:
- Xưa đức Lê Thái tổ dẹp yên quân Ngô, mở mang
nước nhà, công đức như trời. Vua Thánh tông tự mình
làm nên thái bình, rạng danh đời trước, mở rộng
về sau. Từ núi Thạch Bi ra bắc, từ dẫy Đại Lĩnh
(Thạch Bi ở Quảng Nam (Quảng Nam-Đà Nẵng) Đại Lĩnh
ở Khánh Hoà (Phú Khánh)) vào nam, đều làm tôi làm
dân, ai ai cũng phải tôn kính, trải qua hàng trăm
năm. Họ Mạc tiếm ngôi, cả nước đều giận. Đấng tiên
vương hội họp những người đồng chí, dựng lại họ
Lê. Họ Trịnh nối theo cũng vì có công phò Lê, cho
nên mới sai bảo được bốn phương, và được mọi người
hưởng ứng. Từ mấy đời nay, chúa Trịnh tuy là hiếp
chế vua Lê, nhưng chính sóc không đổi thay, chuông
khánh vẫn ở đấy (Chính sóc là ngày mùng 1 tháng
giêng; xưa các vua sáng nghiệp khi lên ngôi thường
đổi chính sóc, đây mượn ý đó để nói đến quyền vua.
Chuông khánh (nguyên văn là chuông và giá khánh)
là những đồ thờ của nhà vua; đây ý nói miếu đường
của nhà vua vẫn tồn tại), thiên hạ vẫn là thiên
hạ của nhà Lê. Đại vương ruổi xe một mạch, thẳng
đến kinh thành, tuy rằng oai danh đã vang dậy khắp
nơi, nhưng cũng do lấy nghĩa cả tôn phò, khiến người
ta tin phục, mới được như vậy. Nếu không, việc vào
nước người ta, đâu có dễ dàng như thế. Tiên đế thoạt
thấy đại vương, tiếp đãi rất là long trọng. Trước
ban sách mệnh làm tước công, rồi sau sẽ phong vương,
đó là điển cũ của bản triều, không phải trả ơn không
hậu, chớ nên thấy như thế mà cho là bạc. Một nước
đã trải hơn ba trăm năm, trời cao chứng giám, lòng
người tôn sùng. Đại vương đem cả cõi đất trả lại
nguyên vẹn, là thể thuận ý trời, chiều lòng dân,
chưa có thể lấy đấy làm ơn. Tiên đế mất đi, hoàng
thượng nối ngôi, mọi việc đều bẩm trước với đại
vương. Đại vương không làm chủ thì ai làm chủ nữa.
Lý đã đến thế, đừng cũng chẳng được. Tôi không dám
khen ngợi để dâng lời ton hót. Đại quân về Nam,
Nguyễn Hữu Chỉnh đuổi theo, đại vương để hắn ở lại
Nghệ An, sao lại bảo hắn làm phản? Nghệ An vốn là
đất cũ của bản triều, bản triều phải giữ lấy bờ
cõi, sao lại nói là tranh giành? Đại vương phái
binh mã ra, nếu là để thăm hỏi, bản triều đã có
lễ nghênh tiếp. Bằng không, thì như người xưa đã
nói: "Nước lớn có quân đánh dẹp, nước nhỏ có
cách chống giữ". Tôi nay đã ra khỏi cõi, việc
ấy không còn dám biết đến. Tự hoàng của nước tôi,
trời đã sai làm vua, đế vương có chân mệnh, gươm
đao cũng phải lựa chọn, đại vương chớ có lo. Nếu
như đại vương cứ thuận lẽ trời mà làm, gây lại nước
đã suy, nối lại họ đã dứt, để cho nước của nhà họ
Lê được yên ổn, thì những người làm tôi làm dân
trong cả nước ai chẳng cảm đội công đức, còn có
oán gì? Nhược bằng làm trái lại, thì sự thế thay
đổi khác thường, tôi đây ngu dại, không thể nào
mà thấy trước được.
Xán cứ cãi đi cãi lại mãi, không chịu khuất phục
một lời nào. Đến lúc trời sắp tối, Bắc bình vương
bảo:
- Hãy ra nhà trọ mà nghĩ đi nghĩ lại cho kỹ!
Xán nói:
- Nghĩ lắm luẩn quẩn lại dễ lầm lẫn, một chết là
xong!
Bắc bình vương nổi giận, sai đem giam Xán vào ngục.
Bọn án và Nho cũng đều bị chia ra giam ở các nơi
khác.
Xán vào ngục, cười nói như thường, Bắc bình vương
sai người đến dò, thấy Xán viết ở chỗ giam đôi câu
đối như sau:
Đạt đức hữu tam, túng vị năng chi, nguyện học.
Tiểu tâm vô nhị, hành kỳ tố dã, hà vưu? (nghĩa
là: Đạt đức có ba, dù chẳng làm nên xin học. Giữ
lòng như một, noi theo chí cũ, oán gì?)
Tư mã Ngô Văn Sở xin giết chết bọn Xán. Bắc bình
vương còn tiếc tài của Xán, bèn bảo trung thư Lê
Văn Kỷ và viên quan bộ Lễ là Vũ Văn Trụ rằng:
- Nhân vật Bắc Hà, Xán cũng vào bậc giỏi đấy! Ta
muốn thu phục hắn để dùng, nhưng mà chắc hắn không
chịu. Các ngươi thử hiểu dụ hắn một phen nữa xem
sao?
Hai người bèn đến chỗ giam Xán, thấy Xán mang gông
nằm sấp, liền nói:
- Ông già sao lại tự mình làm khổ mình như vậy?
Xán trả lời:
- Cũng là số mệnh đấy thôi!
Kỷ nói:
- Quân tử có khi không cần theo số mệnh, chế ngự
được số mệnh là cốt ở mình. Ví như đánh bạc, đồng
tiền một sấp một ngửa; ta theo kẻ được mà đánh,
thiên hạ sẽ khen ta là người đánh bạc giỏi.
Xán nói:
- Bởi thế cho nên đó chỉ là phường cờ bạc, chứ
không phải đạo của người quân tử. Tôi nghe nói:
"Kẻ làm bề tôi phải chết vì chữ trung".
Đấy là lời dạy của người xưa!
Hai người biết là không thể làm lung lay được ý
chí của Xán, liền đi ra và nói với nhau:
- Nhà Hán có Tô Tử Khanh (tức Tô Vũ đời Hán Võ
đế. Khi đi sứ Hung Nô, Tô Vũ bị Hung Nô giữ lại,
bắt nuôi dê ở Bắc Hải 19 năm ròng, mà Tô Vũ vẫn
giữ khí tiết không chịu khuất phục) nhà Lê có Trần
Công Xán. Đáng thương, nhưng cũng đáng ghét thay!
Vừa gặp lúc đó, vua Tây Sơn gửi thư ra kể tội lỗi
của Bắc bình vương và sắp phái quân tới đánh. Tướng
sĩ dưới cờ của Bắc bình vương có kẻ trốn đi, Bắc
bình vương liền bảo Trần Văn Kỷ rằng:
- Nay nước ta có việc lôi thôi, lòng người còn
phân vân. Việc biến trong nhà không nên để nước
láng giềng nghe biết. Sứ Bắc ở đây, tai vách mạch
rừng. Họ ở xa đến để dò xét ta, giữ họ ở lại thì
họ biết rõ tình hình trong nước, hoặc giả nhân đó
họ xúi giục, gây ra việc không hay. Thả họ về thì
lại bị họ rêu rao làm lộ việc, người Bắc Hà mà biết,
thì lại sinh lòng khinh rẻ ta. Bởi thế, ta định
ném bọn họ xuống biển, để cho hết tiếng tăm dấu
vết, vậy cứ theo chước đó mà làm.
Rồi Bắc bình vương sai đô đốc là Võ Văn Nguyệt
sắp sẵn vài chiếc thuyền biển, nói phao là đưa sứ
thần về Bắc.
Lúc bọn Xán vào từ giã, Bắc bình vương nói:
- Các ông hãy về trước, chờ lúc tôi ra ngoài ấy
vời vào gặp mặt, sẽ có cách xử trí việc Nghệ An.
Rồi Bắc bình vương lại đem tặng họ một trăm nén
bạc và bảo:
- Đây là của công chúa gửi tặng, các ông đừng chối
từ.
Tiếng gọi là đưa họ về, nhưng thật ra Bắc bình
vương đã ngầm bày mưu cho Nguyệt, người ngoài không
ai được biết.
Tháng ba, mùa xuân năm Đinh vị (1787) thuyền từ
cửa Tư Dung (thuộc Thuận Hoá, nay là cửa Tư Hiền)
giương buồm ra đi, không mấy ngày đã đến cửa biển
Đan Nhai thuộc thị trấn Nghệ An. Nguyệt cùng bọn
sứ thần ghé thuyền vào bờ, rồi cùng lên bộ.
Lúc ấy có người học trò của Xán là giám sinh Nguyễn
Hiên, người huyện Chân Lộc, nghe tin thầy học được
về, vội mừng rỡ đến chào. Chợt thấy nét mặt Nguyệt
có vẻ khác thường, Hiên ngầm đoán được ý của hắn,
bèn nói kín với Xán hãy xin đổi đi đường bộ.
Nhưng Nguyệt nói:
- Tôi vâng mệnh đưa sứ giả đi đường biển, thuận
tiện mà ổn thoả, không nên đi đường bộ, trèo non
vượt suối vất vả.
Rồi đó, cả bọn lại lên thuyền ra biển.
Vừa ra đến ngoài khơi, Nguyệt liền bảo bọn lái
thuyền đục thuyền cho nước vào, dìm cả bọn sứ thần
xuống biển. Hiên đứng trong bờ trông ra xa gào khóc
hồi lâu mà về. Hôm ấy nhằm ngày 11 tháng 4, mùa
hè năm Đinh vị (1787).
Xong việc, Nguyệt lại ghé thuyền vào bờ, nói phao
cho trong ngoài biết rằng, thuyền gặp sóng gió bị
đắm, để tránh cái tiếng giết hại sứ giả. Lúc bấy
giờ, có người làm hai câu thơ rằng:
Tên lưu vũ trụ bia ngàn thuở,
Nghĩa nặng cương thường biển vạn năm.
Từ lúc bọn Xán đi Nam, Chỉnh cho rằng việc thế
nào cũng xong, nên đã nói toạc ra ở trong triều
rằng:
- Tình hình Tây Sơn như ở trong tầm con mắt của
ta. Họ sẽ mừng là ta đã không gây sự, để họ có thể
chuyên tâm vào việc nước họ. Hiện nay cuộc nội chiến
của họ đang rối ren, thì giờ đâu mà lo đến việc
bên ngoài. Còn Võ Văn Nhậm thì chơ vơ ở Nghệ An
ngoảnh về bên trong không có quân cứu viện, có làm
được gì? Bắc bình vương thấy thư của ta đưa đến,
thế nào cũng mừng mà nghe theo, xin đừng lo gì việc
miền Nam!
Vì thế, những lời Xán dặn lúc ra đi, Chỉnh đều
không để ý tới, chỉ tâu xin cho Nguyễn Duật làm
trấn thủ Thanh Hoa mà thôi.
Lúc Duật sắp đi, Chỉnh dặn rằng:
- Chỉ nên giữ gìn bờ cõi cẩn thận, chớ có sinh
sự để bên địch nghi ngờ. Đợi khi Trần bình chương
trở về, sẽ dời vào làm trấn thủ Nghệ An, sửa lại
luỹ cũ ở Hoành Sơn, giữ vững bờ cõi để làm chước
lâu dài.
Quan bình chương Phan Lê Phiên nghe được chuyện
ấy, liền đến nhà Chỉnh mà nói:
- Ông Trần đã già giặn việc đời, xét đoán công
việc rất nhanh. Ngày thường ông ấy bàn bạc tính
liệu như thần, đến lúc sự việc xảy ra, không việc
gì là không đúng. Ông chớ nên xem thường!
Chỉnh cũng không cho là phải. Phiên ra ngoài nói
với người bạn đồng liêu là Trương Đăng Quỹ rằng:
- Ông Bằng vốn có tiếng là biết việc binh, thế
mà không nghe lời can, coi thường quân giặc, sợ
rằng quốc đô mới qua một cuộc tàn phá, không thể
chịu nổi một trận giày đạp nữa. Chúng ta gánh chức
phụ bạt đã lâu, nếu "đổ mà không giữ, nguy
mà không phò" thì còn dùng hạng tướng quốc
như chúng ta làm gì?
Hai người than thở cùng nhau hồi lâu, rồi Phiên
nói:
- Nghĩ lại công đức của tiên đế rất lớn, mà nay
ngài chưa có miếu hiệu, không bàn định cho kịp lúc
này, rốt cuộc điển lễ vẫn thiếu.
Hai người bèn cùng bàn với các quan, dùng sách
vàng tôn xưng tiên đế làm Vĩnh hoàng đế, miếu hiệu
Hiển tông. Rồi tâu với vua xin làm lễ cáo miếu.
Chỉnh nói:
- Theo lễ, việc tôn xưng miếu hiệu phải chờ sau
ngày đại tường, khi đã rước linh vị vào miếu rồi
mới cử hành, làm gì mà gấp thế?
Phiên nói:
- Việc đời chưa biết thế nào, bây giờ chính là
lúc cần phải tôn mỹ hiệu của tiên đế cho xong ngay
đi!
Chỉnh nghe nói cũng im lặng.
Lại nói, lúc Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An vào kinh.
án đô vương Trịnh Bồng chạy qua sông, sang trấn
Kinh Bắc, vào tạm lánh ở làng Quế ổ. ở đấy có viên
võ biền tên là Nguyễn Đình Toại (Cương mục chép
là Nguyễn Trọng Mại) vâng mật chỉ của chúa kêu gọi
các thổ hào vùng Thuận Thành, Từ Sơn mộ quân nghĩa
dũng, mưu đồ đánh Chỉnh để dẹp yên nạn nước và khôi
phục nghiệp cũ. Rồi đó, Toại lại đưa hịch cho các
phiên thần ở vùng Lạng Sơn, Cao Bằng, bảo họ họp
quân lại, làm việc cần vương.
Chỉnh thấy vậy, luôn luôn tỏ ý muốn đánh, nhưng
vì có Dương Trọng Tế chiếm giữ huyện Gia Lâm, đắp
luỹ chống nhau với Chỉnh, đường đi còn bị ngáng
trở một lối, nên Chỉnh đành phải tạm gác việc ấy
lại chưa làm vội. Kịp đến khi Trọng Tế đã bị giết,
Chỉnh bèn hối hả cho việc đánh chúa Trịnh là điều
cần thứ nhất, liền tâu xin tự mình đem quân bản
bộ tiến đánh.
Vua Lê nghĩ chúa Trịnh vốn có lòng kính thuận không
nỡ đánh, vả trong bụng đang hết sức ghét Chỉnh,
không muốn cho hắn đắc chí, sợ sẽ thành cái thế
lấn át vua, nên muốn ngăn việc ấy lại. Nhưng rồi
khó nói ra lời, nhà vua bèn sai viên nội hàn là
Vũ Trinh tuyên rõ chỉ ý của vua và truyền cho Chỉnh
biết rằng:
- Gia đinh họ Trịnh trải qua nhiều đời, thực có
công lớn, nếu để người như Tử Văn mà phải tuyệt
tự thì lấy gì mà khuyến khích điều thiện? (Tử Văn
tên thực là Đấu Cốc Ô Đồ, người đời Xuân thu, làm
quan nước Sở, có công lớn trong việc trị nước. Sau
người em họ là Đấu Việt Thục làm loạn, đáng lẽ phải
tru di cả họ, nhưng Sở Trang Vương tha tội cho người
cháu của Tử Văn, và nói: "Người như Tử Văn
mà bị tuyệt tự thì lấy gì mà khuyến khích điều thiện").
Chỉ bằng trước hãy làm bài cáo văn hiểu dụ rõ đường
phúc hoạ cho y. Nếu y cứ u mê không tỉnh, sau đó
ta hãy đem quân đánh. Ta cứ giữ niềm trung hậu,
để cho người ngoài không nói vào đâu được, há không
hơn hay sao?
Chỉnh không nghe, nói:
- Nếu tôi không đem quân ra, để cho việc Trọng
Tế giúp chúa được thành, xem y có xử hậu với hoàng
thượng không? Anh hùng làm việc, há lại theo lòng
nhân đức của đàn bà?
Rồi Chỉnh cố xin ra quân, vua Lê bất đắc dĩ phải
cho Chỉnh đốc suất các quân qua sông, thuyền bè
chật cả mặt nước, khí thế rất là lẫm liệt đáng sợ.
Chúa Trịnh nghe tin, vội vàng sai Toại đốc suất
người trong họ ở Quế ổ làm quân tiền phong, thổ
hào Yên Dũng là Nguyễn Trọng Linh làm tướng chống
bên tả, thổ hào Gia Bình là Trần Quan Châu làm tướng
chống bên hữu, bày trận chờ sẵn.
Quân Chỉnh tới nơi, hai bên đánh nhau từ sáng đến
trưa, chưa phân được thua; sau đều rút quân để nghỉ
ngơi.
Chỉnh sai người đưa tờ chiếu của vua tới dụ chúa,
khuyên nên qui thuận, không nên chống cự. Chúa cười
mà nói:
- Hữu Chỉnh đến đây lần này, ý muốn bắt sống ta,
nếu nuốt trôi được, chắc không chịu nhả ra. Nay
lại lấy lời ngon ngọt dỗ ta, thằng nghịch tặc này
quỉ quyệt đáng ghét thật. Tuy vậy, hắn đã mượn mệnh
lệnh hoàng thượng đưa ra, ta không thể im lặng không
trả lời.
Chúa bèn tự thảo một tờ biểu trần tình, kể tội
ác của Chỉnh và nói nhân dân ai cũng nghiến răng
tức giận, xin hãy giết Chỉnh đã, rồi sẽ về triều,
lời lẽ có nhiều câu gay gắt.
Thật là:
Sống mái ngoài đồng còn chửa quyết,
Trai cò trong ruộng vẫn giằng co
Chưa biết thua được ra sao? Hãy xem hồi sau phân
giải.
Hồi
thứ nhất | Hồi thứ hai
| Hồi thứ ba |
Hồi thứ tư |
Hồi thứ năm |
Hồi thứ sáu | Hồi thứ
bảy | Hồi thứ tám |
Hồi thứ chín | Hồi
thứ 10 | Hồi thứ 11
| Hồi thứ 12 |
Hồi thứ 13 | Hồi thứ
14 | Hồi thứ 15 |
Hồi thứ 16 | Hồi thứ
17

XEM
TIẾP
|