| 
Chim
bay, cò bay, khủng long cũng bay?
Archaeopteryx
- sinh vật có hình dạng nửa khủng long nửa chim.
Archaeopteryx, loài sinh vật kỷ Jura trong hình
dáng nửa chim, nửa khủng long, được trang bị đầy
đủ đặc điểm để chinh phục bầu trời. Các nhà khoa
học phát hiện thấy não bộ của nó có cấu trúc tương
tự như não của đại bàng hay vẹt hiện đại.
Archaeopteryx là loài chim cổ nhất
từng được biết đến. Nó có chiếc đuôi bằng xương
và răng của khủng long, nhưng lại có lông vũ và
cánh của một con chim. Tuy vậy, khả năng bay của
loài động vật này chưa bao giờ được xác nhận.
Mới đây, các nhà nghiên cứu Anh
và Mỹ đã chụp X quang não một hóa thạch Archaeopteryx,
tìm thấy ở Đức vào năm 1861, có niên đại 147 triệu
năm. Họ phát hiện thấy sinh vật này có đầy đủ đặc
điểm và sức mạnh não bộ để có thể bay lên.
"Não bộ, các giác quan và tai
trong của Archaeopteryx hóa ra giống chim hơn chúng
ta tưởng", tiến sĩ Angela Milner, nhà khảo
cổ học tại Bảo tàng lịch sử tự nhiên ở London, bình
luận. Nó có những ống bán nguyệt hoàn chỉnh ở tai
trong (cơ quan chuyên dụng cho việc giữ thăng bằng)
và các thùy thị giác lớn cho phép nhìn xa. Cả hai
là những đặc điểm cần thiết con vật có thể bay lượn.
Các nhà nghiên cứu nay sẽ tiếp tục
kiểm tra hóa thạch của các loài chim khác để tìm
kiếm thêm bằng chứng về khả năng bay của chim nguyên
thủy. Tuy nhiên, không có hóa thạch nào có niên
đại sớm hơn hóa thạch vừa được nghiên cứu. Hiện
các nhà khoa học chỉ có trong tay 6 mẫu vật của
Archaeopteryx, và một mẫu vật lông vũ.
B.H. (theo Reuters, BBC
Phục
hồi rùa khổng lồ Galapagos: Quá khó với "George
cô đơn"!
"Lonesome
George" là tên của một chàng rùa nổi tiếng
song lại không có bạn. Cô độc trên thế giới và thờ
ơ với... sex, đây là con rùa khổng lồ duy nhất thuộc
phân loài của nó còn lại trên quần đảo Galapagos.
Kể từ khi George được phát hiện vào năm 1971, các
nhà khoa học đã nỗ lực kích thích bản năng "mê
gái" của nó. Họ đã lùng sục khắp hòn đảo nơi
George sinh sống cũng như các vườn thú trên Trái
đất để tìm kiếm một con rùa cái thuộc cùng phân
loài. Cuối cùng, hai con rùa cái ở hòn đảo lân cận
được đưa tới để làm bạn với George. Một nhà động
vật học trẻ, hấp dẫn từ Thuỵ Sĩ cũng tham gia kích
thích ham muốn tình dục của chàng rùa đơn độc này.
Tuy
vậy, cho tới nay, các chuyên gia gặt hái được rất
ít thành công. "George cô đơn" vẫn chưa
tỏ dấu hiệu quan tâm tới hai ả rùa trong chuồng.
Các nhà khoa học vẫn còn những "lá bài"
khác. Có lẽ George chưa gặp được nàng rùa ưng ý.
Họ hy vọng rùa cái từ một đảo xa, có họ gần hơn
với George so với hai rùa cái nói trên, sẽ giúp
nó thoát khỏi tình trạng thờ ơ hiện nay và sinh
sản.
Quần
đảo Galapagos đã từng đầy những rùa khổng lồ. Trước
khi con tàu đầu tiên tới đây vào năm 1535, Galapagos
là nơi cư trú của ít nhất 15 nhóm rùa khổng lồ (Geochelone
nigra) khác biệt. Mỗi nhóm cô lập với nhau trên
các hòn đảo khác biệt, hoặc trên những ngọn núi
lửa bị dòng dung nham nóng bỏng ngăn cách. Tuy nhiên,
hoạt động khai thác quá mức vào thế kỷ XVIII và
XIX của những người săn cá voi cùng với sự cạnh
tranh của động vật du nhập - dê, lợn và chuột -
đã làm cho bốn phân loài rùa tuyệt chủng. 11 phân
loài còn lại được xếp vào danh sách các loài bị
đe doạ của Liên minh Bảo tồn Thế giới (IUCN).
Giới
khoa học cho rằng phân loài G. nigra abingdoni ở
đảo Pinta đã tuyệt chủng, cho tới khi một nhà sinh
học nghiên cứu loài sên đã phát hiện ra cá thể duy
nhất còn sót lại: Đó chính là "George cô đơn".
Kể từ đó, chàng rùa này sống tại Trạm nghiên cứu
Charles Darwin (CDRS) ở Puerto Ayora - một thành
phố du lịch trên đảo Santa Cruz. Tại đó, nó là đối
tượng nghiên cứu bảo tồn. Mục tiêu cuối cùng của
các nhà khoa học là phục hồi hệ sinh thái đảo Pinta.
Điều này có nghĩa là trả lại đảo những con rùa khổng
lồ, hậu duệ của "George cô đơn".
Tuy nhiên, có thể làm gì đây với một con rùa đực
duy nhất? Theo cựu giám đốc bảo tồn Linda Cayot
tại CDRS, công tác bảo tồn ở quần đảo Galapagos
được tiến hành theo thứ tự ưu tiên. Những loài không
thể phục hồi được sẽ bị gạt ra một bên để cứu các
loài khác. Chính vì vậy, George bị lãng quên trong
20 năm cho tới khi Cayot thả một số rùa cái ở hòn
đảo Isabela lân cận vào chuồng của George với hy
vọng "tình cảm lãng mạn" sẽ xuất hiện.
Vào thời điểm đó, các nhà khoa học cho rằng rùa
từ Isabela, đảo có rùa và gần Pinta nhất về mặt
địa lý, có họ gần nhất với George nên cơ hội cặp
đôi thành công sẽ là lớn nhất.
Phân
tích do chuyên gia di truyền Gisella Caccone (ĐH
Yale) và đồng nghiệp cho thấy "George cô đơn"
có họ gần hơn với phân loài G. nigra hoodensis trên
đảo Espanola. Điều này chỉ ra rằng, bằng cách nào
đó, rùa khổng lồ - vốn không phù hợp với cuộc sống
biển cả, đã sống sót sau một chuyến đi dài 300km
từ Espanola ở phía Nam tới Pinta ở phía Bắc. Như
vậy là George chưa được cặp đôi với những nàng rùa
phù hợp nhất. Tuy nhiên, đã năm năm trôi qua, kiến
nghị của nhóm nghiên cứu (cho George cặp đôi với
rùa ở Espanola) vẫn chưa được xem xét.
Chọn
lọc... phi tự nhiên?
Nguyên
nhân của tình trạng trên là Trạm nghiên cứu Darwin
tuân thủ một nguyên tắc đạo đức do Cục Công viên
Quốc gia Galapagos đặt ra: Đảm bảo các tiến trình
sinh học tiếp tục như thể con người chưa bao giờ
đặt chân lên quần đảo này. Giám đốc khoa học Howard
Snell tại CDRS cho biết việc khuyến khích George
giao phối với rùa từ đảo khác là sự can thiệp phi
tự nhiên, đi ngược với nguyên tắc trên. Quan điểm
này rõ ràng xung đột với nỗ lực của Cayot nhằm ghép
đôi George với rùa cái ở Isabela. Tuy nhiên, cũng
không có ai dự định tách chúng ra bởi đã 12 năm
trôi qua mà chàng rùa vẫn... lạnh lùng.
Quan điểm của Snell dường như kỳ lạ, vì ông thà
để một loài tuyệt chủng hoàn toàn còn hơn can thiệp
phi tự nhiên để bảo vệ một số gien. Tuy nhiên, Snell
không hoàn toàn phản đối nỗ lực lai giống. Ông đang
chờ đợi, hy vọng có một giải pháp tốt hơn trước
khi buộc phải sử dụng tới phương cách làm "ô
nhiễm nguồn gien" của George. Ưu tiên đầu tiên
của Snell là tìm ra một con rùa cái đang sống trên
đảo Pinta để cặp đôi với George. Khả năng này có
thể xảy ra. Mặc dù có kích cỡ lớn song khó có thể
phát hiện ra rùa khổng lồ. Chẳng hạn như có hai
con rùa sống trên đảo Santa Fe tí hon nơi tiếp đón
50.000 du khách mỗi năm. Tuy nhiên, mọi người chỉ
nhìn thấy chúng bảy-tám năm mỗi lần.
Ít
ra thì có dấu vết của rùa sống trên đảo Pinta. Vào
năm 1981, gần mười năm sau khi "George cô đơn"
dời đảo, Cayot và một đồng nghiệp khác phát hiện
một... cục phân rùa gần đỉnh núi lửa. Bà nói: ''Khi
tôi bước qua một bãi cỏ, tôi nhìn xuống và thấy
phân rùa, tôi hét toáng lên và chúng tôi dừng lại.
Quả là ngạc nhiên!''. Phát hiện này làm dấy lên
hy vọng rằng một cá thể rùa nữa vẫn còn lang thang
đâu đó trên đảo.
Tuy
nhiên, cho tới nay vẫn chưa ai nhìn thấy nó. Cuối
năm ngoái, Peter Pritchard, người sáng lập Viện
Nghiên cứu Chelonian đã huy động hơn 20 nhân viên
tiến hành cuộc tìm kiếm toàn diện nhất từ trước
tới nay ở Pinta. Họ đã tìm thấy 15 con rùa mặc dù
tất cả chúng đã chết và chỉ có một trong số đó là
rùa cái.
Câu
lạc bộ cơ đơn
Tuy
nhiên, có khả năng rùa cái Pinta vẫn sống sót ở
một nơi nào khác, trong các bộ sưu tập tự nhiên
hoặc vườn thú. Edward Luois, nhà di truyền bảo tồn
tại Vườn thú Henry Doorly (Mỹ), đã thu thập mẫu
ADN từ hơn 400 con rùa Galapagos từ các vườn thú
trên khắp thế giới. Chẳng có con rùa nào trông giống
rùa trên đảo Pinta. Tuy nhiên, vẫn còn hơn 100 con
rùa nữa tại các vườn thú chưa được lấy mẫu, đặc
biệt là ở Nam Mỹ.
CDRS nuôi giữ 23 cá thể rùa trưởng thành có nguồn
gốc địa lý không chắc chắn, phần lớn là từ các bộ
sưu tập tư nhân. Một số rùa được nuôi nhốt kể từ
những năm 1960 và cho tới năm 1976 (trước khi nguyên
tắc thuần khiết được áp dụng), chúng được phép giao
phối tự do với nhau. Kết quả là 36 rùa con đã ra
đời và quá trình cặp đôi không được theo dõi. Caccone
và đồng nghiệp của bà đã sử dụng các chuỗi ADN để
tìm ra nguồn gốc địa lý của rùa trưởng thành cũng
như nguồn gốc di truyền của rùa con. Thật là buồn
cho "George cô đơn", vì trong đó không
có cá thể nào là rùa ở Pinta!
Phần
lớn rùa khổng lồ sống trong nuôi nhốt không được
giữ tại các trạm nghiên cứu hoặc vườn thú. Chúng
nằm trong các bộ sưu tập cá nhân. Những con rùa
này khó theo dõi hơn nhiều. Các điều kiện sở hữu
một con rùa Galapagos rất rắc rối và có lẽ mọi người
không chắc chắn liệu rùa họ nuôi có hợp pháp hay
không. Điều cần thiết là đưa ra một lệnh ân xá quốc
tế, cho phép thống kê cũng như lấy mẫu rùa. Tuy
nhiên, ý tưởng này không khả thi.
Khi
tin tức về rùa cái Pinta vẫn mịt mờ, CDRS đang tiến
gần hơn tới quyết định lai giống. Nếu công việc
của các nhà di truyền được chấp nhận, rùa cái trên
đảo Isabela sẽ được thay thế bằng một họ hàng gần
hơn với George từ đảo Espanola. Mặc dù rùa ở Espanola
đang bị đe doạ tuyệt chủng song chúng khoẻ mạnh
hơn nhiều so với đồng loại ở Pinta. Vào những năm
1960, số lượng rùa ở Espanola giảm xuống còn 12
rùa cái và hai rùa đực. Tất cả chúng được nuôi nhốt
tại CDRS. Một con rùa đực thứ ba sau đó được chuyển
tới trạm từ Vườn thú San Diego trong khuôn khổ của
chương trình nhân giống nuôi nhốt. Mục đích của
chương trình là phục hồi các phân loài trên Espanola
trở lại thời kỳ hoàng kim trước kia.
Kể
từ năm 1975, các nhà khoa học CDRS đã trả lại Espanola
hơn 1.200 con rùa. Cách đây hơn 15 năm, tổ rùa lại
bắt đầu xuất hiện trên đảo. Mọi thứ dường như không
dễ dàng. Rùa đực từ San Diego làm cha của hơn 60%
rùa con. Tình trạng này làm các nhà khoa học lo
ngại sẽ có sự giao phối cận huyết trong tương lai
giữa rùa con với nhau. Tuy nhiên, số lượng rùa lớn
ở Espanola có nghĩa là sẽ có nhiều rùa cái để cặp
đôi với "George cô đơn".
Không
sex, xin cảm ơn!
Ngay
cả khi tìm được một nàng rùa cho George, vẫn còn
một vấn đề khác: George dường như không quan tâm
tới sex. Nếu không thể giải quyết bế tắc này, việc
nhân giống vẫn chỉ là lý thuyết suông. Thường thì
một con rùa đực không lồ sẽ giao phối với cả...
rùa chết, lẫn một hòn đá tròn nếu nó hưng phấn.
Tuy nhiên, George dường như "bất lực"?
Lời giải thích khá hợp lý cho sự thờ ơ của George
là nó chưa tiếp xúc với hành vi ve vãn hoặc ghép
đôi bình thường. Theo Pritchard, đưa một con đực
cạnh tranh vào chuồng có thể kích thích George hành
động. Ngoài ra, có thể hữu ích nếu để nó theo dõi
hành vi cặp đôi và tán tỉnh của những con rùa Espanola
ở khu vực gần kề. Nếu những biện pháp trên không
thành công, cách duy nhất là thụ tinh nhân tạo.
Điều
đáng lo là không ai biết liệu "George cô đơn"
có thể sản xuất tinh trùng hay không. Vào năm 1993,
chỉ một năm sau khi rùa cái Isabela được ghép đôi
với George, bác sĩ thú y người Đức Gisela von Hegel
đã tới Galapagos. Ông hướng dẫn cán bộ ở đây kiểm
tra sức khoẻ sinh sản của rùa đực. Nếu phần sau
cùng của rùa được nhấc khỏi mặt đất, cơ của nó buông
lỏng và dương vật lòi ra khỏi lỗ huyệt. Sau đó,
có thể kích thích bộ phận này bằng tay. Ngay sau
đó, một nữ sinh viên nghiên cứu động vật trẻ và
đẹp người Thuỵ Sĩ tới CDRS làm việc tình nguyện.
Ban đầu, mọi việc dường như rất hứa hẹn. Sveva Grigioni
có thể làm cho các con rùa đực khác xuất tinh trong
vòng 15 phút sau khi tới gần chúng. Tuy nhiên, "George
cô đơn" vẫn... lặng thinh!
Nhân
bản?
Cô
Grigioni đã dành nhiều giờ ở bên "George cô
đơn" mỗi ngày để giành lòng tin. Cô được mọi
người đặt biệt danh: Người tình của "George
cô đơn" (!). Grigioni nói: ''Thời gian trôi
qua và George bắt đầu quan tâm nhiều hơn tới rùa
cái''. Tuy nhiên, sau gần bốn tháng, visa của Grigioni
hết hạn và cô phải về nước. Cô cho biết: ''Nếu tôi
có nhiều thời gian hơn, có lẽ tôi đã thành công.
Tôi gần như chắc chắn rằng sẽ làm nó... xuất tinh''.
Thiếu một nhà nghiên cứu nhẫn nại, có các biện pháp
khác cứng rắn hơn để làm George "xuất hàng",
chẳng hạn như tạo cú sốc điện. Phương pháp sốc điện
thường được sử dụng trong nhiều chương trình nhân
giống động vật nuôi nhốt để lấy tinh trùng. Tuy
nhiên, không ai biết George sẽ phản ứng như thế
nào nếu các chuyên gia lồng thiết bị dò vào lỗ huyệt
của nó và tác dụng một dòng điện vào tinh hoàn.
Do vậy, chưa có ai dám thử.
Nếu
George vô sinh, liệu còn các phương pháp khác để
phục hồi phân loài của nó? Câu trả lời là nhân bản.
Mặc dù vậy, các nhà khoa học quan tâm tới George
đều nhất trí nguồn tài chính để nhân bản nên được
dùng vào những vấn đề khác quan trọng hơn ở quần
đảo Galapagos. Caccone nói: ''Nhân bản cừu Dolly
là công việc rất khó khăn và chúng ta đã biết nhiều
về động vật có vú. Nhân bản bò sát còn khó hơn''.
Theo Ian Wilmut, chuyên gia nhân bản cừu Dolly,
cần phải tiến hành rất nhiều nghiên cứu để nhân
bản một loài mới. Trong lúc đó, nên bảo quản tế
bào của George và các loài rùa khác ở quần đảo.
Tuy nhiên, cho tới nay, các chuyên gia vẫn chưa
lấy mẫu tế bào.
George
có lẽ chưa tới 100 tuổi, vẫn còn trẻ và hoạt bát.
Nó có thể sống thêm 100 năm nữa và nếu may mắn,
liệu nó có thể được làm cha?
Minh
Sơn (Theo Nature)

Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|