|  
Trong
đời sống, chúng ta thường bắt gặp những thành ngữ
như: Giấc Nam Kha, Tây Thi, Nguyệt Lão, Liễu Chương
Ðài ... hoặc Prômêtê, Gót Asin, Hồng Thủy ... hoặc
Tú Bà, Chí Phèo, Xuân Tóc Ðỏ ... Ðó là những Ðiển
tích, lấy trong văn hóa cổ, kim của Trung Quốc,
phương Tây, Việt Nam, thường là những tên người,
tên đất, những hình tượng văn học trong thần thoại,
truyền thuyết, văn học, lịch sử ..., đầy tính thơ
ca và chứa đựng biết bao ý nghĩa sâu xa.
Với mong muốn làm phong phú thêm vốn sống của bạn
đọc, góp phần nhỏ bé nâng cao trình độ hiểu biết
văn hóa nhân loại, chuyên mục "Ðiển tích Văn
học" ra đời với mục đích ấy, mời các bạn đến
với chuyên mục của chúng tôi!

TỰ
ĐIỂN ĐIỂN TÍCH CỔ VIỆT NAM
Túng
Thì Phải Tính
Thả
thơ
Trước
Xuôi Sau Ngược
Vay
Trả, Trả Vay
Thất
phu chi dũng
Phá
kính trùng viên (gương vỡ lại lành)
"Ngọa
tân thường đảm".
"Bất
nhập hổ huyệt an đắc hổ tử".
Tang
hồ bồng thỉ
( Bài 2)
Hà
Đông sư tử
Mai
thê hạc tử
Suối
vàng hay chín suối
Tiếng
đàn Thạch Sanh. Minh
ngoan bất linh
Khối
tình mang xuống tuyền đài chưa tan Tết:
Vua chơi lan, Quan chơi trà
Mục
bất thức đinh "Bì
vu bôn mệnh" Minh
triết bảo thân Điểu
Tận Cung Tàng
Mạc
lăng lưỡng khả Đùa
với ông Nghè
Tứ
Linh Điển
tích và sự mở rộng khái niệm điển tích Giá
Áo Túi Cơm
Cái
váy và cái quần của các bà
Điển
tích và sự mở rộng khái niệm điển tích
Cái
răng cái tóc, một góc con người Chạy
như cờ lông công
Một
Vài Tiếng Gọi Trẻ Con
.
"Thằng giặc Tề"!
Xướng
ca vô loài
Một,
hai, ba...chúng ta cùng thề
Xóc
Đĩa ...
Bịt
mắt bắt dê
Bị
thầy đồ dốt kiện
Xỏ
chân lỗ mũi
Cưỡi
ngựa "Bình Kho"
Thằng
Bù Nhìn , Thằng Phỗng
Đem
con bỏ chợ
DANH
SƯ CHU VĂN AN Tận
thu lòng dạ thế gian
Câu
đối trên Văn Hồ
Hoa
đào năm ngoái.
Ỷ
LAN PHU NHÂN
Rêu
xanh máu đỏ
Cao
tăng thời Trần
Cóc
kiện trời
Thơ
mượn bàn cờ
Ông
lão bán than
Hoa
sen trong giếng ngọc
Bà
Ðế
Chân
Nam Đá Chân Xiêu
Chân
Chỉ Hạt Bột
Bới
Lông Tìm Vết
Bãi
Bể, Nương Dâu
Bà
Chúa Ngọc
"Phòng
trung thuật"
Anh
em họ Điền
Cầm
đuốc chơi đêm
Ba
sinh
ả
Lý
Lẩy
Kiều hay tập Kiều ?
Nợ
lại càng nợ
ÔNG
NGHÈ TÂN
Về
hai cặp từ “non nước” và “nước non”
Bợm
già mắc bẫy cò ke
Bài
học văn chương
Lão
Hạc quý chó và... sợ chó
Trạng
Quỳnh ba lần đi thi
"Gần
mũi xa mồm"
Canh
GàThọ Cương
Xưng
hô Vợ chồng
Hoa
sen trong giếng ngọc
Con
cà con kê
Sư
tử Hà Đông
"HỌ",
"vắt"
CHƯA
BIẾT MÈO NÀO CẮN MỈU NÀO
Cậu Quế,Cô
Sen
Ðình
tiền thiếu nữ khuyến tân lang
Thế
Chiến Quốc, thế Xuân Thu
Chạy
như cờ lông công
Cớ
sao Cúc lại muộn màng về thu?
Đại
hạ và Phúc đại lai
Quế và
người
“Món
nợ” với Trạng Quỳnh
Dùi
đục chấm mắm cáy!
Bắt
cá hai tay
Răng
và lưỡi
Già
kén kẹn hom
Gửi
trứng cho ác
Công
Tử Bạc Liêu
Lẩy
Kiều hay tập Kiều
TRÊN
DƯỚI ĐỀU "chó"
Cô
Đào Giết Giặc Câu
đối trên Văn Hồ
Ấy
là hồ điệp hay là Trang sinh
Vệ
Nữ Vọng
Phu
Chị
Dậu Chắp cánh liền
cành CHÍ
PHÈO
CƠM
phiếu mẫu ( hay Xiếu Mẫu) Xuân
Tóc Ðỏ .Thằng
Cuội ngồi gốc cây đa
. Mái Tây
Cây
nêu ngàyTết
Lá gió cành chim
Tai lừa TÁO
QUÂN.
TRUNG
THU Tơ
hồng Tú
Bà Tương
tư Từ
Thức
SAO
HÔM, SAO MAI
Tết "Hàn thực"
Giọt
lệ thu
Câu
thơ nên nghĩa
.Cao Bá Quát chơi xỏ
vua Tự Ðức
Bảng,
Trạng ganh nhau.
Càn
Khôn
Có công mài sắt có ngày nên
kim
Ỷ
LAN PHU NHÂN.
Phật xa, cha mẹ gần. ẾCH NGỒI
ĐÁY GIẾNG. QUẠT MỒ. Chiêu
Quân. Lệ Chi Viên.
Lam Kiều
Kết cỏ ngậm vành.
Chỉ hồng Chín chữ (Những
điển tích có mầu đỏ này, xin xem dien1)
NGHỊ
HÁCH. Hoa
đào năm ngoái. Cô Kiều Cười. Chó gà Tề khách (
Xem Dien3)
Chử
Đồng tử
Bá Di, Thúc Tề. Ba sinh . Nguyên Tiêu (DIEN5)
Bán
cá mũi thuyền .Phước Lộc Thọ.Chuyện
cây Nêu ngày Tết (XEM DIEN 6)
XANH VÀNG ĐỎ TÍA.
Chu Văn
An
Câu
đối kén chồng
Giấc
Nam Kha, Bố Kinh, Áo vải cờ đào, Khối tình Trương
Chi, Phụng Cầu Kỳ Hoàng, Anh Hùng Lương Sơn Bạc,
Giấc Kê vàng (
Xem DIEN35)
Lệ
Chi Viên
Lam
Kiều
Trương Văn Thám
Cầm
đường tiếng hạc
Bạch
Ngọc Chung minh
Vịnh
tranh Tố Nữ
Nghê
Thường Vũ Y
Bạch
diện thư sinh
Dã
Tràng Xe Cát
Miếu
vợ chàng Trương Ông
già Ba Tri
Thằng
Bợm có con ngựa
Trăm
= 100 , ba mươi sáu = 36 ?
Đỉnh Giáp Non Thần
Bảy
Chữ, Tám Nghề
Được
Chim Bẻ Ná, Được Cá Quên Nơm
Mạt
Cưa Mướp Đắng
Thiết
đoản, mộc trường (Sắt ngắn, gỗ dài )


Về
trang chủ

|