Điển tích và
sự mở rộng khái niệm điển tích
Ngô Tự Lập
I. Số “hăm hai” của những người tù
Trong thời gian làm luận án ở École Normale Supérieure
de Fontenay / Saint Cloud, tôi được anh bạn người Italia
Mauro Usai kể cho nghe một câu chuyện thú vị mà theo
anh là nội dung của một bộ phim: Trong nhà giam nọ,
đám tù khổ sai, sau mỗi ngày lao động như trâu ngựa
dưới đòn roi của cai ngục, chỉ có một thú tiêu khiển
là nghe một người trong bọn họ kể chuyện tiếu lâm. Người
kể chuyện rất từng trải, có duyên và có tài bịa đặt,
nhưng thời gian giam giữ quá lâu, cuối cùng cả kho tiếu
lâm lẫn tài bịa đặt của anh ta đều cạn kiệt. Nghe đi
nghe lại mãi, đám tù nhân thuộc lòng không chỉ các chuyện
mà cả thứ tự của chúng trong vốn liếng của người bạn
tù. Vì thế, thay vì kể chuyện, gã tù nhân có duyên kể
chuyện kia chỉ cần xướng lên một con số, chẳng hạn “hăm
hai”, là tất cả cười ồ. Điều này dần dần trở thành thói
quen một cách tự nhiên. Thế rồi một hôm trại có tù nhân
mới: chẳng khó khăn gì chúng ta cũng có thể hình dung
bộ dạng ngớ ngẩn của anh ta trong khi đám tù nhân cũ
ôm bụng cười vì nghe con số “hăm hai” tưởng chừng vô
nghĩa ấy.
Thực ra chuyện tù nhân dùng các con số hay các loại
ký hiệu khác nhau, trong đó có ký hiệu ngôn ngữ, chẳng
hạn tiếng lóng, để thông tin và trốn tránh sự kiểm soát
của cai ngục là điều không có gì lạ. Nhưng với tôi,
con số hăm hai của đám tù nhân trong câu chuyện thâm
thúy này lại gợi những suy nghĩ khác: nó là một ví dụ
tuyệt vời về điển tích.
Trong các từ điển hoặc sách giáo khoa, điển tích thường
được định nghĩa như là những câu chuyện ghi chép trong
sách vở và được trích dẫn hoặc dẫn ý. Cuốn Sổ tay văn
học (A Handbook to literature) của C. Huge Holman và
William Harmon, chẳng hạn, định nghĩa điển tích là "lối
nói dẫn chiếu vắn tắt đến một hình tượng, sự kiện hay
đề tài lịch sử và văn học" [1].
Trong tiếng Việt, chúng ta thường gặp hai từ “điển
tích” và “điển cố”. Từ điển của Nguyễn Văn Khôn viết:
“Điển: Kinh điển. Thường. Phép tắc. Chủ trương. Coi
sóc việc gì. Cầm cố. Họ. Tích: Xưa, trước, lâu, ban
đêm. Họ. Cố: Bền, vững bền. Kín đáo. Sẵn, vốn đã. Nhiều
lần. Bỉ lậu. Cố nhiên, tất nhiên. Họ. Điển tích: Sự
tích chép trong sách vở xưa. Điển cố: Điển cũ tích xưa;
sự tích, luật lệ cũ.”
Như vậy, “điển cố” là khái niệm rộng hơn và không chỉ
bao gồm những sự tích chép trong sách vở. Tuy nhiên,
trên thực tế hai từ này vẫn được dùng lẫn lộn. Từ điển
tiếng Việt (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1977) định
nghĩa điển cố là “Chuyện chép trong sách cũ” và điển
tích là “Sự việc trong kinh sách cũ”. Lại Nguyên Ân
và Bùi Văn Trọng Cường, viết trong Từ điển văn học Việt
Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX: “Điển cố: Thuật ngữ
của giới nghiên cứu nhằm mô tả một trong những đặc điểm
nổi bật của văn học trung đại Việt Nam, vốn chịu ảnh
hưởng văn học cổ và trung đại Trung Hoa. Do những nguyên
nhân khác nhau, đã hình thành một tâm thế, một phong
cách của những người làm văn: trong hành văn thường
hay nhắc đến một sự tích xưa hoặc một vài câu thơ, câu
văn cổ để diễn tả ý mình, nhưng đây không phải là trích
dẫn nguyên văn, mà là lối dùng lại vài chữ cốt gợi nhớ
được đến tích cũ ấy, câu văn cổ ấy. Lối này được gọi
chung là dùng điển cố, bao gồm phép dùng điển và dùng
chữ” [2].
Sự lẫn lộn này thật ra cũng không phải là trầm trọng,
và có lẽ nó bắt nguồn từ thực tế là khái niệm “văn”
trong các nền văn hóa chịu ảnh hưởng của Trung Quốc
rộng hơn nhiều so với khác niệm “văn học” trong các
nền văn hóa phương Tây. Vì lẽ đó, nếu trong tiểu luận
này tôi dùng thuật ngữ "điển tích" thì cũng
xin được hiểu theo nghĩa rộng hơn này.
Tuy nhiên, tôi chỉ có thể đồng ý một nửa với nhận xét
trên đây của Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường. Trước
hết, quả thật là trong văn học cổ đại và trung đại ở
Việt Nam cũng như ở một số nước Viễn Đông, điển tích
được được sử dụng rất thường xuyên. Nhưng trong văn
học của phương Tây, hay của bất cứ khu vực nào, điển
tích cũng được sử dụng nhiều không kém. Ta có thể khẳng
định rằng điển tích là một hiện tượng phổ quát: nó được
sử dụng rộng rãi ở mọi thời, trong mọi nền văn học.
Thứ hai, mặc dù Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường,
cũng như nhiều nhà nghiên cứu văn học cả ở phương Đông
lẫn phương Tây, đã không sai khi đề cập đến điển tích
như một nguồn cảm hứng sáng tạo, một kho mô típ, hoặc
như một thủ thuật trong cách hành văn, tôi tin rằng
sự phổ biến rộng rãi của điển tích có một lý do sâu
xa hơn nhiều. (Quan niệm về điển tích như một nguồn
cảm hứng hoặc một kỹ thuật như trên cũng phổ biến ở
người đọc bình thường. Chính vì thế, dùng điển tích,
nhất là dùng nhiều điển tích, cũng giống như dùng nhiều
trích dẫn, thường bị coi là một cách để khoe khoang
kiến thức và lòe bịp thiên hạ).
Chúng ta hãy thử đặt câu hỏi: Tại sao điển tích được
dùng nhiều đến thế? Và nguyên lý vận hành của điển tích
là gì?
Theo tôi, mặc dù quả thật trong nhiều trường hợp dùng
điển tích đúng là một cách để tác giả khoe khoang kiến
thức và lòe bịp thiên hạ, sự phổ biến của điển tích
có một lý do là sự tiết kiệm. Nói đúng hơn, đó là nguyên
lý tối ưu của giao tiếp nói riêng và của tư duy nói
chung: chúng ta luôn hướng tới việc truyền đạt nhiều
thông tin nhất với một lượng ngôn từ nhỏ nhất, cũng
tức là với khoảng thời gian ngắn nhất là năng lượng
tinh thần nhỏ nhất. Chẳng hạn, khi chúng ta nhắc đến
con ngựa thành Troy, thực chất là chúng ta gián tiếp
kể lại cả một câu chuyện dài về con ngựa khổng lồ trong
thần thoại Hy Lạp chỉ trong một từ ngắn ngủi. Tương
tự như vậy, cái tên Sở Khanh dẫn người đọc đến mối tình
éo le của Kiều, đến truyện Kiều và đến cả một mẫu người
trong xã hội đương thời. Trong giai thoại về đám tù
nhân kể bên trên, thay vì kể cả một câu chuyện tiếu
lâm, người kể chuyện chỉ cần đưa ra một con số.
Nguyên lý tiết kiệm có thể thấy ở tất cả các hoạt động
của con người, và nó đã được Herbert Spencer phân tích
trong Nguyên lý của phong cách (The Philosophy of style).
Ở đây, tôi chỉ muốn đưa ra những ví dụ minh họa mà thật
ra ta chẳng cần phải động não nhiều để có. Quy luật
tiết kiệm chính là lý do khiến chúng ta sáng tạo nên
những từ viết tắt như OPEC, UN, USA...Đó cũng là lý
do khiến chúng ta có xu hướng rút gọn các từ. Người
Việt nói con Su thay cho con Suzuki, người Pháp nói
prof thay cho professeur, người Mỹ nói Caddy thay cho
Cadillac...
Nguyên lý tiết kiệm cũng chính là lý do khiến chúng
ta khó chịu với những kẻ ba hoa, dài dòng. Người Việt
có câu: “Rượu ngon uống lắm cũng say / Người khôn nói
lắm cũng hay ra rồ!” Thật ra, chúng ta khó chịu với
kẻ dài dòng không phải vì anh /chị ta nói dài. Một bài
nó chuyện dài, thậm chí rất dài, nhưng đầy ắp ý tưởng
vẫn có thể lôi cuốn người nghe cho đến câu cuối cùng.
Những câu chuyện của nàng Sheherazade trong Một nghìn
một đêm lẻ đã cứu nàng sống thoát không chỉ vì chúng
hấp dẫn mà còn vì chúng kéo đêm này qua đêm khác. Cái
khiến chúng ta khó chịu với những kẻ ba hoa, dài dòng
là những điều được đề cập đều đã cũ, nói như nhân vật
(cũng đã trở thành điển tích) của Vũ Trọng Phụng, “biết
rồi, khổ lắm, nói mãi”, hoặc nó có thể được diễn đạt
ngắn gọn hơn, nghĩa là tiết kiệm thời gian và sức lực
hơn. Hãy thử hình dung tình cảnh lố bịch của một người
kể đầu đuôi một câu chuyện tiếu lâm cho những người
đã thuộc lòng câu chuyện ấy!
Tiết kiệm chính là bản chất của việc dùng điển tích:
thay vì kể cả một câu chuyện dài, người ta có thể, và
trên thực thế bắt buộc, chỉ đưa ra một tín hiệu, như
con số “hăm hai” của những người tù, cho phép dẫn chiếu
đến nó mà thôi.
II. Điển tích văn học và điển tích đời sống
Trong câu chuyện về đám tù nhân của Mauro, tại sao
khi nghe con số “hăm hai” đám tù nhân cũ phá lên cười,
còn gã tù nhân mới lại không? Câu hỏi đưa ta đến một
câu hỏi có tính khái quát hơn: cơ chế vận hành của điển
tích là gì?
Chẳng cần phải khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận
thấy rằng để một điển tích vận hành được, cần phải có
các điều kiện sau đây:
1. Tính thân thuộc: Điều kiện tiên quyết để sử dụng
một điển tích là nó phải được những người trong cuộc
biết trước. Nói cách khác, nó phải là một ký ức chung
của người dùng điển tích và người nghe điển tích.
2. Tín hiệu hóa (hay mã hóa): “Con ngựa thành Troy”
gọi lên câu chuyện chiến tranh ở thành phố Ha Lạp cổ
đại kia bởi lẽ nó là một tín hiệu quy ước giữa những
người có chung ký ức về câu chuyện ấy. Ở đây, tín hiệu
quy ước có vai trò giống như vai trò của cái tên: nó
dẫn chiếu đến một cá nhân cụ thể trong xã hội.
3. Phát và nhận tín hiệu: nhưng không phải lúc nào
“Con ngựa thành Troy” cũng dẫn chiếu đến cuộc chiến
tranh Troy (Chẳng hạn, ta có thể viết một cuốn sách
về những người chăn ngựa ở Hy Lạp và trong đàn ngựa
của anh ta có một con mua ở Troy). Điều kiện cần thiết
để việc dùng điển thực hiện được là tín hiệu phải nằm
trong một hệ thống nhất định, cho phép người nghe nhận
ra và dẫn chiếu đến ký ức chung tương ứng.
Trong câu chuyện về những người tù, một quá trình tương
tự cũng diễn ra: gã tù nhân mới không cười, bởi lẽ anh
ta không biết nội dung câu chuyện mang số “hăm hai”,
trong khi đám tù nhân cũ đều biết. Nói cách khác, anh
ta không có chung với đám tù nhân cũ một ký ức chung
mà con số “hăm hai” dẫn chiếu đến khi nó được đặt trong
một hệ thống quy ước - ở đây là danh sách các truyện
tiếu lâm.
Đến đây, chúng ta có thể suy ra một định nghĩa khái
quát hơn về điển tích: Điển tích là một ký ức chung
của một cộng đồng người được ký hiệu hóa và có thể được
dẫn chiếu đến bằng cách phát và nhận tín hiệu đó trong
một hệ thống nhất định.
Trong định nghĩa này, “chung” là một tính từ cực kỳ
quan trọng: điển tích chỉ là điển tích đối với những
ai chia xẻ ký ức chung về nó. Giống như con số “hăm
hai” chỉ là một câu chuyện tiếu lâm đối với đám tù nhân
cũ, “Con ngựa thành Troy” chỉ là điển tích đối với những
ai đã biết về câu chuyện ấy mà thôi.
Nếu chúng ta chấp nhận định nghĩa điển tích như trên,
chúng ta cũng buộc phải chấp nhận rằng khái niệm và
vai trò của điển tích cần được mở rộng hơn nhiều so
với những cách hiểu thông thường.
Trước hết, bên cạnh các điển tích sách vở chúng ta
còn có các điển tích đời sống. Thật vậy, trong cuộc
sống hàng ngày, có vô số những câu chuyện, sự kiện,
ý tưởng...mà chỉ là chung cho những thành viên của một
cộng đồng người nhất định. Đó là những ký ức chung của
họ. Cũng giống như các câu chuyện tiếu lâm của đám tù
nhân trong câu chuyện của Mauro, những ký ức chung trong
cuộc sống cũng được tín hiệu hóa - bằng con số, tên
gọi, cử chỉ, hay bất kỳ một dấu hiệu nào đó - mà để
dẫn chiếu đến, người ta chỉ cần nhắc đến trong một hệ
thống cho phép nhận ra nó.
Điển tích đời sống thực ra là cái được sử dụng thường
xuyên hơn ta nghĩ rất nhiều, cả trong giao tiếp, sinh
hoạt lẫn trong văn học nghệ thuật, mặc dù thường không
mấy ai để ý. Chúng ta có lẽ ai cũng đã từng bị lạc vào
một ngày hội lớp, một buổi liên hoan công ty, hay bị
ghép vào một bàn tiệc đám cưới với những người hoàn
toàn xa lạ: sau mấy câu xã giao, chúng ta hóa thành
một kẻ vụng về, ngốc nghếch. Giống như người tù mới
trong câu chuyện của Mauro, khi họ cười, chúng ta chẳng
hiểu vì sao họ cười, khi họ nổi giận, ta chẳng hiểu
vì sao họ giận. Điều này cũng rất rõ và là một phần
quan trọng của cái mà chúng ta thường gọi là “cú sốc
văn hóa” khi đến một xứ sở khác. Chẳng hạn, tiếng Pháp
của bạn có thể không tồi, nhưng nếu chưa từng đến Pháp,
bạn có thể phải ngẩn người, trong một toa tàu điện ngầm
Paris, trước những điều người Pháp trao đổi với nhau
Trong văn học, mọi tác phẩm đều phải dựa trên hay gắn
liền với một bối cảnh nhất định, trong đó tác giả cũng
như nhân vật trải qua một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
thông các con đường khác nhau. Chính vì thế để hiểu
được một tác phẩm một cách trọn vẹn, người ta không
chỉ cần hiểu được các quy luật cú pháp cũng như về ngôn
ngữ của một tác phẩm mà còn phải hiểu được bối cảnh
ấy, nếu không tác phẩm sẽ bị mất đi rất nhiều giá trị,
hoặc đôi khi không thể hiểu được. Tôi xin lấy làm ví
dụ cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Nỗi buồn chiến tranh của
Bảo Ninh và những truyện ngắn trong tập Những ngọn gió
Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp. Cả hai nhà văn này đều
là những nhà văn có thực tài và tôi rất khâm phục. Tuy
nhiên, tôi tin (và trên thực tế qua tiếp xúc với khá
nhiều người nước ngoài), rằng khi được dịch sang các
thứ tiếng phương Tây, cuốn sách của Bảo Ninh sẽ gây
được một tiếng vang lớn hơn, thậm chí là lớn hơn nhiều,
so với truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp. Vấn đề ở đây,
theo tôi, không phải là văn tài của Nguyễn Huy Thiệp
kém hơn, hoặc những người dịch Nguyễn Huy Thiệp kém
hơn, mà là tính chất của tác phẩm. Chính ở đây, các
điển tích đời sống đã có ảnh hưởng rất lớn.
Cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh có cấu trúc hiện đại
kiểu phương Tây, các vấn đề tác giả đặt ra là các vấn
đề chung của mọi cuộc chiến tranh. Nếu chúng ta đổi
các địa danh, thay cây tre bằng cây bạch dương, gọi
anh Phương là John hay François... thì nó sẽ khá giống
một cuốn tiểu thuyết của châu Âu. Chính vì thế, khi
mới ra mắt, một số người từng bình luận “Hồn Remarque,
xác Bảo Ninh”. Tôi cho rằng nhận xét như vậy là quá
khắt khe. Cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh là một tác phẩm
độc đáo của Bảo Ninh, của Việt Nam và với tư cách một
nhà văn Việt Nam, tôi rất tự hào về nó. Tuy nhiên, nhận
xét trên cũng phần nào cho thấy tính phổ quát của những
vấn đề được đặt ra trong đó.
Những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp thì khác. Truyện
ngắn của anh, mặc dù rất sâu sắc và tài hoa, nhưng hàm
chứa và dựa vào nhiều vấn đề đặc thù của xã hội người
Việt, đặc biệt là người Việt trong giai đoạn mấy chục
năm vừa qua. Những người không sống ở hoặc không am
hiểu về Việt Nam trong vài thập kỷ trước và sau 1975,
sẽ không thể hiểu hết ý nghĩa của những thứ như “sổ
đong gạo”, “thẻ đoàn viên”, “tem phiếu”... và cả những
nét chua chát trong những câu nói bình thường đã trở
thành thành ngữ. Những người không đọc văn học cổ Việt
Nam và Trung Quốc không thể cảm nhận hết cái hay của
thứ văn được Nguyễn Huy Thiệp khai quật và phả vào một
tinh thần mới trong Vàng lửa, hay Kiếm sắc. Thậm chí
nhiều tên nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp cũng chứa đựng
những ám chỉ mà khó có một dịch giả nào có thể chuyển
tải trọn vẹn đến cho những người đọc không được chuẩn
bị.
Tất nhiên không phải cuốn sách của Bảo Ninh không chứa
đựng những vấn đề tương tự, nhưng mức độ ít hơn rất
nhiều. Vì thế, việc tiếp nhận tác phẩm của Bảo Ninh
thuận lợi hơn đối với các độc giả phương Tây.
Người đọc Việt Nam không gặp phải những khó khăn đó,
bởi lẽ họ đã có chung ký ức về tất cả những gì Nguyễn
Huy Thiệp gợi lên hay ám chỉ. Vì thế, truyện của anh
gợi cho họ cả một không gian, thời gian đầy biến động
của đất nước. Những ký ức, hay những điển tích đời sống
ấy, khiến cho tác phẩm của anh dày hơn, lung linh hơn
và sâu sắc hơn. Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng không
phải lúc nào những điển tích đời sống cũng ủng hộ anh.
Có những chỗ sự ám chỉ khiến văn chương của anh mất
đi vẻ tao nhã, có những điều anh đề cập dần dần trở
thành thời vụ. Vì thế, mặc dù rất yêu văn chương của
Nguyễn Huy Thiệp, tôi thú thực là sau dăm bảy năm, đọc
lại, tôi cảm thấy một số tác phẩm, chẳng hạn Tướng về
hưu, đã bớt đi một phần sức quyến rũ hồi nào.
Như thế, trong các tác phẩm văn học, ngoài những điển
tích văn học còn có vô số các điển tích đời sống. Việc
sử dụng điển tích đời sống mang tính phổ quát hay địa
phương ở các mức độ khác nhau tự thân nó không phải
là hay hay dở. Nó chỉ thể hiện thiên hướng của chủ thể
tác giả, cái mà suy cho cùng cũng được tạo nên bởi hoàn
cảnh sống. Điển tích đời sống là cái làm nên không chỉ
bầu không khí địa phương hay phổ quát của tác phẩm ở
mức độ khác nhau, mà cả giọng văn - bởi, nói như Althusser,
cái được coi là giọng văn độc đáo của cá tính tác giả
chẳng qua cũng là sự lên tiếng của một hệ tư tưởng cụ
thể, thông qua một lập trường chủ thể cụ thể trong một
bối cảnh cụ thể mà thôi.
III. Ký ức của từ
Khi nói đến điển tích, ta thường nghĩ đến một câu chuyện
hay sự kiện, nhưng thực ra mỗi thành ngữ cũng là một
điển tích. Đằng sau những thành ngữ như “ba chân bốn
cẳng”, “con ông cháu cha”, hay “thượng cẳng chân hạn
cẳng tay”... rất có thể đã từng có một câu chuyện nay
đã thất truyền, nhưng ngay cả những thành ngữ như “mắt
ốc nhồi”, “đồ mặt mo”... cũng dẫn chiếu đến một ký ức
chung, cái gọi là “nghĩa” của thành ngữ.
Tương tự như vậy, mỗi từ, khi được phát âm hay viết
ra trên giấy trong một hệ thống nhất định, thật ra chỉ
là một thứ ký hiệu được quy ước dẫn chiếu đến một sự
vật hay hiện tượng trong thiên nhiên hay xã hội, cái
thường được gọi là “nghĩa”. Đó chính là một thứ điển
tích. Giống như đối với bất kỳ loại điển tích nào, nội
dung của nó, ở đây là “nghĩa” của từ, chính là ký ức
chung của một cộng đồng người. Chẳng hạn, khi âm “MA”
được phát lên, người Việt nghĩ đến “bóng ma”, trong
khi người Pháp hiểu là “của tôi”, còn người Italia lại
hiểu là “nhưng”. Đối với những người không có chung
ký ức đó, "MA" là một âm thanh hoàn toàn vô
nghĩa. Điều này cho ta thấy rằng từ vựng của một ngôn
ngữ là tập hợp các điển tích đời sống của một dân tộc,
và một cuốn từ điển giải nghĩa của bất kỳ thứ tiếng
nào về bản chất cũng chỉ là một cuốn sưu tầm điển tích
đời sống của dân tộc nói thứ tiếng ấy mà thôi.
Vì mỗi từ về bản chất là những điển tích, chúng có
những đặc điểm quan trọng sau đây:
1. Tính nhập nhằng của ngữ nghĩa: Điều này tôi đã có
dịp bàn đến trong một số bài viết khác. Nghĩa của từ
là ký ức chung, được hình thành một cách ngẫu nhiên,
của một cộng đồng người tương ứng với vỏ âm thanh của
nó, vì thế nó không bao giờ là đồng nhất đối với các
thành viên khác nhau trong cộng đồng. “Cánh đồng làng”,
chẳng hạn, đối với nhiều người, nhất là những người
từng sống ở nông thôn, là cả một thế giới giàu có, gần
gũi, thì đối với một số người khác nó đồng nghĩa với
bùn lầy và nghèo khổ. Tôi nhớ đến một nghiên cứu thú
vị mà tôi tình cờ đọc được đâu đó trong một tờ báo Pháp.
Tại một trường tiểu học ở Paris, người ta yêu cầu các
em học sinh vẽ hình con gà. Kết quả là hơn một nửa số
em vẽ những con gà đã bị vặt lông, chặt đầu chặt chân,
đặt trên đĩa hoặc trong tủ kính. Con gà đối với các
em chỉ đơn thuần là một thứ thực phẩm mà thôi!
Nghĩa của từ, và do đó cả tính nhập nhằng của nó, phụ
thuộc vào nhiều yếu tố: tầng lớp xã hội, địa phương,
giới tính, giáo dục, độ tuổi...Trong một số trường hợp,
một từ có thể có những nghĩa hoàn toàn trái ngược ngay
trong một cộng đồng ngôn ngữ. Ví dụ điển hình nhất là
cuộc tranh cãi kéo dài nhiều thế hệ về các tên gọi “tôm
– tép” và “cào cào - châu chấu”. Nhiều cuộc xô xát,
thậm chí án mạng đã từng xảy ra vì chuyện “tôm tép”
này. Điều thú vị là lý luận của hai bên bao giờ cũng
giống hệt nhau:
Một bên: “Tôm là tôm, cá là cá. Tép là con giống tôm
nhưng không bao giờ lớn thành tôm được!”; Bên kia: “Đúng
vậy, tôm là tôm, cá là cá. Tép con giống như cá nhưng
không bao giờ lớn thành cá được!”
Và:
Một bên: “Cào cào đầu bằng, sao lại gọi là châu chấu!”,
còn bên kia: “Chính châu chấu mới đầu bằng, sao lại
lại gọi là cào cào!”
Những hoàn cảnh sống đặc biệt là nguyên nhân làm nảy
sinh những từ hoặc nghĩa chỉ lưu hành trong một cộng
đồng hẹp hoặc rất hẹp, như những từ chuyên môn hay từ
lóng. Những từ lóng trong nhà tù đôi khi còn được tạo
ra một cách cố ý do nhu cầu phải trốn tránh sự kiểm
soát của cai ngục hoặc giải toả những bức xúc tâm sinh
lý quá nặng nề. Quan hệ tình cảm cũng là một lĩnh vực
cần đến nhiều từ như thế: mỗi gia đình đều có những
từ chỉ riêng họ biết, mỗi cặp tình nhân đều có những
biệt ngữ cho những điều thầm kín của mình.
2. Sự biến đổi của ngữ nghĩa: Số phận của từ ngữ cũng
giống như số phận con người, cũng có sinh lão bệnh tử,
cũng có nhục có vinh, cũng có rủi ro, may mắn... Thử
mở một tác phẩm văn học chỉ cách đây vài chục năm, chúng
ta sẽ thấy rằng rất nhiều từ hay cụm từ, như “tiêu chuẩn”,
“hợp tác”, “đồng chí”, “tư tưởng”... đã thay đổi rất
nhiều về nghĩa. Rất nhiều từ và cụm từ khác, như “sổ
gạo”, “chính ủy”, “vừa hồng vừa chuyên”... thậm chí
đã biến mất khỏi cuộc sống hàng ngày.
Sự thay đổi như vậy không riêng cho một thứ tiếng nào
hay thời đại nào, mặc dù nhiều khi nó bị các học giả
lên án. Thời nào, ở nước nào, cũng có những người lo
sợ rằng ngôn ngữ đang bị thoái hóa và hô hào “bảo vệ
sự trong sáng” của nó. Ở Anh chẳng hạn, trong thời kỳ
Khai Sáng, các tác giả như Dryen, Swift... cho rằng
tiếng Anh ngày càng tồi tệ so với thời huy hoàng trong
quá khứ của nó, rằng trong tương lai người Anh sẽ không
còn hiểu được tác phẩm của các nhà văn tiền bối, vì
thế cần phải thanh lọc và ngăn chặn sự biến đổi của
ngôn ngữ sao cho nó ổn định và trong sáng như tiếng
Latin. Họ đã thất bại, bởi không hiểu rằng sự vận động
của ngôn ngữ là tất yếu, không ngừng và không tuân theo
những ý muốn chủ quan. Hơn nữa, sự vận động không ngừng
ấy chính dấu hiệu của một ngôn ngữ sống: sự vận động
của ngôn ngữ phản ánh sự vận động của cuộc sống xã hội.
Việc thay đổi ngữ nghĩa khiến cho sự tiếp nhận đôi
khi gặp khó khăn. Nhưng với tư cách là một ký ức có
tính lịch sử, ngữ nghĩa và sự thay đổi của nó cũng là
một yếu tố quan trọng để tạo nên và lưu giữ màu sắc
thời đại của tác phẩm. Có lẽ chính vì thế mà rất nhiều
người theo đạo Thiên Chúa ở các nước nói tiếng Anh không
ưa thích bản Kinh Thánh mới (The New International Version)
bằng bản King James. Những danh từ cổ, những đại từ
và đuôi động từ nay không còn dùng nữa đem lại cho bản
dịch cũ cái không khí và vẻ đẹp xa xăm, huyền bí và
dường như cả âm hưởng linh thiêng của giọng nói Đức
Jesus Christ từ hai ngàn năm về trước.
3. Sự xâm nhập và ảnh hưởng lẫn nhau: Sự ảnh hưởng
lẫn nhau giữa các ngôn ngữ cũng là hiện tượng phổ biến,
trong đó đáng chú ý nhất đối với chúng ta là sự vay
mượn từ vựng. Đây cũng là một hiện tượng gây nhiều tranh
cãi. Những người phản đối lập luận rằng tại sao chúng
ta phải nói “M.C”, “book” hay “marketing” trong khi
có thể nói “Người dẫn chương trình”, “đặt trước” và
“tiếp thị”? Người ủng hộ thì cho rằng phải dùng từ vay
mượn mới chuyển tải hết được ý nghĩa. Theo tôi, sở dĩ
sự vay mượn từ vựng mang tính phổ quát là vì nó đáp
ứng một nhu cầu có thật, mặc dù đó không phải là nhu
cầu ngôn ngữ mà là nhu cầu văn hóa-xã hội. Thật ra mọi
ngôn ngữ hoàn toàn bình đẳng về khả năng, và khi có
nhu cầu về ngữ pháp hay từ vựng, nó luôn luôn có khả
năng đáp ứng đầy đủ và hoàn hảo. Tuy nhiên, điều kiện
tự nhiên, đặc điểm của nền sản xuất cũng như trình độ
phát triển của các xã hội, cái đứng sau sự phát triển
của ngôn ngữ, không bao giờ giống nhau tuyệt đối. Khi
người châu Á và châu Âu lần đầu tiên trông thấy quả
cà chua, dĩ nhiên họ cần phải gọi tên nó. Họ có hai
cách lựa chọn: hoặc tạo ra một từ mới từ vốn từ của
mình (như người Việt đã làm), hoặc vay mượn một từ mới
(là cách của người Pháp với tomate, hay người Anh với
tomato). Trong cả hai trường hợp, họ tiếp nhận vào bộ
nhớ của mình một ký ức mới về một loại quả mới được
ký hiệu bằng một từ mới. Một quá trình tương tự luôn
diễn ra mỗi lần người ta gặp một sự vật hay hiện tượng
mới, nhưng không ai có thể chỉ ra quy luật tại sao một
cộng đồng người, trong những hoàn cảnh cụ thể, lại lựa
chọn cách này hay cách kia.
Sự vay mượn không chỉ diễn ra khi có sự vật hay hiện
tượng mới: một người bán quần áo đắt tiền ở Anh có thể
thích đề biển hiệu La boutique hơn là Shop, trong khi
một sinh viên Pháp có thể lại dùng email thay cho courrier
electronique, còn các cô cậu choai choai ở Việt Nam
lại dùng “Nick-name” chứ không phải là “biệt danh” hay
“tên lóng” để chat chít với nhau. Lý do ở đây thật ra
không có gì khác với lý do hình thành tiếng lóng: bằng
cách thay đổi ký hiệu, người ta giới hạn những người
có chung ký ức vào một đối tượng riêng biệt, và thông
qua đó nhấn mạnh một số đặc điểm mang tính văn hóa xã
hội: giai cấp, học vấn, thị hiếu, giới tính, thiên hướng
chính trị... Dick Leith viết trong cuốn Lịch sử xã hội
học tiếng Anh: “Vì người dân bình thường có thể bị choáng
trước những câu nói cao siêu, trong giới thượng lưu
nảy sinh nhu cầu dùng từ ngoại quốc” [3]. Đôi khi người
ta vay mượn từ ngoại quốc vì nhu cầu cái mới. Giống
như những người kể chuyện tiếu lâm không thể kể mãi
một kiểu, trong cuộc sống có những lúc người ta muốn
một hình thức đặc biệt hơn cho một nội dung đã cũ: khi
cần tỏ ra lịch sự, khi chia buồn hay đơn thuần là muốn
thay đổi một cái gì đó đã lỗi mốt.
Nguyên nhân thứ ba là sự thống trị về mặt chính trị
mà một dân tộc áp đặt lên dân tộc khác. Trong trường
hợp này, dân tộc bị thống trị buộc phải sử dụng ngôn
ngữ của dân tộc thống trị trong hành chính, giáo dục
và đôi khi, như trường hợp Việt Nam thời Bắc thuộc hay
nước Anh dưới sự thống trị của người Norman, cả trong
văn học nữa.
Cuối cùng, sự vay mượn có thể diễn ra đơn giản do sức
ép về văn hóa. Các dân tộc có nền văn hóa phát triển
thường tạo nên những hình mẫu văn hóa có sức hút rất
lớn đối với các dân tộc kém phát triển hơn. Trong vô
số tiếp thu ảnh hưởng, người dân các dân tộc kém phát
triển nhìn nhận những từ vay mượn như là dấu hiệu của
sự văn minh. Những ví dụ hay được nhắc đến của các hình
mẫu đó là Hy Lạp, La Mã, Trung Hoa cổ đại và có lẽ là
Hoa Kỳ ngày nay.
Ba đặc điểm trên đây cho ta thấy nghĩa của từ phụ thuộc
vào các điều kiện lịch sử, xã hội và trải nghiệm cá
nhân của đến mức nào. Và đó chính là nguồn gốc tính
biểu cảm của ngôn từ, cái có vai trò vô cùng to lớn
trong văn học, đặc biệt là trong thơ. Trong tiếp nhận
của mỗi người, nghĩa của từ, cái ký ức chung giả định
kia, giống như một cánh bướm mong manh, chấp chới, không
ngừng biến đổi. Vì mỗi từ, về bản chất, là một điển
tích, đúng hơn là một điển tích cuộc sống, nó bao giờ
cũng chỉ được hiểu một cách tương đối, gần đúng. Nó
biến đổi cùng với cuộc sống, và tùy thuộc vào sự am
hiểu và tâm trạng của mỗi người mà nó có một trường
ngữ nghĩa cụ thể. Việc tìm một điển tích tương đương
cho nó trong một ngôn ngữ khác càng khó khăn hơn gấp
bội. Tôi có đọc ở đâu đó một bài báo khoa học, rằng
khi dịch từ tiếng nọ sang tiếng kia, người ta chỉ có
thể có không tới 300 từ tương ứng với nhau một cách
cơ bản về ngữ nghĩa. Nếu xem xét cả các khác biệt về
ngữ pháp và truyền thống văn hóa, điều đó có nghĩa là
lối dịch mot-à-mot trên thực tế không tồn tại.
Để hiểu được một tác phẩm nghệ thuật, chúng ta không
thể tách rời cội nguồn xã hội, văn hóa và lịch sử đã
nuôi nấng và đã cấp cho các từ, cũng như các đơn vị
lớn hơn từ, những ý nghĩa cụ thể của chúng. Những điều
này chúng tôi nói về ngôn từ, nhưng cũng đúng với những
sự vật khác: mỗi dáng cây, thế núi hay màu sắc, hương
vị gợi nhớ về những ký ức khác nhau. Nhạc sĩ Lê Tâm
kể rằng trong thời gian đi nghĩa vụ quân sự, anh thường
xuyên phải lao động bên cạnh một xưởng nấu nước mắm.
Cùng với một băng nhạc ABBA, mùi nước mắm trở thành
bạn đồng hành của anh trong mấy năm liền. Sau này, mỗi
lần nghe nhạc ABBA anh lại ngửi thấy mùi nước mắm!
Vì vậy, nghiên cứu tác phẩm chỉ căn cứ vào văn bản
chỉ là một ảo tưởng mà thôi.
Hà Nội, 1997
Sửa lại lần cuối tại Normal, 2003
© eVăn 2004
--------------------------------------------------------------------------------
Chú thích của tác giả:
[1] "Allusion: A figure of speech that makes brief
reference to a historical or literary figure, event,
or subject". C. Huge Holman and William Harmon,
A Handbook to literature, Macmillan, USA, 1992, p.13.
[2] Lại Nguyên Ân và Bùi Văn Trọng Cường, Từ điển văn
học Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX: Giáo Dục,
Hà Nội, 1999, tr. 142-143.
[3] "Since ordinary people might be impressed by
a high-sounding utterance, there is a demand among elites
for foreign vocabulary". Dick Leith, A Social History
of English, Routledge & Kegan Paul, London, 1983,
p.64.
[Quay lại]
|