CHUYỆN PHIẾM


TÙY DUYÊN

Tôi có duyên may được gặp Đạo Sư Duy Tuệ trong dịp chúng tôi làm lễ động thổ để tôn tạo lại chùa Vân Tiêu cùng với đông đảo bà con trong Nam ngoài Bắc có lòng hảo tâm muốn hành hương về Yên Tử nơi vua Trần Nhân Tông Đức Phật Tổ của Việt Nam, đã từng sống và dạy Đạo cách nay gần bảy trăm năm.

Trời đã về chiều, gió se lạnh, giữa cảnh âm u tĩnh mịch chốn Vân Tiêu (nơi mà mây không bao giờ tụ lại-mây tan), những giọt nắng chiều như còn lưu luyến vướng trên ngọn cây, và sương mờ lắng xuống bao phủ kín dưới lưng đồi… Tôi cũng không nhớ bắt đầu từ đâu và từ lúc nào, Đạo Sư Duy Tuệ đã truyền lại cho tôi cái cảm nhận thánh thiện, niềm hạnh phúc khai mở được tái hiện mà xưa kia cách đây 700 năm, đức vua Trần Nhân Tông đã ghi lại trong bài thơ chữ Hán của Người về sơn Vân Tiêu :

“Đình đình bảo cái cao phàn Vân

Kinh tiêu cung khuyết vô phàn trần …

Thử phong, thử nguyệt, dĩ thử nhân

Hợp thành thiên hạ tam kỳ tuyệt !”

(“Quả núi vời vợi như chiếc lọng hoa cao với tới mây

Cung điện thần tiên không gợi chút trần tục ..

Gió đây, trăng đây, với người đây

Hợp với nhau thành ba thứ tuyệt diệu trong trời đất”)

Và cứ thế, tôi được Đạo Sư dẫn vào nội tâm sâu kín của chính mình… ông chậm rãi từng bước như tay lần tràng hạt hành thiền với một giọng nói trầm lắng “Ai cũng có Phật tánh trong con người, nhưng những dục vọng của cuộc đời đã cuốn hút chúng ta và làm lu mờ cái bản chất thánh thiện của con người, nói theo kiểu Khổng Tử là “nhân chi sơ tính bản thiện”! Nếu vén được cái màn sương dục vọng ấy thì tâm Phật sẽ được khai mở, toả sáng và con người sẽ sống và làm việc tốt đẹp hơn, từ ông thủ tướng cho đến người dân thường. Thậm chí một kẻ ăn mày có chút ánh sáng tâm Phật thì anh ta cho dù không thay đổi được thân phận nhưng đi ăn xin một cách sạch sẽ hơn !

Vì vậy đạo Phật lấy hoa sen làm biểu tượng cho sự giải thoát. Hoa sen sống trong bùn. Bùn là biểu tượng cho cuộc sống, cho các loại dục vọng, nhưng sen vào ngọt ngào hương sắc “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn…”

Tôi là một người giảng dạy ở các trường Đại học và các viện nghiên cứu, nên tôi hiểu được rằng : Tạo hoá đã đặt con người trước một nghịch lý vĩ đại mà trong suốt chiều dài vô tận của mình, con người phải vật lộn để cuộc sống được an bình, cân bằng. Đó là mối quan hệ giữa CON và NGƯỜI trong con người. Là CON-con người cũng như các thú vật đều tham- sân –si, đều là hữu hạn trong cái vòng sinh-lão-bệnh-tử .., nhưng là NGƯỜI nó lại luôn luôn hướng thiện và muốn trường sinh bất tử ! Để con người được giải thoát và đạt tới cõi Niết bàn (vốn là từ Aán Độ Nir-Vana : Nir phủ định từ , Nava:dục vọng, sự sống) , đạo Phật chủ trương lấy giới, định, tuệ (Sila, Samadhi, Prajna)làm cốt lõi cho đời sống người phật tử. Thông qua sự tụ tập, trong đó thiền được xem là giải pháp quan trọng để thay thế dục lạc (lạc thú nhục dục) bằng thiền lạc (thú vui của thiền định).

Đạo Sư Duy Tuệ- như ông tự bạch và như nhiều người đã biết, vốn không phải là một người xuất gia có nhiều thời gian tu tập, mà là một con người bình thường sống lăn lộn trong cuộc đời và cũng có nhiều thành đạt : một nhà kinh doanh giàu có đã bôn ba nhiều nước, một gia đình ấm cúng vợ con đàng hoàng , một môi trường bầu bạn giao du rộng rãi… nhưng ông chưa một lần cảm thấy hạnh phúc và yên ổn. Ông đi ăn mày cửa Phật ! Ông đã viết một bài “ăn xin” cực kỳ xúc động khi ông ngồi bán già dưới gốc Bồ đề – Bodhgaya India, cầm những đống tiền bố thí mà nước mắt ông ràng rụa, phải tập kiếp sống ăn xin, và ông đã đốn ngộ: ”tự tâm ta biết rằng : hành động sống đời ăn xin của ta là để cho người đời tăng thêm phước” ! Ông không phải là người thuộc làu kinh Phật, am hiểu hoằng pháp, thông thạo giáo lý như các Hoà Thượng trong giáo hội... nhưng khi đốn ngộ ông như được đức Phật khai mở tâm Phật và thắp sáng tuệ nhãn và tu tập hành đạo một cách tự nhiên, tự nguyện. Con đường của ông đến với đức Phật là con đường trải nghiệm tâm linh hơn là giác ngộ về giáo lý. Và ông như được sinh ra để làm một sứ giả của đức Phật là truyền đạt những tư tưởng của đức Phật vào đời sống thường ngày của chúng sinh .

Nếu như trong cuốn “Hành trang vào đời” (nxb Văn Hoá Hà Nội, 2001) ông đã diễn giải một cách dung dị - tiếng nói thật mộc mạc của con tim-tâm Phật, để giúp con cháu, cũng bằng trực cảm nhận thức thực chất giáo lý sâu sắc của đạo Phật để rồi hành xử trên cơ sở đạo đức và hướng thiện , thì cuốn “Trí Tuệ Người Việt” mà các bạn đang có trong tay, và tôi may mắn, vinh hạnh được giới thiệu là một sự tiếp tục khám phá cái tâm của mình, giúp chúng sanh tự khám phá tâm phật của mình và noi theo đức Phật lên đường giúp đỡ chúng sanh. Đây là sự ghi lại những suy tư cảm xúc, những cuộc trao đổi, tiếp xúc với nhiều người trong nước và nước ngoài .

Tất cả những gì ông đã ghi lại như là nhật ký của năm 2001-2002 – nhật ký của tâm thức sâu lắng, chân thật. Có thể đó là những cảm nhận trong những ngày sống trầm tư ở Đà Lạt mù sương, ở nơi đất khách quê người (Singapore, Băngcốc, Hồng Kông …), đó là những bức thư gởi cho bè bạn những người “hữu duyên” ; đó là những buổi nói chuyện với các tầng lớp nhân dân, kể cả lớp cai nghiện ma tuý bằng “thiền” ; …

Có thể nói Đạo Sư Duy Tuệ với tình cảm riêng của mình đã cảm nhận được cái Phật tánh nguyên thuỷ và muốn trả lại cho đời một cái đạo Phật vô thần.

Ông viết:

“Hàng nghìn năm người ta đã nhầm

Ngồi thiền để thành Phật !… không phải tu để thành Phật !

Mà phải nhận ra bản chất Phật của mình… khi nhận ra bản chất này

Giúp con người sẽ hạnh phúc trong địa vị mình

Từ kẻ ăn xin cho đến bậc vua chúa

Đều an vui trong vị trí của mình.”

Ông coi đức Phật “là vị Thầy vĩ đại nhất” và vị Thầy ấy đang nằm trong ta (bảo tháp là ta). “Hãy nhận ra vị Thầy vĩ đại nơi mình và lễ lạy”. Đó chính là tâm Phật. Ông còn khuyên các tu sĩ: ”Đời sống của tu sĩ là cách lựa chọn riêng của mỗi người, là hạnh phúc riêng của mỗi người, nhưng nhất thiết nó không phải là lý tưởng của mọi người”. Trong một bức thư dài ông gửi cho tôi từ Singapore, ông nói với tôi:

“ Từ bao thế kỷ ấy

Người ta đặt niềm tin và trao thân phận cho tôn giáo

Ôi ! những kẻ nô lệ !

Sự huyền hoặc của tôn giáo

Lại trở thành khuôn mẫu cho con người !

Ôi tối tăm lại chồng chất tối tăm !

Ôi đau khổ lại chồng chất đau khổ !

Đi máy bay trên bầu trời ông khát khao “vượt ra, vượt ra, vượt ra khỏi, vượt ra tất cả sự chấp ngã… để sống với tâm vô lậu, với tuệ giải thoát”. Nhiều hình tượng chứa đựng những triết lý sâu sắc: trong bài “Hãy Nhìn Từ Sự Trong Suốt” ông viết:

Đừng nhìn tôi qua kinh nghiệm cuộc đời… qua suy luận…

Đừng nhìn tôi bằng tình thương hay lòng căm ghét…

bằng ý tưởng thông minh hay lòng khờ dại…

bằng niềm vinh hay nói nhục…

bằng quá khứ hay tương lai…

Hãy nhìn tôi từ sự trong suốt ở tâm bạn

Hãy nhìn như thế mới thấy được tôi…

Và từ đó Đạo Sư đã tìm thấy cái tâm Phật ở người Việt Nam đã toả sáng qua cuộc đời, sự nghiệp, và nhân cách của vua Trần Nhân Tông – một Thánh Vương đã lập nên chiến công rực rỡ và từng sống một cuộc đời sung sướng… Ấy thế mà ngài đã từ bỏ tất cả để xuất gia hành đạo và trở thành Phật Tổ Việt Nam, đề xướng tư tưởng Cư trần lạc đạo:

“ Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên

Đói cứ ăn đi, mệt ngủ liền

Báu sẵn trong nhà, thôi khỏi kiếm

Vô tâm đói cảnh hòi chi thiền !

Từ đó đến nay – 700 năm qua Yên tử vẫn là thánh địa của đạo Phật Việt Nam!

Theo sự thức nhận của Đạo Sư Duy Tuệ (trong thư gửi giáo sư Phạm Đức Dương ) thì công thức sống của Phật tổ Trần nhân Tông là : Dân Tộc - tín ngưỡng – pháp trị.

“Đối với Ngài dân tộc và tổ quốc là trên hết

Nhưng dân tộc ấy phải có tín ngưỡng để thăng hoa

Dân tộc ấy và tổ quốc ấy phải được những nhà cầm quyền dùng chánh pháp để cai trị”

Trần Nhân Tông là Thánh vương – Trần Nhân Tông là Phật Tổ, hoàn toàn xa lạ với khái niệm vua-thần trong tôn giáo của Ấn Độ : cấp cho vương quyền một cái nhãn thần quyền .

Tôi cũng “tuỳ duyên” mà được Đạo Sư Duy Tuệ mời đi Yên Tử, tham gia viết bài trong hội thảo về Trần Nhân Tông tại Quảng Ninh. Trong tâm thức tôi như được phát sáng một nhận thức mới mà trước đây ít ai nghĩ đến : sau chiến tranh tàn khốc, dù kẻ thắng người thua – con người đều nghĩ đến sự khoan dung, mong muốn được sống yên vui nhất là trong đời sống tâm linh. Những nhà tư tưởng phải dựng nên ngọn cờ nhân đạo đó. Để an ủi lòng dân (ta gọi là chính sách khoan dân-nhưng có lẽ chưa thoả đáng!). Vì vậy sau chiến thắng quân Nguyên – một đội quân xâm lược đã làm điên đảo cả Âu –Á, để lại một nỗi khiếp sợ kinh hoàng cả trong giấc ngủ : rợ Tác Ta! Thánh vương Trần Nhân Tông cảm nhận sâu sắc nỗi đau thương mất mát vô bờ bến của thần dân và dòng họ quí tộc, nên Ngài muốn cho trăm họ được hưởng cuộc sống yên bình – con người sống để yêu nhau ! Vì vậy ở trong nước Ngài đề cao nếp sống “cư trần lạc đạo” , với người bạn đồng minh ở phía Nam- vua Champa thì giương cao ngọn cờ hoà hiếu giải hận thù xưa, gả con gái là Huyền Trân Công Chúa cho Chế Mân. Lúc đó, một số người, trong đó có cả sử gia đã chê cười nhà vua đem công chúa ngọc ngà Đại Việt gả cho bọn man di ! Sau này, có người lại ca ngợi vua Trần Nhân Tông đã mở mang bờ cõi bằng cách gả con gái để lấy Châu Ô Châu Rí ! Tôi đã viết bài: “ Nốt nhạc thiền hoà hiếu trong quan hệ bang giao giữa Đại Việt và Champa thời Trần Nhân Tông”. Như có ai đó giải thích cho tôi vì sao trong lịch sử Đại Việt lại có một ông vua sau chiến thắng lẫy lừng đã giao lại ngôi vàng cho con, đã chu du khắp đất Champa gần 10 tháng, hứa gả con gái cho người bạn đồng minh chống kẻ thù chung ? Đâu phải để lấy hai châu, mở rộng bờ cõi ! mà là để xây dựng cuộc sống thanh bình hữu nghị cho cả hai dân tộc vốn không được hoà thuận trong quá khứ và đều bị hy sinh trong chiến tranh. vua Trần Nhân Tông đã nhân cơ hội thắng lợi có một không hai trong lịch sử, thiết lập quan hệ lân bang để cùng nhau “cư trần lạc đạo”. Còn của hồi môn là việc làm theo thông lệ.

Đạo Sư Duy Tuệ và các bạn bè trong Trung Tâm UNESCO Nghiên Cứu và Ứng Dụng Phật Học Việt Nam cùng với Hội Khoa Học Đông Nam Á đang mong muốn tôn vinh và khai thác những giá trị của các di sản vật thể và phi vật thể để nêu cao ngọn cờ văn hoá Việt Nam. Các vị đã làm được nhiều việc như tham gia trùng tu các di tích lịch sử, chăm lo đời sống tâm linh cho người đã khuất, mở các lớp huấn luyện, thậm chí dạy thiền để cai nghiện, xuất bản sách báo, giúp đỡ những người hoạn nạn, mở phòng khám bệnh từ thiện, giúp học sinh nghèo…

Riêng về phần mình, tôi rất cảm ơn Đạo Sư Duy Tuệ và các vị đã đem đến cho tôi niềm vui, sự thanh thản và thôi thúc tôi, cổ vũ tôi, căn dặn tôi: ”Giáo sư nên nhớ điều ấy. Tâm trí là bầu trời tâm nơi ấy. Những dòng suy nghĩ tuôn chảy không ngừng. Vô tâm trí là bầu trời tâm chỉ có sự nhận biết của tâm. Sự biết không khách thể. Vừa là chủ thể vừa là khách thể. Khi đã có kinh nghiệm ấy. Giáo sư sẽ ngộ được tâm linh. Chỉ khi ấy trở đi. Tri thức của ông sẽ có tác dụng… Lúc ấy ngòi bút của ông, ngôn ngữ của ông thực sự có giá trị vô thượng”. Năm nay tôi bước vào tuổi 73 và được Đạo Sư Duy Tuệ cho nhận pháp danh (Thánh danh) là Minh Tuệ, tôi muốn dùng 4 câu kệ trong tộc phả họ Nghiêm Bá làng Tây Mỗ, huyện Từ Liêm để nói lên tâm nguyện của mình:

“Tuỳ duyên làm mọi việc

Xong việc lại như không

Có và không, không chấp

Trăng thu vằng vặc trong”

GS Phạm Đức Dương




|Tại sao? | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu|Hỏi&Đáp| Thể Thao |Tiểu phẩm|Thư tín|TRÁI TIM HỒNG|CHĂN GỐI | Rừng cười |Ẩm thực |MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn| | Nhân vật |Đó Đây|KINH TẾ | Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ Đọc Truyện

PHÁT MINH, KHÁM PHÁ

LỊCH SỬ VĂN MINH, VĂN HOÁ VIỆT NAM
LỊCH SỬ CÁC PHÁT MINH
TIỂU SỬ DANH NHÂN
KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

DANH NHÂN VIỆT NAM

 

KIẾN THỨC TỔNG QUÁT II