VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Nhân
ngày mất của Nguyễn Công Trứ ( 07 - 12- )
Nguyễn
Công Trứ thân thế, sự nghiệp
Cuộc
đời Nguyễn Công Trứ
Nguyễn
Công Trứ
Mục lục
1
Tiểu sử
2 Sự nghiệp
2.1 Quân sự
2.2 Kinh tế
2.3 Thơ ca
Nguyễn Công Trứ (1778-1858) quê ở huyện Nghi Xuân,
tỉnh Hà Tĩnh. Ông là một nhà quân sự, một nhà kinh
tế và một nhà thơ lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam
cận đại.
Tiểu
sử
Ngay
từ thuở còn hàn vi ông đã nuôi lý tưởng giúp đời,
lập công danh, sự nghiệp:
Đã
mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông.
Năm 1820 khi đã 42 tuổi, ông mới đỗ Giải nguyên.
Từ đây bắt đầu thời kỳ làm quan đầy sóng gió của
ông. Ông hoạt động trong nhiều lĩnh vực từ quân
sự, kinh tế tới thi ca.
Cuộc
đời ông là những thăng trầm trong sự nghiệp. Ông
được thăng thưởng quan tước nhiều lần vì những thành
tích, chiến công trong quân sự và kinh tế nhưng
cũng nhiều lần bị giáng phạt, nhiều lần giáng liền
ba bốn cấp như năm 1841 bị kết án trảm giam hậu
rồi lại được tha, năm 1843 còn bị cách tuột làm
lính thú v.v.
Năm
Tự Đức thứ nhất 1847 ông nghỉ hưu với chức vụ Phủ
doãn tỉnh Thừa Thiên.
Sự
nghiệp Quân sự
Do
chính sách hà khắc của nhà Nguyễn dưới triều đại
Gia Long và Minh Mạng nên đã xảy ra liên tiếp nhiều
cuộc khởi nghĩa nông dân. Nguyễn Công Trứ tuy là
quan văn nhưng phải cầm quân, làm tướng, đánh đâu
thắng đó: 1825 dẹp Khởi nghĩa Lê Văn Lương, 1827
dẹp Khởi nghĩa Phan Bá Vành, 1833 dẹp Khởi nghĩa
Nùng Văn Vân, 1835 dẹp giặc Khách. Đến đời vua Tự
Đức thứ 11 (1858), khi Pháp tấn công Đà Nẵng, thì
ông đã 80 tuổi nhưng vẫn xin vua cho đi đánh giặc.
Kinh
tế
Ông
có sáng kiến chiêu mộ dân nghèo, đắp đê lấn biển,
lập ấp, khai sinh các huyện Kim Sơn (thuộc tỉnh
Ninh Bình ngày nay), Tiền Hải (thuộc tỉnh Thái Bình
ngày nay) vào những năm cuối thập niên 1820, đề
xuất lập nhà học, xã thương ở nông thôn nhằm nâng
cao dân trí và lưu thông hàng hóa. Những hoạt động
của ông trong lĩnh vực kinh tế được nhân dân các
vùng kể trên ghi nhớ. Hiện nay còn rất nhiều từ
đường thờ cúng ông ở hai huyện nói trên và quê hương
ông.
Thơ
ca
Nguyễn
Công Trứ là người có tài. Là một người của hành
động, trải qua nhiều thăng trầm, Nguyễn Công Trứ
hiểu sâu sắc nhân tình thế thái đương thời. Ông
khinh bỉ và ngán ngẩm nó.
Thế
thái nhân tình gớm chết thay
Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy
Hay:
Tiền
tài hai chữ son khuyên ngược
Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi
Hoặc:
Ra
trường danh lợi vinh liền nhục
Vào cuộc trần ai khóc trước cười.
Trong xử thế ông cười nhạo sự thăng giáng, coi làm
quan thì cũng như thằng leo dây và không giấu sự
ngạo mạn:
Nào
nào! Thằng nào sợ thằng nào
Đã sa xuống thấp lại lên cao.
Chán trường với chốn quan trường nhưng ông không
chán đời. Ông vốn yêu đời, là người chịu chơi, với
ông cái gì cũng có thể đêm chơi kể cả tài kinh bang
tế thế.
Trời
đất cho ta một cái tài
Giắt lưng dành để tháng ngày chơi.
Nguyễn Công Trứ là người đào hoa, mê hát ả đào,
ông viết nhiều bài ca trù đa tình. Ngất ngưởng,
ngông nghênh, về hưu đi chơi ông không dùng ngựa
mà dùng bò. Bảy mươi ba tuổi ông cưới vợ, trả lời
cô dâu khi nàng hỏi tuổi:
Năm
mươi năm trước, anh hai ba
Ngay lúc chua chát nhìn lại đời mình, ông vẫn là
người đầy khí phách:
Kiếp
sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Giữa trời vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thì trèo với thông
Ghi chú: Cây thông trong cách hiểu Nho-Khổng giáo
là người quân tử.
Đời
ông đầy giai thoại, giai thoại nào cũng cho thấy
bản lĩnh sống, bản lĩnh trí tuệ và mang tính bình
dân sâu sắc. Có thể nói thơ ông sinh động, giàu
triết lý nhân văn nhưng hóm hỉnh, đó là chất thơ
có được từ đời sống, lấy đời sống làm cốt lõi.

|