Chương 7
NGUYỄN CÔNG TRỨ
(1778-1858)
Chương 7
NGUYỄN CÔNG TRỨ
(1778-1858)
-Nguyễn Công Trứ sinh năm 1788, mất
năm 1858, thọ 81 tuổi. Ông lấy biệt hiệu là Hy Văn. Ông quê ở làng Uy Viễn,
huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.
-Thân sinh là Nguyễn
Công Tấn, giữ chức quan nhỏ dưới triều Lê. Khi Tây Sơn ra Bắc, ông chống lại
Nguyễn Huệ lên ngôi ông không chịu ra làm quan mà trở về quê hương mở trường dạy
học. Gia đ́nh Nguyễn Công Trứ v́ vậy cũng sa sút và nghèo đi.
-Nguyễn Công Trứ là
người thích lối sống tự do, phóng khoáng. Ông cũng là người
có tài, ham học, có chí và rất hăm hở trong việc lập danh. Ông đi thi rất nhiều
lần, trượt vẫn không nản, 41 tuổi mới đậu giải nguyên, 42 tuổi mới ra làm quan
(chức hành tẩu ở Sứ quán).
-Con đường làm quan của ông dưới
triều Nguyễn có nhiều thăng trầm, có lúc làm tướng , làm tôíng đốc Hải An nhưng
có lúc phải làm một anh lính ở biên cương. Trong thời gian 28 năm làm quan th́
ông bị đến năm lần giáng chức và cách chức.
-Trong cuộc đời làm quan của Nguyễn Công Trứ có hai điểm đáng chú ư:
+Ông là người kiên quyết bảo vệ trật
tự xă hội phong kiến v́ thế ông có nhiều công trạng đối với nhà Nguyễn trong
việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa (chủ yếu là của nông dân) chống lại triều
đ́nh.
+Ngược lại trong thời gian làm Dinh
điền sứ ở Thái B́nh và Ninh B́nh ông đă
chiêu mộ nông dân lưu vong ở các nơi đến để khai khẩn đất hoang ở hai tỉnh này
và đă lập nên hai huyện Kim Sơn (Ninh B́nh) và Tiền Hải (Thái B́nh).
Hai việc làm này mới nh́n vào có vẻ trái ngược nhau nhưng trong thâm tâm,
trong nhận thức bao giờ Nguyễn công Trứ cũng đinh ninh rằng việc làm của ông là
trên v́ vua, dưới v́ dân.
-Sáng tác của Nguyễn Công Trứ hầu hết bằng chữ Nôm và bị thất lạc nhiều.
Hiện nay sưu tầm được khoảng 150 bài gồm thơ, ca trù, phú.
-Ngoài ra ông c̣n có một số tác phẩm thơ văn chữ Hán.
-Thơ văn ông bao hàm nội dung khá phức tạp, kết tinh trạng thái ư thức
của một thế hệ nhà nho như Nguyễn Công Trứ. Nhưng tổng quát, thơ ông tập trung
vào ba chủ đề chính:
+Chí nam nhi.
+Cái nghèo và thế thái, nhân
t́nh.
+Triết lí hưởng lạc.
| 1.Chí nam nhi.
(chí của kẻ làm trai, chí anh hùng). |
*Tại sao chí nam nhi trở thành một chủ đề lớn trong thơ Nguyễn Công
Trứ?
-Nguyễn Công Trứ xuất thân trong một gia đ́nh quan lại nhỏ, mới một đời
làm quan, hưởng ân huệ của triều Lê- Trịnh không bao nhiêu.
-Nguyễn Công Trứ lớn lên giữa lúc Tây
Sơn sụp đổ, nhà Nguyễn lên thay, đang tích cực củng cố địa vị thống trị của
ḿnh, xă hội có vẻ ổn định.
-Không vướng mắc với tư
tưởng trung thần bất sự nhị quân, những năm tuổi trẻ nhà thơ đă hăm hở bước đi
dưới triều đại mới, ḷng đầy hoài băo về sự nghiệp. Hoài băo ấy đă để lại một
dấu ấn rất đậm trong thơ ông. Đọc thơ ông người ta thấy có một khái niệm thường
trở đi trở lại như một điệp khúc, đó là chí nam nhi”.
*Nội dung của chí nam nhi.
-Nguyễn Công Trứ quan niệm rằng kẻ
làm trai sống ở đời nhất thiết phải làm những việc có ích cho đời, không thể
"tiêu lưng ba vạn sáu.
-Nhiều lần trong thơ Nguyễn Công Trứ
đă đặt vấn đề;
Chẳng lẽ tiêu lưng ba vạn sáu.
(Chí nam nhi).
Đă mang tiếng trong trời đất
Phải có danh ǵ với núi sông.
(Đi thi tự vịnh)
Chẳng công danh chi đứng giữa trần hoàn.
(Nợ tang bồng)
-Cái công danh trong thơ Nguyễn Công Trứ thực ra không phải là cái danh
hăo, không phải là một quan niệm hưởng thụ, là cái bă vinh hoa tầm thường. Xét
trong toàn bộ cuộc đời và thơ văn của ông chúng ta thấy quan niệm công danh của
nhà thơ trước hết có ư nghĩa là nhiệm vụ của kẻ làm trai. Kẻ làm trai sống ở
trên đời nhất thiết phải chiếm lấy một địa vị để trên cơ sở đó làm những việc có
ích cho đời. Nguyễn Công Trứ có đề cao cá nhân nhưng nội dung chủ yếu là đ̣i hỏi
phải đóng góp cho xă hội. Nhà thơ coi nhiệm vụ đó như một món nợ lần phải
trả.
-Tang bồng là cái nợ
Làm trai chi sợ áng công danh.
(Quân tử cố cùng I)
-Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái
(Nợ nam nhi)
-Có một điều đáng quư là trong khi khẳng định nhiệm vụ của kẻ làm trai,
Nguyễn Công Trứ đồng thời rất ư thức được tài năng của bản thân v́ thế mà nhà
thơ có một niềm
-Mộng công danh đó, niềm tin mănh liệt đó, ḷng hăng say đó của Nguyễn
Công Trứ sẽ có ư nghĩa tích cực, sẽ có lợi cho dân cho nước biết bao nếu như ông
sống trong một triều đại phong kiến tích cực, tiến bộ. Nhưng đáng tiếc ông sống
vào giai đoạn lịch sử mà giai cấp phong kiến thống trị đă đi vào phản động, đă
đi ngược lại với quyền lợi của nhân dân. V́ thế mà lư tưởng nam nhi của ông
không khỏi nhuốm màu h́nh thức chủ nghĩa. Nguyễn Công Trứ đă vận dụng lư tưởng
tốt đẹp của nhà nho vào một hoàn cảnh xă hội không c̣n tiền đề tồn tại cho nó
nữa.
-Trải qua thực tế dần dần nhà thơ cũng đă nhận thức ra tính chất xấu xa,
tàn bạo của chế độ nhà Nguyễn và tinh thần lạc quan ban đầu ấy của nhà thơ cũng
dần dần bị sụp đổ và thay vào đó là một thái độ cực đoan. Đó là sự bất măn đến
chua chát đối với chế độ xă hội và một tinh thần bi quan có tính chất hư vô chủ
nghĩa.
-Ôi nhân sinh là thế đấy
Như
bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao
Cuộc đời đối với ông không c̣n nghĩa lí ǵ. Thậm chí có những lúc nhà thơ
ao ước đừng bao giờ trở lại làm người mà chỉ làm cây thông đứng giữa trời mà
reo
-Con người tích cực hoạt động ấy,
con người say sưa với lí tưởng, công danh ấy cuối cùng đă phải rút lui khỏi quan
trường, sống một cuộc đời ẩn dật, ngông nghênh. Cuộc đời nhà thơ v́ vậy cũng đă
có ư nghĩa tố cáo chế độ phản động nhà Nguyễn.
| 2.Tâm sự trong
cảnh nghèo và thế thái, nhân t́nh. |
-Buổi đầu nhà thơ say sưa với chí nam nhi, trải qua nhiều năm tháng làm
quan cho nhà Nguyễn, va chạm với nhiều thực tế, dần dần Nguyễn Công Trứ nhận ra
bản chất phản động của triều đaiû đương thời, ông đâm ra chán ghét nó. Cũng nhờ
vậy mà Nguyễn Công Trứ đă có được những nhận thức khách quan về xă hội, về con
người. Đó cũng là nguyên nhân làm cho thơ của ông mang nhiều chất hiện
thực.
-Ông tố cáo thói đen bạc trong xă hội phong kiến đă làm cho những người
nghèo khổ không thể ngóc đầu dậy được.
-Gớm chết nhân t́nh thế thái
Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy
(Nhân t́nh thế
thái)
-Thế thái nhân t́nh gớm chết thay!
Lạt nồng, trông chiếc túi vơi đầy
Hễ không điều lợi, khôn
thành dại,
Đă có đồng tiền dở cũng hay
(Vịnh nhân t́nh thế
thái)
-Nhà thơ tố cáo sức tàn phá của đồng tiền đối với nhân cách, đạo đức con
người:
Tiền tài hai chữ son khuyên
ngược
Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi
(Thế thái bạc bẽo)
-Ông phê phán bọn quan lại bâït tài, bọn giá áo túi cơm nhưng lại tàn bạo
hay hại người:
Tuổi tác càng già càng xốp xáp
Ruột gan không có, có gai chông.
Những câu thơ viết về thế thái, nhân t́nh đậm thấm cảm xúc sâu sắc của
một con người từng trải cho nên mặc dù phần nào có trừu tượng, chung chung,
thiếu những h́nh ảnh sinh động của cuộc sống nhưng chúng vẫn có sức lay động
mạnh đối với người đọc.
-Thơ văn Nguyễn Công Trứ cũng đă
ghi lại được t́nh cảnh nghèo khổ của bản thân ông đồng thời cũng là t́nh cảnh
của các nho sĩ lớp dưới đương thời. T́nh cảnh ấy được thể hiện tập trung trong
bài phú Nôm Hàn nho phong vị phú (Bài phú về phong vị cảnh nghèo của một nhà nho
chưa đậu đạt). Bài phú là một bức tranh sinh động về cái nghèo. Ng̣i bút của nhà
thơ có màu sắc trào lộng nhẹ nhàng. Tuy nhiên tác giả chưa thấy được nguyên nhân của sự nghèo khổ nên đi đến giải
thích sai lệch. Ông cho khổ là bởi tại trời, tại số mạng. V́ vậy thái độ của nhà
thơ vẫn là thái độ cam chịu, chờ đợi.
| 3.Triết lí hưởng lạc. |
-Ngay từ đầu,
Nguyễn Công Trứ đă có chủ trương con người có quyền hưởng lạc. Ông xếp nó trở
thành một mục trong chương tŕnh sống lí tưởng của ḿnh. Thời ḱ đầu ông cho
rằng con người chỉ được hưởng lạc khi đă hoàn thành nhiệm vụ. Con người chỉ có
thể thảnh thơi với thơ phú, với bầu rượu khi nợ tang bồng trang trắng vỗ tay
reo. Nhà thơ quan niệm hành lạc là một thứ đăi ngộ, là phần thưởng cho kẻ anh
hùng, cho người hành động. Nội dung hành lạc thời ḱ đầu cũng rất thanh sạch; du
lăm trong thiên nhiên với thơ, với rượu, với đàn.
-Về sau, ông lại nâng quan niệm hành lạc ấy lên thành một triết lí sống.
Ông kêu gọi mọi người ăn chơi, hành lạc:
Nhân śnh bất hành lạc
Thiên tuế diệc vi thương.
Nội dung của hành lạc trong giai đoạn này cũng không c̣n là cuộc sống
tiêu dao trong thiên nhiên với rượu, với đàn, với thơ mà c̣n cả gái đẹp đi theo.
Đẩy hành lạc lên thành một triêt lí sống đó là một bước sa đọa về phương diện tư
tưởng của Nguyễn Công Trứ. Thực chất đó cũng là cách nhà thơ phản ứng lại xă
hội, phản ứng lại triều đ́nh nhà Nguyễn nhưng phản ứng này lại mang tính chất cá
nhân, tiêu cực.
III.NGHỆ THUẬT THƠ NGUYỄN CÔNG
TRỨ
-Hoạt động thơ văn không phải là hoạt động chính, hoạt động chủ yếu của
cuộc đời Nguyễn Công Trứ (hoạt động chính là quân sự, chính tri, kinh tế). Thơ
văn cũng chỉ nhằm phục vụ cho sự nghiệp kinh bang tế thế của ông. V́ thế nhà thơ
ít chú trọng gia công về nghệ thuật nên thơ ông có cái mộc mạc, nôm na.
-Ông rất kiên tŕ sáng tác chữ Nôm.
-Nhà
thơ thành công nhất với thể ca trù (là loại bài hát phổ nhịp cho các cô đào hát
trong các hành viện), ông nâng nó thành một thể thơ dân tộc độc
đáo.
-Điều giá trị nhất trong thơ văn Nguyễn Công Trứ là nhà thơ đă tuyên
dương một lư tưởng sống tích cực .
-Con người Nguyễn Công Trứ là con người hành động, ư thức được tài năng,
phẩm chất của ḿnh.