| 
Một
cơn gió bụi (Hồi ký)
Lệ
Thần Trần Trọng Kim (1883-1953)
Chương 12
Lên
Nam Vang
Khi tôi về Sài gòn, trong lưng chỉ còn có 20 đồng
bạc Ðông Dương. Ông Cousseau thấy vậy có đưa tiền,
nhưng tôi không lấy. Sau tôi gặp những người quen
biết có giúp đỡ ít nhiều để mua thuốc thang và may
vá lặt vặt. Tôi đến nhờ ông cử Bùi Khải, ông vì
tình anh em, tiếp đãi một cách thành thực và tử
tế, các cháu đều hết lòng kính mến. Nhưng vì cả
gia quyến bốn năm người đến ở đấy lâu ngày, ăn không
ngồi rồi, nghĩ cũng khó coi. Con gái tôi biết tiếng
Anh, có nhiều người muốn học, định đi thuê nhà để
dạy học, nhưng không thuê được nhà. Sài gòn cũng
như ở bên Tàu, cái nạn khan nhà thật là điêu đứng.
Muốn thuê một cái nhà nhỏ, ít ra cũng phải trả tiền
trà mất một vài vạn bạc, thì lấy tiền đâủ Sau hai
vợ chồng con tôi gặp những người quen nói ở trên
Nam Vang, bên Cao Miên, cơm gạo rẻ và dễ thuê nhà,
chúng nó mới xin giấy lên Nam Vang. Lên ở nhà khách
sạn được mấy ngày chẳng may con tôi bị bỏng suýt
chết. Nhờ có những người quen biết trông nom giúp
đỡ nên không việc gì.
Nhà ở Nam Vang lại có phần khó thuê hơn ở Sài gòn,
thành ra nhà vẫn chưa thuê được, con tôi phải về
ở nhà ông Phạm Chí Tùng trong khi chờ đợi có nhà
ở.
Ông Phạm Chí Tùng là người rất hiền hậu, thấy con
tôi lên ở nơi xa lạ, hết lòng giúp đỡ, coi như anh
em trong nhà vậy.
Con tôi đi Nam Vang chờ đến ba tháng, nhờ ông Pignon
can thiệp mấy lần, hội đồng coi việc nhà cửa mới
thuê cho được một căn nhà, mở lớp dạy học tiếng
Anh, lần hồi cũng đủ ăn tiêu.
Tôi ở Sài gòn, có cóp nhặt những sách của tôi,
định tìm nhà xuất bản cho in lại. Lúc ấy tôi gặp
ông Trần Văn Văn đến thăm tôi. Khi tôi ở Huế, ông
có ra làm việc ở bộ kinh tế với ông Hồ Tá Khanh,
cho nên đã quen từ trước. Ông thấy tôi ở trong cái
hoàn cảnh rất eo hẹp, ông liền cho tôi vay một món
tiền khá lớn và ông nhận việc tìm nhà xuất bản để
in những sách của tôi.
Trong lúc nguy nan, gặp được người bạn như ông
Trần Văn Văn đến thăm tôi thật là ít có. Ấy cũng
là một sự may mắn, nhờ trời dun dủi làm cho đỡ được
bao nỗi đau buồn khổ não.
Vào khoảng tháng chín năm 1947, thì cậu Bùi Nam,
anh em nhà tôi ở Hà Nội vào Sài gòn thăm chúng tôi,
biết rõ tin tức người nhà. Lúc ấy nhạc mẫu tôi đau
nặng chưa biết thế nào, cậu Nam được tin vội vàng
ra ngay, ra đến nơi buổi trưa, thì buổi chiều mẹ
tôi mất. Tình mẹ con, nỗi đau đớn, nhà tôi rất sầu
khổ. Cái sầu khổ lúc ấy lại có phần tăng thêm là
vì phải khi loạn lạc, mình phiêu lưu ở đất khách
quê người, không thấy được mặt mẹ trong phút cuối
cùng.
Sau tôi nghĩ ở Sài gòn cũng ngồi không mà con thì
ở trên Nam Vang một mình, ngày dạy học vất vả, bỏ
cháu không ai trông coi. Nhà tôi muốn lên ở trên
ấy, để cha mẹ con cái cùng ở một chỗ. Vậy nên chúng
tôi định qua tết nguyên đán năm Mậu Tý (1948) thì
lên Nam Vang.
Ðến quãng đầu tháng ba năm 1948, thì rể tôi về
đón chúng tôi, rồi đến ngày mùng 6 tháng ba tức
là ngày 26 tháng giêng năm Mậu Tý, chúng tôi lên
xe hơi chở hành khách lên Nam Vang.
Lên đến nơi một tuần lễ, tôi đến gặp ông Pignon
là ủy viên nước Pháp, xin cái giấy được lưu trú
ở đất Cao Miên. Vì ở xứ ấy bấy giờ, những người
Việt Nam đi lại rất khó mà ai muốn ở lâu phải có
giấy cho ở mới được. Ông Pignon chuyện trò một cách
vui vẻ và cho giấy một cách rất dễ dàng.
Ở Nam Vang được yên ổn hơn Sài gòn, ngày đêm tự
do, không có cấm đoán gì cả, chỉ phải nóng nực khó
chịu. Tôi lên đây nhờ có ông Phạm Chí Tùng và mấy
người khác cho mượn sách vở, nhất là những sách
vở nói về đạo Phật và đạo Ấn Ðộ, tôi xem cũng nguôi
được nhiều điều phiền não. Mỗi khi trời mát mẻ,
chiều đến tôi chống cái gậy ra đứng bờ sông trông
nước chảy, mà nghĩ cuộc đời cũng xoay vần trôi nổi
có khác gì dòng nước chảy xuôi.
Cuộc đời của tôi đi đến đấy đối với người ngoài
cho là thật hiu quạnh, song tự tôi lại thấy có nhiều
thú vị hơn là những lúc phải lo toan làm công việc
nọ kia, giống như người đóng tuồng ra sân khấu,
nhảy múa nhọc mệt rồi hết trò, đâu lại vào đấy.
Ðàng này ngồi yên một chỗ, ngắm rõ trò đời và tự
mình tỉnh sát để biết cái tâm tình của mình. Tôi
nhớ lại câu cổ nhân đã nói: "Hiếu danh bất
như đào danh, đào danh bất như vô danh". Muốn
có danh không bằng trốn danh, trốn danh không bằng
không có danh.
Người có trí tuệ mà biết giữ mình ở chỗ vô danh
là bậc cao sĩ tuyệt bậc, nhưng mình đã trót đeo
lấy cái danh vào mình, thì phải tìm cách trốn danh
vậy.
Danh với lợi ở đời là những cái mồi nó dử mình
vào cạm bẫy để hành hạ cái thân mình, chung quy
chỉ là một cuộc mộng ảo, chẳng có gì là thực. Khi
đã mắc vào thì lắm lúc lại phải đi vào những nơi
hôi thối, phải bưng mắt bịt mũi, thật là khổ.
Tôi nương náu ở đây chờ cho tình thế yên yên, thì
thu xếp về bắc, là nơi có bà con, bạn bè để khi
vui buồn có nhau, còn hơn là chỗ xa lạ.
Ðến tháng ba năm 1949, thấy ông Bảo Ðại đã điều
đình với chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam
được thống nhất và độc lập trong khối liên hiệp
Pháp, đại khái theo cái nguyên tắc ông Bảo Ðại và
tôi đã đưa cho người Pháp khi chúng tôi còn ở Hương
Cảng. Giá hai năm trước, chính phủ Pháp đi hẳn vào
con đường ấy, có lẽ đỡ được bao nhiêu thì giờ và
sự tổn hại. Song cái tính con người ta bao giờ cũng
thế, cứ để cho đến khi bất đắc dĩ mới chịu làm những
việc phải làm, còn thì cứ muốn bám lấy cái lợi một
lúc, rồi cứ xoay quanh mãi thành ra hư hỏng việc
lớn. Lòng tham của người ta không có bờ bến, nếu
không đem cái lòng công minh chính trực mà ngăn
ngừa lòng tư dục, thì thường hay có những sự tàn
ác, gây ra nhiều nỗi đau buồn.
Việc ông Bảo Ðại điều đình đã được kết quả, như
thế cũng đã lợi cho nước Việt Nam rồi nhưng đó mới
là phần giao kết, cần phải chờ đợi sự thực hành
xem có đúng lời giao kết hay không.
Khi sự độc lập và sự thống nhất đã thực hiện rõ
ràng rồi, thì ông Bảo Ðại phải có cái chính sách
cương quyết và biết lựa chọn lấy những người ngay
chính đứng đắn ra giúp ông mà làm mọi việc. Nếu
lại để cho những người muốn thừa cơ hội mà làm giàu
làm sang, thì khó lòng mà đem lại lòng tín nhiệm
của dân chúng. Việc thành bại sau này, là một bên
ở cái lòng thành thực của người Pháp, một bên là
cái chính sách ngay thẳng của ông Bảo Ðại.
Tôi nay già rồi, không có hăng hái làm được việc
gì nữa. Tôi chỉ mong được yên ổn, để về nghỉ ngơi
cho trọn tuổi già, ấy là cái sở nguyện chân thực
của tôi. Vả trong quãng đường tôi vừa đi qua, trải
bao những cảnh huống đau buồn khổ sở, may như Trời
Phật cứu giúp, tôi duy trì được đến bây giờ, mà
không trụy lạc vào đâu cả, thật là cái phúc lớn
vậy. Cho nên tôi thường nhớ bài thơ của một nhà
thi sĩ Ấn Ðộ mà người ta dịch ra tiếng Pháp như
sau này:
La barque à la dérive Au millieu du fleuve de vie,
Périlleux et fouetté de vent, Ma barque, sans rames,
ballotte, Flottait à la dérive, Mais ton invisible
main, Secourable dt pitoyable, A giudé la barque
sans voiles Parmi les rochers, au milleu des orages,
Jusqúau rivage de sécurité
Tôi lược lấy ý trong bài thơ ấy mà dịch ra bài
thơ song thất lục bát sau này:
Chiếc thuyền vô trạo
Sông nhân thế nước trôi cuồn cuộn,
Giữa dòng sông gió cuốn ào ào.
Chiếc thuyền vô trạo lao đao,
Lênh đênh đây đó biết đâu bến bờ.
Tay tế độ trong cơ huyền bí,
Thuyền không buồm e lệ ngoài khơi,
Ðưa qua sóng gió thác ngòi,
Ðến bên bến nọ là nơi yên lành.
Nhân khi ngồi rồi tôi giở quyển nhật ký ra xem
rồi viết thành cuốn sách này để sau ai xem thì biết
rõ sự tình và công việc của tôi làm trong mấy năm
đây đó.
Bản tâm là tôi viết truyện riêng của tôi, song
tôi phải nói đến chính trị của chính phủ Việt Minh
và sự hành động của người Pháp ở Ðông Dương, là
vì những việc ấy quan hệ với nhau, không nói không
ai hiểu manh mối việc tôi làm thế nào.
Việc người Pháp làm ở Ðông Dương có nhiều lầm lỗi,
ngay từ lúc đầu không chịu thay đổi cái thái độ
với người Việt Nam, cứ tưởng lấy võ lực mà đàn áp
và dùng quyền mưu mà lừa dối để đem người ta vào
tròng như ý mình muốn, không biết rằng lòng người
đã thay đổi, nhân trí đã biến thiên, không thể lấy
thế lực mà bắt người ta đi lại con đường cũ được.
Phàm cái quyền mưu lừa dối là chỉ dùng được khi
người ta không biết, nhưng khi người ta biết rõ
cái mưu thuật của mình thì cái mưu thuật ấy không
có công hiệu nữa.
Người Pháp lại có cái tính hay cậy sức mạnh của
mình rồi có khi có xảy ra việc gì, thì để cho quân
lính đi tàn phá giết hại, có ý muốn cho người ta
sợ. Cái phương pháp ấy đối với cái tâm lý của dân
tộc khác thể nào tôi không biết, nhưng đối với dân
tộc Việt Nam mà chỉ dùng sức mạnh để tàn phá, thì
sự tàn phá càng tàn nhẫn bao nhiêu, sự thù oán ghét
giận lại càng tăng thêm bấy nhiêu.
Theo cái tâm lý người Việt Nam, thì người ta ưa
cái chính sách trong sạch ngay chính, không có phá
bậy giết càn. Hễ người Pháp không hiểu chỗ ấy, thì
bề ngoài thế nào mặc lòng, bề trong không ai phục,
thì làm việc gì rồi cũng thất bại. Vì vậy cho nên
việc người Pháp muốn đem lại sự hòa bình ở xứ Ðông
Dương, mà cứ ngoắt ngoéo không cho nước Việt Nam
độc lập và thống nhất, lại không thành thực thi
hành những điều giao kết, thì khó lòng mà giải quyết
được cái tình thế ngày nay.
Về phương diện chính trị của người Việt Nam thì
chính phủ Việt Minh đã thất sách từ lúc đầu, chưa
gì đã đem áp dụng cái chủ nghĩa cộng sản một cách
đường đột quá, thành ra ở trong thì dân tình ta
thán, mà ở ngoài thì không có ai muốn giúp đỡ. Trước
thì họ trông cậy ở nước Nga và ở đảng cộng sản ở
bên Pháp, sau thì nước Nga vì xa cách không giúp
được họ việc gì, đảng cộng sản bên Pháp thất thế,
thành ra mình cô lập, thế bất đắc dĩ nên phải lập
ra mặt trận kháng chiến. Chính phủ Việt Minh tuy
biết lợi dụng cái lòng ái quốc của quốc dân và nhờ
có sự tổ chức chu đáo và sự tuyên truyền khôn khéo,
nhưng vẫn không đủ sức để ngăn cản được sự tiến
hành của quân địch. Cái chủ nghĩa cộng sản về đườn
luận thuyết cũng có điều bảo thủ, như là muốn chữa
những điều bất công trong xã hội, nhưng về đường
kinh tế, thì lại áp chế quá, làm lắm điều hà khốc
và dùng những thủ đoạn quỷ quyệt giả dối, khiến
người ta mất lòng tin cậy. Ðem cái bất công bình
nọ mà phá cái bất công bình kia thì dù có thắng
lợi đi nữa, cũng không chắc đã vững bền.
Trong việc làm của Việt Minh cộng sản có hai điều
trở ngại. Một là đem cái phương sách hành động ở
các nước bạn tây phương sang thi hành ở Việt Nam,
có nhiều điều không thích hợp với hoàn cảnh và tính
tình của nhiều người trong nước cho nên thành ra
có nhiều chỗ trái ngược. Ðó là một điều trở ngại
khá lớn. Hai là vì cái vị trí nước Việt Nam ở trong
cái phạm vi Anh Mỹ theo cái hiện tình bây giờ, thế
nào người ta cũng không để đất này thành cộng hóa.
Chỉ trừ khi nào trống mái rõ rệt, thì thiên hạ hoặc
là đều bị cộng hóa cả, hoặc là đều sống ở trong
cái chế độ tư bản cả. Lúc ấy dù muốn hay không cũng
chẳng làm gì được. Trong khi hai cái lý tưởng còn
đối lập, thì mình chưa sao thoát khỏi cái thế lực
của Anh Mỹ. Như vậy mình cố chấp muốn cộng hóa,
thì tất là chỉ có phần thiệt hại mà thôi, chứ khó
lòng thành công được.
Ðã hay rằng đảng cộng sản có cái tính cách tôn
giáo, phải mê và tin, tin là chỉ có mình là phải,
còn người ta là sai lầm hết cả, song những người
làm chính trị có quan hệ đến vận mệnh một nước,
phải hiểu thời thế mà tùy cơ ứng biến. Theo ý tôi
thì đó là chỗ những người cầm quyền trong đảng Việt
Minh phải liệu mà hành động.
Dù hay dở thế nào mặc lòng, đảng Việt Minh đã có
cái công lớn tổ chức được cuộc kháng chiến ấy mà
nước Pháp phải cho nước Việt Nam được độc lập và
thống nhất. Song trong cái tình thế quốc tế hiện
thời, thì đảng Việt Minh chỉ làm được đến đấy thôi,
không làm hơn được nữa. Nếu cố chấp muốn làm cho
được như ý muốn thì chỉ làm khổ dân hại nước mà
không chắc đạt được cái ý của họ. Vả cái mục đích
ấy định đi đến đâủ Tại sao người mình đã phơi xương
đổ máu trong sáu bảy mươi năm trời từ khi có cuộc
bảo hộ của nước Pháp đến giờ? Có phải là tại người
mình muốn sống cái đời sống tự chủ của mình, chứ
không làm nô lệ ai không? Lẽ nào ta lại theo một
cái lý tưởng chưa thực hiện được mà đem mình làm
nô lệ một dân tộc khác. Dù ta có say mê một lý tưởng
nào nữa, thì cũng nên đi từ từ để cho thời gian
dũa mòn bớt góc cạnh có thể gây ra nhiều đau khổ.
Ðời chưa đủ khổ hay sao, mà còn muốn gây thêm ra
nữa.
Hiện nay đảng Việt Minh có nước cờ đáng rất cao,
là tự mình lui bước đi, để cho đảng chân chính quốc
gia đứng ra thực hiện sự độc lập và thống nhất của
nước nhà, rồi lập thành một chính thể theo đúng
cái nghĩa dân chủ đang thịnh hành ngày nay. Cho
các đảng phái được công nhiên lấy nghĩa lý mà tranh
đấu trên trường ngôn luận, nhưng không được dùng
võ lực mà tranh quyền cướp thế. Làm được như thế,
tất nhiên là họ giúp cho nước Việt Nam sẽ có cái
địa vị rõ ràng trong quốc tế, không ai xâm phạm
được nữa. Khi ấy mọi người trong nước phải quả quyết
đi vào con đường kiến thiết, ai nấy đem hết tài
lực của mình mà học tập và làm việc để đem nước
đến cái trình độ cường thịnh như các nước khác.
Cứ như thiển kiến của tôi, thì đó là cái phương
sách cứu nước rất ngay thẳng và có phần mau chóng
hơn cả, không biết các bậc cao minh trong nước nghĩ
sao?
Tôi đem cái ý kiến ấy mà phô bày ra đây, là theo
cái tình thế hiện thực mà nói, chứ không phải là
một điều mơ tưởng. Mà cũng không phải là tôi thiên
vị chủ nghĩa nào, hay đảng phái nào, tôi đã nhứt
quyết không mưu cầu danh lợi gì hết, chỉ mong người
trong nước bỏ bớt cái lòng tư tâm tư lợi mà ra sức
giúp cho nước nhà chóng được yên ổn và thịnh vượng,
để cùng với thế giới đi lên con đường tiến bộ. Cũng
bởi tấm lòng vì dân vì nước ấy và thấy khi quốc
gia gian nan, không lẽ ngồi nhìn, nên tôi tự biết
mình đã già yếu kém cỏi không làm gì được, nhưng
ít ra cũng theo cái lương tâm mà đem những sự tôi
đã biết và đã thấy mà phô bầy ra, để mọi người suy
xét cho đúng sự thực. Dù ai có bảo đó là lời nói
của một anh hủ nho, tôi cũng cam tâm mà tự cho mình
đối với cái tâm của mình đã làm hết bổn phận làm
người vậy.
- Hết -
|