|

Dời
đền Trương Phi
Trương Phi là vị tướng rất
nổi tiếng thời Tam Quốc, râu hùm
hàm
én, tính nóng như lửa, tiếng thét to như sét đánh
đủ để làm đứt ruột tướng Tào... Đấy là những chuyện
mà bất cứ ai đã đọc Tam Quốc diễn nghĩa đều không
thể quên được. Sau khi ông chết, người đời sau đã
dựng đền thờ ông ở nhiều nơi trên đất nước Trung
Hoa nhằm tưởng nhớ một nhân vật oanh liệt trong
lịch sử.
Một trong những ngôi đền đó được xây ở Trùng Khánh.
Thế nhưng mới đây, Trung Quốc đã tổ chức một chiến
dịch công phu nhằm di dời ngôi đền đã có 1.700 năm
tuổi này.
Số
là mặc dù được xây dựng trên ngọn Phi Phượng Sơn,
thế nhưng móng của ngôi đền thờ Trương Phi ở Trùng
Khánh vẫn sẽ thấp hơn 5 m so với mực nước trong
hồ chứa của khu thủy điện Tam Hiệp. Đây là một công
trình thủy điện kỳ vĩ của Trung Quốc trong những
thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 và sẽ mang lại lợi
ích to lớn về kinh tế - xã hội cho nhiều vùng rộng
lớn của Trung Quốc. Nay khi công trình đang bước
vào giai đoạn 2 của quá trình xây dựng, người ta
mới nhận thấy việc xây dựng hồ chứa nước với mực
nước cao hơn nền ngôi đền có khả năng sẽ hủy hoại
di sản 1.700 tuổi này. Bởi vậy mà những người có
trách nhiệm đã quyết định phải dời ngôi đền đến
một nơi cao hơn để bảo đảm an toàn cho di sản.
Địa
điểm mới được lựa chọn cho ngôi đền Trương Phi là
ngọn Sư Tử thuộc huyện Vân Dương, thành phố Trùng
Khánh, cách chỗ cũ về phía thượng nguồn sông Dương
Tử 32 km. Để di chuyển ngôi đền này mà vẫn bảo đảm
giữ nguyên dạng được tới từng chi tiết, người ta
đã tháo rời ngôi đền ra thành 13.000 bộ phận để
mang tới địa điểm mới và lắp ráp lại y như cũ. Công
việc này đòi hỏi một sự tỉ mỉ, chính xác cao độ
nên đã có 245 thợ lành nghề từ khắp mọi nơi trên
đất nước Trung Quốc được tuyển mộ để làm công việc
này.
Điểm
đặc biệt là người ta không chỉ di chuyển có mỗi
ngôi đền Trương Phi, 126 cây cổ thụ trong và quanh
khuôn viên ngôi đền cũng được di chuyển đến trồng
ở địa điểm mới. Có nghĩa là người ta đã cố gắng
“di chuyển” đến mức tối đa cảnh quan của ngôi đền
đi theo nó, bảo đảm cái phần hồn của di sản vẫn
còn được bảo tồn và gìn giữ.
Một
kinh nghiệm đáng học tập về sự kết hợp giữa xây
dựng công trình có ý nghĩa kinh tế - xã hội với
bảo tồn di sản văn hóa.
Phan Đăng
Nhà
văn Kim Dung bàn về tiểu thuyết võ hiệp
{Huỳnh
Nhật Hoa (vai Quách Tĩnh) và Ông Mỹ Linh (vai Hoàng
Dung) trong phim Anh hùng xạ điêu (năm 1983).}
"Anh hùng xạ điêu, Ỷ thiên đồ long ký... chịu
ảnh hưởng của văn học mới Trung Quốc và phương Tây.
Thế nhưng về ngôn từ lại sử dụng lối bạch thoại
cổ điển của Thuỷ hử, Hồng lâu mộng...", nhà
văn nói.
- Nhiều người nói các nhân vật chính trong mỗi
cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp của ông "đều mang
hình bóng của Kim Dung", rõ nét nhất là Quách
Tĩnh trong "Anh hùng xạ điêu". Ông nghĩ
sao về nhận xét này?
- Kỳ thực đã là tác giả thì ai cũng vậy thôi, đều
có những lúc soi xét chính mình, đều để lại dấu
vết trong từng đứa con tinh thần của mình. Quách
Tĩnh là sự thể hiện nhân cách lý tưởng trong tâm
khảm của tôi. Nhân vật "mang hình bóng Kim
Dung" vì phần nào phản ánh tính cách của tôi:
phản ứng chậm chạp, song có nghị lực, không lùi
bước trước khó khăn, thích gian khổ tập luyện, không
cầu mong thành đạt.
- Người ta cho rằng, trong "Anh hùng xạ điêu",
"Ỷ thiên đồ long ký", "Lộc đỉnh ký"...,
ông đã đời sống hoá tiểu thuyết kiếm hiệp, làm cho
nó gần gũi với hiện thực và cuộc sống con người?
- Không hẳn thế. Những tình tiết võ công trong
tiểu thuyết kiếm hiệp của tôi khá là thần kỳ mà
thực tế cuộc sống làm gì có vậy. Thế nhưng, cuộc
đời, tình cảm và mối quan hệ của các nhân vật trong
tiểu thuyết thì nhất định phải gần gũi với đời thường,
để độc giả có cảm nhận đó là những tình tiết chân
thực, đáng tin. Và chỉ có vậy, tiểu thuyết kiếm
hiệp mới tồn tại được.
- Công việc biên kịch đã ảnh hưởng thế nào đến
sáng tác tiểu thuyết của ông?
- Thực tế là tôi đã vận dụng khá nhiều thủ pháp
điện ảnh trong tiểu thuyết. Cụ thể, trong tiểu thuyết
Anh hùng xạ điêu, sự hồi tưởng của Mai Siêu Phong
chính là mô típ thường dùng của điện ảnh. Chẳng
thế mà có nhà bình luận đã nhận định: "Câu
chuyện về Hồ Nhất Đao và Miêu Nhân Phong trong Tuyết
sơn phi hồ của Kim Dung chịu ảnh hưởng của điện
ảnh Nhật Bản".
- Ông nhìn nhận thế nào về văn hoá truyền thống
Trung Quốc?
- Tôi cho rằng văn hoá truyền thống Trung Hoa có
nhiều mặt rất hay. Như lịch sử chẳng hạn, luôn chú
trọng thực tế, ghi chép thực tế. Bút pháp chép sử
thời Xuân Thu (770-476 trước Công nguyên) tuyệt
vời chính ở chỗ ghi chép lịch sử luôn đúng với thực
tế. Ví như, Thôi Trữ nước Tề giết Trang Công, quan
chép sử ghi "Thôi Trữ giết vua của mình",
quan chép sử lập tức bị Thôi Trữ giết. Em trai của
vị quan này lên thay vẫn viết như vậy, lại bị giết.
Đến người em thứ ba lên thay vẫn viết "thần
Thôi Trữ giết vua Trang Công". Tuy nhiên, văn
hóa Trung Quốc cũng có những mặt chưa hay. Trong
các giai đoạn thời Đông Hán (năm 25-220), Tống Triều
(năm 960-1279) và Minh mạt (cuối thời nhà Minh,
nửa đầu những năm 40 của thế kỷ 16) đều xảy ra các
phong trào học sinh. Nếu xét về mặt chính trị thì
đây là sự bất ổn. Còn xét về văn hoá thì chính là
những vết đen. Quan điểm của tôi là phát huy tính
hiện đại trong văn hoá truyền thống Trung Quốc và
"quân tử hòa nhi bất đồng" (vua tôi hoà
thuận nhưng không được đồng nhất), nhấn mạnh duy
trì độc lập tư duy và độc lập tìm hiểu.
- Thế còn văn học mới Trung Quốc, ông thích tác
giả nào nhất?
- Trong các tác giả và tác phẩm thuộc dòng văn
học mới, tôi thích Thẩm Tòng Văn. Tiểu thuyết của
Thẩm Tòng Văn ngôn từ hay mà ý cũng rất hay. Rồi
các tác phẩm của Lỗ Tấn, Mao Thuẫn, tôi đều từng
đọc.
XEM
TIẾP
|