|
Ẩm thực cung
đình Huế
Nói đến ăn uống xứ Huế, người ta thường
nghĩ đến lối ăn cung đình, một phong cách ẩm thực được
hình thành để phục vụ triều đình nhà Nguyễn trong hơn
một thế kỷ đóng đô ở đây. Có thể nói đó là đỉnh cao của
nghệ thuật ăn uống Việt Nam nhưng chưa hẳn đã tiêu biểu
cho phong cách ăn uống của dân tộc.
Mặc dù nền quân chủ ở Việt Nam đã sụp đổ từ
lâu, nhưng trong hồi ức một số người cao tuổi ở Huế còn sống
cách đây không lâu, vẫn còn giữ được một phần hình ảnh ăn uống
chốn cung đình xưa. Chắc ở Hà Nội đã từng tồn tại những món ăn
cung đình xứ Bắc từ triều đình nhà Lê, nhưng sau hơn hai thế
kỷ tiêu vong, đến nay khó có thể tìm lại được dấu vết.
Theo sách Đại Nam hội điển sự lệ biên soạn
dưới thời nhà Nguyễn, thì Quang Lộc Tự là cơ quan lo việc cỗ
bàn của triều đình, gồm cỗ cúng trong những ngày lễ trọng đại,
cỗ yến cho các quan hay tiếp sứ thần Trung Hoa, và ban yến các
cho các vị tân khoa đỗ tiến sĩ. Cỗ bàn thường được chia thành
các loại: Cỗ hạng lớn gồm 161 phẩm vị, Cỗ ngọc soạn có 30 đĩa,
Cỗ quý có 50 phẩm vị, Cỗ điểm tâm có 12 vị. Ngoài ra còn có cỗ
chay để cúng ở các chùa, hạng nhất có 25 món, hạng hai có 20
món... Các món ăn được quy định cụ thể và định giá tiền từng
loại cỗ, vì vậy ta có thể thống kê qua tên gọi các món ăn. Nếu
như vua chúa phương Tây và Trung Hoa thường lấy săn bắn làm
thú giải trí vương giả, và sự xuất hiện của thịt thú rừng trên
bàn tiệc của các lãnh chúa vương công là chuyện thường xuyên,
thì ta thấy nổi lên một điều khác biệt là vua chúa Việt Nam ít
ăn thịt thú rừng. Thịt dã thú chỉ thấy trong cỗ cúng với số
lượng rất hạn chế: hươu, lợn rừng, công, tê tê, vịt nước, đuôi
cá sấu... Hàng năm, trước ngày giỗ 12 hôm, các đội lính săn
gồm 300 người và 100 con chó săn được bủa đi săn thú rừng, tối
thiểu mỗi kỳ phải săn được từ 10-20 con. Quả là một con số
khiêm tốn.
Ta còn có thể biết cách ăn uống ở cung đình
qua những sản phẩm mà triều đình quy định cho các địa phương
cúng tiến hàng năm theo mùa. Điểm lại các sản vật cung tiến
được ghi trong sách xưa, ta thấy hầu hết chỉ là những hoa quả
thông thường được trồng ở các địa phương như: dừa ở Vĩnh Long,
Định Tường, xoài Phú Yên, bòng bong Quảng Nam, cam đường Thanh
Hoá, Hải Dương, vải Hà Nội, mắm rươi Ninh Bình, Nam Định, lê
Cao Bằng, Tuyên Quang. Tỉnh phải nộp nhiều thứ nhất là Quảng
Bình thì cũng chỉ là dưa hấu, bột hoàng tinh, tương đậu, rượu
dâu, thịt cửu khổng khô (ruột một thứ sò lớn ở biển). Chẳng
qua đấy là những đặc sản địa phương, có thể thu hoạch một cách
dễ dàng, không phải mất công khó nhọc lên rừng xuống biển tìm
kiếm như xưa kia người Việt phải làm để cung tiến cho triều
đình Trung Hoa.
Nói như vậy không phải trong hoàng cung không
có những món ăn cầu kỳ. Theo lời người già trong hoàng tộc kể
lại thì có một món ăn lạ là "sâu mây". Đây là một loại ấu
trùng sống trong thân cây mây mọc trên rừng. Người ta chặt
mây, lấy những con sâu đó về, đem thả vào ngọn cây mía trồng
trong vườn. Con nhộng đục thân mía để ăn. Chờ đúng ngày nhộng
vừa lớn mới chẻ cây mía ra, lấy nhộng làm thức ăn. Ngoài ra
còn có một loại thức ăn được vua chúa nhà Nguyễn ưa thích, đó
là con đuông, một loại ấu trùng sống trên ngọn cây dừa, vì vậy
mang vị ngọt của cùi dừa. Muốn lấy con đuông phải chặt cả cây
dừa, chỉ những vùng trồng dừa ở miền Nam mới lấy được. Đuông
hẳn là một món ăn quý, chẳng thế mà hình ảnh và tên của nó đã
được khắc trên Cửu đỉnh trước Thái Miếu của kinh thành Huế với
cái tên "hồ da tử". Còn theo những người già kể lại thì các
bữa ăn hàng ngày của ông hoàng bà chúa trong cung không khác
những bữa ăn của dân thường là bao. Món ăn được ưa thích của
mẹ vua Bảo Đại vẫn chỉ là cá bống kho, canh cá óc mó, canh rau
dại nấu với tôm...
Vào đầu thế kỷ này, một vị phu nhân trong
hoàng tộc đã ghi lại những món bà thường ăn để truyền lại cho
con cháu học theo. Tập sách mỏng có tên là Thực phổ bách thiện
giới thiệu 100 món ăn theo thể văn vần. Điều khiến ta ngạc
nhiên là những món ăn đó không khác mấy so với món ăn dân dã.
Tạm làm một thống kê thì thấy thịt thú rừng chỉ chiếm 4%,
trong khi đó thịt nói chung chiếm 17%, gia cầm chiếm 9%, tôm
cá 28% chiếm tỷ lệ cao nhất. Nếu tìm những món lạ và đắt tiền
như vi cá, hải sâm, yến sào... thì chỉ có 5%. Ngược lại những
món ăn bình thường như rau dưa chiếm tỷ lệ cao là 28% và các
thứ mắm chiếm 14%.
Tuy nhiên, cái khác cơ bản ở đây chính là
cách nấu nướng sạch sẽ, thực phẩm có chọn lọc hơn và đặc biệt
là cách trình bày đẹp và tinh xảo. Nhà văn Nguyễn Tuân đã từng
nhận xét rằng người Huế ăn bằng mắt, bằng mũi trước khi ăn
bằng miệng. Tỷ dụ như các thứ rau, dưa được tỉa thành những
bông hoa, rau muống ăn sống phải chẻ nhỏ như sợi bún, bánh đậu
xanh được nặn thành hình trái cây với màu sắc như thật, chả
thịt lợn kết hợp với rau củ xếp thành hình công, phượng với
tên gọi "nem công, chả phượng".
Phong cách ẩm thực cung đình ngày nay đang
được tái hiện trong những thực đơn của khách sạn và nhà hàng ở
Huế. Du khách có thể tới nhà hàng Tịnh Gia Viên của nghệ nhân
Tôn Nữ Hà để tìm lại hình ảnh của những bữa ăn cầu kỳ trong
khung cảnh vườn cây của các dinh thự xưa. Đến 15 Tống Duy Tân
để chiêm ngưỡng những bông hoa hồng, hoa cúc sống động như
thật do nghệ nhân Hương Trà làm từ bột đậu xanh. Nhưng để
thưởng thức không khí đích thực của chốn hoàng cung thì hãy
tìm đến phủ đệ xưa của cung An Định. Nơi đây, hình ảnh buổi dạ
yến xưa được làm sống lại, khiến du khách như được sống trong
khung cảnh thực của một đêm mùa thu xứ Huế, nhưng lại mang
không khí hư ảo của một thời xa xưa.
Đào Hùng (Heritage) (ĐTNVN)
|