Liên hệ

 

 

Thấy đã muốn cười:

 

Hành trình ẩm thực & vv...
Bút ký và hình ảnh của TRƯỜNG KỲ


I – CHƯƠNG...KHAI VỊ..
.

Cali Today News - Với bất cứ mục đích nào khi trở lại Sài Gòn, ta cũng phải...ăn, phải uống. Văn chương phóng sự gọi là đớp hít. Văn vẻ hơn, bây giờ người ta gọi là đến với nền văn hoá ẩm thực. Dĩ nhiên, dù không trở về, ai chẳng phải đớp hít.

Nếu không sẽ ốm o gầy mòn, tiều tụy và xơ xác, xanh xao và vàng vọt. Nhưng muốn thưởng thức đầy đủ những món khoái khẩu của một thời nào đó trước khi sống đời tỵ nạn, chắc chắn không đâu bằng Sài Gòn, mặc dù cũng những món đó có phần khác biệt so với sự tưởng tượng, do những cải tiến, những “biến tấu” trong vấn đề pha chế. Không ít người đã tỏ ra thất vọng khi tìm lại đúng tiệm xưa, quán cũ nhưng cách biến chế đã thay đổi theo thời gian nên không còn tìm lại được hương vị ngày nào. Nhưng nhiều người lại rất thú vị khi khám phá được những món mới, món lạ cùng với số lượng hàng quán mọc lên rất ư rậm rạp. Đi du lịch, thăm gia đình, lo chuyện “bi-di-nét”, vv...tất cả chắc chắn đều phải đớp hít. Không đớp hít thì đói. Đói, thì du lịch chẳng còn gì thú vị, thăm gia đình cũng trở nên chán phèo và chuyện “bi-di-nét” cũng khó thành công khi bụng dạ cồn cào, chẳng còn tâm trí đâu mà thảo luận. Tóm lại, có thực mới vực được mọi thứ. Trước khi cùng người viết thực hiện một chuyến “hành trình ẩm thực” dài trên 2 tháng ở Sài Gòn, không gì bằng điểm qua một số vấn đề được gọi là vài món ăn chơi sau đây. Đó là những thắc mắc người viết đã nhận được từ nhiều độc giả sau khi đã thực hiện những cuộc “hành trình ẩm thực” vào năm ngoái, cũng như vào đầu năm 2004 vừa qua...

Sạch hay dơ? ...

Có thể tóm lược là những vấn đề liên quan đến ăn uống ở Sài Gòn đều ở hai thái cực, cách biệt nhau rõ rệt. Như vấn đề vệ sinh chẳng hạn, luôn tùy thuộc vào cái giá phải trả cho một bữa ăn. Cụ thể hơn là bạn không thể đòi hỏi vấn đề vệ sinh nơi những gánh quà ngồi chồm hổm, những xe mì gõ, những quán hàng bình dân ở vỉa hè, sát gần miệng cống. Những ai coi trọng vấn đề vệ sinh, nhất là những thanh niên, thiếu nữ quen sống sạch sẽ ở nước ngoài chắc chắn sẽ rất e ngại khi được rủ rê thưởng thức những tô bún riêu, bún ốc, cháo gà, bánh canh, vv...bốc khói nghi ngút tại những nơi này, với một cái giá rất “bèo”, chỉ khoảng từ 3 đến 5 ngàn. Có khi giá chỉ khoảng 1 ngàn hay 1 ngàn rưởi cho một tô cháo trắng dọc theo kinh Nhiêu Lộc, hay với dưa mắm ,hột vịt muối, vv...trên đường Yên Đổ. Với giá cả như vậy bạn không nên đòi hỏi vấn đề vệ sinh làm chi cho mệt xác. Nếu chấp nhận để thưởng thức những món ăn dân dã này, bạn cứ tự nhiên kéo chiếc ghế thấp lè tè ngồi xuống bên cạnh gánh bán bún riêu chẳng hạn, đừng thắc mắc vô ích. Bạn e ngại không dám ăn rau sống? cũng được đi. Nhưng đôi đũa cọc cạch và cái muỗng nhôm méo mo,ù dù lấy giấy chùi kỹ càng cách mấy thật sự cũng chẳng chà cho chết được con vi trùng nào. Thôi, ta cứ lờ đi cho xong chuyện. Mắt đâu có thấy vi trùng hay vi khuẩn đâu mà sợ. Nhưng tay đừng quên quơ qua quơ lại để đuổi mấy chú ruồi ngỗ nghịch bay vo ve trên lọ mắm tôm hở nắp, cũng như hũ ớt bằm thu hút biết bao nhiêu là bụi bậm. Ta cứ nhủ rằng, nồi nước bún riêu sôi sùng sục kia chắc là sẽ là một thứ vũ khí có tầm hủy diệt rất mạnh đối với những anh vi trùng gây sự khủng bố cho bụng dạ ta. Ta cũng đùng lấy làm thắc mắc tại sao chỉ có cái chậu rửa chén mà bà bán hàng rửa được nhiều chén, đĩa, đũa, muỗng, vv...thế không biết. Có những người cẩn thận, chích ngừa đủ thứ bà dằn, nhất là chích ngừa cái bệnh “ể” chảy tức là “té re tè tỏng” trước khi về Việt Nam. Nhưng “dính” thì vẫn cứ “dính”, tức là vẫn bị Tào Tháo rượt chạy có cờ. Ngược lại, có những người không quan tâm đến vấn đề phòng ngừa gì hết ráo, thưởng thức hết món nọ đến món kia mà không hề có một sự cố nào xẩy ra, như tác giả đây chẳng hạn. Vợ hiền phán rằng thế nào cũng có ngày chết vì ăn. Nhưng cho đến bây giờ vẫn phây phây. Không biết sau này có phát ra căn bệnh quái quỉ gì không, nhưng từ khi đến nơi cho khi lúc ra về rất ư là an toàn trên xa lộ. Mà dù có chết vì ăn còn khoái tỉ hơn là chết...đói!.

Vấn đề vệ sinh được nâng cấp hơn khi ta bước vào một quán có bàn ghế cao đàng hoàng, mặc dù chân bàn có lung lay đôi chút. Rau giá ở đây có vẻ được rửa ráy khá hơn. Nhưng không thể biết phía hậu trường sân khấu diễn tiến ra sao. Cứ cho là sạch để yên trí đớp hít. Có những tiệm, hộp đựng đũamuỗng được nắp đậy đàng hoàng, nhưng thường là khách khứa lơ là trong việc ngăn ngừa bụi bậm cho người khác nên cứ để hở tênh hênh ra đó. Những quán này, cũng với các món đại loại như trên hoặc bánh cuốn, hủ tíu, phở, bún, miến, vv...bình dân, giá cả có phần cao hơn đôi chút, từ 5 đến 8, 10 ngàn tùy món hoặc tùy ở sự tăng cường đặc biệt nào đó. Ta cầm cái bao nhựa đựng khăn ướp đá lạnh lên, vỗ đến “bốp” một phát cho đúng điệu dân Sài Gòn, rồi lau bất cứ chỗ nào tùy ý cho mát mẻ để chống lại cái nóng toé lửa, xì khói. Cái khăn lau trắng phau này cũng có nhiều điểm đáng nghi ngờ, như báo chí trong nước đã nhiều lần đề cập. Nơi các nhà hàng lớn, những khăn đó được một công ty cho người đến thu hồi về giặt tẩy đàng hoàng nên người dùng có phần an tâm. Nhưng ở các quán, các tiệm bình dân nó được chính gia đình hay các nhân viên đích thân giặt tẩy nên không có phần kỹ lưỡng lắm. Sau đó một thứ dầu thơm – giống như của các ngài hớt tóc lề đường – được xịt vào, xông lên một mùi nồng nặc để ngụy trang cho ra vẻ thơm tho, nõn nường. Dân Việt Kiều tỏ ra còn e ngại với những cái khăn này lắm, chỉ dùng để lau tay hoặc lau cái trán ướt đẫm mồ hôi là cùng. Còn muốn lau miệng, hãy rút cuộn giấy...vệ sinh đựng trong cái hộp nhựa tròn trên bàn cho chắc ăn. Bạn cũng đừng ngạc nhiên khi thấy rác rến đầy rẫy dưới chân, dưới gầm bàn. Từ xương xẩu, vỏ chanh, rau giá, giấy lau, cho đến cọng tăm, vv...chung sống với nhau rất mực hoà bình dưới đất. Đó là chưa kể có lần tác giả được chứng kiến tận mắt một vị khách rất vô tư khạc nhổ xuống gầm bàn, sau đó dùng cái khăn trắng nõn nà kia chùi miệng lia lịa. Bạn cũng đừng ngạc nhiên khi có người rất tự nhiên kéo ghế ngồi chung bàn, chả cần xin lỗi hay phép tắc gì. Bạn cứ việc ăn uống thoải mái, trong khi vị khách kia cũng chả để ý đến bạn làm gì. Trừ khi bạn gọi người hầu bàn xin một ly nước sôi để cận thận trụng đôi đũa và muỗng hoặc rút ra một đôi đũa riêng ( loại ăn rồi liệng bỏ ) cho hợp vệ sinh! Bạn cũng đừng đòi hỏi nhiều khi cần đi Toilette. Hãy chịu khó bước ra phía sau quán, lội lõm bõm qua khu vực rửa chén, đĩa rồi mới tới được mục tiêu, phía trong chèm nhẹp nước nôi. Nhiều khi không có bồn rửa mặt, ta mở tạm cái vòi nước sát tường lau miệng, lau tay khiến nước văng tung toé, ướt cả gấu quần và giầy dép. Đó là chưa kể đến những công tác vệ sinh khác, nhiêu khê vô cùng, nhất là đối với những nữ thực khách.

Nhưng khi đến với những nhà hàng từ loại trung bình trở lên, với giá cả từ 15 hay 20 ngàn một món, vấn đề vệ sinh được chú trọng nhiều hơn..Những nhà hàng cao cấp thì giá cả cũng thuộc cấp cao hơn, nên vấn đề vệ sinh được coi như toàn hảo. Nếu bạn đã đến với những nhà hàng nằm trong các khách sạn như Caravelle, Sheraton, New World hay Sofitel, vv...hẳn sẽ đồng ý với người viết. Khăn trải bàn và khăn lau sạch sẽ, tươm tất. Lại còn có hoa hoét trên bàn cùng ánh nến lung linh. Tình ra phết. Toilette thơm phưng phức với bồn cầu, bồn rửa mặt đâu ra đấy. Nhất định không hề có mặt một chú ruồi nào, nếu có cũng lăn đùng ra chết ngạt vì mùi thơm. Sự cách biệt rất lớn về vấn đề vệ sinh về ăn uống ở Sài Gòn là như vậy. Và giá cả cũng chia thành nấc thang, từ 1 ngàn đồng Việt Nam một món hoặc khoảng 5 ngàn một bữa cơm bụi, cho đến cỡ 20 “đô Mẽo” một chầu “buffet” linh đình trong các khách sạn lớn. Giá thấp hơn thì không có, nhưng giá cao đến đâu bạn cũng có thể tìm thấy ở Sài Gòn, Chợ Lớn một cách dễ dàng miễn là hầu bao bạn có khả năng chi bạo!

Nhắc đến vệ sinh, không thể không nhắc thêm về... ruồi. Trong thời gian còn ở lại Sài Gòn sau năm 75, trước khi vượt biển, tác giả đã biết cảnh quấy nhiễu của các chú ruồi trong các quán ăn bình dân như thế nào. Tay này cầm đũa, tay kia đuổi ruồi lia lại. Riết rồi cũng quen, không còn coi là một vấn đề. Theo lời kể của những Việt Kiều về Sài Gòn từ những năm cửa mới...hé mở thì không biết ruồi nhặng đâu mà lắm thế. Mục tiêu tấn công của ruồi nhặng không gì khác hơn là những đĩa thức ăn thơm tho, bổ béo hoặc những món mắm đủ loại, hoặc những trái cây như sầu riêng, mít, xoài. Tại các địa điểm ăn uống trong các chợ, gần những đống rác hay cống rãnh thì ôi thôi, ruồi ơi là ruồi, nhặng ơi là nhặng. Thỉnh thoảng còn thấy bóng dáng của những chú chuột cống to kếch xù chạy lăng xăng đây đó hoặc vài chú dán đi tới đi lui. Ngay trong các nhà hàng, thỉnh thoảng cũng vẫn xẩy ra cảnh có chú ruồi tham ăn, háu đói... trầm mình vào tô “súp” hoặc bát canh. Nhưng trong chuyến về Sài Gòn vừa qua, nạn ruồi nhặng đã bớt đi nhiều. Thỉnh thoảng mới bắt gặp một vài chú lạng quạng, vờn qua vờn lại, trong khi vấn đề vệ sinh được chú trọng hơn xưa, tuy vẫn còn có những tình trạng được diễn tả ở trên mà tác giả được chứng kiến. Nhưng chỉ so với lần về trước đó một năm, người viết phải công nhận tình trạng vệ sinh đang càng ngày càng được cải tiến. Hình ảnh của những xe đổ rác – tuy đôi lúc cũng vừa chạy vừa...xả rác tùm lum – hay những công nhân quét đường xuất hiện thường xuyên đã khiến những người trở về Sài Gòn có được phần nào yên tâm hơn trước. Hơn nữa, việc cạnh tranh giữa các tiệm ăn, quán nhậu mỗi ngày mọc ra một nhiều, cũng là một yếu tố quan trọng để các vị chủ nhân quan tâm đến vấn đề vệ sinh hơn.

Ngon hay dở! ...

Rất nhiều người đã hỏi tác giả món ăn Sài Gòn ngon hay dở. Đây là một câu hỏi tưởng dễ, nhưng rất khó trả lời một cách chung chung. Khẩu vị mỗi người mỗi khác. Ý thích mỗi người chẳng ai giống ai. Hơn nữa, có tiệm ăn ngon, có tiệm ăn dở, nên cũng tùy. Cũng một món đó, có tiệm ăn thật ngon, lại cũng có tiệm nuốt không trôi. Vậy trả lời ngon hay dở một cách dứt khoát rất là khó khăn. Thí dụ như món phở chẳng hạn. Phở Bắc hay phở Sài Gòn phở nào ngon hơn. Phở hải ngoại với phở Việt Nam, phở nào đặc sắc hơn. Câu trả lời cũng quả là khó khăn. Tiệm phở Bắc hiện nay nhan nhản ở Sài Gòn, nhưng phải ăn đúng tiệm mới biết thế nào là ngon, dở. Phở Sài Gòn thì quá xá là đông. Từ hẻm hóc cho đến đường nhỏ, đường lớn; từ phở bình dân đến phở máy lạnh, đâu đâu cũng phở là phở. Nhưng muốn biết ngon dở phải ăn cho đúng tiệm, thường là những tiệm mà tiếng tăm được truyền miệng như phở Hoà, phở Dậu, phở Quyền, phở Tầu Bay, Phở Ngân, Phở Lệ, vv...Aên tại những hàng phở vớ vẩn để kết luận tổng quát là phở Sài Gòn dở ẹc thì oan uổng cho phở Sài Gòn lắm thay. Nhưng vẫn chưa chắc những hiệu phở nổi tiếng đã là ngon. Đối với tôi là số dách, nhưng đối với anh lại không ra cái thống chế gì. Chị khen thịt nạm tiệm đó thơm lừng, còn đối với tôi lại nhạt nhách. Bà khoái tiệm nọ có nước trong, tôi lại thích nước béo với mỡ nổi lềnh bềnh mới sướng ông thần khẩu. Dở, ngon tưởng dễ; ai ngờ qua nhiêu khê. Ngược lại, có những xe phở trong hẻm, trong xóm khi ăn vào lại thấy ngon miệng lạ thường. Do đó những nhận xét ngon, dở của tác giả trong chuyến “hành trình ẩm thực “ này hoàn toàn mang tính cách chủ quan, hợp với khẩu vị của mình. Tin tưởng được hay không, tùy nơi khẩu vị của bạn đọc nếu đã hoặc sẽ có dịp đến với những nơi tác giả đã lê la đến. Bắt người viết khẳng định dứt khoát thế nào là ngon, dở thì “hổng dám đâu”!...

Nhiều hay ít?

Không ít người cho rằng tô bún, tô phở, hủ tíu hay bánh canh, vv...ở Sài Gòn đều nhỏ xíu so với những tô loại này ở hải ngoại, lớn như cái thau. Điều đó đúng một phần nào nếu ta thưởng thức những món đó ở những nơi bán thuộc loại bình dân. Với một giá cả quá mềm, việc đòi hỏi một tô vĩ đại chẳng có lý chút nào. Mời bạn bước vào tiệm Phở 24 ( trên đường Nguyễn Thiệp, gần Brodard hoặc trên đường Mạc Thị Bưởi ), với giá 24 ngàn một to. Chắc chắn bạn sẽ phải công nhận là tô phở ở đây cũng to lớn đẫy đà, đâu thua gì tô phở hải ngoại. Đó cũng do sự cách biệt về giá cả. Từ 5 ngàn, 10 ngàn đến 24 ngàn một tô hẳn là phải khác! Một đĩa cơm tấm 5 ngàn sao so bì được với một đĩa 10, 12 ngàn với đầy đủ bì, chả, sườn, xíu mại, vv...Câu “tiền nào của nấy” thật đúng khi áp dụng trong trường hợp này.

Rẻ hay đắt?

Nếu lấy thu nhập trung bình của một phó thường dân ở Sài Gòn vào khoảng 3, 4 chục ngàn đồng Việt Nam một ngày mà xơi một mình một bữa cơm trưa với ly trà đá như ở tiệïm Bà Cả Đọi ( tức tiệm Đồng Nhân ở Trương Định ) hay Hà Nội Quán trên đường Lê Quý Đôn, xoàng xoàng nhất cũng phải chi trên dưới 20 ngàn, không kể bia bọt, ngoài một ly trà đá trị giá 1000 đồng. Như vậy quả là đắt. Trong khi đối với dân Việt Kiều, giá chỉ như vậy khoảng 1 “đô” rưỡi thì rẻ ơi là rẻ. Một nhân viên áo quần bảnh bao, đồng phục chỉnh tề, mỗi buổi trưa sang lắm cũng chỉ dám bước vào những tiệm có bán “Cơm Trưa Văn Phòng” với giá từ 12 đến 15 ngàn. Cao cấp lắm là từ 20 đến 25 ngàn một “set”. Loại sau này chỉ dành cho các nhân viên cũng thuộc hàng cao cấp. Tuy nhiên thỉnh thoảng mới dám đến với những bữa “cơm trưa văn phòng”. Ngày nào cũng nộp cho một bữa cơm trưa như vậy thì lương tháng còn đâu để chi dùng vào việc khác. Nhưng đối với một Việt Kiều, giá cả như thế thật là chuyện nhỏ, chuyện “muỗi” như ngôn ngữ thường được nghe thấy ở Sài Gòn. Từ đó suy ra mới thấy sự tương đối trong vấn đề đắt rẻ ở Sài Gòn. Đặt mình vào hoàn cảnh của người địa phương, với số thu nhập hàng tháng mới biết thế nào là đắt, rẻ. Là một Việt Kiều, mang theo “đô” trở về đớp hít, cái đắt của người địa phương lại là cái rẻ rề của mình. Trong thời gian tác giả ở Sài Gòn, 100 “đô” Mẽo đổi được khoảng trên 1 triệu rưởi. Đắt hay rẻ, khó nói là ở chỗ đó. Tuy nhiên cũng có vô số Việt Kiều tá hoả tam tinh với những món dù có rủng rỉnh “đô la” cũng không dám rớ tới. Thí dụ một chén chè yến nhỏ xíu bán trong một tiệm trên đường Đồng Khởi ( Tự Do cũ ) với giá 300 ngàn đồng, bằng 1/4 lương tháng của một người dân trung bình ở Sài Gòn. Hoạ hoằn mới có Việt Kiều bỏ tiền ra nếm thử, còn những phó thường dân ở Sài Gòn thì bố bảo cũng không dám rớ vào. Chưa kể tầng lớp bình dân, lam lũ thì coi việc rớ vào chén yến nhỏ xíu đó như một chuyện thần thoại! Cũng ở trong tình trạng tương đối đó giữa rẻ và đắt đó, Việt Kiều có rủng rỉnh cách chi cũng không dám “chơi” bằng dân Sài Gòn thuộc loại “mập địa”, loại chóp bu. Bạn có dám ung dung chi ra 100 “đô” cho một món ăn không? Xin nhắc lại, cho một món ăn chứ không phải một bữa ăn! Chi cho một món như vậy ở hải ngoại cũng đã là ná thở, huống chi...
Với bất cứ số tiền nào bạn cũng có thể đớp hít được ở Sài Gòn. Thượng vàng, hạ cám có đủ. Bảo đảm không thiếu thứ gì, chỉ sợ bạn thiếu “địa” và không được thoải mái trong việc chi tiêu cho những mục đớp hít. Muốn ăn uống, giờ nào cũng có. Từ sáng tinh mơ cho đến đêm hôm khuya khoắt. Giờ nào thức nấy, luôn luôn ông thần khẩu được cung phụng rất ư ø cẩn thận!

Vậy mời bạn cùng tác giả sửa soạn bước vào một cuộc hành trình ẩm thực với đủ thứ mùi vị: ngọt ngào, cay đắng, chua chát, mặn bùi, vv... qua đủ thành phần tiệm ăn, quán nhậu, hàng rong, xe đẩy, sạp ăn chồm hổm kể từ tuần tới.

II- THÊM CHÚT LAN MAN VỀ ẨM THỰC...

Với câu hỏi : dân Sài Gòn ăn lúc nào?, câu trả lời sẽ là “lúc nào cũng ăn!”. Còn ăn ở đâu? “Nơi nào cũng có!”ù. Vậy dân Sài Gòn thường xơi món gì? “Món gì cũng xơi ráo!”, bất kể chuột, dơi, kỳ nhông, kỳ đà, rắn, bọ cạp. Ngay đến con cóc sần sù cũng được chiếu cố để trở thành món cháo cóc độc đáo. Nền văn hoá đớp hít của Sài Gòn là như vậy. Bất kể giờ giấc nào, từ sáng tinh mơ đến đêm hôm khuya khoắt, nếu bạn bất chợt thèm ăn thì chẳng phải là một vấn đề như thành phố của bạn và tôi đang ở hiện nay. Như ở Tây, Mỹ hay Úc, Canada chẳng hạn, nhất là về khuya. Sau 9, 10 giờ tối tìm được một tiệm Việt Nam còn mở cửa kể là cũng hiếm. Trong khi ở Sài Gòn thì sáng, trưa, chiều, tối, khuya hoặc khuya hơn nữa; lúc nào cũng đầy đủ các món đáp ứng đúng nhu cầu của ông thần khẩu. Từ hang cùng ngõ hẻm, đến những nơi lịch sự, sang trọng ở khắp nơi tại Sài Gòn và các vùng phụ cận đều có thể cung ứng cho bất cứ sở thích đớp hít nào của bạn.

Người ta thường nói ”ăn quận Năm, nằm quận Ba, xa hoa quận Nhất”. Thật ra vấn đề ăn uống ở quận Năm trong câu này chủ ý nhấn mạnh vào những món sơn hào, hải vị, nem công chả phượng tại những tiệm ăn Tầu lớn – các cụ ta thường gọi là cao lâu - hoặc những món đặc biệt Ba Tầu qui tụ tại những khu ăn uống về đêm cho thích hợp với câu được các “khứa lão” truyền tụng trước kia:”ăn cơm Tầu,ở nhà Tây, ngủ giường Hồng Kông, lấy vợ Nhật”. Câu này hiện đã trở thành lỗi thời. Nền ăn uống tại Sài Gòn phát triển khủng khiếp, qua mặt hẳn Chợ Lớn với vô số kể hàng quán, tiệm ăn lớn bé có thể lên tới hàng chục ngàn, chưa kể những gánh, những xe đẩy lưu động, vv... Câu “nằm quận Ba “ thì không sai.. Nhiều nhà cửa thuộc quận Ba hiện nay do những ông to, bà lớn làm sở hữu chủ. Nhà nào nhà nấy to lớn, đồ sộ , kín cổng cao tường và được bảo vệ một cách kỹ càng. Nằm ở quận Ba hẳn nhiên là sướng cái mớ đời. Còn quận Nhất xa hoa là phải, khi qui tụ những khách sạn lớn, những chốn ăn chơi như vũ trường, bar rượu, massage cùng nhiều mục lỉnh kỉnh khác.

Vốn sinh ra có khiếu...ăn uống, tức đã hấp thụ được nền văn hoá ẩm thực ngay từ khi còn nhỏ, cũng như hầu hết những cô cậu ca sĩ đều có khả năng văn nghệ từ khi còn nhóc tì, nên tác giả luôn tơ tưởng đến món này, món nọ để hay quan tâm nghiên cứu về tất cả những gì liên quan đến đớp hít. Thú nhất trên đời phải là ăn. Aên uống nó “tối tân “ lắm, không phải “miếng ăn là miếng tồi tàn” như các cụ ta ngày xưa thường nói. Bởi vậy mới được liệt vào hàng số dách trong “tứ khoái” trên cái cõi đời này, trước cả “ngủ”, “ấy” và “ể”. Đấng nào sắp đặt thứ tự như vậy quả là người thực tế, một “siêu sao” về hưởng thụ. Như tác giả đây, lúc nào cũng sợ nếu không ăn hôm nay, lỡ ngày mai...chết nhe răng ra thì sao? Bởi thế, luôn áp dụng câu châm ngôn “ăn hôm nay, chớ để ngày mai”. Lỡ chẳng may lăn đùng ra ngáp ngáp thì uổng cả một quá trình ăn nhậu có truyền thống lâu đời! Sống như Vua Ngô trong 4 câu sau chẳng có gì đáng sống, dù cho tiền rừng, bạc biển:

Vua Ngô 36 tấn vàng
Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì
Vua Chổm uống rượu tì tì
Thác xuống âm phủ khác gì vua Ngô

Cứ như ông Vua Chổm quả là khôn ngoan. Qua thế giới bên kia làm quái gì có tiết canh, thịt chó, bê thui, lẩu bò, lẩu dê, vv... Cho nên sống trên đời không phải chỉ ăn miếng dồi chó mà nếu có thể nên thưởng thức tất cả mọi thứ trên đời khi còn đủ sức nhai ( dù bằng răng giả!), đủ khả năng phân biệt mùi vị, nhất là bộ phá lấu như bao tử, ruột, gan, phèo, lá lách, vv...chưa đến thời kỳ suy sụp. Cứ thế mà ăn cho nó sướng!

Nói đến mọi thứ món ăn trên đời, Sài Gòn hiện nay có thể coi là tương đối đầy đủ. Ngoài những món thuần túy dân tộc của cả 3 miền Nam, Trung, Bắc; Sài Gòn còn là nơi hội tụ những món ăn của vô số nước, như Tầu ( dĩ nhiên ! ), Aán Độ, Đại Hàn, Nhật, Thái Lan, Malaysia, Mỹ, Pháp, Ý , Đức, Tiệp Khắc, Nga, Ba Tây, Tây Ban Nha, vv...

Sau hơn 2 tháng lê la ở mọi nơi ăn uống, dù chỉ là một phần ngàn số lượng hàng quán hiện diện ở Sài Gòn, tác giả nhận ra một điều tổng quát là đa số các món ăn được pha chế rất ngọt, đến từ 2 thứ là đường và bột ngọt. Chả bù cho những năm đầu tiên sau năm 75, sự khan hiếm của 2 thứ này đã khiến cho các món ăn thiếu hẳn mùi vị. Mấy chục grammes bột ngọt hay đường vào thời đó thật là quí hoá, sử dụng vào việc bếp núc phải hạn chế tối đa. Bây giờ thì khác, những thứ này trở nên tầm thường nên cũng được khai thác tối đa để tăng độ ngọt, khiến có khi tương đương với độ ngọt của một chén chè! Chính tác giả đây đã được thưởng thức một chén chè...bò viên tại một khu ăn uống nổi tiếng là Nguyễn Thiện Thuật! Những nhà hàng lớn tương đối khai thác hai chất ngọt này một cách nhẹ nhàng hơn, mặc dù vị ngọt vẫn có phần “nổi cộm”!.

Cũng từ đó, ai muốn tìm đến với các món của “những ngày xưa thân ái”, từng gây ấn tượng vào một lứa tuổi, một khoảng thời gian nào đó sẽ khó tìm ra được hương vị mong muốn. Hoạ hoằn lắm mới tìm lại đúng hương vị ngày xưa trong những bữa cơm gia đình hay những món quà dân dã được nâng niu, pha chế tỉ mỉ từ bàn tay của bà nội trợ đảm đang thuộc thế hệ trước. Từ khi tác giả đến với Sài Gòn trong phong trào di cư đến nay đã đúng nửa thế kỷ. Cũng từ đó bắt đầu có ý thức về việc ăn uống và thường nghiên cứu về vấn đề này, đã nhận thấy có rất nhiều thay đổi trong cách pha chế trải dài trong suốt 50 năm. Aên uống đi chung với kỷ niệm, tuy nhiên lại ảnh hưởng không ít bởi hoàn cảnh xã hội, tình trạng kinh tế, vv...do đó đã không ngừng đổi thay và cải tiến. Những ông Tản Đà, Nguyễn Tuân, Thạch Lam hay Vũ Bằng là những tay cự phách trong làng ăn nhậu, nếu còn sống để được thưởng thức một món quen thuộc của một thời nào đó trong quá khứ, không biết còn cảm thấy hấp dẫn hay không vì khẩu vị đã bị “áp chế” bởi quá nhiều món mới, món lạ.

Chắc chắn là không, vì rất khó khăn để tìm được những gia vị, những loại rau thơm đặc sản của từng vùng để pha chế. Ngay thịt thà từ gà, vịt, heo, bò, vv...mùi vị cũng chẳng còn được như “thời ấy”, lấy đâu ra để bảo tồn được hương vị của sự “vang bóng một thời”ù của mỗi người.

Những món quà phổ thông nhất của Sài Gòn, theo thời gian đã thay đổi rõ ràng. Lấy thí dụ vài món như bò viên hay gỏi khô bò mà trong suốt quãng đời học sinh, sinh viên ở Sài Gòn không ai không biết tới. Tôi không sao quên được những chén bò viên dai và thơm phức của một anh Tầu bán trong cái hẻm nhỏ cạnh trường Taberd trên đường Nguyễn Du vào cuối thập niên 50. Những viên bò nạc và gân nhai sừn sựt đã gây được một ấn tượng mạnh nới đầu óc non nớt của tôi vào thời kỳ oắt con đó. Điểm vài giọt dầu mè, rắc một chút tiêu và cải bắc thảo, chấm với tương đen, tương đỏ hay ớt xào thì không có gỉ tê đê mê bằng. Thỉnh thoảng ăn bò viên với bún cũng thú vị lắm. Lớn hơn vài tuổi, vào những năm đầu thập niên 60, những xe bò viên có đổ xí ngầu hấp dẫn tôi lạ thường. Để dành được bao nhiêu tiền đều mang nộp cho những xe này. Đổ xí ngầu thì được ăn cả, ngã về không. Khi thắng ta tha hồ đớp hít, còn mời mọc bạn bè đến cùng ăn mừng chiến thắng vẻ vang. Thua thì tiu nghỉu, mặt mày ủ dột trong khi nước miếng chảy dài xuống hai bên mép. Ông bán hàng tội nghiệp thằng bé, bèn tặng cho vài viên an ủi, nhai đỡ ghiền. Bò viên thời đó thuần túy chỉ là bò viên với những viên nạc hoặc gân, nhỏ bằng đầu ngón tay cái. Đếán khoảng cuối thập niên 60, bò viên bắt đầu thay đổi hình dạng tại một vài nơi, như trong hẻm gần rạp Đại Đồng trên đưòng Cao Thắng hoặc rạp Cathay trong Chợ Lớn hay khu Nguyễn Thiệt Thuật, Trần Quí Cáp. Nó trở lên to lớn hơn xưa, khi ăn người bán phải cắt ra làm tư mới bỏ vừa miệng. Một thời gian ngắn sau, nền bò viên trở nên phát triển mạnh mẽ, do đó tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt. Muốn cạnh tranh thì cần thêm thắt, chế biến. Từ đó, từ một chén có “size” nhỏ như chén ăn cơm đã tiến lên thành một tô bò viên với phần tăng cường của lòng bò như :tim, gan, phổi, lá lách, lá sách, tổ ong, bao tử,… vv...tùy theo sự lựa chọn của khách hàng, và có thể ăn với hủ tíu hay mì. Nước lèo của bò viên do đó đã thay đổi hẳn mùi vị so với trước kia, có phần nặng nề hơn do các chất tiết ra từ lòng bò. Hàng chục năm sau trở lại Sài Gòn, những viên bò viên hình như có vẻ...teo lại, nước lèo trở nên ngọt gắt do bột ngọt và đường. Những tay làm bò viên chuyên nghiệp thời xưa, lớp thì già nua, lớp đã ra người thiên cổ. Đám con cháu sau này với nền “kinh tế thị trường” chẳng còn giữ được những điều cha truyền, con nối để pha chế tùy ý. Không những vậy, rất nhiều tay ngang từ các tỉnh kéo vào Sài Gòn nhẩy ra bán bò viên – hoặc một số món khác - với sự biến chế , thêm thắt lung tung khiến khách muốn tìm về quá khứ rất ư thất vọng. Ngược lại, đối với lớp người trưởng thành sau này tại Sài Gòn thì đó cũng là những viên bò viên ngon lành của một thời kỷ niệm cho riêng họ, chẳng cần biết đến chén bò viên của tôi và bạn xưa kia hình thù to nhỏ với những phụ tùng ra sao. Và dĩ nhiên khẩu vị của họ tỏ ra thích hợp với những món ở trong thời điểm này. Một lần nữa, vấn đề đúng hay sai, ngon hay dở vẫn luôn là tương đối.

Một món khác là bò khô tức gỏi khô bò. Vào thời học sinh của tôi và bạn ở Sài Gòn, chắc chắn đã từng cùng bạn bè tụm năm, tụm ba quanh những xe bán khô bò trên đường Pasteur, góc đường Lê Lợi. Những chiếc đĩa nhôm méo mó, những lát gan cháy và những cọng đu đủ trắng phau được chan ngập nước giấm, rưới thêm chút tương ớt đỏ cùng điểm vài lá rau húng và ngò cắt mỏng chắc chắn khiến bạn nhớ về thời kỳ huy hoàng của nên bò khô Sài Gòn. Đó là giai đoạn cực thịnh của những Ông Aùo Đen, Ông Aùo Nâu. Thời đó, những xe bán bò khô tại địa điểm nổi tiếng nhất ở Sài Gòn này, chắc chắn được đi vào nền văn hoá ẩm thực. Ngoài ra còn những xe bán bò khô khác, với tiếng kéo khua vang trước cửa trường để lôi kéo những cô cậu học sinh khoái ăn quà vặt. Giờ đây ở Sài Gòn, bò khô chẳng còn như xưa. Những xe bán rong ngoài đường với tiếng kéo lách cách quen thuộc trở thành hiếm hoi, chỉ còn một vài nơi được coi là nổi tiếng với số khách hàng đông đảo. Trong số có một xe cố thủ trên đường Hai Bà Trưng, gần Võ Thị Sáu ( tức Hiền Vương ngày nào ), chỉ xuất hiện từ khoảng 4, 5 giờ chiều trở đi đã thu hút một số lượng khách đông đảo. Món gỏi khô bò nay đã được nâng cấp để được đưa vào hàng quán, cửa tiệm hẳn hoi với cái đĩa sứ lịch sự thay cho cái đĩa nhôm móp méo ngày nào. Nhưng từ sự nâng cấp đó, món khô bò “o-ri-gin” thời học sinh của tôi và bạn đã được thêm thắt một vài phụ tùng như đậu phọng, bánh phồng tôm cho ra vẻ xôm tụ. Nước giấm bây giờ được pha chế mỗi nơi mỗi kiểu, khác hẳn cái món một thời kỷ niệm khi xưa ta bé. Tuyệt nhiên đố bạn tìm được một miếng gan cháy cạnh, cắt khứa như trái khế ăn vừa giòn, vừa bùi, lại thơm phưng phức của ngày xưa. Nhưng dân Sài Gòn đã mặc nhiên chấp nhận cái món gỏi khô bò cải tiến này. Chẳng có ai gàn dở, đòi hỏi phải có được đĩa bò khô vang bóng một thời. Diễn tả như vậy để chứng minh cho sự thay đổi của một vài món quà phổ thông điển hình theo thời gian, theo khẩu vị của từng thế hệ.

Trong hơn hai tháng thực hiện cuộc hành trình ẩm thực ở Sài Gòn, cứ tiếc hụi hụi là không được thưởng thức món thịt gà và những loài gia cầm khác như vịt, ngỗng, ngan, vv...Kể cả các loại chim chóc như bồ câu, se sẻ, chim cu đất, vv... đều không thấy xuất hiện tại các quán ăn, tiệm nhậu. Lần đầu tiên và cũng là lần cuối trong thời gian ở Sài Gòn chỉ được xơi một tô cháo gà duy nhất tại khu ăn uống đêm Hải Triều vào trung tuần tháng 01 năm 2004. Chỉ vài ngày hôm sau ăn tô cháo gà với đủ gan, mề kia là tin có dịch cúm gà xuất hiện. Từ đó trở đi, gà và các loại có cánh kể trên không còn ai dám đụng đến. Tiếc hơn nữa là món tiết canh vịt hay ngỗng cũng không được thưởng thức trong chuyến đi này. Thiếu những món từ gà vá các loại gia cầm chim chóc, nền ăn uống ở Sài Gòn đã bị ảnh hưởng không ít. Trước tiên phải kể đến món phở gà. Những tiệm chuyên trị món này như Bình hay Hương Bình trên đường Hiền Vương ( nay là Võ Thị Sáu ) đành phải chuyển qua bán phở bò cầm hơi, với một số khách rất lưa thưa vì không gây được tin tưởng cho lắm. Những tiệm cơm gà nổi tiếng như Hồng Phát, Thượng Hải, vv... cũng gặp rất nhiều khó khăn khi thực khách chỉ tìm đến với tiệm mình bởi món thịt gà hấp dẫn. Ông già Kentucky tức Kentucky Fried Chicken trên Diamond Plaza cũng đã nhanh chóng thay thế gà bằng “ hamburger cá” cho hợp tình hợp cảnh. Còn những tiệm Chicken Town tức thì thay thế bằng món bò né! Món này cũng đại khái như bò nướng ngói, nướng vỉ sắt. Khi rưới mỡ dầu lên đương nhiên sẽ văng tóe tùm lum. Do đó ta phải tránh né để khỏi bị văng vào quần áo, mặt mũi nên từ đó được đặt tên là bò né! Những tiệm bán vịt quay, heo quay chỉ còn treo lủng lẳng một vài miếng thịt quay, cô đơn vì thiếu bạn. Nhất là trung tâm vịt quay trên đường Tôn Thọ Tường ( nay là Tạ Uyên ), các chú vịt quay óng ánh và béo ngậy đã nhường chỗ cho các chú heo sữa, treo toòng teeng trong tủ kính trước cửa và được điểm những bông hoa mầu sắc loè loẹt. Các tiệm nhậu dĩ nhiên cũng bị ảnh hưởng không kém. Tại các nơi bình dân, những trái vịt lộn, gà lộn hoặc chân gà nướng đều biến mất tăm. Còn tại những quán nhậu sân vườn, thực khách sẽ thòm thèm khi nhìn vào tấm thực đơn dầy cộm với những món từ gà vịt, chim chóc bị gạch bỏ. Nào là gà xé phay, gỏi gà, gà nướng, gà da giòn, gà đút lò, gà tiềm thuốc bắc, ngọc kê cháy tỏi, gà nướng mọi hay vịt nướng chao, vịt da giòn, vịt Bắc Kinh, vv...cho đến bồ câu quay, chim sẻ quay, chim cút ngũ vị hương, vv...đều bị xoá tên để heo, bò lên cầm quyền thay thế. Những tiệm bán thịt vịt luộc chấm nước mắm gừng noiå tiếng trong khu Thanh Đa cũng phải trải qua một thời kỳ khó khăn trước tình trạng “gà nạn”...Tuy chiu ảnh hưởng nặng nề của nạm “cúm gà”, nhưng với dân chơi Sài Gòn thì muốn kiếm gà dễ lắm. Gà nói ở đây là loại... “gà móng đỏ” và cân nặng vào khoảng 45, 48 kí lô !!! Muốn bắt loại gà này, cứ tà tà ra ngồi tiệm Café Central – thường được gọi là Sunwah, thuộc phạm vi của building có tên này- ngay ngoài lề đường Nguyễn Huệ, tại địa điểm Tòa Hoà Giải cũ sẽ có ngay. “Gà móng đỏ” lủng lắc xắc tay thời trang, tay cầm điện thoại di động ngồi nhan nhản quanh ta. Chỉ cần ra hiệu một cách kín đáo, “gà” sẽ bắt ngay được “signal” để sau khi thỏa thuận sẽ cùng ta bước lên một chiếc taxi Vinasun thay phiên nhau túc trực phiá trước. Thế là xong. Nhưng chẳng may loại gà này cũng mắc phải một chứng cúm đặc biệt nào đó, kể cũng phiền!

Đối với dân khoái ăn nhậu thật ra thiếu thốn một chút thịt gia cầm, chim chóc cũng chẳng đến nỗi quan trọng cho lắm. Vì nền đớp hít ở Sài Gòn rất ư phong phú với sự phát huy sáng kiến độc đáo của những tay đầu bếp đủ mọi đẳng cấp, nên thiếu món này sẽ có hàng chục món khác thay thế. Không có con này, sẽ thiếu gì con khác được biến chế thành những miếng mồi ngon lành. Từ những tay bếp nhà nghề đến những tay ngang đều thi nhau tung ra những sáng kiến để đưa vào cái thế giới ẩm thực của Sài Gòn, với một không khí hết sức nhộn nhịp này.

Lan man tổng quát về ăn uống ở Sài Gòn kể như đã đủ. Bạn hãy cùng tác giả sửa soạn bước vào một cuộc hành trình đầy hấp dẫn cùng với những cái vân vân và vân vân khác, có ít nhiều liên hệ với các hầu đớp hít... ( còn tiếp )

TRƯỜNG KỲ
(truongky@sympatico.ca)

Cali Today

Về trang chủ

XEM TIẾP

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

.Thiên cổ đoạn trường kim nhất tục.
Phiếm Đàm tòng thử kế Thừa sai.

 

Tìm kiếm tin đã đưa
Liên kết website


 

 

 

 

 

 

ĐIẠ CHỈ: WWW.HAINGOAIPHIEMDAM.COM. EMAIL: HAINGOAIPHIEMDAM@YAHOO.COM

Tại sao?| Lượm lặt | Hình kì cục|Điển tích| Ẩm thực |Hỏi&Đáp| Tham khảo|Tiểu phẩm| Vườn hồng |TRÁI TIM HỒNG|CHĂN GỐI | sức khỏe |Khoa học|MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn| | Nhân vật | Nẻo tà|