(Hoạ vận tại hậu)
Bướm ong mừng đã mấy phen
nay,
Hồng nhạn xin đưa ba chữ lại;
Dám đâu mưa gió giở bàn tay,
Những
sự ba đào xeo tấc lưỡi,
Nam Bắc xa xa mấy dặm đây,
Hải sơn ước để ngàn năm
mãi,
Bức tranh khôn vẽ tấm lòng ngay.
Tơ nguyệt rày xe ba mối lại,
Hỏi
khách đa tình nhỏ có hay.
Năm canh hồn bướm thêm bơ
bải(2)
(1) Tặng Tốn Phong thị. Dưới đầu đề có ghi rõ "Hoạ vận tai hậu" (hoạ vần ở
phía sau), nhưng không thấy bài hoạ.
(2) Bài thơ còn như dang dở. Thể thơ ít
gặp. Hay là một điệu ca trù nào đó? Hai chữ bơ bãi là phiên âm tạm.
Chưa rõ nên đọc thế nào cho phải.
Kiếp này chẳng gặp nữa thì
liều,
Những chắc trăm năm há bấy nhiêu.
Nghĩ lại huống đau cho phận
bạc,
Nói ra thêm nhẹ với thân bèo.
Chén thề thủa nọ tay còn dính,
Món
tóc thời xưa cánh vẫn đeo.
Ðược lứa tài tình cho xứng đáng,
Nghìn non muôn
nước cũng tìm theo.
(1) Hoạ nguyên vần thơ ông Tốn Phong.
Nhớ ai mà biết nói cùng ai
Rằng
chữ đồng ta quyết một hai.
Hoa liễu vui đâu mình dễ khéo,
Non sông dành
giả nợ còn dài.
Chén tình dầu nhẫn lâu mà nhạt
Giải ước nguyền âu thắm
chẳng phai.
Ðầy đoạ duyên trần thôi đã định,
Xương giang duyềnh(2) để ngắm
tương lai.
(1)Tốn Phong thị nằm mộng, ghi lại mang cho xem, nhân đó làm bài thơ thuật
chuyện và ghi lại.
(2)Có phiên âm là dành
I
Dồn bước may đâu khéo hẹn hò
Duyên
chi hay bởi nợ chi ru?
Sương treo(2) áo lục nhồi hơi xạ,
Gió lọt cành lê
lướt mặt hồ.
Muốn chắp chỉ đào thêu trướng gấm,
Mà đem lá thắc thả sông
Tô.(3)
Trong trần mấy kẻ tinh con mắt,
Biết ngọc mà trao mới kể
cho.
II
Ðường hoa dìu dặt bước đông
phong
Nghĩ kẻ tìm thơm cũng có công,
Lạ mặt dám quen cùng gió
nước,
Nặng lòng nên nhẹ đến non sông.
Da trời nắng nhuộm tươi màu
biếc,
Phòng gấm trăng in dãi thức hồng.
Ai nhớ lấy cho lòng ấy
nhỉ,
Trước năm trăm hẳn nợ chi không?
(1) Hai bài ngụ ý gửi Tốn Phong thị. Chưa rõ Tốn Phong thị là ai? Chỉ biết
ông họ Phan, vì trong Bài tựa có câu: "Phan Mĩ Anh người trong họ tôi" và đó là
họ nội. Còn tên, theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn, có lẽ là Huân nghĩa là "Nam Phong"
(gió Nam) cùng gọi là Tốn Phong. Nham Giác là tên hiệu Nham Giác phu là "anh
chàng ẩn ở núi nhưng hiểu sự đời".
(2) Có bản phiên âm là xoa
(3) Sông Tồ
= Sông Tô Lịch ở Thăng Long - Hà nội.
Khấp khểnh đường mây bước lại
dừng,
Là duyên là nợ phải hay chăng.
Vịn hoa khéo kẻo lay cành gấm,
Vục
nước xem mà động bóng giăng.
Lòng nọ chớ rằng mây nhạt nhạt
Lời kia này đã
núi giăng giăng.
Với nhau(2) tình nghĩa sao là trọn,
Chớ thói lưng vơi cõ
nước Ðằng(3).
(1) Tặng bạn khi chia biệt ở sông Bạch Ðằng.
(2) Có lẽ là chữ
Nhau. Văn bản chép Sao.
(3) Lưng voi cỡ nước Ðằng:
Nước Ðằng là một nước nhỏ ở thời Xuân Thu Chiến Quốc, bị ép giữa hai nước lớn là
Tề, Sở nên luôn phải giữ gìn. Trong bài thơ tương truyền là của Hồ Xuân Hương
cũng dùng điển này để tả nỗi khổ của người đa thê: "Ngoảnh mặt sang Tề, e Sở
giận; Quay đầu về Sở, sợ Tề ghen".
Người về người ở khéo buồn
sao,
Tức tối mình thay biết lẽ nào.
Tơ tóc lời kia còn nữa hết,
Ðá vàng
lòng nọ xiết là bao.
Nổi cơn riêng giận ngày giời ngắn,
Mỏi mắt chờ xem
bóng nguyệt cao.
Sớm biết lẽ giời lí có hợp,
Thì mười năm trước bận chi
nao.
(1) Ghi lại lúc chia tay tại An Quảng, An Hưng.
Này đoạn chung tình biết mấy
nhau,
Tiễn đưa ba bước cũng nên câu.
Trên tay khép mở tanh chiều
nhạn,(2)
Trước mặt đi về gấp bóng câu.(3)
Nước mắt trên hoa là lỗi
cũ.
Mùi hương trong nệm cả đêm thâu.
Vắng nhau mới biết tình nhau
lắm,
Này đoạn chung tình biết mấy nhau.
(1) Hoạ lại thơ Mai Sơn Phủ. Mai Sơn Phủ chưa rõ là ai.
(2) Tanh chiều
nhạn: Vắng tanh không thấy bóng chim nhạn. Nghĩa là hoàn toàn không có tin
tức. Sách Hán Thư chép chuyện Tồ Vũ đời Hán sang sứ Hung Nô hoà thân với Hán.
Nhà Hán đòi trả Tồ Vũ, nhưng Hung Nô không trả. Sứ Hán bịa chuyện vua Hán bắt
được ở vườn Thượng Lâm một con chim Nhạn, chân có buộc bức thư bằng lụa của Tồ
Vũ. Chúa Hung Nô tưởng chuyện có thật, nên thả Tô Vũ. Do vậy, chim nhạn được
tượng trưng cho tin tức.
(3) Gấp bóng câu: câu con ngựa non sung
sức. Sách Trang Tử có câu "Nhân sinh Thiên địa gian, nhược bạch câu chi quá
khích" (con người sống giữa trời và đất giống như bóng ngựa bạch câu lướt qua
khe cửa). Chỉ thời gian đi nhanh.
Lá ngọc chiều thu giận hẳn du
Tuần
trăng sẽ nhớ bữa đêm thu.
Bên am Nhất Trụ trông còn đấy,
Ngọn nước Tam Kì
chảy lại đâu(2)
Son phấn trộm mừng duyên để lại,
Bèo mây thêm tủi phận về
sau.
Trăm năm biết có duyên thừa nữa,
Cũng đỏ tay tơ cũng trắng
đầu.
(1) Ðêm thu, nhớ Mai Sơn Phủ, gởi bài này.
(2) Nguyên chú: "Ðã
giải kết đưa tình" Giải kết, theo Ðào Duy Anh, là: "Cởi mối tình kết buộc với
nhau" Còn giải kết đưa tình là gì? Chưa rõ lắm.
(Hầu Nghi Xuân Tiên Ðiền nhân)
Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ
nhung,
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,
Giấc
mộng rồi ra nửa khắc không.
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
Phấn son càng
tủi phận long đong.
Biết còn mảy chút sương siu mấy(2)
Lầu nguyệt năm canh
chiếc bóng chong.
(1) Nhớ người cũ viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu. Sau đầu đề trên, tác
giả có chú: "Hầu, Nghi Xuân, Tiên Ðiền nhân" - "Hầu người làng Tiên Ðiền, huyện
Nghi Xuân" - Như vậy, ở đây Nguyễn Hầu đúng là Nguyễn Du tiên sinh - Gia phả họ
Nguyễn Tiên Ðiền ghi rõ mùa hè năm Kỉ Tỵ (1809), Nguyễn Du được bổ làm cai bạ
Quảng Bình. Tháng 2 năm Quý Dậu (1813) ông được phong Cần chánh điện học
sĩ, rồi được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc tuế cống.
(2) Sương siu
mây: Từ xưa phiên âm là sương đeo mái. Nay phiên âm theo giáo sư
Hoàng Xuân Hãn.
Phiên âm:
Hoa phiêu phiêu,
Mộc tiêu
tiêu,
Ngã mộng hương tình các tịch tiêu,
Khả cảm thị xuân
tiêu.
Lộc ao ao,
Nhạn ngao ngao,
Hoan hảo tương kì tại
nhất triêu,
Bất tận ngã tâm miêu.
Giang bát bát,
Thuỷ hoạt hoạt,
Ngã tư quân hoài
tương khế khoát,
Lệ ngân chiêm hạ cát.
Thi tiết tiết,
Tâm thiết thiết,
Nồng dạm thốn tình
tư lưỡng đạt,
Dạ bằng quân bút phát.
Phong ngang ngang,
Nguyệt mang mang,
Phong nguyệt
không linh khách đoạn tràng,
Hà xứ thị Ðằng Vương.
Vân thương thương,
Thuỷ ương ương,
Vân thuỷ na kham
vọng nhất trường,
Nhất trường dao vọng xúc hoài mang.
Nhật kì kì,
Dạ
trì trì,
Nhật dạ thiên hoài lữ tứ bi,
Tứ bi ưng mạc ngộ giai
kì.
Phong phi phi,
Vũ phi phi,
Phong vũ tần thôi thái
bút huy,
Bút huy đô thì phó tình nhi.
Quân hữu tâm,
Ngã hữu tâm,
Mộng hồn tương luyến
liễu hoa âm,
Thi đồng ngâm,
Nguyệt đồng châm,
Nhất tự sầu phân
nhuệ,
Hà nhân noãn bán khâm,
Mạc đàn li khúc oan tri âm,
Trực tu khí
trí thử dao cầm,
Cao sơn lưu thuỷ vãn tương tầm,
Ưng bất hận ngâm thán cổ
câm.
Quân hà kì,
Ngã hà kì,
Lữ đình lai đắc lưỡng thê
trì,
Dánh tần phi,
Bút tần huy,
Nhất trường đô bút thiệt,
Hà xứ thị
tình nhi,
Hảo bằng tâm thượng các tương tri,
Dã ưng giao thác thử duyên
đề,
Phương tâm thệ bất phụ gia kì.
(Hựu Giang Nam điệu)
Dịch vần:
Hoa xiêu xiêu
Cây xiêu
xiêu
Giấc mộng tình quê(1) thảy tịch liêu
Ðêm xuân cảm khái
nhiều.
Hươu ao ao
Nhạn ngao ngao
Vui sướng hẹn nhau một
sớm nào
Tả hết được tình sao!
Sông bát ngát
Nước ào ạt
ý thiếp lòng chàng cũng vu
khoát
Lệ rơi thêm mặn chát.
Thơ da diết
Lòng thê thiết
Ðậm nhạt tấc lòng ai
thấu hết
Liệu bút chàng tả xiết?
Mây lang thang
Trăng mênh mang
Trăng gió xui ai
luống đoạn tràng
Ðâu là gác Ðằng Vương
Mây tơ vương
Nước như sương
Mây nước trôi đâu chỉ
một đường
Một đường xa khuất rộn lòng thương
Ngày chậm rì
Ðêm chậm rì
Sáng tối chạnh buồn lữ
khách si
Nhớ thương đừng lỡ hẹn, sai kì.
Mưa trôi đi
Gió trôi đi
Mưa gió giục hoài cất bút
thi (thơ)
Viết thi gửi tới khách "tình si"
Chàng có tâm
Thiếp có tâm
Mồng hồn lưu luyến bóng
hoa râm
Thơ cùng ngâm
Rượu cùng trăng
Tự lúc buồn chia biệt
Ai người ấm nửa chăng?
Chớ
đàn li khúc oán tri âm,
Ðành xem như hết tiếng dao cầm(2)
Hẹn nhau nơi non
nước muộn mằn!
Chớ buồn mà than thở cổ câm(kim).
Chàng hẹn gì
Ta hẹn gì
Hai ta đều muộn, nói mà
chi
Trà mà chi
Bút mà chi
Cũng là thiến lí cả(3)
Ai là kẻ tình
nhi
Hiểu nhau trong dạ khó khăn gì
Hãy nên trao gửi mối duyên đi
Lòng
son ai nỡ phụ giai kì
(Theo điệu Giang Nam)
Ð.T.T dịch
(1) Lòng quê là lòng nhớ quê mình. Vậy hình như Sơn Phủ đã đi về quê Xuân
Hương. Hoặc là người cùng làng, hay cùng huyện chăng? (Hoàng Xuân Hãn).
(2)
Dao cầm: Ðàn quý.
(3) Thiên lí: Dịch từ chữ "bút thiệt" -
bút viết và lời nói. Dương Tử nói: "Cuốn sách do bút mà thành. Lời nói do
lưỡi mà có. Ta xem "Ngũ thường" là bút và lưỡi của đế vương". Ngũ thường ở
đây là các quan hệ: quân thần, phục tử, phu-phụ, huynh đệ, bằng-hữu. Vì thế dịch
là thiên lí.
I
Con bóng đi về chốc bấy nay,
Chữ
duyên nào đã chắc trong tay.
Nghĩ cùng thế sự lòng như đốt,
Trông suốt
nhân tình dạ muốn say.
Muôn kiếp biết là duyên trọn vẹn,
Một đời riêng mấy
kiếp chua cay.
Nỗi mình nỗi bạn dường bao nả,
Dám hỏi han đâu những cớ
này.
II
Lẩn thẩn đi về mấy độ nay
Vì đâu
đeo đẳng với nơi vầy
ấm trà tiêu khát còn nghe giọng
Chén rượu mừng xuân
dạ thấy say
Ðiểm lữ trông chừng mây đạm nhạt
Dòng thu xem cỡ nước vơi
đầy.
Thương ai hẳn lại thương lòng lắc
Này nợ này duyên những thế
này.
(1) Tự than thân.
Mười mấy năm trời một chữ
tình
Duyên tơ này đã sẵn đâu đành
Mái mây cắt nửa nguyền phu phát
Giọt
máu đầy hai chén tử sinh
Một kiếp đã tểể cùng dạ thắm
Trăm năm đừng phụ
với đầu xanh
Mai sau lòng chẳng như lời nữa
Dao búa nguyền xin luỵ đến
mình.
(1) Nghĩa là: "Có cảm xúc thì viết lời thề"
Phiên âm:
Nguyệt tà nhân tỉnh thú lâu
trung
Ngoạ thính đồng long,
Khởi thính đồng long
Dạ bán ai giang hưởng
bán không.
Thanh dã tương đồng
Khí dã tương đồng
Tương tư vô tận ngũ
canh cùng.
Tâm tại Vu Phong
Hồn tại Vu Phong
Ân ái thử tao
phùng
Nhàn ỷ đông phong
Quyện ỷ đông phong
Nhất viên hồng hạnh bích
thanh song
Phồn hoa tích dĩ không.
Kim triêu hữu kiến sổ chi hồng
Oanh
nhi nhạc đới xuân phong khứ
Chỉ khủng đào yêu vô lực tiếu đông phong
Phong
thanh nguyệt bạch, bả kì hương nhập khách ngâm trung.
Dịch vần:
Trăng tà người lặng từa lầu
không(1)
Năm lắng chuông đồng,
Dậy lắng chuông đồng,
Ðêm lắng tiếng
buồn vang mé sông
Thanh đã tương đồng,
Khí đã tương đồng
Thanh khí năm
canh rộn rã lòng
Tâm ở Vu Phong
Ân ái cuộc tao phùng.
Nhàn tựa gió
đông
Mỏi tựa gió đông
Một vườn hồng hạnh biếc xanh song
Phồn hoa tưởng
đã không
Sớm nay bông nở mấy nhành hồng
Chim oanh chớ quyến xuân đi
nhé
Ta sợ "Ðào hoa vô lực tiếu đông phong"
Trăng thanh gió mát đem hương
vào với các thi nhân.
(Ð.Ð.T dịch)
Nguyên văn: Thú lầu trung - trong chòi canh. Thú lâu là cái chòi canh ở chốn đồn binh. Thư Ðường Huyền Tông có câu: "Nguyệt lạc thú lâu không" - Trăng lặn chòi canh vắng.
I
Vác cắm đàn tao một ngọn cờ,
ấy
người thân đấy phải hay chưa,
Lắc đầy phong nguyệt lưng hồ rượu,
Dắt lỏng
giang hồ nửa túi thơ(2)
Ðình Nguyệt(3) góp người chung đỉnh lại,
Trời
Hoan(4) mở mặt nước non xưa.
Bấy nay tài tử bao nhiêu tá,
Thèo đảnh(5)
khen ai kẻ đặt cho.
(1) Gửi ông Trần Hầu, làm Hiệp trấn Sơn Nam Thượng. Ông này chưa rõ là
ai.
(2) Hai câu 3 và 4 này là câu thơ đảo trang: Lắc đầy lưng hồ "rượu phong
Nguyệt" - Dắt lỏng nửa túi "thơ giang hồ".
(3) Ðình Nguyệt: Ông Trần
Thanh Mai cho là Cổ Nguyệt đường ngôi nhà của Hồ Xuân Hương.
(4) Trời
Hoan: Trời Hoan Châu, tức Nghệ An, quê của Hồ Xuân Hương.
(5) Thèo
đảnh: lẳng lơ, khinh bạc.
II
Trận bút xông pha quyết giật
cờ,
Tài tình ai đã biết cho chưa.
Giấc Vu man mác năm canh
nguyệt,
Duyềnh Ngự lênh đênh một lá thơ.
Tơ liễu đã khoe tài lạ
trước,
Nguồn dào học hỏi lối quen xưa,
Giai nhân tài tử dường nào
đấy
Hay nợ bình sinh chửa giả cho(1)
(1) Dưới đầu đề trên, Lưu hương kí chép liền hai bài này, không để ai xướng, ai hoạ. Ngờ rằng bài II là bài hoạ lại của Trần Hầu.
Phiên âm:
I. Xuân Hương xướng:
Bình thuỷ tương phùng(2) nguyệt hạ
tôn
Cương trường phiến phiến thuộc nan ngôn
Khiêu cầm hữu ý minh hoàng
xướng
Nhiễu thụ vô đoan ngữ thước huyên.
Thuỳ tục già thanh quy Han
khuyết
Tự tu liên bộ xuất Hồ môn
Bán diên biệt hậu(3) tình đa
thiểu
Mạch mạch không li Sảnh Nữ hồn(4)
(1) Xướng hoạ cùng ông Trần Hầu - quan Hiệp trấn Sơn Nam thượng. Trấn Sơn Nam
thượng gồm đất của hai tỉnh Hà Nội và Hưng Yên sau này. Trị sở đặt ở Châu Cầu
(Phủ Lí). Bài này cũng được chép trong sách Tục Hoàng Việt thi tuyển, nhưng lại
được coi là bài thơ Hồ Xuân Hương hoạ thơ ông Hiệp trấn. Còn Lưu hương kí thì
cho rằng đây là bài xướng của Xuân hương. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn căn cứ theo Tục
Hoàng Việt thi tuyển.
(2) Bình thuỷ tương phùng (bèo nước gặp nhau):
chỉ việc ngẫu nhiên gặp gỡ. Vương Bội có câu: "Bình thuỷ tương phùng, tận thị
tha hương chỉ khách" (bèo nước gặp nhau thảy đều là khách tha hương). Trong văn
chương, bèo nước, ngọn bèo, phận bèo... còn để chỉ người phụ nữ: "Phận bèo bao
quản nước sa - Lênh đênh đâu cũng là lênh đênh" "Ngọn bèo chân sóng lạc loài -
Nghĩ mình vinh hiển thương người lưu li" (Kiều).
(3) Lưu hương kí
chép là hận
(4) Xem bài hoạ Trầu Hầu trang...
Dịch nghĩa:
Thân bèo nước gặp nhau, nâng chén
rượu dưới trăng,
Tấc lòng son sắt thực là khó nói
Gọi đàn, vì có ý mà gảy
khúc Câu hoàng
Quanh cây, không cơn cớ gì mà chim thước réo vang
Ai chuộc
tiếng kèn Hồ trở về cung Hán
Tự thẹn về việc gót sen ra khỏi cửa rợ Hồ
Sau
phút li biệt, còn lưu luyến biết bao tình,
Lớp lớp khôn rời hồn Sảnh
Nữ.
Dịch thơ:
Gặp gỡ dưới trăng chuốc mời
Lòng
son đòi đoạn chẳng nên lời.
Khúc đàn ai gảy đà đưa ý,
Ngoài ngõ khách kêu
chẳng thấy người.
Ai chuộc tiếng kèn về Hán đó?
Tủi lê gót ngọc đất Hồ
rồi!
Biệt li dở tiệc tình lưu luyến,
Hồn Sảnh sầu đau mạch mạch
khơi.
(Trần Thanh Mai dịch)
Phiên âm:
Vân căn thạch đậu tự phong
phòng
Mãn mục sơn quang tiếp thuỷ quang
Thiệp hải tạc hà (a) si Lí Bột
Phụ chu tàng hác bái Nguyên Chương
Loa ngân tịch tễ lân tuần xuất
Vụ
ảnh triêu mê thứ đệ tàng
Mạn thuyết ngư nhân chu nhất diệp
Sổ trùng môn hộ
Thuỷ Vân hương.
Chú: Xuất Trang tử Nam hoa kinh
Dịch nghĩa:
Dưới chân mây, bày hang đá như tổ
ông;
Ðầy mặt thấy ánh sáng trên núi tiếp với ánh sáng dưới nước.
Vượt bể
để đi đục núi như Lí Bột thật là ngây,(1)
Ðột thuyền lên cạn giấu trong hang
như Nguyên Chương thì đáng phục(2)
Buổi chiều trời lạnh, sóng gợn lăn tăn(3)
hiện ra,
Ban sáng màn mù che núi lần lượt rút lui.
Vui chuyện bảo rằng
người chài dong chiếc thuyền kia,
Ðang len lỏi qua nhiều từng cửa tìm vào
làng Tiên.(4)
(1) Vượt bể đục núi: trỏ sự làm khó nhọc mà vô ích. Sách Nam hoa
kinh (thiên Ưng đế vương) có "Thiệp hải tạc hà" nghĩa là vượt bể đào sông,
nghĩa là đào sông dưới bể là một chuyện vô lí. Ðây tác giả chỉ mượn một phân chữ
sách Nam hoa kinh để ám chỉ những hang động, lối thông đục thiên nhiên trên
nhiều đảo. Còn tích Lí Bột thì tôi không biết.
(2) Ðội thuyền giấu trong
hang núi: Nguyên trong Nam hoa kinh có câu ấy (thiên 6, Ðại
tông sư), nhưng với ý rằng làm như vậy tưởng là chắc chắn, nhưng khi ngủ,
có kẻ trộm mất mà không biết. Trong thi văn xưa, ý giấu thuyền trong hang núi là
ngụ ý kẻ đi ẩn không muốn để dấu lại. Có lẽ tác giả dùng ý này. Tích Nguyên
Chương lấy từ đâu, tôi cũng không biết.
(3) Loa ngân: dấu ốc, hoặc
trỏ tăm của các loài thuỷ tộc nổi lên thành sóng nhỏ, hoặc trỏ sóng nhỏ hình
tròn trên nước lặng.
(4) Thuỷ Vân hương: Nghĩa đen là làn nước mây,
xứ ở trên nước, giữa mây. Cũng là văn từ trỏ chốn Tiên.
Dịch thơ:
Chân mây lỗ đá từa phòng ong
chốn
chốn lèn chong ánh nước lồng.
Vượt bể đục non cười Lí Bột,
Ðội thuyền giấu
động phục Nguyên Ông.
Chiều êm sóng gợn lăn tăn nổi,
Sáng toả mù tan lớp
lớp trong.
Vui chuyện kìa ai thuyền một lá,
Cửa lèn len lỏi kiếm non
bồng.
I
Xuân này nào phải cái xuân xưa,
Có
sớm ư? thời lại có trưa.
Cửa đông hoa còn thưa thớt bóng,
Buồng thoa oanh
khéo dập dìu tơ
Phong lưu trước mắt bình hương nguội,
Quang cảnh trong đời
chiếc gối mơ.
Cân vàng nửa khắc xuân lơ lửng,
Phố liễu trăm đường khách
ngẩn ngơ.
II
Mới biết vị đời chua lẫn ngọt
Mà
xem phép tạo nắng thì mưa.
Tri âm đắp nửa chăn còn ngắn,
Bức vách nghe xa
tiếng đã thừa.
Nếm mía vụ này ngon những ngọn(2)
Trông gương ngày nọ bẵng
như tờ
Xưa nay còn có đâu hơn nữa,
Hay những từ đây, phải thế
chưa?
(1) Ðề bài thơ hơi lạ. Người ta thường nói "Tống cựu nghênh tân" (tiễn năm
cũ, đón mừng năm mới), ở đây lại Tống tân xuân. Vì thế ông Nguyễn Lộc đã dịch:
Bài thơ làm cảm năm cũ, tiễn đưa năm mới. (Nxb Văn học Hà Nội
1982).
(2) Mía chính vụ vào dịp heo may, trước Tết. Sau Tết người ta "bồng
gốc" làm tơi đất, bón tưới, thúc mầm cho mía lên. Tục ngữ có câu: "Mía tháng ba
ngọt ra đầu ngọn". Tháng ba, mía còn non; hoạ chăng còn sót lại chút mía măng,
ăn chẳng ra gì. "Nếm mía vụ này ngon những ngọn" là nếm mía vào tháng
mía trái vụ. "Nếm mía vụ này ngon những ngọn" là nếm mía vào tháng mía trái vụ.
Tác giả dùng hình ảnh này để tả nỗi quá lứa lỡ thì của người con gái.
Hẹn thu hẹn nguyệt luống ăn
năn,
Cái kiếp phù sinh những nợ nần.
Cửa viện xuân về hoa mát mẻ,
Ðài
trang mây náu nguyệt băn khoăn.
Duyềnh xanh nước chảy tin lai láng,
Lá
thăm thơ gieo bút ngại ngầm.
Son phấn dám đâu so ngọn bút,
Mượn tay thi
tướng nhắc đồng cân.
(1) Bài này không có trong Lưu hương kí, nhưng tình điệu thuộc loại trong tập này. Ðược phát hiện tại Thanh Hoá (Tạp chí Văn học số 3-1974). Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã hiệu đính 3 chữ mát mẻ và náu ở câu 3-4 từ các chữ mỉm mỉm, tỏ ở văn bản cũ.
Phiên âm:
Phiến phàm vô cấp độ Hoa
Phong,
Tiễu bích đan nhai xuất thuỷ trung.
Thuỷ thế mỗi tuỳ sơn diện
chuyển,
Sơn hình tà kháo thuỷ môn thông.
Ngư long tạp xử thu yên
bạc,
Âu lộ tề phi nhật chiếu hồng.
Ngọc động vân phòng tam bách cục
Bất
tri thuỳ thị Thuỷ Tinh cung.
Dịch nghĩa:
Lá buồm không vội vượt qua vũng Hoa
Phong,
Vách đá đứng, sườn núi đỏ, giữa nước chỏi dựng lên.
Thế nước tuỳ
chỗ theo mặt núi mà biến chuyển.
Hình núi nghiêng mình, nép tựa cửa lạch để
nước thông qua.
Cá rồng(2) lẫn lộn, tăm khuất dưới từng hơi nước mỏng mùa
thu.
Âu(3) cò cùng bay trong ánh đỏ mặt trời chiều.
Cõi Tiên có ba trăm
sáu động ngọc và phòng mây(4),
Ðây không biết chốn nào là cung Thuỷ
Tinh(5)
(1) Trong Phượng Sơn từ chí lược cũng như Ðại Nam dư địa chí ước
biên.
Sau đề: Chu thứ Hoa Phong tức cảnh bát thủ, sách đều chỉ chép
6 bài thơ, từng bài không có đề riêng. Tháng 2 năm 1962, ông Trần Văn Giáp đã
giới thiệu 5 bài trên báo văn nghệ. Năm 1983, giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã đặt tên
cho từng bài thơ, phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ... Bản dịch năm bài thơ này
được ông công bố trong Hồ Xuân Hương với vịnh Hạ Long (Tập san KHXH. Paris.
1984). Toàn bộ năm bài thơ sau đây, là bản công bố của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn từ
Tập san này.
Vũng Hoa Phong: Vịnh Hạ Long; lấy tên huyện xưa, sau
đổi làm Nghiêu Phong. Huyện này gồm nhiều đảo.
(2) Cá rồng: Trỏ
chung các loài sống dưới nước. Riêng đây thì tục truyền xưa có rồng xuống, cho
nên được đặt tên Hạ Long. Trong thời cận đại, các thuỷ thủ, kể cả các thuỷ quân
Pháp, mách rằng đã từng thấy con "rắn bể" nổi lên uốn khúc lòi lên trên mặt
nước, dài trên ba mươi mét.
(3) Âu: là thứ chim nước đầu giống bồ
câu, chân giống vịt, sống chung quanh vũng nước lớn, thường nằm im nổi trên mặt
nước.
(4) Xưa tin rằng người ta có thể tu luyện trở thành bất tử, gọi là
Tiên, ở những nơi hẻo lánh trên núi, bể xa, trong hang động, thường mây phủ. Văn
bản chép số 306, nhưng trong các văn thơ thường chỉ nói "ba mươi sáu động Tiên".
Hoặc tác giả cố ý muốn trỏ số rất nhiều.
(5) Thuỷ Tinh cung: trỏ
cung điện mà người xưa tưởng là nơi cư trú của Tiên ở ngoài bể.
Dịch thơ:
Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa
Phong.
Ðá dựng bờ son mọc giữa dòng.
Dòng nước lần theo chân núi
chuyển,
Mình lèn nghiêng để lối duyềnh thông.
Cá rồng lẩn nấp hơi thu
nhạt,
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng.
Băm sáu phòng mây cùng động
ngọc,
Ðâu nào là cái Thuỷ Tinh cung?
Phiên âm:
Linh lung tứ bích liệt vân
bình
Ngọc duẩn sâm si thuỷ diện bình
Tiệm giác Ðào Nguyên sơn tác
hộ
Chỉ tùng Ngư Phố thạch dồn binh
Tận giao Tạ khách du nan biến
Già
mạc Vân Lâm hoạ bất thành
Dao vọng thuỷ cùng sơn tận xứ
Hốt nhiên xung
xuất trạo ca thanh
Dịch nghĩa:
Long lanh bốn vách giăng những bức
bình phong vẽ cảnh mây.
Ðá hình cây măng ngọc(1) lô nhô mọc trên mặt nước
phẳng.
Thầy rõ ràng rằng lỗi vào Ðào Nguyên(2) có cửa bằng núi đá,
Lạ
thay! Sao mà bên bến cá lại có thành xây bằng đá để đóng đồn binh(3)
Mặc lòng
chàng Tạ Linh Liên đến chơi đây, đi xem đâu hết,
Dẫu là hoạ sĩ Ngọc Vân Lâm
vẽ cảnh cũng không thật đúng,
Ngóng trông đến chỗ cuối nước hết núi,
Thình
lình nghe tiếng chèo và tiếng ca trỗi lên.
(1) Măng ngọc: nguyên trỏ cây măng tre non trắng. Trong thi văn dùng
để ví vật gì quý hay đẹp hình cao và nhọn đầu.
(2) Ðào nguyên: văn
từ trỏ cõi Tiên, nghĩa là thế giới của sinh vật bất tử, nơi tưởng tượng rất an
nhàn sung sướng. Ðiển trong Trung văn có rất xưa. Ðời Tấn, Ðào Tiềm (376-427)
viết truyện Ðào hoa nguyên kí kể chuyện người đánh cá (Ngư Phủ) chèo thuyền
ngược dòng nước trong rừng Ðào hoa ở đất Vũ Lăng, qua một cửa động, đến một vùng
có dân cư, sinh đời Tần (hơn 600 năm trước) đã vào đấy tị loạn. Sau Ngư Phủ muốn
trở lại đó, nhưng không tìm thấy lối nữa.
(3) Ðồn binh: đây có lẽ
chỉ muốn tả đá tự nhiên xếp hình đồn binh.
Dịch thơ:
Long lanh bốn phía rủ màn
mây,
Nước phẳng lô nhô măng mọc dày.
Mới biết Nguồn Ðào ngăn cửa
đá,
Nào ngờ Bến cá có đồn xây
Mặc cho họ Tạ xem đâu hết,
Dẫu có chàng
Lâm vẽ chẳng tầy.
Xa ngóng chân trời non lẫn nước,
Bỗng nghe chèo hát trỗi
đâu đây.
Phiên âm:
Vi mang loa đại tháp thương
minh
Ðáo thử tu giao nhãn phóng than
Bạch thủy ma thành thiên nhẫn
kiếm
Hàn đàm phi lạc nhất thiên tinh
Quái hình vị dĩ tiêu tam giáp
Thần
lực hề dung tạc Ngũ Ðinh
Phảng phất vân đồi đầu ám điểm
Cao tăng ưng hữu
toạ đàm kinh.
Dịch nghĩa:
Mầu lam nhạt(1) mờ mờ nối trời xa với
bể xa.
Ðến đây, tưởng như trong aắt toả sắc xanh ra(2)
Nước bạc(3) mài đá
thành nghìn mũi gươm nhọn
Giữa đầm vắng, hình như có một sao trời sa(4)
xuống.
Vách đá hình kì quái không dễ dùng làm bảng đề danh kẻ đỗ đại
khoa,(5)
Nếu không sức thần thì sao tạc nổi tượng lực sĩ hùng dũng như
vậy.(6)
Phảng phất mây xuống thấp, phía trên đã xẩm tối,
Chắc đã có vị cao
tăng ngồi yên lặng tụng kinh.
Dịch thơ:
Bể xanh lấp loáng tận trời xa,
Ðây
ngỡ màu xanh mắt tỏa ra.
Nước bạc mài nên nghìn mũi kiếm,
Ðầm im rơi xuống
một sao sa.
Quái hình chưa dễ đề khoa bảng,
Thần lực đâu đà tạc tượng
ma.
Phảng phất mây rà đầu xẩm tối,
Cao tăng đang tụng chốn chiền
già.
(1) Loa đại: là một thứ bột màu lam xưa dùng để chế thử mực xanh vẽ
lông mày. Tác giả cố ý dùng chữ loa ở đây vì nghĩa nó là ốc.
(2) ý câu
này là: đến đây, nhìn đâu cũng thấy màu, mình có cảm tưởng chính mắt mình
phát màu xanh ra, chứ không phải vật ngoài có màu ấy.
(3) Nước bạc:
trỏ nước bể thường có sóng bạc, chứ không phải trỏ riêng sóng. Sóng vỗ vào chân
lèn làm hỏm chân, chứ không mài nhọn đá.
(4) Sao sa: nếu vế này tả
cảnh ban ngày thì phải hiểu rằng mặt nước long lanh phản xạ tia sáng tung toé
lên như có sao sa xuống, nếu nghĩ rằng nó tả cảnh ban đêm thì có lẽ muốn nói sắc
lân tinh lậploè trên mặt nước.
(5) Tam giáp: trỏ ba bậc đậu thi đinh
thời xưa (Nhất giáp có ba nấc: Trạng nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa; Nhị giáp tức
là Hoàng giáp; Tam giác tức là Tiến sĩ).
(6) Ngũ Ðinh: tên một lực
sĩ trong thần thoại. Tương truyền đời xưa vua Tần hiến cho vua Thục một gái đẹp.
Vua Thục sai lực sĩ Ngũ Ðinh đi đón. Trên đường thấy một con rắn lớn, bò vào
hang đá. Ngũ Ðinh đuổi theo, bị đá sập đè chết. Sau bị hoá ra tượng đá khổng
lồ.
Tác giả mượn hai việc liên quan đến tảng đá và tượng đá để ngụ ý đến
những hình thù vĩ đại, kì dị, hùng tráng của các đảo lèn, nhất là khi trời gần
tối.
Phiên âm:
Lan nhiêu tuỳ ý dạng trung
lưu
Cảnh tỉ sơn dương cánh giác u
Sinh diện độc khai vân lộ cốt
Ðoạn
ngao tranh kị khách hồi đầu
Bằng Di diệp tác kình thiên trụ
Long Nữ thiêm
vi hải ốc trù
Ðại để Thuỷ Hoàng tiên vị cập
Cố lưu Nam điện củng kim
âu.
Dịch nghĩa:
Phe phẩy mái chèo, tuỳ thích cỡi
thuyền dong chơi giữa duềnh,(1)
Qua gần chân núi lại thấy cảnh càng
vắng.
Mây thoảng qua, núi lộ mặt, thấy đá chơ vơ,
Những khối lèn dựng cao
vút(2) khi qua dưới, khách phải vếch trông.
Hoặc là hải thần Bằng Di(3) đã
dựng cột để chống trời nghiêng,
Hoặc là hải thần Long Nữ(4) đã nối thêm cây
nêu trỏ cung điện dưới bể.
ý chừng vua Tần Thuỷ Hoàng(5) chưa từng đi kinh lí
đến chỗ này,
Vì trời vốn dành nó lại ở xứ Nam này để làm vững chắc cơ đồ nước
ta(6)
(1) Lan nhiêu: chèo lan là chèo nhẹ. Văn tử quen dùng.
(2)
Ðoạn ngao: Nghĩa đen là đẵn con rùa lớn để lấy chân làm cột chống trời.
Thần thoại Trung Quốc kể chuyện rằng ban đầu vòm trời bị sụp, bà Nữ Oa đẵn chân
con rùa rất lớn để làm cột chống trời. Ðây trò các hòn đảo tròn và cao như cột
đá; ví dụ hòn Chiếc Ðũa.
(3) Bằng Di: tên một thuỷ thần đề xuất
trong Nam hoa kinh. Trong thơ Tào Thực, được đặt ngang với Nữ Oa. Cũng là tên
một thiên thần.
(4) Long Nữ: tên chung thần đàn bà quản trị thuỷ tộc
ở bể hoặc vực sâu, sở cư ở đáy bể.
(5) Thuỷ Hoàng: Vua Tần sau khi
thống nhất Trung Quốc, đã đi quan sát nhiều nơi. Về phương Nam, mới đi đến vùng
Cối Kê (Chiết Giang ngày nay) thì mất.
(6) Câu thơ này cùng ý với câu kết của
thơ Núi Chiếc Ðũa của Lê Thánh Tông.
Dịch thơ:
Giữ duềnh thủng thẳng phẩy chèo
lan,
Sát núi càng hay cảnh lặng nhàn.
Mây cuốn bày ra lèn cứng cỏi,
Núi
cao những ngóng đỉnh Toan Ngoan
Bằng Di chống cột e trời đổ,
Long Nữ thêm
nêu sợ bể tràn.
Dấu ngựa Thuỷ Hoàng chưa đến đó,
Trời dành để giữ đất
người Nam.