Liên hệ

 
 


 

 

GÓC TỐI

Để quý vị tiện theo dõi GÓC TỐI, chúng tôi đăng nguyên văn bản tin trong nước, kể cả những điạ danh và những từ không thích hợp ( thí dụ Tp Hồ Chí Minh. đồng chí Trưởng công an. . .V.V..) Xin quý vị lượng tình tha thứ... HNPĐ)

Hai cái đói Ất Dậu
Trận đói năm Ất Dậu

ĐẦU NĂM, ĐỌC BÁO XUÂN, thấy bàn đến một Ất Dậu rồi 60 năm sau lại một Ất Dậu, mong rằng những bạn đọc cả tin vào mệnh giời đừng trông đợi ở đây một bài viết dính dáng đến Tử vi và tướng số. Không là Giáo sư Tử vi, cũng không là Nghệ sĩ Tử Vi, tác giả không sử dụng những ngón bài này. Tác giả xin được nói những suy nghĩ về hai lần đói Ất Dậu.

ẤT DẬU 1945, MỘT NẠN ĐÓI làm người chết ngổn ngang trên một nước Việt Nam có một dân tộc Việt Nam đang đói quyền lực.

Miền Nam thừa thóc phải đem đi đốt lò phát điện, không cứu được đồng bào mình phía Bắc đang chết dần. Cũng là vì đói quyền lực! Dân vùng đói hè nhau xông vào phá kho thóc tự cứu mình, đó đã là quyền lực trước ngày Khởi nghĩa cùng nhau cướp lấy quyền lực cũ tạo ra quyền lực mới.

Cơn đói quyền lực không chỉ diễn ra ở lớp người trực tiếp đói thóc gạo. Những chú học trò mải mê đến trường nhặt nhạnh những tinh hoa văn hoá loài người thông qua lớp học của người Pháp vẫn thấy mình sao mà hèn yếu. Nạn đói tạo ra trong họ một trạng thái tâm lý không diễn giải nổi tức thời, khó hiểu biết bao là nguồn cơn của nỗi ấm ức.

Lá lành đùm lá rách, người còn có bát ăn đi làm việc thiện, những cái chết đau lòng trở thành những lời hịch đánh Pháp đuổi Nhật, mọi chuyện giản dị vô cùng.

Lại nữa, cái đói quyền lực ngay từ đầu cũng là cái đói Dân chủ. Khi bắt tay vào cứu trợ nạn đói Ất Dậu xưa, người của các tầng lớp gọi nhau bằng anh, chị, em và quên đi lối xưng hô xa xôi cách bậc cũ. Đoàn Hướng đạo sinh áo nâu khăn quàng xanh của tôi có đoàn trưởng là thầy Cao Đắc Tiếu hiệu trưởng một trường Tiểu học, chúng tôi cũng được gọi ông bằng “anh”, ông gọi lại chúng tôi bằng “các em”.

ẤT DẬU 2005, CÁI ĐÓI 45 đã lặn xa. Bây giờ tặng thủ trưởng chai rượu Johnnie Walker có hình anh chàng tay bị tay gậy khắp nơi tung hoành thì người đi đêm nói rất khéo “Biếu anh chai rượu Thái Bình...” Nhạc sĩ T.H. rủ tôi đi uống bia hơi. Anh gọi đồ nhắm: 5 nghìn rau lang om tỏi, 3 nghìn rau bí xào, 1 nghìn lạc rang. Anh dạy: “Không nói rõ mua bao nhiêu, có khi phải mua cả một đĩa tú hụ cả chục nghìn”. Rau lang om đắt hơn rau bí, vì rau lang bây giờ là sành điệu hơn cả.

Không có cái đói, vậy mà tôi có lần bị mắng chỉ vì một câu hỏi về cái đói. Mùa hè năm 2001, sau một lớp tập huấn, nhà văn N.X.K. cùng tôi đi Cát Bà nghỉ. Chúng tôi đi tàu cùng đoàn cán bộ Giáo dục tỉnh Nam. Tôi hỏi anh Tuấn, trưởng phòng Giáo dục một huyện: “Bây giờ nông dân quê anh còn đói ăn không?” Không ngờ câu hỏi nhẹ nhàng ấy lại khiến nhà giáo kia nổ một trận lôi đình. Anh nhìn thẳng vào mặt tôi: “Thông minh thế, mà sao hỏi những điều ngu thế!” Tôi phải chờ cho anh nguôi cơn giận. “Mình xin lỗi ông nếu mình có chỗ nào sai. Thực lòng mình muốn biết vậy”. Anh cũng xin lỗi lại. Rồi anh lấy giấy bút ra làm con tính đầu vào đầu ra thu nhập của một gia đình nông dân. Rồi anh kết luận mà lại vẫn như mắng tôi: ”Vậy thầy tưởng bỗng dưng mà có chủ trương dân chủ ở cơ sở à?”

Khác với Ất Dậu 1945 của gậy gộc và súng kíp và mã tấu, người dân Ất Dậu 2005 rồng rắn đem đơn đi nộp các cửa vì vô số chuyện. Ất Dậu 2005 vẫn là cái đói quyền lực, nhưng ở một dạng khác rồi. Dạng đòi công bằng xã hội để xóa cái đói xã hội còn chưa công bằng. Có những lá đơn của cá nhân vài chục năm gom lại dầy cộp mà thê thảm như những đêm thở dài. Có những lá đơn viết thẳng lên áo đứng chật trước cổng nhà phố Mai Xuân Thưởng nom văn minh ra dáng. Gì thì gì, cũng chứng tỏ con số 95 phần trăm mù chữ sáu chục năm xưa đã đổi thay trời vực.

NGƯỜI BIẾT CHỮ DẠY NGƯỜI CHƯA BIẾT, đường lối đó trong vòng một năm đầu Cách mạng đã giúp cả triệu người dân biết chữ. Và ngày nay, dù vẫn đang đòi hỏi chất lượng Giáo dục phải cao hơn, nhưng thành tích cả nước biết chữ quả là đáng nể.

Nhưng vào năm Ất Dậu 1945, thoả mãn cơn đói biết chữ còn là cả một cao trào cách mạng văn hoá đổi thay suy nghĩ và hình thành một lối sống khác trước. Đi học, cụ bà ngồi học cạnh cụ ông, con trai ngồi bên con gái, không còn nữa nam nữ thụ thụ bất thân học mót tận bên Tầu. Đi học, con dâu ngồi học cạnh mẹ chồng, em dâu cùng đánh vần với chị chồng bỗng chốc không còn nữa cái luật đời từ xưa giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng. Đi học, giáo viên là các thầy giáo kỳ cựu bên cạnh những thanh niên và cả những thiếu niên tình nguyện. Nghề sư phạm không còn là công cụ sinh nhai của riêng giáo giới. Học và dạy học thành công cụ sinh lợi cho toàn dân. Chưa hết, vào giờ học cả thầy lẫn trò cả nam phụ lão ấu cùng vỗ nhịp hát đoàn kết một bài cái đã. Hết khoá học, ăn chung một bữa cơm đoàn kết trước khi được công nhận “xoá mù”. Chưa hết, lớp học mở ở trường, mở nhờ ở các nhà giàu đúng là sẻ cửa sẻ nhà, còn mở ở cả chốn đình chùa miếu mạo, nơi đình chung không còn là chỗ tranh nhau đầu gà sỏ lợn. Không còn thời giờ để mà hương khói đồng cốt. Không còn thời giờ cho những cuộc tụ bạ cờ bạc. Và đặc biệt là Ất Dậu 1945 thấy biến tiệt nọc nạn nghiện hút. Những ai còn ký ức về Ất Dậu sáu chục năm xưa ắt phải nhớ đến những cuộc đốt bàn đèn, đốt quân bài tổ tôm, hệt như bây giờ đốt văn hoá phẩm đồi truỵ. Chỉ khác một chút, Ất Dậu 1945 người dân tự đem những thứ đồi truỵ đi đốt.

BÂY GIỜ ẤT DẬU 2005, không chỉ biết chữ Việt còn biết cả tiếng Anh. Ngày xưa trọng ngày giỗ, bây giờ trọng ngày sinh nhật, trọng cuộc đời trần thế hạnh phúc tràn trề. Ngày xưa chỉ biết chúi mũi làm ăn, làm nhiều mà ăn chẳng bao nhiêu, bây giờ đi du lịch Thái Lan chẳng còn là điều xa lạ với rất nhiều người. Ngày xưa những người tân tiến nào viết báo nào viết sách chế giễu các ông Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh mà chẳng ăn thua, bây giờ cơn gió quyền lực của văn minh đã khiến cho nhà quê đang dần mất hút.
Quyền lực có cả rồi lại thích bổ sung nếp văn hoá mới theo chữ Anh participatory – có sự tham gia – dĩ nhiên là của mọi người vào mọi việc. Quyết định làm con đường nhỏ trong làng, cũng như quyết định làm nhiều kilômét đường quốc gia loại A, người dân đều phải được tham gia. Một bộ luật sắp ra đời, người dân đều có quyền bàn bạc.

Tham gia... Chỉ với một chút khác nhau. Có dự án đấy, cần phải ra quyết định đấy, nhưng nếu thông tin bị ỉm đi thì biết khi nào tham gia cùng nhau ra quyết định? Có luật đấy, nhưng cuộc đời ở cơ sở như cái phễu, bao nhiêu luật cũng trút vào một cái lỗ cỏn con, một anh phòng thuế, một chú địa chính, một bác kiểm lâm, một chàng lái xe, một cô nàng đỏng đẩnh cầm con dấu ở phường, và chưa khi nào cái thành ngữ thủ kho to hơn thủ trưởng lại có giá trị thực đến thế.

Nhiều khi có chữ, lại có nhiều chữ quá, dẫn đến chỗ sùng bái chữ, cũng lại là cái nạn đói của Ất Dậu 2005. Những quy luật của tha hoá học nhiều mà vẫn chưa ngấm. Luật 1 khi tôn giáo hoá thì dẫn đến tha hoá. Ngày xưa, đọc sách cách mạng có thể bị tù vì sách đó dẫn tới hành động cách mạng, bây giờ tụng niệm thuộc lòng sách “kinh điển” thì thi đỗ. Luật 2 thể chế hoá có thể dẫn đến tha hoá. Ngày xưa chưa hình thành các tổ chức, hoặc mới có ít tổ chức, có việc cứ xúm nhau vào mà làm, tin nhau thì hè vào mà cùng làm. Bây giờ Ất Dậu 2005 có thể ỷ lại, lao động nghĩa vụ có thể nộp tiền thế chân, đi bầu còn có thể nhờ bỏ phiếu hộ nữa là!

DUY NHẤT TRƯỚC SAU nguyên si cả hai lần Ất Dậu cách nhau sáu mươi năm đó là cái đói tiếng cười. Trước sau như một đều lấy tiếng cười làm liều thuốc bổ. Không biết có dân tộc nào coi mọi hiểm nguy nhẹ tựa lông hồng như người mình?

Biết cười và biết nhắn nhe là cái nết ăn qua loa chống đói của người Việt mình. Công bố tất tần tật chuyện Tiếu lâm để nghe tiếng cười đậm đà bản sắc và luôn tiện thống kê dân nguyện, có thể đó cũng là điều gợi ý không đến nỗi tồi?

Phạm Toàn© 2005 talawas

Trận đói năm Ất Dậu

Ngày tết " Ôn cố": Nghĩ về nạn đói năm Ất Dậu

Văn Ngọc
Nạn đói năm Ất Dậu (Ảnh Võ An Ninh,1945)

Điều vừa bất công, vừa vô lý, là nạn đói bao giờ cũng chỉ giết chết chính những người làm ra thóc gạo : người nông dân cùng khổ ! Năm ấy, chỉ riêng ở hai tỉnh Nam Định, Thái Bình và mấy tỉnh miền Trung đã có tới 2 triệu người bị chết đói. Và cái chết của họ đã bi thảm lại càng bi thảm hơn, vì nó đã diễn ra không phải ở chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình, mà lại là ở những thành phố xa lạ, nơi họ cố lê gót đến để tìm đường sống.

Ngày đó, không thể nào bảo là những người dân thành thị đã bàng quan trước cảnh chết đói của đồng bào mình. Sự thật, thì dân thành thị phần lớn cũng chỉ là những người xuất thân từ nông thôn, từ các vùng quê xung quanh lên đây làm ăn mới chỉ được có một vài đời. Có lẽ không ai đã sớm quên cái gốc gác quê mùa của mình. Nhưng lúc đó, quả thực là họ đã bất lực trước một tai hoạ, mà qui mô đã vượt xa những gì từ trước tới nay họ có thể tưởng tượng được.

Đây không còn là những người ăn mày chuyên nghiệp đi xin bố thí như trước kia nữa, mà là những người dân quê đích thực, vì đói mà phải rời bỏ thôn làng, lên tỉnh tìm đất sống. Lúc đầu họ lên các thị xã ở vùng quê mình : Thái Bình, Nam Định, để rồi cũng chết đường, chết chợ ở đây. Hồi đó ở Thái Bình, Nam Định, đã diễn ra trước tiên cảnh người chết ở trên các hè đường và cảnh xe chở xác đi qua các phố mỗi ngày. Cuối cùng, như tuân theo một sự thôi thúc bản năng nào đó, họ đã kéo nhau lên thẳng Hà Nội.

Ngày đó, tôi vẫn còn nhớ, có câu ca dao không biết từ đâu lan truyền ra trên khắp các cửa miệng. Bọn trẻ chúng tôi, tuy không hiểu gì hết về cái ý nghĩa sâu xa, bóng bẩy, của câu ca dao ấy, nhưng cũng vẫn cứ bó buộc phải học thuộc lòng :

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước phải thương nhau cùng

Hình như cho mãi đến khi Cách mạng tháng Tám lên, rồi đến thời kỳ Nam bộ kháng chiến, câu ca dao ấy vẫn còn hay được truyền tụng trong dân chúng.

Ngày đó, trước cảnh những người nghèo đói kéo nhau lên tỉnh để rồi cuối cùng cũng vẫn chết đói ở đây, bọn các anh chị thanh niên trong phố tôi, và ngay cả những đứa trẻ mới lên chín lên mười như chúng tôi, đều rất muốn làm một cái gì có ích, nhưng rồi cũng không biết làm gì khác hơn là ngày ngày đi xin cơm của các nhà hàng phố để đem cho họ. Nhưng rồi cũng chỉ được vài bữa. Cũng may là sau đó, Đoàn khất thực ra đời, lập đại bản doanh ở chợ Hàng Da, và lấy nơi đó làm chỗ phát chẩn. Đoàn khất thực gồm thanh niên nam nữ các phố, chủ yếu là ở khu Đông thành. Họ làm việc suốt ngày, quần quật, ở ngay chỗ đống hầm trú ẩn tránh bom Mỹ-Nhật xây bằng gạch, gần về phía phố Ngõ Trạm. Nhưng rồi cũng không được bao lâu. Làm sao mà có thể cứu đói cho hàng vạn người cùng một lúc với những bát cơm thừa canh cặn ! Và rồi còn những người ốm đau, không có thuốc chữa, những người chỉ còn thoi thóp, đang chờ chết !

Những năm tháng trước và sau Cách mạng tháng Tám dường như đi rất nhanh, nhưng sao mà súc tích đầy những sự việc ! Chúng tôi sống trong một bầu không khí sôi nổi, mà sau này không còn bao giờ tìm thấy lại được nữa.

Nạn đói như một sự cố nằm vắt ngang, nối liền thời kỳ Tiền khởi nghĩa với thời kỳ Cách mạng tháng Tám. Nó là một tai hoạ do chính con người gây nên, đã đổ ập xuống đầu dân ta. Nó là một vết đen trong tiềm thức và trong ký ức của mọi người.

Nạn đói thực ra đã bắt đầu xuất hiện ngay từ đầu năm 1943 ở hai tỉnh Thái Bình và Nam Định, theo những người đã từng ở đây kể lại. Nguyên nhân chính là do chính quyền bảo hộ cố ý ngăn cản, không cho chở gạo ở trong Nam ra , điều mà trước đây họ vẫn để cho làm cho đến năm 1941. Có nhiều lý do, nhưng chủ yếu vẫn là do lòng ích kỷ (hại nhân). Cả Pháp, cả Nhật đều lo cho phận mình trước, dân Việt Nam có chết đói hàng triệu họ cũng mặc kệ. Không những thế, họ lại còn bắt dân quê « bán thóc » cho họ với một giá rẻ mạt, cứ mỗi mẫu ruộng trồng lúa, dù xấu hay tốt, người dân bó buộc phải bán cho nhà nước từ hai tạ đến hai tạ rưỡi thóc ! Thêm vào đó, họ còn bắt dân phải trồng cây công nghiệp (đay, gai cho Nhật ; thầu dầu cho Pháp, v.v.), thay vì trồng ngô, trồng đậu. Do đó, người dân quê ở miền Bắc và miền Trung thường thiếu thóc và thiếu cả ngô, đậu, để ăn.

Kịp đến tháng 10-11 năm 1944, một trận lũ lụt lớn đã làm cho hầu hết các nơi trên miền Bắc mất sạch cả mùa màng, dân quê bị đói kém, trong khi đó lúa gạo ở trong Nam vẫn bị cả Pháp, lẫn Nhật, thay nhau chặn lại, không cho vận chuyển ra để cứu đói. Lâm vào bước đường cùng, người dân quê ở những vùng Thái Bình, Nam Định đã phải kéo nhau lên Hà Nội để kiếm miếng sống. Hồi đó, tôi đã từng nghe, có những người mẹ hy vọng bán con cho những nhà giàu có ở thành thị để cứu lấy chúng. Có những người mong tìm được chỗ làm thằng xe, con ở, hoặc làm phu, làm thợ. Mà quả thực là dân Nam Định, Thái Bình, xưa nay vẫn từng có nhiều người lên làm ăn sinh sống được ở trên Hà Nội. Dẫu sao, đối với họ Hà Nội vẫn là cái nguồn hy vọng cuối cùng.

Từng đoàn người bồng bế nhau, lê bước trên những con đường quê gập gềnh, khúc khuỷu, rồi trên quốc lộ số 1, để cuối cùng được đặt chân lên hè phố Hà Nội. Không biết họ đã phải đi bộ mất bao nhiêu ngày mới tới nơi ? Vì bình thường, từ Nam Định đi bộ lên Hà Nội, người khoẻ mạnh và đi nhanh cũng phải mất đến hai ngày ! Từ Thái Bình lên thì lại còn xa hơn nữa ! Không lấy gì làm lạ là đến nơi, thì họ đã hoàn toàn kiệt sức. Nhiều người đã chết ở dọc đường !

Hồi đó, ngày ngày tôi đi học ở dưới làng Tương Mai, cách chỗ cuối đường tàu điện Hà Nội - Bạch Mai một quãng đường dài, phải đi bộ theo con đường đi về Quỳnh Lôi. Từ mấy năm rồi, nhiều trường tiểu học ở trên Hà Nội đã phải di chuyển xuống những làng quanh đây để tránh bom « Mỹ-Nhật ». Chúng tôi ngày ngày chứng kiến cảnh những chiếc xe bò chở xác người chết đói từ trên Hà Nội đi xuống, đống xác trần truồng và khô đét bao giờ cũng được rắc vôi, và được phủ qua loa bằng một manh chiếu rách. Những chiếc xe xác đi tới chợ Mơ, thì ré về phía Quỳnh Lôi, nhưng rồi không biết người ta đem đi chôn vùi ở đâu.

Vào khoảng đầu năm 1945, trên khắp các hè đường xó chợ ở Hà Nội, chỗ nào cũng có những người nghèo đói ở thôn quê lên cầu thực, nằm ngồi la liệt, nhất là ở khu chợ Hàng Da, nơi mà đoàn Khất thực đã lấy làm chỗ tập hợp những người này lại mỗi ngày để phát chẩn, như tôi đã trình bày ở trên.

Số người đi ăn mày, ăn xin, ngày càng đông. Nạn ăn cắp bỗng nhiên cũng bành trướng mạnh, và lạ làm sao, các dân anh chị bự thường hoạt động ở trong Sài Gòn, bỗng nhiên lại thấy xuất hiện ở ngay giữa Hà Nội ! Tôi còn nhớ kiểu cách đi đứng rất đặc biệt của mấy tay anh chị này, có một lúc đã bén mảng đến phố tôi làm ăn, với chiếc nón úp ở đằng trước ngực. Thế là ở phố tôi đã nảy ra một phong trào bài trừ kẻ cắp, cùng một lúc với phong trào tiễu trừ những tên thân Nhật, bọn này thường dựa vào thế lực của Nhật để ức hiếp dân chúng. Hồi đó chợ Hàng da chính là nơi đã từng xảy ra nhiều vụ các anh lớn ở phố tôi trừng trị bọn thân Nhật, thường vẫn hoành hành ở đây : chúng có thói cân sai, và cứ vừa đi mua, vừa cướp giật của những người bán hàng ở chợ. Cùng lúc đó, trong đám thanh niên phố tôi đã nảy sinh ra phong trào đi học Võ Việt Nam ở bãi đá bóng Eclair ngoài bờ sông. Các anh bảo học võ để tự vệ, để « đánh Pháp, đuổi Nhật », và vẫn thường bảo chúng tôi : « Các em có muốn đánh Pháp, đuổi Nhật không ? Nếu muốn thì phải khoẻ ! ». Không bao lâu, phong trào đi tập thể dục, tiền thân của phong trào Khoẻ Vì Nước, đã lan rộng ra khắp mọi nơi.

Ngày đó, có lẽ cũng do nạn đói, mà đã nảy sinh ra nhiều hiện tượng lạ. Chuột cống, xưa nay thường ít nhìn thấy, nay bỗng lần mò lên tận cửa hàng để kiếm ăn. Có những con chuột to bằng con mèo, râu ria trông đến hãi, bò lên ngồi lù lù, nhìn thẳng vào mắt người ta, chẳng sợ hãi gì cả ! Thế là lại nảy bày ra phong trào diệt chuột ! Nhà nào cũng có hai ba cái bẫy đủ loại để giết chuột, hoặc bẫy chuột sống, rồi sau mới giết, một thú tinh nghịch của bọn trẻ con chúng tôi, vì lúc bấy giờ chúng tôi rất ghét chuột. Đồng thời, người ta đồn rằng nhân bánh cuốn bây giờ cũng làm bằng thịt chuột, nên chẳng ai còn dám ăn bánh cuốn ở hàng nữa ! Có lúc lại có cả tin đồn rằng ở dưới Nam Định, Thái Bình, đói quá, người ta đã ăn cả thịt người ! Thế là mọi người lại thấy ghê ghê, khi đi ăn phở ở hàng !

Nhưng trị gì thì còn được, chứ trị đói lúc đó thì thật là vô phương, vì nó vượt quá khả năng và phương tiện của các thanh niên công tử Hà thành, thực ra hãy còn thiếu đủ mọi kinh nghiệm về mặt tổ chức, và nhất là thiếu hậu cần !

Ở một góc phố tôi, và phố Hàng Bát Sứ, có một cửa hiệu lâu nay vẫn đóng cửa kín mít, nay trở thành chỗ tụ hội lý tưởng của những người ăn mày, ăn xin, thường là những người đã mệt yếu lắm rồi, không đi được nữa, họ nằm lại đó để sống thêm được ngày nào hay ngày nấy. Thỉnh thoảng lại có chiếc « xe nhà thương » đến, chắc để chở một người ốm đi, hoặc chiếc xe bò đến để bốc xác. Có những đứa trẻ, người chỉ còn da bọc xương, hai mắt mở to, trắng dã ; chúng cứ phải nằm nghiêng, vì đứa nào đứa nấy đều đã bị mắc chứng lòi dom...

Trước những cảnh tượng đau lòng như thế, dân hàng phố không ai bảo ai, mỗi ngày mỗi nhà đều dành một phần cơm để phát cho họ và cho tất cả những người nghèo đi ngang qua phố. Kịp đến khi Đoàn khất thực ra đời, lúc đó công việc này mới được tổ chức chặt chẽ hơn, sự phân phát mới được công bằng, và đồng đều hơn.

Nhưng không được bao lâu, thì không hiểu sao, Đoàn khất thực cũng ngừng hoạt động ! Nhật đảo chính Pháp (9-03-1945), rồi chính phủ Trần Trọng Kim lên (17-04-1945), gạo ở trong Nam vẫn không tải ra được. Có một lúc, người ta đồn là gạo đã chở ra được tới Đà Nẵng, nhưng rồi bị nghẽn lại ở đây. Người dân quê nghèo ở các vùng Nam Định, Thái Bình và mấy tỉnh miền Trung vẫn tiếp tục chết đói. Chính phủ Trần Trọng Kim đòi được « độc lập » từ tay người Nhật, nhưng đã hoàn toàn bất lực trong việc cứu đói này. Và cứ như thế, nạn đói tiếp tục hoành hành cho đến Cách mạng tháng Tám.

Đối với chúng tôi, những đứa trẻ mới chưa đầy mười tuổi lúc ấy, nạn đói năm Ất Dậu dẫu sao cũng là một bài học không thể nào không ghi nhớ suốt đời, mặc dầu nó chỉ như một tai hoạ khổng lồ, vượt quá sức tưởng tượng và khả năng giải quyết của mình. Nó đã chỉ khơi dậy trong chúng tôi lòng nhân đạo và một nỗi niềm uất hận, bất lực, nào đó. Nhưng nó không vạch được ra cho chúng tôi thấy rõ sự vô nhân đạo và sự độc ác của những kẻ đã gây nên tai hoạ, cũng như sự nhu nhược, vô dụng của những kẻ cầm quyền lúc ấy, điều mà mãi sau này, khi nhận thức được những nguyên nhân đích thực của nó, chúng tôi mới rút ra được những bài học cần thiết.

Tuy nhiên, trên cái nền phông đượm một màu ảm đạm và vô vọng đó, đã nổi bật lên một vài nét chấm phá, một vài sự cố nho nhỏ, đã làm cho chúng tôi thực sự xúc động và phần nào đã thức tỉnh chúng tôi.

Một trong những sự cố đó, là một câu chuyện thương tâm đã xảy ra ngay tại trong gia đình chúng tôi ngày ấy, và đã làm cho bọn trẻ chúng tôi vô cùng bất bình và oán hận. Nó chính là một trong những sự kiện đã làm cho chúng tôi bắt đầu biết băn khoăn, nghĩ ngợi và tự đặt ra cho mình những câu hỏi.

Tôi không còn nhớ sự việc đã xảy ra vào năm nào trong thời kỳ ấy, có thể vào cuối 44, hoặc đầu 45, bởi như tôi đã trình bày ở trên, thời gian trong những năm ấy đi rất nhanh, nhưng mặt khác lại như bị dồn nén lại. Dẫu sao, thì sự việc cũng chỉ có bây nhiêu : trong nhà tôi, một hôm bỗng nhiên xuất hiện một nhân vật mới, đó là « thằng xe ». Cái tên gọi này thực ra không xa lạ gì đối với chúng tôi, vì nhà tôi đã từng có những « thằng xe ». Ngày đó, gọi một người kéo xe nhà trong nhà mình bằng « thằng xe », ở ngôi thứ ba, không có gì là quá đáng cả, vì người ta vẫn thường gọi như thế. Có nhà, người chủ ý tứ hơn, gọi là « anh xe », nhưng cũng hiếm lắm. Thường chỉ có những « kẻ dưới », thấp hèn hơn, như con xen, thằng ở, thì mới dùng chữ « anh xe ». Dẫu sao, tôi vẫn còn nhớ rõ khuôn mặt của hắn, khi hắn được nhận vào làm việc, vì trong nhà tôi dạo đó thiếu người để kéo chiếc xe nhà đưa ông anh cả tôi mỗi ngày đi thăm xưởng thợ ở trên Hàng Bún.

Trở lại nhân vật « thằng xe ». Hắn có khuôn mặt hơi gầy và hơi xanh xao. Chắc hắn cũng đã từng bị thiếu ăn. Khuôn mặt thoạt trông không hiền lành cho lắm, nhưng cũng không có vẻ gì là ác. Nổi bật trên khuôn mặt đó là cặp mắt tinh ranh và lanh lợi. Sau này tôi còn khám phá ra là hắn có một cái cười rất kiêu, một cái cười nhếch mép bất cần đời. Mà hắn kiêu cũng phải, vì hắn có nhiều tài lắm : ăn khoẻ hơn tất cả những người thợ ở trong nhà, và rất dai sức khi kéo xe, vật tay cũng một cây, tài bổ củi của hắn thì không ai bì kịp ! Không hiểu sao, tôi có thiện cảm với hắn ngay từ đầu, có lẽ vì tôi cũng hay thích xuống bếp tập bổ củi chơi, và hắn đă dạy cho tôi mấy ngón làm cho tôi tiến bộ hẳn lên. Tôi chưa bao giờ thấy ai bổ củi giỏi như thế ! Mỗi ngày hắn bổ được một đống củi to tướng. Cái lưỡi búa dày như thế, mà hắn có thể bổ đúng thớ gỗ để chẻ cây củi ra thành những thanh mỏng dính, như những que diêm ! Sau mấy tháng làm việc ở nhà tôi, được ăn uống đầy đủ, hắn như đã lấy lại được hơi sức, nên lại càng khoẻ thêm, da mặt đã hồng hào hẳn. Trong nhà thầy tôi (chúng tôi gọi bố mẹ bằng thầy, u, theo lối nhà quê), lúc bấy giờ còn nhiều thợ lắm, chưa ai chạy về quê hết, mà chạy về quê lúc đó thì chỉ có mà... chết đói ! Đó là những người thợ làm đồ da, đồ mộc, đồ sắt, đồ khâu, tất cả có đến 60 người, toàn là người làng bên quê nội tôi ở Hà Nam. Họ được đưa lên đây học nghề với thầy tôi từ nhỏ, sau đó được thu dụng làm thợ, có lương tháng, và có chỗ ăn, ngủ, ngay trong nhà. Cũng nhờ thế mà làng tôi, mặc dầu là một làng rất nghèo, có rất ít ruộng, có lẽ vì thế mà không trồng lúa, chỉ có mía, lạc, khoai, đỗ tương, và củ dong, củ giềng, song những năm ấy không có ai bị chết đói cả. Những tráng đinh thì đã có công ăn việc làm ở trên Hà Nội hết cả rồi, những người còn lại ở dưới quê thì ít nhất cũng có những ruộng dong, ruộng khoai, để ăn. Trong nhà tôi còn có mấy cô sen, cô vú nữa, cũng là người làng cả. Chỉ có mỗi mình « thằng xe » là không ai biết gốc gác hắn từ đâu đến.

Ngày tháng trôi qua, thấm thoát đã sắp đến Hè. Tôi vẫn ngày ngày, đi học ở dưới Tương Mai, vẫn ngày ngày ra Bờ Hồ lấy tàu điện, mẹ tôi ngày ngày vẫn nhét vào trong cặp cho tôi một bọc cơm nắm muối vừng, hoặc tôm kho, thịt kho, để ăn vào bữa trưa.

Hà Nội đang sống những ngày khẩn trương, ít ra là đối với bọn trẻ chúng tôi. Thực ra chúng tôi cũng chỉ linh cảm mơ hồ rằng sắp xảy ra một chuyện gì, nhưng cũng không biết là cái gì ! Hàng ngày, đi học, chiều tối về chúng tôi vẫn tụ tập nhau ca hát và đàn đúm ở ngay ngoài hè phố, còn thứ Bảy, Chủ nhật, thì nào là tập kịch, nào là đi ra bãi Septo ở phố Hàng Bột tập thể thao, hoặc đi bơi trên Quảng Bá, Hồ Tây, v.v.

Hàng ngày, vẫn những cảnh tượng chết đói trên các hè phố và trên các nẻo đường ngoại ô. Quân Tàu Tưởng sang tước vũ khí của quân đội Nhật bản, bây giờ thay chân Nhật và Pháp, vẫn ngày ngày đến phố nhà tôi mua hàng. Nhưng bọn này khác với bọn khách hàng Pháp và Nhật, chúng nghèo xơ xác, làm gì có tiền mà mua, ngược lại chúng lén lút mang súng ra bán cho các anh ở trong phố. Sau này, đó là những khẩu súng đầu tiên của các anh tự vệ phố. Tôi còn nhớ hình dáng rất đặc biệt của những khẩu Pạc khoọc ...

Thế rồi, bỗng một hôm xảy ra một chuyện làm kinh động cả nhà : « thằng xe » bị đuổi ! Lý do là vì hắn đã dan díu với một con sen ở trong nhà và đã làm cho cô này có chửa ! Những chi tiết khác thì chúng tôi không được biết, nhưng trước sự trừng phạt nghiêm khắc đó của thầy tôi đối với hắn, vào lúc đó, bọn trẻ chúng tôi ở trong nhà đều cảm thấy hết sức là bất bình !

Bẵng đi mấy tuần, một hôm trẻ con trong nhà bỗng bấm nhau ra gặp « thằng xe » ở ngoài đường. Tôi hí hửng lén chạy ra, thì thấy hắn ngồi co gối ở bực cửa một cửa hàng, mặt cúi gằm. Chúng tôi chào hỏi, hắn cũng chẳng nói gì hết. Tôi để ý thấy hai chân hắn đã bắt đầu hơi bị phù. Tôi biết đó là một triệu chứng không hay rồi, vì vẫn nhận xét thấy hiện tượng này ở những người sắp chết đói. Chúng tôi bảo nhau đem cơm ra cho hắn ăn mỗi ngày ở cùng chỗ đó. Nhưng rồi hắn cũng không đến đều ở chỗ hẹn. Bẵng đi một dạo nữa, hắn mới lại lần mò đến. Lần này, đầu hắn đã bị cạo trọc, người đã bắt đầu lở lói. Mặt hắn đã khác hẳn đi rồi, gần như không còn nhận ra được nữa.

Ít lâu sau, không thấy hắn đến phố nữa. Hàng ngày tôi ra chợ Hàng Da cố ý tìm, mà cũng không gặp. Phải chi hắn cứ ở lại phố để cho chúng tôi nuôi hắn !

Chúng tôi không ai bảo ai đều nghĩ thầm : chắc hẳn « thằng xe » đã chết đói rồi ! Riêng tôi, thấy cái chết của hắn thật là vô lý.

Lẽ ra, những người lớn trong nhà, các anh các chị lớn của tôi phải can thiệp mới phải. Tại sao lại không để cho hắn quay trở lại làm việc ?

Lẽ ra, thầy tôi chẳng nên đuổi hắn đi...

Điều này làm tôi cứ băn khoăn mãi. Lẽ ra những người như hắn phải được hưởng một số phận tốt đẹp hơn. Về sau nghĩ lại, tôi vẫn thấy tội nghiệp cho hắn ! Phải chi hắn sống thêm được vài tháng nữa, ít ra cho đến những ngày tháng Tám năm ấy !

Văn Ngọc

Loạn website!

Cho đến nay chưa ai thống kê được có bao nhiêu ngàn website tiếng Việt với đủ các loại thông tin “thượng vàng hạ cám” đang xuôi ngược trên “xa lộ” Inetrnet. Việc tạo ra một website rồi tung lên mạng Internet chưa bao giờ dễ dàng như bây giờ.

Quá... đơn giản
Hiện nay, sau mỗi chương trình “Tuần lễ khám phá Internet” do Trung tâm Điện toán và Truyền số liệu khu vực II (VDC II) tổ chức tại Nhà Văn hóa Thanh niên TPHCM thì có thêm hàng trăm bạn trẻ học được cách tạo một website qua “Lớp thiết kế web”. Đây là chương trình giúp thanh niên tiếp cận với công nghệ thông tin (CNTT).


Song, không cần tham dự “Tuần lễ khám phá Internet”, có đến 1.001 cách để học cách làm website. Trước tiên và cũng là vấn đề quan trọng nhất đối với những ai muốn có một website: đó là việc tìm một tên miền (domain name) và một nơi để đặt website trên mạng Internet (hosting). Với công cụ tìm kiếm Google, những ai muốn tìm một tên miền và hosting chỉ cần lên mạng, vào Google, gõ từ khóa free domain name để tìm tên miền miễn phí hay gõ free hosting tìm chỗ đặt website.

Lần lượt thực hiện các thao tác trên, với free domain name, có cả hàng trăm ngàn tên miền miễn phí và với free hosting cũng cho kết quả… hào phóng như vậy. (Tuy nói là free nhưng đa phần chỉ miễn phí được một trong hai, tức là miễn phí tên miền thì phải trả tiền hosting và ngược lại). Giới tạo một website với mục đích làm kỷ niệm, làm diễn đàn cho bạn bè mọi miền đất nước online… thường chọn kiểu này. Phần còn lại của một website là thiết kế giao diện, các link liên kết… không có gì khó khăn vì nguồn sách, tài liệu tự thiết kế website có đầy ở các nhà sách hoặc trên mạng Internet.

Trong khi đó, các nhà cung cấp dịch vụ Internet Việt Nam cũng tung lên Internet hàng ngàn lời chào đăng ký free domain name, cho thuê hosting, như ở trang www.vanlang.org, www.VietFirm.com... Nhưng tên tuổi trong làng cho thuê hosting vẫn là Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) với 3 trung tâm là VDC I (Hà Nội), VDC II (TPHCM) và VDC III (Đà Nẵng). Còn trong tên miền, Trung tâm Internet Việt Nam (www.vnnic.net.vn) là nhà cung cấp số một. Hosting và tên miền ở các nhà cung cấp này được cho thuê với các điều khoản ràng buộc khá cụ thể, chỉ rõ trách nhiệm của khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ, nên đối tượng làm website thuê hosting và đăng ký tên miền ở nhóm này đa phần là những tổ chức, doanh nghiệp…

Trắng đen lẫn lộn

Đông đảo bạn trẻ đến với lớp thiết kế web do VDC II tổ chức ở Nhà Văn hóa Thanh niên.
Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như vậy. Hiện nay, ai không thích chơi với các nhà cung cấp Việt Nam thì có thể chơi với nước ngoài. Anh V, thành viên của một website chuyên cung cấp thông tin về thị trường chứng khoán cho hay: “Chúng tôi đăng ký tên miền và thuê hosting thông qua một đơn vị chuyên làm website với giá trên 2 triệu đồng/năm. Server đặt ở nước ngoài nên các thủ tục cũng khá đơn giản, không tốn nhiều thời gian”. Đây là một website có nội dung phục vụ đời sống kinh tế, được nhiều doanh nghiệp quan tâm.

Gần đây, giới lướt web, nhất là những người ở độ tuổi làm cha làm mẹ quan tâm đến www.lamchame.com do đôi vợ chồng trẻ ở Hà Nội tạo ra. Website này trở thành diễn đàn thu hút gần 5.000 người truy cập/ngày để tìm hiểu, trao đổi về cách nuôi dạy con cái… Những trang web có nội dung lành mạnh, bổ ích như vậy rất nhiều, như trang www.vietnamaudio.com chuyên về âm nhạc; cũng có nhiều website với tính chất giải trí, kết bạn, như www.timvui.com... Giới làm cũng như giới lướt web gọi đây là web trắng.

Trong thế giới web, những website “đen” là những trang có nội dung đồi trụy… nhiều vô kể và hầu như tất cả các trang này đều đăng ký tên miền, thuê hosting ở nước ngoài, cho nên tại Việt Nam, dù cơ quan quản lý mạng có nhiều biện pháp ngăn chặn nhưng việc truy cập khá dễ dàng. Tuy nhiên, trong giới làm website, khái niệm đen trắng cũng còn tùy vào mục đích của website dùng để làm gì và online được bao lâu (?). Như www.maitruongxua.com là một trong những website của cựu học sinh Trường B.T.X (Đà Lạt) được tạo ra cách đây khá lâu và đến nay vẫn còn online… ngon lành. Website này hiện có gần 1.000 thành viên , gồm nhiều diễn đàn, thông tin… đa phần phục vụ cho việc liên hệ bạn bè.

Trước đây, một sinh viên Trường Cao đẳng Công nghệ thông tin đã tự tạo nên www.dalatcity.net, thế nhưng nay truy cập vào thì chỉ còn lại một địa chỉ email để liên hệ với “chủ” website. Nguyên nhân của chuyện trên là không ai chăm nom, cập nhật thông tin nên… tạm “đóng cửa”. Với giới trẻ ngày nay, nhất là những ai yêu thích CNTT, việc tạo website để “làm của riêng”, thể hiện khả năng, hay ghi nhớ kỷ niệm nào đó… là chuyện bình thường. Cho nên, website của cá nhân hay nhóm bạn “sinh ra” nhiều vô kể và “chết non” cũng không ít.

Theo thống kê của Trung tâm Internet Việt Nam, hiện nay tổng số tên miền có đuôi vn là 9.037, điều này cũng tương ứng với khoảng chừng đó website có đuôi vn (tương ứng vì có một số cá nhân, doanh nghiệp đăng ký tên miền nhưng chưa làm website), còn những trang web có tên miền cấp cao như .org, .net… thì có hàng ngàn. Đây là những website mà Bộ Văn hóa Thông tin quản lý được. Song con số này còn rất khiêm tốn so với hàng trăm ngàn website “vô chính phủ” đang “chạy” trên Internet.

Quản lý kiểu cũ nên bất cập
Sự phát triển nhanh chóng của CNTT cho thấy việc tạo website rồi tung lên mạng Internet là việc không mấy khó khăn. Trong khi đó, mãi đến tháng 10-2002, Bộ Văn hóa Thông tin mới có Quyết định số 27/2002/QĐ-BVHTT về quy chế quản lý và cấp phép cung cấp thông tin, thiết lập mạng thông tin điện tử trên mạng Internet. Quyết định trên đã cho thấy quản lý thông tin trên mạng Internet không theo kịp sự phát triển của CNTT. Tức là vẫn quản lý theo kiểu… ngồi chờ, trong khi lẽ ra phải phát huy nội lực tạo ra nhiều website lành mạnh, hấp dẫn để chống lại các website độc hại.

Theo Quyết định số 27/2002/QĐ-BVHTT thì “Bộ Văn hóa Thông tin (Bộ VH-TT) là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước và cấp giấy phép cung cấp thông tin trên Internet (ICP), thiết lập trang thông tin điện tử trên Internet. Đơn vị ICP là cơ quan, tổ chức doanh nghiệp được Bộ VH-TT cấp giấy phép thực hiện việc cung cấp trang thông tin trên Internet thông qua nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP)”.

Như vậy “trong lĩnh vực website”, Bộ VH-TT có quyền quyết định và quản lý được thông tin trên website nếu ICP sử dụng các dịch vụ của các ISP tại Việt Nam. Còn hàng chục ngàn website của cá nhân, nhóm bạn, tổ chức… đang hiện hữu trên mạng Internet, họ không sử dụng các dịch vụ của các ISP tại Việt Nam nên vô hình trung Bộ VH-TT không có quyền và cũng không quyết định trực tiếp đối với các website này. Trong khi đó các website này lại thâm nhập một cách dễ dàng vào từng người, từng gia đình…

Một lỗ hổng trong quản lý thông tin trên mạng Internet đã hiện ra. Nói một cách cụ thể hơn, nếu như tất cả những website do các cá nhân, nhóm người tự tạo cùng đồng loạt tung những thông tin thất thiệt thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng… trong khi đó “cây gậy” quản lý của Bộ VH-TT không thể với tới các server đặt tận… trời Tây. Dĩ nhiên, chưa có trường hợp nghiêm trọng như vậy xảy ra, nhưng đây là vấn đề cần sự cảnh báo.

BÁ TÂN ( SGGP)

Chuyện kể của ông lão viết thư tình ở Bưu điện Trung tâm Sài Gòn

Bưu điện TPHCM sáng cuối năm. Vội vã, người ta đến-đi-giao-nhận... Không khí Tết như đã gần lắm. Chỉ những nhóm khách nước ngoài chẳng can hệ gì, vẫn nhẩn nha ngẩng cổ ngắm tòa kiến trúc xây từ 1886 hay thích thú lật giở những bộ tem xưa. Và không bao giờ quên dừng bước trầm trồ trước ông già nhỏ thó ngồi nơi góc sảnh chung, chuyên làm một công việc lạ lùng và lãng mạn: Viết thư tình cho khách

Làm công việc lạ lùng ấy có đến hai ông lão như thế, họ thay phiên nhau hằng tuần thứ hai - tư - sáu hoặc ba - năm - bảy. Nhờ sự hiện diện của họ, 14 năm nay chiếc băng đỏ trên cánh tay, tấm bảng nhỏ “Nơi chỉ dẫn và viết giúp” trước mặt, những hướng dẫn viên du lịch có thêm nhiều điều hơn để nói về tòa bưu điện cổ này, như thể nó trở nên có hồn, lãng mạn và bí ẩn hơn nhiều...

Sáng cuối năm với những lá thư tình.- Người khách đầu tiên tìm đến bác Dương Văn Ngộ - năm nay 75 tuổi, một trong hai ông lão viết thư thuê tại bưu điện này - sáng ấy là một phụ nữ trên dưới 40. Rụt rè, chị nhờ viết giúp một lá thư làm quen. Anh là người nước ngoài, hay đến mua hàng nơi quầy của chị. Biết nhau lâu rồi, “tình trong như đã”..., nhưng không biết cách mở lời, vì anh không biết tiếng Việt, còn tiếng Anh thì chị không rành lắm. Ông lão nghe xong, thẳng thừng... từ chối: “Vậy thì cô phải tự viết. Vì chỉ cô mới biết hai người đã có những kỷ niệm gì để nhắc và người đó ra sao để lựa lời”... Thuyết phục một hồi, ông lão mới đồng ý chị sẽ viết bằng tiếng Việt, ông chỉ dịch giùm sang tiếng Anh. Một lá thư tay ngắn, giản dị: Bạn thân mến. Tôi là... Chúng ta quen nhau đã lâu nhưng không biết phải nói với nhau cách nào, vậy từ nay tôi sẽ viết thư nhé. Nếu bạn đồng ý, hãy trả lời bằng thư, tôi sẽ nhờ người dịch. Chờ hồi âm của bạn”. Ông lão hỏi lại chị: Dùng đúng chữ “bạn” chứ? Chị cười, gật đầu, lấy tiền ra trả. Ông lão lại lắc: Thôi lần này chưa có gì đáng, cô cứ giữ đó. Lần sau nếu có gì đáng hơn tôi mới lấy tiền. Nhưng chị không chịu, nhất định nhét lại tờ 5.000 đồng dưới đám giấy tờ của bác trước khi đứng lên, giấu một ánh vui trong mắt...

Một phụ nữ ngoài 50 nhờ ông viết giùm địa chỉ để gửi thư cho chị gái ở nước ngoài, “gửi thế nào thư đến tận nhà, không phải ra bưu điện lãnh vì chị ấy bận lắm”. Một phụ nữ khác gửi thiệp cảm ơn cha xứ bên Đức đã gửi tiền về đóng góp xây nhà thờ của giáo xứ mình. Địa chỉ của lá thư dường như thiếu số nhà và tên đường, ông lão kiên quyết không nhận: Ghi thế này, thư bị trả về tội tôi lớn quá. Nằn nì mãi, người phụ nữ đành ra photocopy địa chỉ có sẵn dán vào chỗ “người nhận”, rồi nhờ ông lão viết lại lần nữa bằng chữ cho chắc ăn. Hai vợ chồng - vợ Việt, chồng Mỹ-ghé đến gửi thư, người vợ rạng rỡ chỉ ông lão, giới thiệu với chồng: Người vẫn giúp em gửi thư cho anh đấy...

Giữa buổi, một phụ nữ tên V. tuổi chừng ngoài 30 còn xuân sắc, tóc dài, vẻ băn khoăn, mang đến cho ông lão một lá thư tiếng Anh nhờ đọc giúp. “V. thân yêu. Tôi đã bị những người thân của em kết tội, nhưng hãy tin rằng tôi không phải là người xấu. Cũng có thể em đã quyết định xa tôi, nhưng tôi thì không bao giờ muốn rời bỏ em. Những người bạn cũng có thể làm điều tốt cho nhau, vậy tôi vẫn muốn được giúp em nếu em còn đồng ý”. Nghe đọc thư xong, V. xin một tờ giấy trắng ra góc khác viết thư hồi âm. Lúc chị quay lưng lại, tôi nhìn thấy hai khóe mắt đỏ hoe...

Những lá thư đặc biệt.- 14 năm ngồi viết thư cho khách, bác Ngộ là cả một pho tư liệu ly kỳ về mọi cung bậc tình cảm của con người. Ông giữ lại một đoạn email nhận dịch (không tên tuổi địa chỉ để giữ bí mật cho khách hàng), có nội dung đại ý thế này: “Ngày lại ngày, năm lại năm, tóc mẹ thêm sợi bạc, nhưng nụ cười của mẹ vẫn là sức mạnh giúp chúng con đi tiếp trên đường đời. Con cảm ơn mẹ đã cho con được là con của mẹ, được ở gần bên mẹ. Gửi người mẹ yêu kính nhất của chúng con!”. Tưởng của một đứa con nào đó dành cho mẹ, ai ngờ dưới những dòng chữ in đậm này là lời nhắn của một phụ nữ trẻ với em gái: Em thấy viết vậy được chưa? Nhờ người - nhớ phải là “cao thủ” - dịch gấp giùm để chị viết thiệp gửi cho mẹ chồng. Năm ngoái cũng gửi một tấm, bà cảm động lắm. Có những chuyện mình nghĩ trong đầu nhưng nói ra không suôn câu, viết nó hay hơn”.

Có rất nhiều lá thư đặc biệt, như thế. Vài năm trước, ông được bưu điện đưa cho một lá thư từ Anh Quốc mà phần địa chỉ người nhận là... tấm hình của chính ông đang ngồi làm việc tại bưu điện, kèm theo mấy dòng: Letter writer/ Translator. Central Post Office - Sài Gòn -Việt Nam (gửi người viết - dịch thư, Bưu điện Trung tâm Sài Gòn - Việt Nam). Đó là thư của bà M. Admans, một y tá ở Oxford, Anh Quốc. Sau khi được ông viết giúp một lá thư bằng tiếng Việt và nhất định không nhận tiền, dù không biết tên tuổi địa chỉ, bà đã cảm động viết thư cảm ơn, kể về bản thân, gia đình, con cái mình, về cảm giác tuyệt vời đã nhận được từ chuyến đi Việt Nam, từ con người Việt Nam mà ông là một đại diện, về cái nghề đặc biệt, cái cách dùng tiếng Anh rất chuẩn của ông... và gửi... đại. Thế mà lá thư đã đến, mang cho ông một niềm vui trong vô vàn niềm vui được là người kết nối mọi người...

Thật ra bác Ngộ - và cả người đồng nghiệp của bác - không khuôn cho mình cái việc chỉ viết thư tình. Mọi loại tình cảm đều có thể tìm đến họ. Có thể cả thư gửi kèm theo hồ sơ. Nhưng riêng bác Ngộ thì đơn từ dứt khoát không nhận. Chữ tôi xấu, thời buổi vi tính, máy móc làm đơn, chính xác và đẹp hơn nhiều. Và không phải thư nào ông cũng viết. Nhiều trường hợp thích viết thư xin tiền hay chỉ giả vờ yêu thương để lợi dụng người “ở bển”, ông bực bội từ chối thẳng thừng. Có những bà sồn sồn đeo vàng đỏ tay hách dịch lắm. Nhưng cũng có những người thợ, buôn thúng bán bưng không biết chữ tới nhờ viết cái địa chỉ, lâu lâu mới dành dụm gửi được cho gia đình ở quê 300.000 đồng, 400.000 đồng. Trong số họ có cô gái bán rau, cứ gọi ông là “thầy” và không dám ngồi ngang hàng ông trên ghế. Những trường hợp đó ông lão không lấy tiền.

Không máy móc điện tử nào thay thế được.- Sáng ấy trong bưu điện có một chàng sinh viên cặm cụi ngồi viết thư, kèm theo thiệp Noel. Hỏi: Vì sao bạn không mail? Anh chàng cười: Khi muốn gửi cái gì nhanh, tôi dùng mail. Nhưng khi muốn gửi đi một cái gì thật tình cảm, tôi viết tay. Bác Ngộ bảo, mùa Noel và Tết này đã viết giùm rất nhiều thiệp. Có ngày tới 37 tấm thiệp tiếng Anh, Pháp gửi đi khắp thế giới. Có nhà báo tới hỏi có biết vì sao người ta không gửi thiệp bằng mail vừa đủ màu sắc, vừa sẵn, vừa nhanh lại phải nhờ bác viết thiệp, biết chắc gửi sẽ rất lâu không, tui nói thiệp điện tử đẹp và nhanh thiệt, nhưng lời chúc có sẵn, giống nhau, đâm ra ít có hồn. Thiệp viết tay kèm theo những lời nhắn riêng biệt, có khi chỉ hai người hiểu với nhau, nó tình cảm hơn nhiều.

Bác Ngộ đặc biệt tôn trọng những chi tiết riêng tư, cho nên không bao giờ nhận “bịa” thư tình. Tức là ai đó phải tự viết, bằng cảm xúc, tình cảm của mình, mang tới bác chỉ dịch, cho dù với vốn sống 75 năm trên đời, chắc chắn bác thừa sức... Có những điều không thể “công nghiệp”, càng không thể “bịa”. Thí dụ khi người viết thư nhắc “bộ phim mà chúng ta đã xem chung chủ nhật trước đó, em vừa xem lại và em thấy nhớ anh” thì kỷ niệm đó chỉ riêng tư giữa hai người, làm sao bịa, làm gì có mẫu nào in sẵn? Cho đến khi nào con người ta còn trao gởi tình thương cho nhau, họ sẽ còn cần đến những người như chúng tôi . Ông lão 75 tuổi nói giản dị về cái nghề của mình, hoàn toàn tin chắc rằng điện tử, công nghệ không thể thay thế hay xóa sổ những điều thiêng liêng đó.

Gần xế trưa, chị V. cầm lại chỗ bác Ngộ lá thư mà có lẽ chị đã đắn đo từng chữ. Một lá thư làm lành. Có lẽ một ngày giáp Tết, cánh thư sẽ gõ vào một cánh cửa băng giá bên kia địa cầu. Người đàn ông nào đó mà tôi không biết tên, chưa biết mặt chắc sẽ cảm thấy tràn trề nguồn vui sống mới...

“Viết thư cho người ta mát tay, nhiều đám làm quen rồi thành, tìm về tận nhà cám ơn ổng. Có người hẹn lấy nhà tui là nơi trao đổi thư từ, điện thoại luôn để nhờ ổng dịch giùm. Nhưng ổng thì khô khan lắm. Chưa bao giờ viết thư cho tui. Hồi xưa thương ổng nghèo mà chịu khó. Chớ thực ra ổng cũng không giỏi hung đâu. Bây giờ người ta thương ổng cũng vì cái tính ổng kỹ, rất trách nhiệm, thành ra ổng hay la mà người ta không giận, cứ tới tìm là vậy”. Bà Kim Anh nói vậy về bác Ngộ, chồng mình

Bài và ảnh: Hoài Hương

'Chợ tình' trên lề đường

Khi màn đêm buông xuống, những "chợ tình" trên nhiều lề đường của TP HCM cũng bắt đầu phiên "họp". Các cô gái trong đủ loại trang phục, lố nhố đứng ngồi, chào mời khách đi ngang qua.

Trên đoạn Nguyễn Thị Minh Khai, quận 1 (từ ngã tư Nguyễn Thị Minh Khai - Hai Bà Trưng đến khu vực công viên Tao Đàn), vào lúc 20h xuất hiện những cô gái mắt xanh, môi đỏ đứng ngồi bên các gốc cây. Hầu hết họ còn khá trẻ, trên dưới 20 tuổi. Có em quần jean, áo hai dây nửa hở... nhiều hơn nửa kín, có em váy ngắn cũn cỡn. Cũng có em muốn tạo dáng vẻ "con nhà lành" khoác lên người bộ quần tây, áo sơmi kín đáo.


Dạo bước trên đường Lê Duẩn, quận 1.

21h, "chợ" bắt đầu nhộn nhịp, những cuộc mua bán diễn ra công khai. Hai thanh niên cho xe máy tấp vào, lập tức hai em chạy ra sát đường, cất giọng: "Đi không anh?". Người thanh niên ngồi sau hỏi lại: "Bao nhiêu vậy em?". "Anh đi dù, đi tiếng (một giờ đồng hồ) hay qua đêm? Dù thì một trăm (100.000 đồng), tiếng trăm rưỡi, qua đêm chì cho em xin mỗi anh bốn trăm". Về địa điểm "hành lạc", cô gái chỉ dẫn: "Xuống bến xe Miền Đông đi anh, ở đó vừa an toàn lại sạch sẽ nữa". Kỳ kèo khoảng 10 phút, cô gái vẫy tay một gã xe ôm đậu gần đấy rồi cùng hai thanh niên phóng vút đi.

Gần khu vực trên, tại ngã tư Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Nguyễn Thị Minh Khai, phóng viên Ngôi Sao cũng chứng kiến nhiều cuộc "giao dịch" chóng vánh kiểu như vậy. Kết thúc bao giờ cũng là cảnh "người bán" và "người mua" lên xe rồ ga rồi vọt lẹ...

Đêm càng về khuya, "phiên chợ" càng đông đúc. Số lượng các em tới nhập cuộc cũng đông hơn, nhất là khi vũ trường Phương Đông (trên đường Nguyễn Thị Minh Khai) đến giờ tan hội (24h). Phần lớn các em thích tập trung tại khu vực này vì cho rằng dân đi tìm "hoa đêm" sẽ nghĩ họ là các vũ nữ của vũ trường sau giờ tan ca, muốn "làm thêm". Đối với họ vũ nữ dù sao cũng có một đẳng cấp cao hơn gái đứng đường. Thêm nữa, vũ trường Phương Đông cũng thuộc dạng "quý tộc" trong giới ăn chơi Sài Gòn nên "tiếng thơm" này sẽ được lây. Ngoài ra với vị trí này, các em có thể vớ được một tay lắm tiền nào đấy hoặc Việt kiều, là khách của vũ trường.

Theo tiết lộ của một tay chuyên "chăn dắt gái", hầu hết các em làm ăn tại khu vực này đều là những con nghiện thứ thiệt. Có em kiếm một đêm không đủ để hút chích cả ngày, phải đi vay tiền của đám ma cô khác. Nợ nần chồng chất, nên các em cố ra sức "cày" để trả nợ. Nhiều lúc hét giá trên trời nhưng bị khách kỳ kèo xuống, các em cũng chấp nhận.

Gái mại dâm tại khu vực Thị Nghè lại tỏ ra "sang trọng" hơn cả. Các em không đứng, ngồi dưới gốc cây hay lề đường, mà cưỡi trên những chiếc xe máy thời thượng để bắt khách. Họ đi theo tốp, lượn lờ qua lại trên khúc đường từ ngã ba Nguyễn Văn Lạc - Xô Viết Nghệ Tĩnh (quận Bình Thạnh) đến ngã tư Nguyễn Thị Minh Khai - Đinh Tiên Hoàng (quận 1). Hễ thấy thanh niên, đàn ông chạy xe chầm chậm là họ "bắt nhịp", rồi ra giá. Vì là "gái xế nổ" nên giá cả có phần cao hơn, nhất là những em đi "xế xịn". Ẩn hiện trong khu vực hoạt động của các em này, lúc nào cũng có những tay "vệ sĩ".

Trên các khúc đường Lê Duẩn (quận 1), Điện Biên Phủ (khu vực công viên Lê Văn Tám), Hoàng Văn Thụ (phía trước công viên Hoàng Văn Thụ), Cộng Hòa, quận Tân Bình, Ngã tư Lý Thường Kiệt - Tô Hiến Thành..., nhiều "chợ tình" vẫn miệt mài hoạt động hằng đêm.

(Theo Ngoisao


Mời bạn đọc lại:

Ngày tết " Ôn cố": Nghĩ về nạn đói năm Ất Dậu

“Săn” chó dạo

“Bán mình” qua webcam

Hương thoảng lưng đèo

Lấy vợ kiểu...mua

Gái bi

Đi "chợ ma"

Cà phê 'hộp' Sài Gòn

Thời "hậu chat"

Bar thật - Bar giả

Vòng xoáy bida...

Gái "bia" về...làng

“Thiếu gia” Bình Dương và trò chơi mới

Khoảng tối mẫu nam

Thời...xế hộp

Con đường gieo rắc cái chết

Ký sự về những người Việt trồng cần sa ở Canada: Vạt cỏ buồn

Bên trong những góc tối của Net

Hà Nội "overnight"

Những đạo diễn 'cô đơn'

“Sát thủ” tâm thần và những giây phút tỉnh táo

Những 'cô gái Attila'

Khi nàng hút thuốc

Bước vào thế giới bài bạc ở Phnom Penh

Góc tối cuộc đời của những người đi biển

Những mảnh đời nghiệt ngã ở hành lang bệnh viện

Cô giáo Thảo tái xuất giang hồ

"Lệnh truy nã"

Góc tối truyện tranh

Karaoke - thiên đường của dân lắc

Phận thương hồ…

Điểm tối của vũ trường và bar

Trần gian có thứ… thơ đề!

Thanh Đa - bóng tối ly cà phê

Cà phê đắng

Sex "cam"

Thảm cảnh của những cô gái Việt Nam lấy chồng Đài Loan

Những cô nàng.... lắc lư!

Đánh ghen bằng nước mắm

'Đền' trinh tiết cho chồng

Họ đang chìm dần trong đêm

Cạm bẫy chết người

Về trang chủ

 

.

Thiên cổ đoạn trường kim nhất tục.
Phiếm Đàm tòng thử kế Thừa sai.

Tìm kiếm tin đã đưa
Liên kết website






 

 

 

 

 

 

ĐIẠ CHỈ: WWW.HAINGOAIPHIEMDAM.COM.

EMAIL: HAINGOAIPHIEMDAM@YAHOO.COM

|Tại sao? | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu Du Lịch |Tiểu phẩm|Thư tín|TRÁI TIM HỒNG|CHĂN GỐI | Rừng cười |Ẩm thực |MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn|CỔ THI | Nhân vật |Đó Đây|KINH TẾ | Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ Đọc Truyện