|
GÓC TỐI
Để quý vị tiện theo
dõi GÓC TỐI, chúng tôi đăng nguyên văn bản tin trong
nước, kể cả những điạ danh và những từ không thích
hợp ( thí dụ Tp Hồ Chí Minh. đồng chí Trưởng công
an. . .V.V..) Xin quý vị lượng tình tha thứ... HNPĐ)

Hai
cái đói Ất Dậu
Trận
đói năm Ất Dậu
ĐẦU
NĂM, ĐỌC BÁO XUÂN, thấy bàn đến một Ất Dậu rồi 60
năm sau lại một Ất Dậu, mong rằng những bạn đọc
cả tin vào mệnh giời đừng trông đợi ở đây một bài
viết dính dáng đến Tử vi và tướng số. Không là Giáo
sư Tử vi, cũng không là Nghệ sĩ Tử Vi, tác giả không
sử dụng những ngón bài này. Tác giả xin được nói
những suy nghĩ về hai lần đói Ất Dậu.
ẤT DẬU 1945, MỘT
NẠN ĐÓI làm người chết ngổn ngang trên một nước
Việt Nam có một dân tộc Việt Nam đang đói quyền
lực.
Miền Nam thừa thóc
phải đem đi đốt lò phát điện, không cứu được đồng
bào mình phía Bắc đang chết dần. Cũng là vì đói
quyền lực! Dân vùng đói hè nhau xông vào phá kho
thóc tự cứu mình, đó đã là quyền lực trước ngày
Khởi nghĩa cùng nhau cướp lấy quyền lực cũ tạo ra
quyền lực mới.
Cơn đói quyền lực
không chỉ diễn ra ở lớp người trực tiếp đói thóc
gạo. Những chú học trò mải mê đến trường nhặt nhạnh
những tinh hoa văn hoá loài người thông qua lớp
học của người Pháp vẫn thấy mình sao mà hèn yếu.
Nạn đói tạo ra trong họ một trạng thái tâm lý không
diễn giải nổi tức thời, khó hiểu biết bao là nguồn
cơn của nỗi ấm ức.
Lá lành đùm lá rách,
người còn có bát ăn đi làm việc thiện, những cái
chết đau lòng trở thành những lời hịch đánh Pháp
đuổi Nhật, mọi chuyện giản dị vô cùng.
Lại nữa, cái đói
quyền lực ngay từ đầu cũng là cái đói Dân chủ. Khi
bắt tay vào cứu trợ nạn đói Ất Dậu xưa, người của
các tầng lớp gọi nhau bằng anh, chị, em và quên
đi lối xưng hô xa xôi cách bậc cũ. Đoàn Hướng đạo
sinh áo nâu khăn quàng xanh của tôi có đoàn trưởng
là thầy Cao Đắc Tiếu hiệu trưởng một trường Tiểu
học, chúng tôi cũng được gọi ông bằng “anh”, ông
gọi lại chúng tôi bằng “các em”.
ẤT DẬU 2005, CÁI
ĐÓI 45 đã lặn xa. Bây giờ tặng thủ trưởng chai rượu
Johnnie Walker có hình anh chàng tay bị tay gậy
khắp nơi tung hoành thì người đi đêm nói rất khéo
“Biếu anh chai rượu Thái Bình...” Nhạc sĩ T.H. rủ
tôi đi uống bia hơi. Anh gọi đồ nhắm: 5 nghìn rau
lang om tỏi, 3 nghìn rau bí xào, 1 nghìn lạc rang.
Anh dạy: “Không nói rõ mua bao nhiêu, có khi phải
mua cả một đĩa tú hụ cả chục nghìn”. Rau lang om
đắt hơn rau bí, vì rau lang bây giờ là sành điệu
hơn cả.
Không có cái đói,
vậy mà tôi có lần bị mắng chỉ vì một câu hỏi về
cái đói. Mùa hè năm 2001, sau một lớp tập huấn,
nhà văn N.X.K. cùng tôi đi Cát Bà nghỉ. Chúng tôi
đi tàu cùng đoàn cán bộ Giáo dục tỉnh Nam. Tôi hỏi
anh Tuấn, trưởng phòng Giáo dục một huyện: “Bây
giờ nông dân quê anh còn đói ăn không?” Không ngờ
câu hỏi nhẹ nhàng ấy lại khiến nhà giáo kia nổ một
trận lôi đình. Anh nhìn thẳng vào mặt tôi: “Thông
minh thế, mà sao hỏi những điều ngu thế!” Tôi phải
chờ cho anh nguôi cơn giận. “Mình xin lỗi ông nếu
mình có chỗ nào sai. Thực lòng mình muốn biết vậy”.
Anh cũng xin lỗi lại. Rồi anh lấy giấy bút ra làm
con tính đầu vào đầu ra thu nhập của một gia đình
nông dân. Rồi anh kết luận mà lại vẫn như mắng tôi:
”Vậy thầy tưởng bỗng dưng mà có chủ trương dân chủ
ở cơ sở à?”
Khác với Ất Dậu
1945 của gậy gộc và súng kíp và mã tấu, người dân
Ất Dậu 2005 rồng rắn đem đơn đi nộp các cửa vì vô
số chuyện. Ất Dậu 2005 vẫn là cái đói quyền lực,
nhưng ở một dạng khác rồi. Dạng đòi công bằng xã
hội để xóa cái đói xã hội còn chưa công bằng. Có
những lá đơn của cá nhân vài chục năm gom lại dầy
cộp mà thê thảm như những đêm thở dài. Có những
lá đơn viết thẳng lên áo đứng chật trước cổng nhà
phố Mai Xuân Thưởng nom văn minh ra dáng. Gì thì
gì, cũng chứng tỏ con số 95 phần trăm mù chữ sáu
chục năm xưa đã đổi thay trời vực.
NGƯỜI BIẾT CHỮ DẠY
NGƯỜI CHƯA BIẾT, đường lối đó trong vòng một năm
đầu Cách mạng đã giúp cả triệu người dân biết chữ.
Và ngày nay, dù vẫn đang đòi hỏi chất lượng Giáo
dục phải cao hơn, nhưng thành tích cả nước biết
chữ quả là đáng nể.
Nhưng vào năm Ất
Dậu 1945, thoả mãn cơn đói biết chữ còn là cả một
cao trào cách mạng văn hoá đổi thay suy nghĩ và
hình thành một lối sống khác trước. Đi học, cụ bà
ngồi học cạnh cụ ông, con trai ngồi bên con gái,
không còn nữa nam nữ thụ thụ bất thân học mót tận
bên Tầu. Đi học, con dâu ngồi học cạnh mẹ chồng,
em dâu cùng đánh vần với chị chồng bỗng chốc không
còn nữa cái luật đời từ xưa giặc bên Ngô không bằng
bà cô bên chồng. Đi học, giáo viên là các thầy giáo
kỳ cựu bên cạnh những thanh niên và cả những thiếu
niên tình nguyện. Nghề sư phạm không còn là công
cụ sinh nhai của riêng giáo giới. Học và dạy học
thành công cụ sinh lợi cho toàn dân. Chưa hết, vào
giờ học cả thầy lẫn trò cả nam phụ lão ấu cùng vỗ
nhịp hát đoàn kết một bài cái đã. Hết khoá học,
ăn chung một bữa cơm đoàn kết trước khi được công
nhận “xoá mù”. Chưa hết, lớp học mở ở trường, mở
nhờ ở các nhà giàu đúng là sẻ cửa sẻ nhà, còn mở
ở cả chốn đình chùa miếu mạo, nơi đình chung không
còn là chỗ tranh nhau đầu gà sỏ lợn. Không còn thời
giờ để mà hương khói đồng cốt. Không còn thời giờ
cho những cuộc tụ bạ cờ bạc. Và đặc biệt là Ất Dậu
1945 thấy biến tiệt nọc nạn nghiện hút. Những ai
còn ký ức về Ất Dậu sáu chục năm xưa ắt phải nhớ
đến những cuộc đốt bàn đèn, đốt quân bài tổ tôm,
hệt như bây giờ đốt văn hoá phẩm đồi truỵ. Chỉ khác
một chút, Ất Dậu 1945 người dân tự đem những thứ
đồi truỵ đi đốt.
BÂY GIỜ ẤT DẬU 2005,
không chỉ biết chữ Việt còn biết cả tiếng Anh. Ngày
xưa trọng ngày giỗ, bây giờ trọng ngày sinh nhật,
trọng cuộc đời trần thế hạnh phúc tràn trề. Ngày
xưa chỉ biết chúi mũi làm ăn, làm nhiều mà ăn chẳng
bao nhiêu, bây giờ đi du lịch Thái Lan chẳng còn
là điều xa lạ với rất nhiều người. Ngày xưa những
người tân tiến nào viết báo nào viết sách chế giễu
các ông Lý Toét, Xã Xệ, Bang Bạnh mà chẳng ăn thua,
bây giờ cơn gió quyền lực của văn minh đã khiến
cho nhà quê đang dần mất hút.
Quyền lực có cả rồi lại thích bổ sung nếp văn hoá
mới theo chữ Anh participatory – có sự tham gia
– dĩ nhiên là của mọi người vào mọi việc. Quyết
định làm con đường nhỏ trong làng, cũng như quyết
định làm nhiều kilômét đường quốc gia loại A, người
dân đều phải được tham gia. Một bộ luật sắp ra đời,
người dân đều có quyền bàn bạc.
Tham gia... Chỉ
với một chút khác nhau. Có dự án đấy, cần phải ra
quyết định đấy, nhưng nếu thông tin bị ỉm đi thì
biết khi nào tham gia cùng nhau ra quyết định? Có
luật đấy, nhưng cuộc đời ở cơ sở như cái phễu, bao
nhiêu luật cũng trút vào một cái lỗ cỏn con, một
anh phòng thuế, một chú địa chính, một bác kiểm
lâm, một chàng lái xe, một cô nàng đỏng đẩnh cầm
con dấu ở phường, và chưa khi nào cái thành ngữ
thủ kho to hơn thủ trưởng lại có giá trị thực đến
thế.
Nhiều khi có chữ,
lại có nhiều chữ quá, dẫn đến chỗ sùng bái chữ,
cũng lại là cái nạn đói của Ất Dậu 2005. Những quy
luật của tha hoá học nhiều mà vẫn chưa ngấm. Luật
1 khi tôn giáo hoá thì dẫn đến tha hoá. Ngày xưa,
đọc sách cách mạng có thể bị tù vì sách đó dẫn tới
hành động cách mạng, bây giờ tụng niệm thuộc lòng
sách “kinh điển” thì thi đỗ. Luật 2 thể chế hoá
có thể dẫn đến tha hoá. Ngày xưa chưa hình thành
các tổ chức, hoặc mới có ít tổ chức, có việc cứ
xúm nhau vào mà làm, tin nhau thì hè vào mà cùng
làm. Bây giờ Ất Dậu 2005 có thể ỷ lại, lao động
nghĩa vụ có thể nộp tiền thế chân, đi bầu còn có
thể nhờ bỏ phiếu hộ nữa là!
DUY NHẤT TRƯỚC SAU
nguyên si cả hai lần Ất Dậu cách nhau sáu mươi năm
đó là cái đói tiếng cười. Trước sau như một đều
lấy tiếng cười làm liều thuốc bổ. Không biết có
dân tộc nào coi mọi hiểm nguy nhẹ tựa lông hồng
như người mình?
Biết cười và biết
nhắn nhe là cái nết ăn qua loa chống đói của người
Việt mình. Công bố tất tần tật chuyện Tiếu lâm để
nghe tiếng cười đậm đà bản sắc và luôn tiện thống
kê dân nguyện, có thể đó cũng là điều gợi ý không
đến nỗi tồi?
Phạm
Toàn© 2005 talawas
Trận
đói năm Ất Dậu
Ngày
tết " Ôn cố": Nghĩ về nạn đói năm Ất Dậu
Văn Ngọc
Nạn đói năm Ất Dậu (Ảnh Võ An Ninh,1945)
Điều vừa bất công, vừa vô lý, là
nạn đói bao giờ cũng chỉ giết chết chính những người
làm ra thóc gạo : người nông dân cùng khổ ! Năm
ấy, chỉ riêng ở hai tỉnh Nam Định, Thái Bình và
mấy tỉnh miền Trung đã có tới 2 triệu người bị chết
đói. Và cái chết của họ đã bi thảm lại càng bi thảm
hơn, vì nó đã diễn ra không phải ở chính nơi chôn
nhau cắt rốn của mình, mà lại là ở những thành phố
xa lạ, nơi họ cố lê gót đến để tìm đường sống.
Ngày đó, không thể nào bảo là những
người dân thành thị đã bàng quan trước cảnh chết
đói của đồng bào mình. Sự thật, thì dân thành thị
phần lớn cũng chỉ là những người xuất thân từ nông
thôn, từ các vùng quê xung quanh lên đây làm ăn
mới chỉ được có một vài đời. Có lẽ không ai đã sớm
quên cái gốc gác quê mùa của mình. Nhưng lúc đó,
quả thực là họ đã bất lực trước một tai hoạ, mà
qui mô đã vượt xa những gì từ trước tới nay họ có
thể tưởng tượng được.
Đây không còn là những người ăn
mày chuyên nghiệp đi xin bố thí như trước kia nữa,
mà là những người dân quê đích thực, vì đói mà phải
rời bỏ thôn làng, lên tỉnh tìm đất sống. Lúc đầu
họ lên các thị xã ở vùng quê mình : Thái Bình, Nam
Định, để rồi cũng chết đường, chết chợ ở đây. Hồi
đó ở Thái Bình, Nam Định, đã diễn ra trước tiên
cảnh người chết ở trên các hè đường và cảnh xe chở
xác đi qua các phố mỗi ngày. Cuối cùng, như tuân
theo một sự thôi thúc bản năng nào đó, họ đã kéo
nhau lên thẳng Hà Nội.
Ngày đó, tôi vẫn còn nhớ, có câu
ca dao không biết từ đâu lan truyền ra trên khắp
các cửa miệng. Bọn trẻ chúng tôi, tuy không hiểu
gì hết về cái ý nghĩa sâu xa, bóng bẩy, của câu
ca dao ấy, nhưng cũng vẫn cứ bó buộc phải học thuộc
lòng :
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương
nhau cùng
Hình như cho mãi đến khi Cách mạng
tháng Tám lên, rồi đến thời kỳ Nam bộ kháng chiến,
câu ca dao ấy vẫn còn hay được truyền tụng trong
dân chúng.
Ngày đó, trước cảnh những người
nghèo đói kéo nhau lên tỉnh để rồi cuối cùng cũng
vẫn chết đói ở đây, bọn các anh chị thanh niên trong
phố tôi, và ngay cả những đứa trẻ mới lên chín lên
mười như chúng tôi, đều rất muốn làm một cái gì
có ích, nhưng rồi cũng không biết làm gì khác hơn
là ngày ngày đi xin cơm của các nhà hàng phố để
đem cho họ. Nhưng rồi cũng chỉ được vài bữa. Cũng
may là sau đó, Đoàn khất thực ra đời, lập đại bản
doanh ở chợ Hàng Da, và lấy nơi đó làm chỗ phát
chẩn. Đoàn khất thực gồm thanh niên nam nữ các phố,
chủ yếu là ở khu Đông thành. Họ làm việc suốt ngày,
quần quật, ở ngay chỗ đống hầm trú ẩn tránh bom
Mỹ-Nhật xây bằng gạch, gần về phía phố Ngõ Trạm.
Nhưng rồi cũng không được bao lâu. Làm sao mà có
thể cứu đói cho hàng vạn người cùng một lúc với
những bát cơm thừa canh cặn ! Và rồi còn những người
ốm đau, không có thuốc chữa, những người chỉ còn
thoi thóp, đang chờ chết !
Những năm tháng trước và sau Cách
mạng tháng Tám dường như đi rất nhanh, nhưng sao
mà súc tích đầy những sự việc ! Chúng tôi sống trong
một bầu không khí sôi nổi, mà sau này không còn
bao giờ tìm thấy lại được nữa.
Nạn đói như một sự cố nằm vắt ngang,
nối liền thời kỳ Tiền khởi nghĩa với thời kỳ Cách
mạng tháng Tám. Nó là một tai hoạ do chính con người
gây nên, đã đổ ập xuống đầu dân ta. Nó là một vết
đen trong tiềm thức và trong ký ức của mọi người.
Nạn đói thực ra đã bắt đầu xuất
hiện ngay từ đầu năm 1943 ở hai tỉnh Thái Bình và
Nam Định, theo những người đã từng ở đây kể lại.
Nguyên nhân chính là do chính quyền bảo hộ cố ý
ngăn cản, không cho chở gạo ở trong Nam ra , điều
mà trước đây họ vẫn để cho làm cho đến năm 1941.
Có nhiều lý do, nhưng chủ yếu vẫn là do lòng ích
kỷ (hại nhân). Cả Pháp, cả Nhật đều lo cho phận
mình trước, dân Việt Nam có chết đói hàng triệu
họ cũng mặc kệ. Không những thế, họ lại còn bắt
dân quê « bán thóc » cho họ với một giá rẻ mạt,
cứ mỗi mẫu ruộng trồng lúa, dù xấu hay tốt, người
dân bó buộc phải bán cho nhà nước từ hai tạ đến
hai tạ rưỡi thóc ! Thêm vào đó, họ còn bắt dân phải
trồng cây công nghiệp (đay, gai cho Nhật ; thầu
dầu cho Pháp, v.v.), thay vì trồng ngô, trồng đậu.
Do đó, người dân quê ở miền Bắc và miền Trung thường
thiếu thóc và thiếu cả ngô, đậu, để ăn.
Kịp đến tháng 10-11 năm 1944, một
trận lũ lụt lớn đã làm cho hầu hết các nơi trên
miền Bắc mất sạch cả mùa màng, dân quê bị đói kém,
trong khi đó lúa gạo ở trong Nam vẫn bị cả Pháp,
lẫn Nhật, thay nhau chặn lại, không cho vận chuyển
ra để cứu đói. Lâm vào bước đường cùng, người dân
quê ở những vùng Thái Bình, Nam Định đã phải kéo
nhau lên Hà Nội để kiếm miếng sống. Hồi đó, tôi
đã từng nghe, có những người mẹ hy vọng bán con
cho những nhà giàu có ở thành thị để cứu lấy chúng.
Có những người mong tìm được chỗ làm thằng xe, con
ở, hoặc làm phu, làm thợ. Mà quả thực là dân Nam
Định, Thái Bình, xưa nay vẫn từng có nhiều người
lên làm ăn sinh sống được ở trên Hà Nội. Dẫu sao,
đối với họ Hà Nội vẫn là cái nguồn hy vọng cuối
cùng.
Từng đoàn người bồng bế nhau, lê
bước trên những con đường quê gập gềnh, khúc khuỷu,
rồi trên quốc lộ số 1, để cuối cùng được đặt chân
lên hè phố Hà Nội. Không biết họ đã phải đi bộ mất
bao nhiêu ngày mới tới nơi ? Vì bình thường, từ
Nam Định đi bộ lên Hà Nội, người khoẻ mạnh và đi
nhanh cũng phải mất đến hai ngày ! Từ Thái Bình
lên thì lại còn xa hơn nữa ! Không lấy gì làm lạ
là đến nơi, thì họ đã hoàn toàn kiệt sức. Nhiều
người đã chết ở dọc đường !
Hồi đó, ngày ngày tôi đi học ở dưới
làng Tương Mai, cách chỗ cuối đường tàu điện Hà
Nội - Bạch Mai một quãng đường dài, phải đi bộ theo
con đường đi về Quỳnh Lôi. Từ mấy năm rồi, nhiều
trường tiểu học ở trên Hà Nội đã phải di chuyển
xuống những làng quanh đây để tránh bom « Mỹ-Nhật
». Chúng tôi ngày ngày chứng kiến cảnh những chiếc
xe bò chở xác người chết đói từ trên Hà Nội đi xuống,
đống xác trần truồng và khô đét bao giờ cũng được
rắc vôi, và được phủ qua loa bằng một manh chiếu
rách. Những chiếc xe xác đi tới chợ Mơ, thì ré về
phía Quỳnh Lôi, nhưng rồi không biết người ta đem
đi chôn vùi ở đâu.
Vào khoảng đầu năm 1945, trên khắp
các hè đường xó chợ ở Hà Nội, chỗ nào cũng có những
người nghèo đói ở thôn quê lên cầu thực, nằm ngồi
la liệt, nhất là ở khu chợ Hàng Da, nơi mà đoàn
Khất thực đã lấy làm chỗ tập hợp những người này
lại mỗi ngày để phát chẩn, như tôi đã trình bày
ở trên.
Số người đi ăn mày, ăn xin, ngày
càng đông. Nạn ăn cắp bỗng nhiên cũng bành trướng
mạnh, và lạ làm sao, các dân anh chị bự thường hoạt
động ở trong Sài Gòn, bỗng nhiên lại thấy xuất hiện
ở ngay giữa Hà Nội ! Tôi còn nhớ kiểu cách đi đứng
rất đặc biệt của mấy tay anh chị này, có một lúc
đã bén mảng đến phố tôi làm ăn, với chiếc nón úp
ở đằng trước ngực. Thế là ở phố tôi đã nảy ra một
phong trào bài trừ kẻ cắp, cùng một lúc với phong
trào tiễu trừ những tên thân Nhật, bọn này thường
dựa vào thế lực của Nhật để ức hiếp dân chúng. Hồi
đó chợ Hàng da chính là nơi đã từng xảy ra nhiều
vụ các anh lớn ở phố tôi trừng trị bọn thân Nhật,
thường vẫn hoành hành ở đây : chúng có thói cân
sai, và cứ vừa đi mua, vừa cướp giật của những người
bán hàng ở chợ. Cùng lúc đó, trong đám thanh niên
phố tôi đã nảy sinh ra phong trào đi học Võ Việt
Nam ở bãi đá bóng Eclair ngoài bờ sông. Các anh
bảo học võ để tự vệ, để « đánh Pháp, đuổi Nhật »,
và vẫn thường bảo chúng tôi : « Các em có muốn đánh
Pháp, đuổi Nhật không ? Nếu muốn thì phải khoẻ !
». Không bao lâu, phong trào đi tập thể dục, tiền
thân của phong trào Khoẻ Vì Nước, đã lan rộng ra
khắp mọi nơi.
Ngày đó, có lẽ cũng do nạn đói,
mà đã nảy sinh ra nhiều hiện tượng lạ. Chuột cống,
xưa nay thường ít nhìn thấy, nay bỗng lần mò lên
tận cửa hàng để kiếm ăn. Có những con chuột to bằng
con mèo, râu ria trông đến hãi, bò lên ngồi lù lù,
nhìn thẳng vào mắt người ta, chẳng sợ hãi gì cả
! Thế là lại nảy bày ra phong trào diệt chuột !
Nhà nào cũng có hai ba cái bẫy đủ loại để giết chuột,
hoặc bẫy chuột sống, rồi sau mới giết, một thú tinh
nghịch của bọn trẻ con chúng tôi, vì lúc bấy giờ
chúng tôi rất ghét chuột. Đồng thời, người ta đồn
rằng nhân bánh cuốn bây giờ cũng làm bằng thịt chuột,
nên chẳng ai còn dám ăn bánh cuốn ở hàng nữa ! Có
lúc lại có cả tin đồn rằng ở dưới Nam Định, Thái
Bình, đói quá, người ta đã ăn cả thịt người ! Thế
là mọi người lại thấy ghê ghê, khi đi ăn phở ở hàng
!
Nhưng trị gì thì còn được, chứ trị
đói lúc đó thì thật là vô phương, vì nó vượt quá
khả năng và phương tiện của các thanh niên công
tử Hà thành, thực ra hãy còn thiếu đủ mọi kinh nghiệm
về mặt tổ chức, và nhất là thiếu hậu cần !
Ở một góc phố tôi, và phố Hàng Bát
Sứ, có một cửa hiệu lâu nay vẫn đóng cửa kín mít,
nay trở thành chỗ tụ hội lý tưởng của những người
ăn mày, ăn xin, thường là những người đã mệt yếu
lắm rồi, không đi được nữa, họ nằm lại đó để sống
thêm được ngày nào hay ngày nấy. Thỉnh thoảng lại
có chiếc « xe nhà thương » đến, chắc để chở một
người ốm đi, hoặc chiếc xe bò đến để bốc xác. Có
những đứa trẻ, người chỉ còn da bọc xương, hai mắt
mở to, trắng dã ; chúng cứ phải nằm nghiêng, vì
đứa nào đứa nấy đều đã bị mắc chứng lòi dom...
Trước những cảnh tượng đau lòng
như thế, dân hàng phố không ai bảo ai, mỗi ngày
mỗi nhà đều dành một phần cơm để phát cho họ và
cho tất cả những người nghèo đi ngang qua phố. Kịp
đến khi Đoàn khất thực ra đời, lúc đó công việc
này mới được tổ chức chặt chẽ hơn, sự phân phát
mới được công bằng, và đồng đều hơn.
Nhưng không được bao lâu, thì không
hiểu sao, Đoàn khất thực cũng ngừng hoạt động !
Nhật đảo chính Pháp (9-03-1945), rồi chính phủ Trần
Trọng Kim lên (17-04-1945), gạo ở trong Nam vẫn
không tải ra được. Có một lúc, người ta đồn là gạo
đã chở ra được tới Đà Nẵng, nhưng rồi bị nghẽn lại
ở đây. Người dân quê nghèo ở các vùng Nam Định,
Thái Bình và mấy tỉnh miền Trung vẫn tiếp tục chết
đói. Chính phủ Trần Trọng Kim đòi được « độc lập
» từ tay người Nhật, nhưng đã hoàn toàn bất lực
trong việc cứu đói này. Và cứ như thế, nạn đói tiếp
tục hoành hành cho đến Cách mạng tháng Tám.
Đối với chúng tôi, những đứa trẻ
mới chưa đầy mười tuổi lúc ấy, nạn đói năm Ất Dậu
dẫu sao cũng là một bài học không thể nào không
ghi nhớ suốt đời, mặc dầu nó chỉ như một tai hoạ
khổng lồ, vượt quá sức tưởng tượng và khả năng giải
quyết của mình. Nó đã chỉ khơi dậy trong chúng tôi
lòng nhân đạo và một nỗi niềm uất hận, bất lực,
nào đó. Nhưng nó không vạch được ra cho chúng tôi
thấy rõ sự vô nhân đạo và sự độc ác của những kẻ
đã gây nên tai hoạ, cũng như sự nhu nhược, vô dụng
của những kẻ cầm quyền lúc ấy, điều mà mãi sau này,
khi nhận thức được những nguyên nhân đích thực của
nó, chúng tôi mới rút ra được những bài học cần
thiết.
Tuy nhiên, trên cái nền phông đượm
một màu ảm đạm và vô vọng đó, đã nổi bật lên một
vài nét chấm phá, một vài sự cố nho nhỏ, đã làm
cho chúng tôi thực sự xúc động và phần nào đã thức
tỉnh chúng tôi.
Một trong những sự cố đó, là một
câu chuyện thương tâm đã xảy ra ngay tại trong gia
đình chúng tôi ngày ấy, và đã làm cho bọn trẻ chúng
tôi vô cùng bất bình và oán hận. Nó chính là một
trong những sự kiện đã làm cho chúng tôi bắt đầu
biết băn khoăn, nghĩ ngợi và tự đặt ra cho mình
những câu hỏi.
Tôi không còn nhớ sự việc đã xảy
ra vào năm nào trong thời kỳ ấy, có thể vào cuối
44, hoặc đầu 45, bởi như tôi đã trình bày ở trên,
thời gian trong những năm ấy đi rất nhanh, nhưng
mặt khác lại như bị dồn nén lại. Dẫu sao, thì sự
việc cũng chỉ có bây nhiêu : trong nhà tôi, một
hôm bỗng nhiên xuất hiện một nhân vật mới, đó là
« thằng xe ». Cái tên gọi này thực ra không xa lạ
gì đối với chúng tôi, vì nhà tôi đã từng có những
« thằng xe ». Ngày đó, gọi một người kéo xe nhà
trong nhà mình bằng « thằng xe », ở ngôi thứ ba,
không có gì là quá đáng cả, vì người ta vẫn thường
gọi như thế. Có nhà, người chủ ý tứ hơn, gọi là
« anh xe », nhưng cũng hiếm lắm. Thường chỉ có những
« kẻ dưới », thấp hèn hơn, như con xen, thằng ở,
thì mới dùng chữ « anh xe ». Dẫu sao, tôi vẫn còn
nhớ rõ khuôn mặt của hắn, khi hắn được nhận vào
làm việc, vì trong nhà tôi dạo đó thiếu người để
kéo chiếc xe nhà đưa ông anh cả tôi mỗi ngày đi
thăm xưởng thợ ở trên Hàng Bún.
Trở lại nhân vật « thằng xe ». Hắn
có khuôn mặt hơi gầy và hơi xanh xao. Chắc hắn cũng
đã từng bị thiếu ăn. Khuôn mặt thoạt trông không
hiền lành cho lắm, nhưng cũng không có vẻ gì là
ác. Nổi bật trên khuôn mặt đó là cặp mắt tinh ranh
và lanh lợi. Sau này tôi còn khám phá ra là hắn
có một cái cười rất kiêu, một cái cười nhếch mép
bất cần đời. Mà hắn kiêu cũng phải, vì hắn có nhiều
tài lắm : ăn khoẻ hơn tất cả những người thợ ở trong
nhà, và rất dai sức khi kéo xe, vật tay cũng một
cây, tài bổ củi của hắn thì không ai bì kịp ! Không
hiểu sao, tôi có thiện cảm với hắn ngay từ đầu,
có lẽ vì tôi cũng hay thích xuống bếp tập bổ củi
chơi, và hắn đă dạy cho tôi mấy ngón làm cho tôi
tiến bộ hẳn lên. Tôi chưa bao giờ thấy ai bổ củi
giỏi như thế ! Mỗi ngày hắn bổ được một đống củi
to tướng. Cái lưỡi búa dày như thế, mà hắn có thể
bổ đúng thớ gỗ để chẻ cây củi ra thành những thanh
mỏng dính, như những que diêm ! Sau mấy tháng làm
việc ở nhà tôi, được ăn uống đầy đủ, hắn như đã
lấy lại được hơi sức, nên lại càng khoẻ thêm, da
mặt đã hồng hào hẳn. Trong nhà thầy tôi (chúng tôi
gọi bố mẹ bằng thầy, u, theo lối nhà quê), lúc bấy
giờ còn nhiều thợ lắm, chưa ai chạy về quê hết,
mà chạy về quê lúc đó thì chỉ có mà... chết đói
! Đó là những người thợ làm đồ da, đồ mộc, đồ sắt,
đồ khâu, tất cả có đến 60 người, toàn là người làng
bên quê nội tôi ở Hà Nam. Họ được đưa lên đây học
nghề với thầy tôi từ nhỏ, sau đó được thu dụng làm
thợ, có lương tháng, và có chỗ ăn, ngủ, ngay trong
nhà. Cũng nhờ thế mà làng tôi, mặc dầu là một làng
rất nghèo, có rất ít ruộng, có lẽ vì thế mà không
trồng lúa, chỉ có mía, lạc, khoai, đỗ tương, và
củ dong, củ giềng, song những năm ấy không có ai
bị chết đói cả. Những tráng đinh thì đã có công
ăn việc làm ở trên Hà Nội hết cả rồi, những người
còn lại ở dưới quê thì ít nhất cũng có những ruộng
dong, ruộng khoai, để ăn. Trong nhà tôi còn có mấy
cô sen, cô vú nữa, cũng là người làng cả. Chỉ có
mỗi mình « thằng xe » là không ai biết gốc gác hắn
từ đâu đến.
Ngày tháng trôi qua, thấm thoát
đã sắp đến Hè. Tôi vẫn ngày ngày, đi học ở dưới
Tương Mai, vẫn ngày ngày ra Bờ Hồ lấy tàu điện,
mẹ tôi ngày ngày vẫn nhét vào trong cặp cho tôi
một bọc cơm nắm muối vừng, hoặc tôm kho, thịt kho,
để ăn vào bữa trưa.
Hà Nội đang sống những ngày khẩn
trương, ít ra là đối với bọn trẻ chúng tôi. Thực
ra chúng tôi cũng chỉ linh cảm mơ hồ rằng sắp xảy
ra một chuyện gì, nhưng cũng không biết là cái gì
! Hàng ngày, đi học, chiều tối về chúng tôi vẫn
tụ tập nhau ca hát và đàn đúm ở ngay ngoài hè phố,
còn thứ Bảy, Chủ nhật, thì nào là tập kịch, nào
là đi ra bãi Septo ở phố Hàng Bột tập thể thao,
hoặc đi bơi trên Quảng Bá, Hồ Tây, v.v.
Hàng ngày, vẫn những cảnh tượng
chết đói trên các hè phố và trên các nẻo đường ngoại
ô. Quân Tàu Tưởng sang tước vũ khí của quân đội
Nhật bản, bây giờ thay chân Nhật và Pháp, vẫn ngày
ngày đến phố nhà tôi mua hàng. Nhưng bọn này khác
với bọn khách hàng Pháp và Nhật, chúng nghèo xơ
xác, làm gì có tiền mà mua, ngược lại chúng lén
lút mang súng ra bán cho các anh ở trong phố. Sau
này, đó là những khẩu súng đầu tiên của các anh
tự vệ phố. Tôi còn nhớ hình dáng rất đặc biệt của
những khẩu Pạc khoọc ...
Thế rồi, bỗng một hôm xảy ra một
chuyện làm kinh động cả nhà : « thằng xe » bị đuổi
! Lý do là vì hắn đã dan díu với một con sen ở trong
nhà và đã làm cho cô này có chửa ! Những chi tiết
khác thì chúng tôi không được biết, nhưng trước
sự trừng phạt nghiêm khắc đó của thầy tôi đối với
hắn, vào lúc đó, bọn trẻ chúng tôi ở trong nhà đều
cảm thấy hết sức là bất bình !
Bẵng đi mấy tuần, một hôm trẻ con
trong nhà bỗng bấm nhau ra gặp « thằng xe » ở ngoài
đường. Tôi hí hửng lén chạy ra, thì thấy hắn ngồi
co gối ở bực cửa một cửa hàng, mặt cúi gằm. Chúng
tôi chào hỏi, hắn cũng chẳng nói gì hết. Tôi để
ý thấy hai chân hắn đã bắt đầu hơi bị phù. Tôi biết
đó là một triệu chứng không hay rồi, vì vẫn nhận
xét thấy hiện tượng này ở những người sắp chết đói.
Chúng tôi bảo nhau đem cơm ra cho hắn ăn mỗi ngày
ở cùng chỗ đó. Nhưng rồi hắn cũng không đến đều
ở chỗ hẹn. Bẵng đi một dạo nữa, hắn mới lại lần
mò đến. Lần này, đầu hắn đã bị cạo trọc, người đã
bắt đầu lở lói. Mặt hắn đã khác hẳn đi rồi, gần
như không còn nhận ra được nữa.
Ít lâu sau, không thấy hắn đến phố
nữa. Hàng ngày tôi ra chợ Hàng Da cố ý tìm, mà cũng
không gặp. Phải chi hắn cứ ở lại phố để cho chúng
tôi nuôi hắn !
Chúng tôi không ai bảo ai đều nghĩ
thầm : chắc hẳn « thằng xe » đã chết đói rồi ! Riêng
tôi, thấy cái chết của hắn thật là vô lý.
Lẽ ra, những người lớn trong nhà,
các anh các chị lớn của tôi phải can thiệp mới phải.
Tại sao lại không để cho hắn quay trở lại làm việc
?
Lẽ ra, thầy tôi chẳng nên đuổi hắn
đi...
Điều này làm tôi cứ băn khoăn mãi.
Lẽ ra những người như hắn phải được hưởng một số
phận tốt đẹp hơn. Về sau nghĩ lại, tôi vẫn thấy
tội nghiệp cho hắn ! Phải chi hắn sống thêm được
vài tháng nữa, ít ra cho đến những ngày tháng Tám
năm ấy !
Văn
Ngọc
Loạn
website!
Cho
đến nay chưa ai thống kê được có bao nhiêu ngàn
website tiếng Việt với đủ các loại thông tin “thượng
vàng hạ cám” đang xuôi ngược trên “xa lộ” Inetrnet.
Việc tạo ra một website rồi tung lên mạng Internet
chưa bao giờ dễ dàng như bây giờ.
Quá...
đơn giản
Hiện nay, sau mỗi chương trình “Tuần lễ khám phá
Internet” do Trung tâm Điện toán và Truyền số liệu
khu vực II (VDC II) tổ chức tại Nhà Văn hóa Thanh
niên TPHCM thì có thêm hàng trăm bạn trẻ học được
cách tạo một website qua “Lớp thiết kế web”. Đây
là chương trình giúp thanh niên tiếp cận với công
nghệ thông tin (CNTT).
Song, không cần tham dự “Tuần lễ khám phá Internet”,
có đến 1.001 cách để học cách làm website. Trước
tiên và cũng là vấn đề quan trọng nhất đối với những
ai muốn có một website: đó là việc tìm một tên miền
(domain name) và một nơi để đặt website trên mạng
Internet (hosting). Với công cụ tìm kiếm Google,
những ai muốn tìm một tên miền và hosting chỉ cần
lên mạng, vào Google, gõ từ khóa free domain name
để tìm tên miền miễn phí hay gõ free hosting tìm
chỗ đặt website.
Lần lượt thực hiện các thao tác
trên, với free domain name, có cả hàng trăm ngàn
tên miền miễn phí và với free hosting cũng cho kết
quả… hào phóng như vậy. (Tuy nói là free nhưng đa
phần chỉ miễn phí được một trong hai, tức là miễn
phí tên miền thì phải trả tiền hosting và ngược
lại). Giới tạo một website với mục đích làm kỷ niệm,
làm diễn đàn cho bạn bè mọi miền đất nước online…
thường chọn kiểu này. Phần còn lại của một website
là thiết kế giao diện, các link liên kết… không
có gì khó khăn vì nguồn sách, tài liệu tự thiết
kế website có đầy ở các nhà sách hoặc trên mạng
Internet.
Trong khi đó, các nhà cung cấp dịch
vụ Internet Việt Nam cũng tung lên Internet hàng
ngàn lời chào đăng ký free domain name, cho thuê
hosting, như ở trang www.vanlang.org, www.VietFirm.com...
Nhưng tên tuổi trong làng cho thuê hosting vẫn là
Công ty Điện toán và Truyền số liệu (VDC) với 3
trung tâm là VDC I (Hà Nội), VDC II (TPHCM) và VDC
III (Đà Nẵng). Còn trong tên miền, Trung tâm Internet
Việt Nam (www.vnnic.net.vn) là nhà cung cấp số một.
Hosting và tên miền ở các nhà cung cấp này được
cho thuê với các điều khoản ràng buộc khá cụ thể,
chỉ rõ trách nhiệm của khách hàng và nhà cung cấp
dịch vụ, nên đối tượng làm website thuê hosting
và đăng ký tên miền ở nhóm này đa phần là những
tổ chức, doanh nghiệp…
Trắng đen lẫn lộn
Đông đảo bạn trẻ đến với lớp thiết kế web do VDC
II tổ chức ở Nhà Văn hóa Thanh niên.
Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như vậy. Hiện nay,
ai không thích chơi với các nhà cung cấp Việt Nam
thì có thể chơi với nước ngoài. Anh V, thành viên
của một website chuyên cung cấp thông tin về thị
trường chứng khoán cho hay: “Chúng tôi đăng ký tên
miền và thuê hosting thông qua một đơn vị chuyên
làm website với giá trên 2 triệu đồng/năm. Server
đặt ở nước ngoài nên các thủ tục cũng khá đơn giản,
không tốn nhiều thời gian”. Đây là một website có
nội dung phục vụ đời sống kinh tế, được nhiều doanh
nghiệp quan tâm.
Gần đây, giới lướt web, nhất là
những người ở độ tuổi làm cha làm mẹ quan tâm đến
www.lamchame.com do đôi vợ chồng trẻ ở Hà Nội tạo
ra. Website này trở thành diễn đàn thu hút gần 5.000
người truy cập/ngày để tìm hiểu, trao đổi về cách
nuôi dạy con cái… Những trang web có nội dung lành
mạnh, bổ ích như vậy rất nhiều, như trang www.vietnamaudio.com
chuyên về âm nhạc; cũng có nhiều website với tính
chất giải trí, kết bạn, như www.timvui.com... Giới
làm cũng như giới lướt web gọi đây là web trắng.
Trong
thế giới web, những website “đen” là những trang
có nội dung đồi trụy… nhiều vô kể và hầu như tất
cả các trang này đều đăng ký tên miền, thuê hosting
ở nước ngoài, cho nên tại Việt Nam, dù cơ quan quản
lý mạng có nhiều biện pháp ngăn chặn nhưng việc
truy cập khá dễ dàng. Tuy nhiên, trong giới làm
website, khái niệm đen trắng cũng còn tùy vào mục
đích của website dùng để làm gì và online được bao
lâu (?). Như www.maitruongxua.com là một trong những
website của cựu học sinh Trường B.T.X (Đà Lạt) được
tạo ra cách đây khá lâu và đến nay vẫn còn online…
ngon lành. Website này hiện có gần 1.000 thành viên
, gồm nhiều diễn đàn, thông tin… đa phần phục vụ
cho việc liên hệ bạn bè.
Trước đây, một sinh viên Trường Cao đẳng Công nghệ
thông tin đã tự tạo nên www.dalatcity.net, thế nhưng
nay truy cập vào thì chỉ còn lại một địa chỉ email
để liên hệ với “chủ” website. Nguyên nhân của chuyện
trên là không ai chăm nom, cập nhật thông tin nên…
tạm “đóng cửa”. Với giới trẻ ngày nay, nhất là những
ai yêu thích CNTT, việc tạo website để “làm của
riêng”, thể hiện khả năng, hay ghi nhớ kỷ niệm nào
đó… là chuyện bình thường. Cho nên, website của
cá nhân hay nhóm bạn “sinh ra” nhiều vô kể và “chết
non” cũng không ít.
Theo thống kê của Trung tâm Internet
Việt Nam, hiện nay tổng số tên miền có đuôi vn là
9.037, điều này cũng tương ứng với khoảng chừng
đó website có đuôi vn (tương ứng vì có một số cá
nhân, doanh nghiệp đăng ký tên miền nhưng chưa làm
website), còn những trang web có tên miền cấp cao
như .org, .net… thì có hàng ngàn. Đây là những website
mà Bộ Văn hóa Thông tin quản lý được. Song con số
này còn rất khiêm tốn so với hàng trăm ngàn website
“vô chính phủ” đang “chạy” trên Internet.
Quản lý kiểu cũ nên bất cập
Sự phát triển nhanh chóng của CNTT cho thấy việc
tạo website rồi tung lên mạng Internet là việc không
mấy khó khăn. Trong khi đó, mãi đến tháng 10-2002,
Bộ Văn hóa Thông tin mới có Quyết định số 27/2002/QĐ-BVHTT
về quy chế quản lý và cấp phép cung cấp thông tin,
thiết lập mạng thông tin điện tử trên mạng Internet.
Quyết định trên đã cho thấy quản lý thông tin trên
mạng Internet không theo kịp sự phát triển của CNTT.
Tức là vẫn quản lý theo kiểu… ngồi chờ, trong khi
lẽ ra phải phát huy nội lực tạo ra nhiều website
lành mạnh, hấp dẫn để chống lại các website độc
hại.
Theo Quyết định số 27/2002/QĐ-BVHTT
thì “Bộ Văn hóa Thông tin (Bộ VH-TT) là cơ quan
thực hiện chức năng quản lý nhà nước và cấp giấy
phép cung cấp thông tin trên Internet (ICP), thiết
lập trang thông tin điện tử trên Internet. Đơn vị
ICP là cơ quan, tổ chức doanh nghiệp được Bộ VH-TT
cấp giấy phép thực hiện việc cung cấp trang thông
tin trên Internet thông qua nhà cung cấp dịch vụ
Internet (ISP)”.
Như vậy “trong lĩnh vực website”,
Bộ VH-TT có quyền quyết định và quản lý được thông
tin trên website nếu ICP sử dụng các dịch vụ của
các ISP tại Việt Nam. Còn hàng chục ngàn website
của cá nhân, nhóm bạn, tổ chức… đang hiện hữu trên
mạng Internet, họ không sử dụng các dịch vụ của
các ISP tại Việt Nam nên vô hình trung Bộ VH-TT
không có quyền và cũng không quyết định trực tiếp
đối với các website này. Trong khi đó các website
này lại thâm nhập một cách dễ dàng vào từng người,
từng gia đình…
Một lỗ hổng trong quản lý thông
tin trên mạng Internet đã hiện ra. Nói một cách
cụ thể hơn, nếu như tất cả những website do các
cá nhân, nhóm người tự tạo cùng đồng loạt tung những
thông tin thất thiệt thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng…
trong khi đó “cây gậy” quản lý của Bộ VH-TT không
thể với tới các server đặt tận… trời Tây. Dĩ nhiên,
chưa có trường hợp nghiêm trọng như vậy xảy ra,
nhưng đây là vấn đề cần sự cảnh báo.
BÁ TÂN ( SGGP)
Chuyện
kể của ông lão viết thư tình ở Bưu điện Trung tâm
Sài Gòn
Bưu
điện TPHCM sáng cuối năm. Vội vã, người ta đến-đi-giao-nhận...
Không khí Tết như đã gần lắm. Chỉ những nhóm khách
nước ngoài chẳng can hệ gì, vẫn nhẩn nha ngẩng cổ
ngắm tòa kiến trúc xây từ 1886 hay thích thú lật
giở những bộ tem xưa. Và không bao giờ quên dừng
bước trầm trồ trước ông già nhỏ thó ngồi nơi góc
sảnh chung, chuyên làm một công việc lạ lùng và
lãng mạn: Viết thư tình cho khách
Làm
công việc lạ lùng ấy có đến hai ông lão như thế,
họ thay phiên nhau hằng tuần thứ hai - tư - sáu
hoặc ba - năm - bảy. Nhờ sự hiện diện của họ, 14
năm nay chiếc băng đỏ trên cánh tay, tấm bảng nhỏ
“Nơi chỉ dẫn và viết giúp” trước mặt, những hướng
dẫn viên du lịch có thêm nhiều điều hơn để nói về
tòa bưu điện cổ này, như thể nó trở nên có hồn,
lãng mạn và bí ẩn hơn nhiều...
Sáng
cuối năm với những lá thư tình.- Người khách đầu
tiên tìm đến bác Dương Văn Ngộ - năm nay 75 tuổi,
một trong hai ông lão viết thư thuê tại bưu điện
này - sáng ấy là một phụ nữ trên dưới 40. Rụt rè,
chị nhờ viết giúp một lá thư làm quen. Anh là người
nước ngoài, hay đến mua hàng nơi quầy của chị. Biết
nhau lâu rồi, “tình trong như đã”..., nhưng không
biết cách mở lời, vì anh không biết tiếng Việt,
còn tiếng Anh thì chị không rành lắm. Ông lão nghe
xong, thẳng thừng... từ chối: “Vậy thì cô phải tự
viết. Vì chỉ cô mới biết hai người đã có những kỷ
niệm gì để nhắc và người đó ra sao để lựa lời”...
Thuyết phục một hồi, ông lão mới đồng ý chị sẽ viết
bằng tiếng Việt, ông chỉ dịch giùm sang tiếng Anh.
Một lá thư tay ngắn, giản dị: Bạn thân mến. Tôi
là... Chúng ta quen nhau đã lâu nhưng không biết
phải nói với nhau cách nào, vậy từ nay tôi sẽ viết
thư nhé. Nếu bạn đồng ý, hãy trả lời bằng thư, tôi
sẽ nhờ người dịch. Chờ hồi âm của bạn”. Ông lão
hỏi lại chị: Dùng đúng chữ “bạn” chứ? Chị cười,
gật đầu, lấy tiền ra trả. Ông lão lại lắc: Thôi
lần này chưa có gì đáng, cô cứ giữ đó. Lần sau nếu
có gì đáng hơn tôi mới lấy tiền. Nhưng chị không
chịu, nhất định nhét lại tờ 5.000 đồng dưới đám
giấy tờ của bác trước khi đứng lên, giấu một ánh
vui trong mắt...
Một phụ nữ ngoài 50 nhờ ông viết giùm địa chỉ để
gửi thư cho chị gái ở nước ngoài, “gửi thế nào thư
đến tận nhà, không phải ra bưu điện lãnh vì chị
ấy bận lắm”. Một phụ nữ khác gửi thiệp cảm ơn cha
xứ bên Đức đã gửi tiền về đóng góp xây nhà thờ của
giáo xứ mình. Địa chỉ của lá thư dường như thiếu
số nhà và tên đường, ông lão kiên quyết không nhận:
Ghi thế này, thư bị trả về tội tôi lớn quá. Nằn
nì mãi, người phụ nữ đành ra photocopy địa chỉ có
sẵn dán vào chỗ “người nhận”, rồi nhờ ông lão viết
lại lần nữa bằng chữ cho chắc ăn. Hai vợ chồng -
vợ Việt, chồng Mỹ-ghé đến gửi thư, người vợ rạng
rỡ chỉ ông lão, giới thiệu với chồng: Người vẫn
giúp em gửi thư cho anh đấy...
Giữa buổi, một phụ nữ tên V. tuổi
chừng ngoài 30 còn xuân sắc, tóc dài, vẻ băn khoăn,
mang đến cho ông lão một lá thư tiếng Anh nhờ đọc
giúp. “V. thân yêu. Tôi đã bị những người thân của
em kết tội, nhưng hãy tin rằng tôi không phải là
người xấu. Cũng có thể em đã quyết định xa tôi,
nhưng tôi thì không bao giờ muốn rời bỏ em. Những
người bạn cũng có thể làm điều tốt cho nhau, vậy
tôi vẫn muốn được giúp em nếu em còn đồng ý”. Nghe
đọc thư xong, V. xin một tờ giấy trắng ra góc khác
viết thư hồi âm. Lúc chị quay lưng lại, tôi nhìn
thấy hai khóe mắt đỏ hoe...
Những lá thư đặc biệt.- 14 năm ngồi
viết thư cho khách, bác Ngộ là cả một pho tư liệu
ly kỳ về mọi cung bậc tình cảm của con người. Ông
giữ lại một đoạn email nhận dịch (không tên tuổi
địa chỉ để giữ bí mật cho khách hàng), có nội dung
đại ý thế này: “Ngày lại ngày, năm lại năm, tóc
mẹ thêm sợi bạc, nhưng nụ cười của mẹ vẫn là sức
mạnh giúp chúng con đi tiếp trên đường đời. Con
cảm ơn mẹ đã cho con được là con của mẹ, được ở
gần bên mẹ. Gửi người mẹ yêu kính nhất của chúng
con!”. Tưởng của một đứa con nào đó dành cho mẹ,
ai ngờ dưới những dòng chữ in đậm này là lời nhắn
của một phụ nữ trẻ với em gái: Em thấy viết vậy
được chưa? Nhờ người - nhớ phải là “cao thủ” - dịch
gấp giùm để chị viết thiệp gửi cho mẹ chồng. Năm
ngoái cũng gửi một tấm, bà cảm động lắm. Có những
chuyện mình nghĩ trong đầu nhưng nói ra không suôn
câu, viết nó hay hơn”.
Có rất nhiều lá thư đặc biệt, như
thế. Vài năm trước, ông được bưu điện đưa cho một
lá thư từ Anh Quốc mà phần địa chỉ người nhận là...
tấm hình của chính ông đang ngồi làm việc tại bưu
điện, kèm theo mấy dòng: Letter writer/ Translator.
Central Post Office - Sài Gòn -Việt Nam (gửi người
viết - dịch thư, Bưu điện Trung tâm Sài Gòn - Việt
Nam). Đó là thư của bà M. Admans, một y tá ở Oxford,
Anh Quốc. Sau khi được ông viết giúp một lá thư
bằng tiếng Việt và nhất định không nhận tiền, dù
không biết tên tuổi địa chỉ, bà đã cảm động viết
thư cảm ơn, kể về bản thân, gia đình, con cái mình,
về cảm giác tuyệt vời đã nhận được từ chuyến đi
Việt Nam, từ con người Việt Nam mà ông là một đại
diện, về cái nghề đặc biệt, cái cách dùng tiếng
Anh rất chuẩn của ông... và gửi... đại. Thế mà lá
thư đã đến, mang cho ông một niềm vui trong vô vàn
niềm vui được là người kết nối mọi người...
Thật ra bác Ngộ - và cả người đồng
nghiệp của bác - không khuôn cho mình cái việc chỉ
viết thư tình. Mọi loại tình cảm đều có thể tìm
đến họ. Có thể cả thư gửi kèm theo hồ sơ. Nhưng
riêng bác Ngộ thì đơn từ dứt khoát không nhận. Chữ
tôi xấu, thời buổi vi tính, máy móc làm đơn, chính
xác và đẹp hơn nhiều. Và không phải thư nào ông
cũng viết. Nhiều trường hợp thích viết thư xin tiền
hay chỉ giả vờ yêu thương để lợi dụng người “ở bển”,
ông bực bội từ chối thẳng thừng. Có những bà sồn
sồn đeo vàng đỏ tay hách dịch lắm. Nhưng cũng có
những người thợ, buôn thúng bán bưng không biết
chữ tới nhờ viết cái địa chỉ, lâu lâu mới dành dụm
gửi được cho gia đình ở quê 300.000 đồng, 400.000
đồng. Trong số họ có cô gái bán rau, cứ gọi ông
là “thầy” và không dám ngồi ngang hàng ông trên
ghế. Những trường hợp đó ông lão không lấy tiền.
Không máy móc điện tử nào thay thế
được.- Sáng ấy trong bưu điện có một chàng sinh
viên cặm cụi ngồi viết thư, kèm theo thiệp Noel.
Hỏi: Vì sao bạn không mail? Anh chàng cười: Khi
muốn gửi cái gì nhanh, tôi dùng mail. Nhưng khi
muốn gửi đi một cái gì thật tình cảm, tôi viết tay.
Bác Ngộ bảo, mùa Noel và Tết này đã viết giùm rất
nhiều thiệp. Có ngày tới 37 tấm thiệp tiếng Anh,
Pháp gửi đi khắp thế giới. Có nhà báo tới hỏi có
biết vì sao người ta không gửi thiệp bằng mail vừa
đủ màu sắc, vừa sẵn, vừa nhanh lại phải nhờ bác
viết thiệp, biết chắc gửi sẽ rất lâu không, tui
nói thiệp điện tử đẹp và nhanh thiệt, nhưng lời
chúc có sẵn, giống nhau, đâm ra ít có hồn. Thiệp
viết tay kèm theo những lời nhắn riêng biệt, có
khi chỉ hai người hiểu với nhau, nó tình cảm hơn
nhiều.
Bác Ngộ đặc biệt tôn trọng những
chi tiết riêng tư, cho nên không bao giờ nhận “bịa”
thư tình. Tức là ai đó phải tự viết, bằng cảm xúc,
tình cảm của mình, mang tới bác chỉ dịch, cho dù
với vốn sống 75 năm trên đời, chắc chắn bác thừa
sức... Có những điều không thể “công nghiệp”, càng
không thể “bịa”. Thí dụ khi người viết thư nhắc
“bộ phim mà chúng ta đã xem chung chủ nhật trước
đó, em vừa xem lại và em thấy nhớ anh” thì kỷ niệm
đó chỉ riêng tư giữa hai người, làm sao bịa, làm
gì có mẫu nào in sẵn? Cho đến khi nào con người
ta còn trao gởi tình thương cho nhau, họ sẽ còn
cần đến những người như chúng tôi . Ông lão 75 tuổi
nói giản dị về cái nghề của mình, hoàn toàn tin
chắc rằng điện tử, công nghệ không thể thay thế
hay xóa sổ những điều thiêng liêng đó.
Gần
xế trưa, chị V. cầm lại chỗ bác Ngộ lá thư mà có
lẽ chị đã đắn đo từng chữ. Một lá thư làm lành.
Có lẽ một ngày giáp Tết, cánh thư sẽ gõ vào một
cánh cửa băng giá bên kia địa cầu. Người đàn ông
nào đó mà tôi không biết tên, chưa biết mặt chắc
sẽ cảm thấy tràn trề nguồn vui sống mới...
“Viết
thư cho người ta mát tay, nhiều đám làm quen rồi
thành, tìm về tận nhà cám ơn ổng. Có người hẹn lấy
nhà tui là nơi trao đổi thư từ, điện thoại luôn
để nhờ ổng dịch giùm. Nhưng ổng thì khô khan lắm.
Chưa bao giờ viết thư cho tui. Hồi xưa thương ổng
nghèo mà chịu khó. Chớ thực ra ổng cũng không giỏi
hung đâu. Bây giờ người ta thương ổng cũng vì cái
tính ổng kỹ, rất trách nhiệm, thành ra ổng hay la
mà người ta không giận, cứ tới tìm là vậy”. Bà Kim
Anh nói vậy về bác Ngộ, chồng mình
Bài và ảnh: Hoài Hương
'Chợ
tình' trên lề đường
Khi
màn đêm buông xuống, những "chợ tình"
trên nhiều lề đường của TP HCM cũng bắt đầu phiên
"họp". Các cô gái trong đủ loại trang
phục, lố nhố đứng ngồi, chào mời khách đi ngang
qua.
Trên
đoạn Nguyễn Thị Minh Khai, quận 1 (từ ngã tư Nguyễn
Thị Minh Khai - Hai Bà Trưng đến khu vực công viên
Tao Đàn), vào lúc 20h xuất hiện những cô gái mắt
xanh, môi đỏ đứng ngồi bên các gốc cây. Hầu hết
họ còn khá trẻ, trên dưới 20 tuổi. Có em quần jean,
áo hai dây nửa hở... nhiều hơn nửa kín, có em váy
ngắn cũn cỡn. Cũng có em muốn tạo dáng vẻ "con
nhà lành" khoác lên người bộ quần tây, áo sơmi
kín đáo.
Dạo bước trên đường Lê Duẩn, quận 1.
21h,
"chợ" bắt đầu nhộn nhịp, những cuộc mua
bán diễn ra công khai. Hai thanh niên cho xe máy
tấp vào, lập tức hai em chạy ra sát đường, cất giọng:
"Đi không anh?". Người thanh niên ngồi
sau hỏi lại: "Bao nhiêu vậy em?". "Anh
đi dù, đi tiếng (một giờ đồng hồ) hay qua đêm? Dù
thì một trăm (100.000 đồng), tiếng trăm rưỡi, qua
đêm chì cho em xin mỗi anh bốn trăm". Về địa
điểm "hành lạc", cô gái chỉ dẫn: "Xuống
bến xe Miền Đông đi anh, ở đó vừa an toàn lại sạch
sẽ nữa". Kỳ kèo khoảng 10 phút, cô gái vẫy
tay một gã xe ôm đậu gần đấy rồi cùng hai thanh
niên phóng vút đi.
Gần
khu vực trên, tại ngã tư Nam Kỳ Khởi Nghĩa - Nguyễn
Thị Minh Khai, phóng viên Ngôi Sao cũng chứng kiến
nhiều cuộc "giao dịch" chóng vánh kiểu
như vậy. Kết thúc bao giờ cũng là cảnh "người
bán" và "người mua" lên xe rồ ga
rồi vọt lẹ...
Đêm
càng về khuya, "phiên chợ" càng đông đúc.
Số lượng các em tới nhập cuộc cũng đông hơn, nhất
là khi vũ trường Phương Đông (trên đường Nguyễn
Thị Minh Khai) đến giờ tan hội (24h). Phần lớn các
em thích tập trung tại khu vực này vì cho rằng dân
đi tìm "hoa đêm" sẽ nghĩ họ là các vũ
nữ của vũ trường sau giờ tan ca, muốn "làm
thêm". Đối với họ vũ nữ dù sao cũng có một
đẳng cấp cao hơn gái đứng đường. Thêm nữa, vũ trường
Phương Đông cũng thuộc dạng "quý tộc"
trong giới ăn chơi Sài Gòn nên "tiếng thơm"
này sẽ được lây. Ngoài ra với vị trí này, các em
có thể vớ được một tay lắm tiền nào đấy hoặc Việt
kiều, là khách của vũ trường.
Theo
tiết lộ của một tay chuyên "chăn dắt gái",
hầu hết các em làm ăn tại khu vực này đều là những
con nghiện thứ thiệt. Có em kiếm một đêm không đủ
để hút chích cả ngày, phải đi vay tiền của đám ma
cô khác. Nợ nần chồng chất, nên các em cố ra sức
"cày" để trả nợ. Nhiều lúc hét giá trên
trời nhưng bị khách kỳ kèo xuống, các em cũng chấp
nhận.
Gái
mại dâm tại khu vực Thị Nghè lại tỏ ra "sang
trọng" hơn cả. Các em không đứng, ngồi dưới
gốc cây hay lề đường, mà cưỡi trên những chiếc xe
máy thời thượng để bắt khách. Họ đi theo tốp, lượn
lờ qua lại trên khúc đường từ ngã ba Nguyễn Văn
Lạc - Xô Viết Nghệ Tĩnh (quận Bình Thạnh) đến ngã
tư Nguyễn Thị Minh Khai - Đinh Tiên Hoàng (quận
1). Hễ thấy thanh niên, đàn ông chạy xe chầm chậm
là họ "bắt nhịp", rồi ra giá. Vì là "gái
xế nổ" nên giá cả có phần cao hơn, nhất là
những em đi "xế xịn". Ẩn hiện trong khu
vực hoạt động của các em này, lúc nào cũng có những
tay "vệ sĩ".
Trên
các khúc đường Lê Duẩn (quận 1), Điện Biên Phủ (khu
vực công viên Lê Văn Tám), Hoàng Văn Thụ (phía trước
công viên Hoàng Văn Thụ), Cộng Hòa, quận Tân Bình,
Ngã tư Lý Thường Kiệt - Tô Hiến Thành..., nhiều
"chợ tình" vẫn miệt mài hoạt động hằng
đêm.
(Theo
Ngoisao

Mời
bạn đọc lại:
Ngày
tết " Ôn cố": Nghĩ về nạn đói năm Ất Dậu
“Săn”
chó dạo
“Bán
mình” qua webcam
Hương thoảng lưng đèo
Lấy vợ kiểu...mua
Gái bi
Đi "chợ ma"
Cà phê 'hộp' Sài Gòn
Thời
"hậu chat"
Bar
thật - Bar giả
Vòng xoáy bida...
Gái "bia" về...làng
“Thiếu gia” Bình Dương và
trò chơi mới
Khoảng tối mẫu nam
Thời...xế hộp
Con đường gieo rắc cái chết
Ký sự về những người Việt
trồng cần sa ở Canada: Vạt cỏ buồn
Bên
trong những góc tối của Net
Hà Nội "overnight"
Những
đạo diễn 'cô đơn'
“Sát
thủ” tâm thần và những giây phút tỉnh táo
Những 'cô gái Attila'
Khi
nàng hút thuốc
Bước
vào thế giới bài bạc ở Phnom Penh
Góc
tối cuộc đời của những người đi biển
Những
mảnh đời nghiệt ngã ở hành lang bệnh viện
Cô
giáo Thảo tái xuất giang hồ
"Lệnh truy nã"
Góc
tối truyện tranh
Karaoke - thiên đường của
dân lắc
Phận
thương hồ…
Điểm
tối của vũ trường và bar
Trần
gian có thứ… thơ đề!
Thanh
Đa - bóng tối ly cà phê
Cà
phê đắng
Sex
"cam"
Thảm
cảnh của những cô gái Việt Nam lấy chồng Đài Loan
Những
cô nàng.... lắc lư!
Đánh
ghen bằng nước mắm
'Đền'
trinh tiết cho chồng
Họ
đang chìm dần trong đêm
Cạm
bẫy chết người

Về
trang chủ

|