18
- TRUYỆN NÚI TẢN VIÊN
Núi Tản Viên ở phía tây kinh thành
Thăng Long nước Nam Việt. Núi cao một vạn hai ngh́n ba trăm trượng, chu vi chín
vạn tám ngh́n sáu trăm vạn (?) Ba núi đứng xếp hàng, đỉnh tṛn như cái tán cho
nên có tên ấy. Theo sách Ai giao châu tự của Đường Tăng th́ Đại Vương núi này là
Sơn Tinh họ Nguyễn, vô cùng linh ứng. Khi hạn hán, lúc lụt lội cầu đảo để pḥng
tai trừ hoạn lập tức có ứng nghiệm. Kẻ thờ cúng hết ḷng thành kính. Thường
thường, vào những ngày quang đăng như có bóng cờ xí thấp thoáng trong hang núi.
Dân trong vùng nói rằng đó là Sơn thần hiển hiện. Khi Cao Biền nhà Đường ở An
Nam muốn yểm những nơi linh tích bèn mổ bụng con gái chưa chồng mười bảy tuổi,
vứt ruột đi, nhồi cỏ bấc vào bụng, mặc áo quần vào rồi đặt ngồi trên ngai tế
bằng trâu ḅ, hễ thấy cử động th́ vung kiếm mà chém đầu. Phàm muốn đánh lừa các
thần đều dùng thuật đó. Biền đem thuật đó để tiến đại vương núi Tản Viên, thấy
Vương cưỡi ngựa trắng ở trên mây nhổ nước bọt vào mà bỏ đi. Biền than rằng:
"Linh khí ở phương Nam không thể lường được.
Cái vượng khí đời nào hết được!" Sự
linh ứng đă hiển hiện ra như vậy đó. Xưa kia đại vương trông thấy phong cảnh núi
Tản Viên đẹp đẽ bèn làm một con đường từ bến Bạch Phiên đi lên phía nam núi Tản
Viên, qua động An Vệ, tới các ngọn nguồn lạch suối đều dựng điện để nghỉ ngơi.
Rồi lại đi qua ria núi đến chỏm núi có mây che th́ định cư ở đó. Đôi lúc rong
chơi trên sông Tiểu Hoàng Giang xem đánh cá, phàm đi qua các làng xóm đều dựng
điện để nghỉ ngơi. Về sau, nhân dân theo dấu vết các điện đó mà lập đền miếu để
thờ cúng. Lại theo truyện cũ ở sách Giao Châu kư của Lỗ Công, tương truyền rằng
Đại Vương sơn tinh họ Nguyễn, cùng vui ở với loài thủy tộc ở đất Gia Ninh, huyện
Phong Châu. Thời vua Chu Noăn Vương, vua Hùng Vương thứ 18 đến ở đất Việt Tŕ,
Châu Phong, lấy quốc hiệu là Văn Lang. Vua có người con gái tên là Mỵ Nương
(cháu gái 27 đời của Thần Nông) có sắc đẹp; Thục Vương Phán cầu hôn, nhà vua
không bằng ḷng, muốn chọn rể hiền. Mấy hôm sau, bỗng thấy hai người, một người
xưng là Sơn Tinh, một người xưng là Thủy Tinh đến để cầu hôn. Hùng Vương truyền
tỉ thí pháp thuật. Sơn Tinh chỉ núi, núi lở, ra vào trong đá không có ǵ trở
ngại. Thủy Tinh lấy nước phun lên không biến thành mây mưa. Vua nói: "Hai vị đều
có phép thần thông, nhưng ta chỉ có một con gái, vậy ai mang sính lễ tới trước,
ta khắc gả cho". Sáng hôm sau, Sơn Tinh mang ngọc quư, vàng bạc sơn cầm, dă
thú... các lễ vật đến tiến, vua y cho. Thủy Tinh đến sau, không thấy Mỵ Nương,
cả giận đem loài thủy tộc định đánh để cướp lại. Vương lấy lưới sắt ngăn ngang
sông huyện Từ Liêm. Thủy Tinh bèn mở một dải sông Tiểu Hoàng Giang từ Lư Nhân ra
Hát Giang, vào sông Đà Giang để đánh ập sau lưng núi Tản Viên. Lại mở ngách sông
Tiểu Tích Giang hướng về trước núi Tản Viên, đi qua Cam Giá, Xa Lâu, Cổ Hào, Ma
Sá ở khoảng ven sông đánh sụt thành cái vũng lớn để mở lối đi cho quân thủy tộc.
Thường làm mưa gió mịt mù, dâng nước lên đánh Vương. Dân ở chân núi thấy thế bèn
cắm một hàng rào thưa để đón đỡ, đánh trống gơ cối, ḥ reo để cứu viện. Thấy rơm
rác trôi bên ngoài hàng rào bèn bắn, thủy tộc chết biến thành thây ba ba thuồng
luồng trôi tắc cả khu sông. Hàng năm vào khoảng tháng bảy tháng tám vẫn thường
như vậy. Dân vùng chân núi hay bị gió to nước lớn, lúa má thiệt hại cả. Người
đời tương truyền rằng đó là Sơn Tinh và Thủy Tinh tranh nhau lấy Mỵ Nương. Đại
Vương được bí quyết trường sinh của thần tiên nên rất hiển linh, đó là vị đệ
nhất phúc thần của nước Đại Việt vậy.
19-
TRUYỆN 2 VỊ THẦN Ở LONG NHĂN, NHƯ NGUYỆT
Năm Thiên Phúc nguyên niên đời Lê Đại
Hành, Tống Thái Tổ sai bọn tướng quân Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng cất quân sang
xâm lược nam phương. Lê Đại Hành và tướng quân Phạm Cự Lượng kéo quân tới sông
Đồ Lỗ cự địch, hai bên đối lđá. Đại Hành mộng thấy hai thần nhân ở trên sông vái
mà nói rằng: "Anh em thần, một tên là Trướng Hống, một tên là Trương Hát, xưa
kia theo Triệu Việt Vương cầm quân chinh phạt nghịch tặc mà lấy được thiên hạ.
Về sau Triệu Việt Vương mất nước, Lư Nam Đế triệu hai anh em thần. Bọn thần v́
nghĩa không thể theo được, uống thuốc độc mà tự tử. Thượng đế thương anh em thần
có công lại trung nghĩa một ḷng, mới phong làm quan tướng trong hàng các thần
linh, thống lĩnh quỉ binh.
Nay quân Tống phạm cơi, làm khổ sinh
linh nước ta, cho nên anh em thần đến yết kiến, xin nguyện cùng nhà vua đánh
giặc này để cứu sinh linh". Vua giật ḿnh tỉnh dậy, mừng rỡ mà bảo cận thần
rằng: "Có thần nhân giúp ta rồi vậy". Bèn lập tức đốt hương ở trước thuyền ngự
mà khấn rằng: "Nếu thần nhân có thể giúp ta làm nên công nghiệp này, th́ xin bao
phong huyết thực muôn đời". Đoạn giết súc vật tế lễ, hóa mũ áo, voi ngựa, tiền
giấy. Đêm ấy Đại Hành mộng thấy hai thần nhân mặc mũ áo vua ban đến bái tạ. Đêm
sau lại thấy một người dẫn đoàn quỉ áo trắng, tự phía nam sông B́nh Giang mà
tới, một người dẫn bọn quỉ áo đỏ từ phía bắc sông Như Nguyệt mà lại, cùng xông
vào trại giặc mà đánh. Canh ba đêm ba mươi tháng mười, trời tối đen, mưa to gió
lớn đùng đùng. Quân Tống kinh hoàng. Thần nhân tàng h́nh ở trên không, lớn tiếng
ngâm rằng: Non sông nước Nam, vua nước Nam ở, Điều ấy đă định rơ trong sách
trời. Nếu như giặc Bắc sang xâm lược, Th́ sẽ bị lưỡi gươm sắc chém tan như chẻ
tre. (Dịch ư) Quân Tống nghe thấy, xéo đạp vào nhau mà chạy tan, lầm giết lẫn
nhau, ai lo chạy thoát thân người ấy, bị bắt không biết bao nhiêu mà kể. Quân
Tống đại bại mà về. Đại Hành trở về ăn mừng, phong thưởng công thần, truá phong
cho hai vị thần nhân, một là Tinh mẫn đại vương lập miếu thờ ở tại ngă ba sông
Long Nhăn, sai dân ở Long Nhăn, sông B́nh Giang phụng thờ, một là Khước mẫn đại
vương lập miếu ở ngă ba sông Như Nguyệt, sai dân ở bờ sông Như Nguyệt phụng thờ,
hưởng huyết thực đời đời, nay vẫn c̣n là phúc thần.
20-
TRUYỆN TỪ ĐẠO HẠNH VÀ NGUYỄN MINH KHÔNG
ông họ Từ tên Lộ, tự là Đạo Hạnh, ở
chùa Thiên Phúc, núi Phật Tích, cha tên là Vinh, làm chức tăng quan đô sát ở
triều Lư, thường qua chơi làng An Lăng, lấy con gái người họ Lỗ tên là Loan,
nhân thế ở lại đó. Lộ tức là con bà họ Lỗ vậy. Thuở niên thiếu, thích giao du
hào hiệp, phóng khoáng, có chí lớn, hành động ngôn ngữ không ai có thể lường
được, thường cùng kẻ nho giả Măi sinh, đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa và người con hát là
Phan ất kết bạn. Đêm th́ mải miết đọc sách, ngày th́ thổi sáo đánh cầu, vui sự
chơi bời. Cha mẹ thường trách là trễ nải, một đêm ghé ḍm qua khe cửa vào trong
pḥng thấy ngọn đèn gần tàn, sách vở chồng chất, Lộ gục xuống án mà ngủ, tay vẫn
chưa rời khỏi sách; do đó cha mẹ không c̣n lo nghĩ nữa. Sau Lộ dự kỳ thi tăng
hương thí, đỗ khoa Bạch Liên.
Không bao lâu, cha dùng tà thuật làm
phật ư Diên Thành hầu, Diên Thành sai Đại Điên thiền sư dùng phép đánh chết, ném
xác xuống sông Tô Lịch. Xác trôi tới cầu An Quyết, đến trước cửa nhà Diên Thành
hầu, hốt nhiên đứng dựng lên ở đấy suốt một ngày không trôi đi. Diên Thành hầu
sợ hăi nói với Đại Điên, Đại Điên đến và hét lên rằng: "Người đi tu không được
phép giận quá một ngày" Dứt lời thây đổ xuống mà trôi đi. Lộ nghĩ việc báo thù
cho cha nhưng chưa nghĩ ra mưu kế. Một hôm, ŕnh Đại Điên ra ngoài, gây sự định
đánh, bỗng nghe thấy trên không trung có tiếng thét ngăn lại. Lộ sợ hăi quăng
gậy mà đi. Muốn sang chùa ấn Quốc cầu phép lạ để đánh Điên, đường đi qua đất rợ
Kim Sỉ (răng vàng) thấy hiểm trở bèn quay về, ẩn cư ở núi Phật Tích, thường ngày
đọc kinh Đại-bi-đà-la, đọc trọn mười vạn tám ngh́n lần. Một hôm, thấy có thần
nhân đến trước mặt mà nói rằng: "Kẻ đệ tử tức là Trấn Thiên Vương, cảm phục thày
có công tŕ kinh nên lại đây để thày sai khiến". Lộ biết là đạo pháp đă thành,
thù cha có thể rửa, bèn thân đến cầu An Quyết, cầm cây gậy chống ở tay ném xuống
ḍng nước chảy xiết. Gậy đi ngược ḍng nước tới cầu Tây Dương th́ dừng lại. Lộ
mừng mà nói rằng: "Phép của ta thắng được Đại Điên rồi!" Bèn đến thẳng chỗ Điên
ở, thấy Điên nói rằng: "Mày không nhớ chuyện ngày trước sao?" Nói rồi nh́n lên
không trung, tịnh không thấy ǵ, bèn đánh liền. Điên phát bệnh mà chết. Từ đó,
thù xưa đă rửa, tục lự nguội dần mới du ngoạn các miền rừng rú để t́m dấu Phật.
Nghe tiếng Kiều Trí Huyền ở đạo B́nh Hóa, bèn cung kính tới bái yết và hỏi về
chân tâm, đọc câu kệ rằng: Lâu ngày bị gió bụi làm đục không thấy rơ được vàng,
Không biết nơi nào mới thực là chân tâm. Mong được nghe lời chỉ giáo để mở đường
phương tiện, Thấy được bồ đề thôi không phải khổ công t́m ṭi (Dịch ư) Huyền đọc
kệ đáp lại: Ngũ âm bí quyết biểu hiện rơ chân kim (vàng thực), Trong đó, đầy
tháng sẽ lộ rơ ḷng thiền. Bát ngát như cát ven sông đó mới thực là đạo Bồ đề,
Hướng tới Bồ đề ngàn sự t́m ṭi đều xa cách. (Dịch ư) Lộ hoang mang chưa hiểu
hết, bèn đi tới chùa Pháp Linh Sơn yết kiến Phạm Hội thiền sư, hỏi rằng "Như thế
nào là chân tâm? ". Phạm nói: "A-nan-cá chính là chân tâm". Lộ bỗng nhiên tỉnh
ngộ, hỏi rằng: "Thế nào là phép hành trụ?" Phạm nói: "Đói th́ ăn, khát th́
uống". Lộ bèn từ mà đi, từ đó phép lực ngày càng mạnh, duyên thiền càng kết. Các
giống rắn núi, thú đồng đến quấn quưt quanh ḿnh. Lộ đốt ngón tay cầu đảo, chú
phép vào nước trị bệnh, không lúc nào không nghiệm. Có vị sư hỏi rằng: "Phải
chăng hành, trụ, tọa, ngọa đều là Phật tâm".
Lộ đọc kệ đáp rằng: Có làm th́ mọi
mối bụi cát đều có, Không làm th́ tất cả đều là không. Có hay không đều như mặt
trăng dưới nước, Vật th́ trông rơ rệt nhưng lại là không. (Dịch ư) Hoặc lại nói:
Mặt trời mặt trăng ra ở đầu núi, Người người đều cháy ra một khối lửa. Người về
có con ngựa nhỏ, Đi bộ mà không cưỡi ngựa. (Dịch ư) Khi ấy vua Lư Nhân Tông
không có con, tháng ba năm Hội tường Đại khánh thứ 3, có người ở phủ Thanh Hoa
nói rằng: "ở băi bể có đứa trẻ kỳ lạ, mới khoảng lên ba, tự xưng là hoàng đế,
lấy hiệu Giác Hoàng, phàm vua làm điều ǵ đứa trẻ ấy cũng biết, đó chính là Đại
Điên hóa sinh". Vua sai quan trung sứ tới xem, thấy đúng như lời nói, bèn đón về
kinh sư, cho ở chùa Báo Thiên. Vua thấy đứa trẻ thông minh, rất lấy làm yêu dấu,
muốn lập làm kẻ kế tự, quần thần đều cố khuyên can là không thể được, và nói:
"Nếu kẻ kia thực là linh dị, tất phải thác sinh ở nơi cung cấm, sau mới có thể
lập được". Vua nghe theo. Bèn mở đại hội bảy ngày đêm cho đầu thai. Pháp Lộ nghe
tin, nói với chị gái rằng: "Đứa trẻ kia là yêu tà mê hoặc người ta quá đáng. Ta
há chịu ngồi yên mà không cứu, để nó làm mê hoặc ḷng người, rối loạn chính pháp
sao?". Nhân sai chị gái giả đ̣ làm người đi xem hội, mật đem mấy tấm bùa của Lộ
treo ở trên rèm. Hội tới ngày thứ ba th́ Giác Hoàng bị bệnh nói với mọi người
rằng: "Khắp biên giới trong nước đều có lưới sắt vây che, tuy muốn thác sinh, sợ
không có lối vậy". Vua nghe có kẻ phá mất bùa chú, bèn sai người đi t́m, quả
nhiên bắt được Lộ ở Hưng thánh lâu, trói lại, họp quần thần lại để xét xử. Vừa
lúc đó Sùng Hiền Hầu đi ngang qua, Lộ năn nỉ nói: "Xin ra sức cứu bần tăng khỏi
phải chịu tội, ngày sau xin ngụ thai trong cung để báo đáp công đức này". Hầu
gật đầu. Sau ngày hội, quần thần tâu với vua rằng: "Bệ hạ vô tự, nên cầu kẻ kia
thác sinh, thế mà tên Lộ cuồng dại dám tự ư giải chú, thật là đắc tội". Hầu tâu
rằng: "Thiết tưởng nếu Giác Hoàng có thần lực th́ tuy có trăm tên Lộ giải chú,
há đâu có hại được ru? Nay lại trái hẳn, Lộ hơn hẳn Giác Hoàng, thần trộm nghĩ
nếu như giết, chẳng thà cho nó thác sinh". Vua bằng ḷng. Lộ đến thẳng phủ đệ
nhà Hầu, nhằm chỗ phu nhân tắm, nh́n khắp cả. Phu nhân giận quá, mách với Hầu.
Hầu vốn hiểu ư, để mặc không hỏi đến. Phu nhân v́ thế có thai. Lộ dặn Hầu rằng
đến lúc phu nhân lâm bồn phải báo cho biết trước. Đến kỳ lâm bồn, Lộ được người
báo tin, bèn tắm rửa thay quần áo, bảo học tṛ rằng: "Mối túc nhân của ta chưa
hết, phải thác sinh lần nữa ở đời, tạm làm đế vương, kíp đến khi già chết làm
nhị thập thiên tử. Nếu thấy thân thể tan ra đất, đó là ta đă thâm nhập vào bùn
đất không c̣n ở trong cơi sống chết nữa".
Học tṛ nghe nói, ai cũng cảm động
sụt sùi. Lộ đọc kệ rằng: Thu tới, không cho chim nhạn báo trước, Cười nhạt mà
nh́n nhân gian đau xót. Khẽ bảo bọn môn nhân chớ nên luyến tiếc, Thày xưa mấy độ
hóa thày nay. (dịch ư) Đọc dứt, nghiễm nhiên mà hóa. Hầu phu nhân bèn sinh con
trai, đặt tên là Dương Hoán. Khi lên ba, vua nhân tông nuôi ở trong cung, lập
làm hoàng thái tử. Nhân Tông băng hà, thái tử tức vị, ấy là vua Thần Tông do Lộ
thác sinh ra vậy. H́nh xác Lộ nay c̣n ở hơm đá trong chùa Thiên Phúc, núi Phật
Tích, huyện Ninh Sơn. Xưa ở làng Đàm Xá, huyện Đại Hoàng (c̣n có tên là Gia
Viễn) đất Trường An có người tên là Nguyễn Chí Thành ở chùa Quốc Thanh, hiệu là
Minh Không quốc sư, lúc ít tuổi đi du học, gặp Đạo Hạnh, học được đạo giáo, trải
hơn mười năm. Đạo Hạnh thấy người tiết tháo bèn truyền tâm ấn, lại đặt tên cho.
Kíp tới khi Đạo Hạnh sắp tạ thế bảo Minh Không rằng: "Xưa tôn sư của ta tu đă
tṛn quả phúc mà c̣n bị cái nạn đao thương quả báo, huống chi ở cái thuở mạt thế
huyền vi này, há có thể tự giữ ḿnh được sao? Ta nay sắp xuất thế, ở cái địa vị
làm thầy người ta, bệnh trái kiếp sau quyết là khó tránh nổi. Ta với người có
duyên, nên cứu giúp nhau". Đạo Hạnh đă hóa, Minh Không trở về chùa cũ cày ruộng.
Hơn hai mươi năm, không có tin tức ǵ. Khi đó Lư Thần Tông bỗng mắc bệnh lạ, tâm
thần rối loạn, tiếng kêu đau đớn gầm rú đáng sợ. Các lương y trong thiên hạ vâng
chiếu mà đến, kể hàng ngàn hàng vạn, đều chịu khoanh tay. Khi ấy có đứa trẻ hát
rằng: "Dục trị thiên tử bệnh, tu đắc Nguyễn Minh Không". (Nghĩa là: Muốn chữa
bệnh nhà vua tất phải t́m Nguyễn Minh Không). Triều đ́nh bèn sai sứ đi t́m được
Minh Không. Minh Không thấy sứ giả đến, trong thuyền có rất nhiều lính chèo
thuyền, muốn dọn cơm chay cho ăn, bèn lấy một cái nồi nhỏ đem cho họ cùng ăn,
bảo họ rằng: "Anh em đông quá sợ không đủ no bụng, tạm ăn vậy". Thế mà bọn lính
chèo thuyền hơn một trăm người cùng ăn cũng không sao hết. Lính ăn xong, sư lại
bảo:
"Anh em hăy tạm ngủ say một lát nữa
đợi nước triều dâng lên ta hăy bắt đầu ra đi". Chúng nghe lời, đều nằm ngủ say ở
trên thuyền. Mới trong khoảnh khắc, thuyền đă trở về tới kinh đô. Bọn lính bơi
chèo tỉnh dậy đều lấy làm lạ. Khi Minh Không đến, các bậc có tiếng là học rộng ở
các nơi đều đang làm phép ở trên điện, thấy Minh Không quê mùa, không thèm chào.
Minh Không bèn lấy một chiếc đinh lớn dài hơn năm tấc đóng vào cột điện, lớn
tiếng nói rằng: "Có nhổ được đinh này hăy nói chuyện chữa bệnh". Nói như vậy hai
ba lần, không có ai dám nhổ. Minh Không bèn lấy hai ngón tay trái mà nhổ, đinh
bật phăng ra. Chúng đều kinh phục. Khi gặp Thần Tông, Minh Không lớn tiếng nói:
"Kẻ đại trượng phu được tôn lên ngôi thiên tử, giàu có khắp bốn bể, cớ sao c̣n
phát bệnh cuồng loạn như vậy?". Vua nghe nói rất run sợ. Minh Không bèn lấy một
cái vạc đựng dầu, đun lên sôi sùng sục, rồi lấy tay khoắng vào bốn lần, rắc vảy
lên khắp ḿnh vua, bệnh tức th́ khỏi hết. Bèn phong Minh Không làm quốc sư, ban
lộc mấy trăm hộ để thưởng công. Năm Tân Sửu, niên hiệu Thái B́nh thứ 22, Minh
Không tạ thế, thọ bảy mươi sáu tuổi.
21-
TRUYỆN DƯƠNG KHÔNG LỘ VÀ NGUYỄN GIÁC HẢI
Thiền sư Dương Không Lộ ở chùa Nghiêm
Quang huyện Hải Thanh, mấy đời làm nghề câu cá, sau bỏ nghề ấy mà đi tu, thường
hay đọc kinh Già-la-ni-môn. Trong các năm Chương Thánh, Gia Khánh đời Lư Thần
Tông thường cùng Giác Hải là đạo hữu cùng ở ẩn đất Hà Trạch quên cả thân ḿnh,
ngoài không đi đến đâu, trong th́ tu thiền định. Bỗng thấy tâm thần tai mắt nhẹ
nhàng sáng sủa, có thể bay lên không, đi trên băng giá, bắt được hổ phải phục,
bắt được rồng phải giáng, vô cùng quái đản người ta không sao lường biết được.
Sau t́m về một ngôi chùa ở quận nhà mà ở. Một hôm người hầu bẩm rằng: "Mỗ tự khi
tới đây chưa hề được thầy chỉ giáo về những điều tâm yếu, dám xin tŕnh thơ
rằng: Rèn luyện thân tâm cho được tinh vi, Hăm hở xoay lại đối diện với nghiêm
đ́nh. Có người tới học không không pháp, Ḿnh ngồi bên chiếc b́nh phong, ảnh với
h́nh hợp làm một". (Dịch ư) Sư bèn bảo rằng: "Nếu con đi đường bộ mà tới, ta
tiếp dẫn con, nếu con đi đường thủy mà tới, ta trao cho con. Chẳng có chỗ nào mà
ta không truyền cho con cái đạo tâm yếu". Nói xong, ha hả cười lớn. Thường hay
đọc câu kệ rằng: Địa thế long xà chọn được nơi Đồng quê cảnh thú suốt ngày vui,
Có khi dời bước non cao trót
Một tiếng kêu to lạnh cả trời (Dịch
ư) Ngày 3 tháng 6 năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hội Tường đại khánh thứ mười th́ tịch,
môn nhân thu xác táng ở cửa chùa. Vua hạ chiếu cho sửa rộng chùa này, quyên hai
mươi hộ phụng hương hỏa. Thiền sư Giác Hải họ Nguyễn, người Hải Thanh, ở tại
chùa Diên Phúc quận nhà. Thuở nhỏ thích câu cá, thường lấy thuyền con làm nhà,
lênh đênh trên mặt nước. Năm hai mươi lăm tuổi bỏ nghề ấy, cắt tóc đi tu, lúc
đầu cùng Thiền sư Không Lộ thờ một thày ở chùa Hà Trạch. Thời Lư Nhân Tông, sư
thường cùng Thông Huyền chân nhân được triệu vào ngồi hầu ở chùa Liên Mộng, đất
Lương Thạch. Bỗng một hôm có đôi cắc kè gọi nhau, nhức tai điếc óc. Vua truyền
Thông Huyền ngăn nó lại, Huyền lặng nhẩm thần chú, một con rơi xuống trước. Vua
cười bảo: "Hăy c̣n một con xin để nhường nhà sư". Sư đọc thần chú, trong nháy
mắt con c̣n lại cũng rơi xuống nốt. Vua kinh lạ, làm thơ rằng: Giác Hải ḷng như
bể Thông Huyền đạo cũng huyền, Thần thông thêm biến hóa, Một Phật, một thần tiên
(Dịch ư) Từ đó, danh tiếng sư vang động thiên hạ, các vị tăng cùng kẻ tục đều
ngưỡng vọng. Vua thường lấy lễ thầy tṛ mà đăi sư, mỗi khi hạ giá tới hành cung
ở Thanh Hải, tất trước tới thăm chùa. Một hôm vua bảo sư: "Cái đạo ứng chân thần
túc có thể cho nghe được không?".
Sư bèn đọc kinh tám lần, bay vút lên
không, cách xa đất năm trượng, bỗng lại rơi xuống. Vua cùng quần thần đều vỗ tay
xưng tán, ban cho chiếc kiệu để ra vào nơi cung cấm. Tới triều vua Thần Tông,
mấy lần vua triệu vào kinh thành, sư 127 128 Prev Page 16 Next đều lấy cớ già yếu không đi. Có vị sư
hỏi rằng: "Phật và chúng sinh, ai là chủ ai là khách?". Sư bèn đặt câu kệ rằng:
"Đầu ta đă bạc, bảo ta là lăo khách, nếu hỏi tới những điều về đạo Phật th́ ta
cũng chỉ như con cá nhỏ không vượt khỏi cửa rồng, đến nỗi trán bị chấm dấu. (Dịch ư) Lúc sắp tịch, bèn làm bài kệ
cáo chúng như sau: "Xuân tới, chính là thời tiết rất quen thuộc đối với bướm
hoa. Hoa bướm cũng phải lựa theo thời tiết. Hoa bướm xưa nay vốn là mộng ảo. Cớ
sao cứ phải giữ măi chuyện bướm hoa trong ḷng." (Dịch ư) Đêm ấy có ngôi sao lớn
rơi ở góc tây nam phương trượng. Sáng hôm sau, sư ngồi ngay thẳng mà tịch. Vua
xuống chiếu quyên 30 hộ phụng thờ hương hỏa, phong hai con làm quan để thưởng
công.
22-
TRUYỆN HÀ Ô LÔI
Năm Thiệu Phong đời Trần Dụ Tông có
người làng Ma La là Đặng Sĩ Doanh làm chức An phủ sứ phụng mệnh sang Bắc quốc.
Vợ là Vũ thị ở nhà, trong làng có đền thờ thần Ma La, đêm đêm thần biến thành Sĩ
Doanh, thân thể h́nh dạng, dáng điệu đi đứng đều bắt chước hệt như Sĩ Doanh,
nhập vào pḥng Vũ thị để tư thông, lúc gà gáy lại bỏ đi. Đêm hôm sau Vũ thị hỏi:
"Phu quân phụng mệnh sang sứ Bắc, sao đêm đêm th́ về mà ngày lại không thấy?"
Thần nói dối rằng: "Vua đă sai người khác đi thay, để ta hầu bên tả hữu, thường
giữ ta đánh cờ không cho ra ngoài. Song ta nhớ t́nh vợ chồng nên lén về với nàng
để cùng ân ái. Sáng sớm lại phải vội vă nhập triều, không dám ở lâu, nghe gà gáy
lại đi". Vũ thị có ư ngờ vực. Năm sau Sĩ Doanh đi sứ về, Vũ thị có thai đă đầy
tháng.
Sĩ Doanh tâu lên vua, Vũ thị bị hạ
ngục. Đêm vua nằm mộng thấy một vị thần tới trước mặt tâu rằng: "Kẻ hạ thần là
thần Ma La lấy vợ đă có mang, bị Sĩ Doanh tranh mất con". Vua tỉnh mộng, hôm sau
ra lệnh cho ngục quan đem Vũ thị tới, phán rằng: "Vợ giả cho Sĩ Doanh, con giả
cho thần Ma La". Ba hôm sau, Vũ thị sinh ra một bọc đen, nở được một con trai,
da đen như mực. Năm mười hai tuổi đặt tên là Hà ô Lôi. Hà tuy đen như sơn, nhưng
da thịt bóng mỡ như cao. Năm mười lăm tuổi, vua triệu vào hầu, được rất mực yêu
dấu, đăi như tân khách. Một hôm ô Lôi đi chơi ở Hồ Tây, gặp Lă Động Tân, Lă hỏi
rằng: "Chú bé con kia có muốn ǵ chăng?". Đáp: "Đương lúc thiên hạ thái b́nh
quốc gia vô sự, coi phú quư như phù vân, chỉ ham muốn thanh sắc để làm vui tai
đẹp mắt mà thôi". Động Tân cười nói: "Thanh sắc của ngươi mất một, được một,
song tên tuổi có thể lưu lại cho đời". Rồi bảo ô Lôi há miệng, nhổ nước bọt, bảo
nuốt, sau đó bay lên trời mà đi. Từ đó, ô Lôi tuy không biết chữ nhưng thông
minh, lém lỉnh, thường hay trêu ghẹo vương nhân, những câu từ chương thi phú,
khúc điệu ca ngâm, giao xướng phúng vịnh, trào phong lộng nguyệt đều khiến mọi
người kinh ngạc, đàn bà con gái ai cũng muốn biết mặt. Vua thường nói với triều
thần rằng: "Sau này thấy ô Lôi gian phạm tới nhà ai, bắt tới trước điện sẽ được
đền ngh́n quan, nếu giết chết phải bồi thường ngh́n quan". Hồi ấy ở làng Nhân
Mục có vị quận chúa thuộc ḍng tôn thất, tên là A Kim, tuổi vừa 23, chồng chết
sớm ở góa, nhan sắc có một không hai. Vua rất yêu, gạ gẫm không được thường lấy
làm giận, một lần bảo ô Lôi rằng: "Ngươi có kế ǵ cho ta được vui ḷng chăng?".
ô Lôi tâu: "Thần xin ra hạn một năm, nếu không thấy về là sự không thành, thần
đă chết". Bèn bái từ mà đi, về nhà cởi bỏ hết quần áo, dằm dưới bùn, dầu dăi
nắng mưa cho xấu xí, rồi mặc quần vải giả làm người chăn ngựa gánh một đôi sọt
tre đến nhà quận chúa, lấy một gói trầu cau đút lót cho tên giữ cổng để xin vào
vườn cắt cỏ. Tên giữ cổng cho vào. Hồi đó vào khoảng tháng 5, tháng 6, hoa thái
lê đang đua nở, ô Lôi đem cắt hết cho vào trong gánh. Tên thị t́ của quận chúa
thấy hoa trong vườn hết sạch, hô trói ô Lôi để đợi gia chủ đến chuộc. Giữ quá ba
ngày không thấy có người đến nhận, thị t́ bèn hỏi: "Mày là gia nô nhà ai, sao
không thấy người đến chuộc và đền hoa trong vườn?". ô Lôi đáp: "Tôi là kẻ phiêu
bạt, không có gia chủ, không có cha mẹ, thường gánh đồ theo bọn con hát kiếm ăn,
hôm qua thấy một vị quan quất ngựa đi ở phía nam thành, ngựa đói không có cỏ,
chủ ngựa cho tôi 5 đồng sai đi cắt một gánh cỏ. Tôi mừng được tiền vội đi cắt
cỏ, không biết hoa thái lê là vật ǵ, nay không có ǵ đền xin đem thân làm gia
nô để bồi thường vậy". Bèn lưu ô Lôi ở cổng ngoài. Qua hơn một tháng, thị t́ của
quận chúa thấy ô Lôi đói khát bèn cho ăn uống. Đêm đêm ô Lôi thường ca hát cho
người giữ cổng nghe, bọn thị t́ và nội thị cũng đều lắng nghe. Một hôm trời tối
đă lâu mà đèn chưa thấy thắp, quận chúa ngồi ṃ một chỗ, tả hữu không kẻ hầu hạ.
Quận chúa gọi thị t́ mà mắng, lại cầm roi toan đánh. Chúng thị t́ cúi đầu tạ tội
rằng: "Chúng con nghe tên cắt cỏ hát trong ḷng ham say, không ngờ để đến nỗi
này, quận chúa đánh đ̣n cũng xin cam chịu". Quận chúa thôi mà không hỏi tội nữa.
Lúc đó đang giữa đêm hè, quận chúa cùng thị t́ ngồi ở giữa sân, ngóng gió đùa
trăng để tiêu khiển. Bỗng cách tường nghe thấy tiếng hát của ô Lôi thoảng như
điệu ca người câu cá, khác hẳn âm thanh chốn dương gian, tâm thần mê mẩn, t́nh
riêng xúc động, bèn vời ô Lôi vào nhà trong cho hầu ở tả hữu, thành đứa gia nô
thân cận. Quận chúa thường bảo ô Lôi ca vịnh ngâm xướng để tiêu mối sầu u uất. ô
Lôi nhân đó hết ḷng hầu hạ, quận chúa càng yêu mến tin cậy, ngày cho ở dưới
trướng, đêm cho khêu đèn ngồi hầu. Khi th́ sai ca hát, giọng ca bay khắp trong
ngoài, quận chúa quá cảm động mà mang bệnh u uất. Qua ba bốn tháng, bệnh càng
trầm trọng. Thị t́ hầu hạ lâu cũng mệt nhọc mà mang bệnh, trong cơn bệnh lại
thường ngủ say, quận chúa gọi cũng không dậy. Duá có một ḿnh ô Lôi ở lại hầu
hạ, quận chúa không nén nổi t́nh, mật bảo ô Lôi rằng: "Ngươi ở cạnh ta, ta v́
giọng hát của ngươi mà mang bệnh". Bèn cùng ô Lôi tư thông, bệnh t́nh cũng có
bớt hơn. T́nh yêu ngày càng mặn mà, quận chúa chẳng kể ǵ đến h́nh dáng xấu xí
của ô Lôi, không c̣n tiếc ǵ nữa, muốn đem hết ruộng đất cho ô Lôi làm trang
trại. ô Lôi nói: "Thần vốn không có nhà cửa, nay được gặp quận chúa là bậc thiên
tiên, đó thực là điều phúc lớn của thần. Thần không cần điền trạch, châu báu chỉ
muốn được đội chiếc mũ vào triều của quận chúa th́ chết cũng được nhắm mắt".
(Chiếc mũ đó là vật tiên đế ban cho, chỉ dùng trong lúc tiến triều. Quận chúa v́
quá yêu ô Lôi không c̣n tiếc ǵ hết). ô Lôi được mũ bèn lẻn mang vào triều.
Vua trông thấy cả mừng, tức tốc sai
vời quận chúa vào chầu, bảo ô Lôi đội chiếc mũ kia đứng hầu bên cạnh. Vua hỏi
quận chúa: "Có biết ô Lôi không? " Quận chúa lúc ấy rất xấu hổ. Đời bấy giờ có
bài thơ quốc ngữ rằng: Chỉn đà náu đến xin làm tôi, Đành hay thiên tiên phúc để
Lôi. Từ đó danh tiếng ô Lôi vang lừng thiên hạ, vương hầu mỹ nữ thường bị Lôi
trêu ghẹo. Có câu thơ quốc ngữ rằng: Mang mang mặt mắt cháy ma lem, Kẻ chợ khát,
người qua mới thèm. Nhẫn có hoàng kim thanh sắc ấy, Mang mang mặt mũi thế soi
xem. Tuy người đời làm thơ ghẹo ô Lôi, nhưng vẫn v́ bị thanh sắc cám dỗ mà không
thể tránh ô Lôi được. ô Lôi thường tư thông với con gái các nhà vương hầu mà
không ai dám đánh, sợ vua bắt bồi thường. Sau ô Lôi tư thông cả với con gái
trưởng của Minh Uá Vương. Vương bắt được song chưa đem giết vội. Sáng hôm sau,
Vương vào chầu vua, tâu rằng: "Đêm qua ô Lôi lẻn vào nhà thần, tối như bưng
không rơ trắng đen nên thần đă giết chết mất rồi, nay xin bệ hạ cho biết phải
đền mấy ngh́n quan để thần tiến nạp". Vua không biết là ô Lôi c̣n sống, phán
rằng: "Lỡ giết th́ ta chẳng chấp nệ làm ǵ". Hồi ấy v́ hoàng hậu Vi Từ là em
ruột Minh Uá Vương, cho nên vua không hỏi cặn kẽ. Uá Vương về lấy trượng đánh
Lôi, Lôi không chết, Vương bèn lấy chày giă chết. Khi sắp chết, ô Lôi có ngâm
câu thơ quốc ngữ rằng: Sinh tử do trời có quản bao, Nam nhi miễn đă được anh
hào, Chết v́ thanh sắc cam là chết, Chết việc ốm đau cơm gạo nào. Lại nói: "Xưa
Động Tân bảo ta rằng: thanh sắc của ngươi được mất bù nhau, lời ấy nghiệm thật".
Nói rồi bèn chết.
23-
TRUYỆN TƯỚNG QUÂN HỌ CAO Ở VŨ NINH
Tướng quân họ Cao tên Lỗ, là người
huyện Vũ Ninh. Thời An Dương Vương, tướng quân được vuốt thần kim quá bèn chế ra
nỏ Linh Quang thần cơ, cứ đem nỏ ra chĩa vào quân giặc là chúng không dám đến
gần. Tướng quân từng nhiều lần đánh lui được giặc lập nên công lớn sau bị Lạc
hầu dèm pha rồi trừ bỏ. Khi Cao Biền dẹp quân Nam Chiếu trở về, qua châu Vũ
Ninh, tới một chỗ, đêm nằm mộng thấy có một dị nhân ḿnh dài chín thước, diện
mạo cương nghị, búi tóc, mặc áo đỏ, tự xưng họ tên mà nói rằng: "Ta ngày trước
pḥ tá An Dương Vương, giết giặc lập đại công, bị Lạc hầu dèm pha mà trừ bỏ. Sau
khi ta chết, thượng đế thương t́nh vô tội, một ḷng trung liệt nên phong cho làm
Quản lĩnh đô thống tướng quân ở một giải sơn hà này.
Phàm việc chinh phạt giặc cướp và cày
cấy nông tang ta đều đứng chủ trương. Ngày nay, ta theo ngài dẹp yên nghịch tặc,
thiên hạ lại được yên ổn. Ngài trở về bản bộ, nếu không cáo tạ là trái lễ đó!".
Biền lấy làm lạ, hỏi v́ cớ ǵ mà Lạc hầu ghen ghét. Dị nhân đáp: "Việc uẩn khúc,
không tiện tiết lậu". Biền nài hỏi mấy lần nữa. Đáp: "An Dương Vương là tinh
phượng vàng, Lạc hầu là tinh vượn trắng, phượng và vượn tương hợp, cùng với rồng
tương khắc, v́ thế mà ghen ghét". Nói xong cưỡi mây mà đi. Biền tỉnh mộng, bụng
c̣n ghi tên Vũ Ninh, bèn nói cho bộ hạ biết và tự ngâm câu thơ rằng: Đẹp thay
cảnh Giao Châu, Dằng dặc ngàn năm lâu. Thần xưa rày được gặp, Quyết chẳng phụ
ḷng nhau. (Dịch ư) Lại ngâm rằng: Trăm Việt vững phong cương, Ba quân dẹp chiến
trường. Thần tiên phù chính nghĩa, Muôn năm vững triều Đường. (Dịch ư) Kẻ theo
hầu là cao Viên chúc mừng Biền rằng: Kiên cố non sông Việt, Thanh tân nhân vật
Đường. Họ Cao cao chí khí Phù trợ có Long Vương. (Dịch ư) Nam Việt non sông đẹp,
Long thần khí phách kinh, Người Giao đừng cau trán, Nay lại thấy thăng b́nh.
(Dịch ư) Cao Biền bèn gia phong mỹ tự cho thần -nay là Đại Than Đô Lỗ thạch
thần, quanh năm hương lửa không dứt. Đền Vũ Ninh tức là đền Gia Định, có một
hang đá ăn sâu vào Đại Than, hang đó do Long Vương đào ra. Nước trong hang xoáy
mạnh có thể xoay lật thuyền bè qua lại. Hễ người nào vào lễ đền trước rồi đi qua
hang th́ được vô sự. Đời Trần, thần được phong làm Quả Nghị cương chính uá huệ
chính thần đại vương. Đền thường gọi là đền Đô Lỗ, ở xă Đại Than, huyện Gia
Định. C̣n một đền nữa ở thôn Tráng Liệt, xă Phúc Cầu, huyện Đường An.
24-
TRUYỆN THẦN SÔNG BẠCH HẠC
Thần sông Bạch Hạc rất linh hiển.
Khoảng các năm Vĩnh Huy đời Đường Cao Tông, Lư Thường Minh làm chức đô hộ đất
Phong Châu thấy khoảng đất này kéo dài tới ngàn dặm, có sông núi vây quanh, bèn
xây Đạo Thánh linh quán ở ven sông Bạch Hạc, đặt tượng Tam Thanh ở trong quán để
phụng thờ. Lại xây hai ngôi am ở phía trước và phía sau quán, muốn tạc tượng thờ
nhưng không biết tạc tượng ai, bèn thắp hương mà khấn rằng: "Vị thổ thần ở đây,
nếu như linh ứng th́ mau hiện rơ t́nh trạng để ta theo đó mà tạc tượng đặt ở am
trước". Canh ba đêm ấy, mộng thấy có hai dị nhân, diện mạo hùng vĩ, phong tư
nhàn nhă đều mang theo quân hầu, trước ḥ sau hét đi lại phía Thường Minh, tranh
nhau chiếm am trước. Thường Minh hỏi rằng: "Các ông họ tên là ǵ? Xin cho ta
được rơ để tiện phụng thờ".
Hai người riêng xưng tên họ, một tên
là Thạch Khanh, một tên là Thổ Lệnh. Thường Minh xin đọ tài nghệ, nếu ai thắng
sẽ ở am trước. Thạch Khanh ứng tiếng mà chạy, mới tới bờ sông đă thấy Thổ Lệnh ở
cạnh sông từ trước rồi. Thường Minh theo giấc mộng căn cứ ở h́nh dạng mà sai thợ
tạc tượng. Thổ Lệnh được ở am trước. Thần uá linh hiển hách người trong châu đều
kính sợ, hương lửa cúng thờ. Thần là vị phúc thần của ba con sông. Phàm cầu đảo,
đều rất ứng nghiệm. Đời Trần phong làm Trung Dực vơ liệt phụ quốc hiển uá vương.
Chùa này ở ngă ba sông Bạch Hạc, ở sông Bạch Hạc có một đoạn mấy chục trượng có
giống cá anh vũ. Về mùa đông, dân chài thả lưới vớt cá. Trên dưới khúc sông ấy
đều không có giống cá này, cá anh vũ cũng giống như loài cá chép, mùi vị thơm
ngon, rất tiện để làm gỏi, chả, thuộc loại thực phẩm thượng hạng. Người bắt được
đều mang tiến vua, cấm đem ra mua bán.
25-
TRUYỆN THẦN CHÍNH KHÍ LONG ĐỖ
Đời Đường, Cao Biền sang đóng ở nước
ta, chiếm phủ, xưng vua, đắp thêm La Thành. Vừa đắp xong, một buổi sáng sớm,
Biền dạo xem phía ngoài cửa đông thành, bỗng nhiên trời nổi mưa to gió lớn, thấy
mây ngũ sắc từ dưới đất dâng lên, ánh sáng lóe mắt. Một dị nhân mặc áo màu sặc
sỡ, trang sức trông kỳ vĩ, cưỡi con rồng đỏ, tay cầm giản vàng, lơ lửng trong
mây khói, khí thế ngùn ngụt, bay lên lượn xuống hồi lâu mới tan. Biền kinh ngạc,
cho là ma quỷ, muốn thiết đàn để cúng. Đêm ấy, mộng thấy có thần nhân đến nói
rằng: "Xin ông đừng có bụng nghi ngờ, ta không phải là yêu khí đâu. Ta chính là
Long Đỗ Vương chính khí thần, v́ muốn xem kỹ thành mới mà hiện ra đó thôi!" Biền
tỉnh dậy. Sáng hôm sau họp quần thần, than rằng: "Ta không khuất phục được người
phương xa chăng? Đến nỗi để cho loài ngoại quỷ ḍm ngó điều không hay của ḿnh
ru!". Có người khuyên lập đàn, và dùng ngh́n cân sắt đúc tượng theo h́nh dạng
thần nhân để làm bùa yểm. Biền y theo kế đó. Vừa đọc thần chú bỗng trời đất mù
mịt ngày đêm, mưa gió giật đùng đùng, tượng sắt nát vụn ra mà bay lên không.
Biền sợ hăi, có ư muốn về phương Bắc. Người đời lấy làm lạ, bèn lập chùa ở mạn
phía đông kinh thành. Về sau, Lư Thái Tổ dời đô ra đây, xây dựng phủ thành, lại
mộng thấy thần nhân tới chúc mừng.
Vua nói: "Người chắc được hương lửa
trăm năm chăng?" Đáp: "Mong thánh thượng được trường thọ ức vạn năm, thần đâu há
chỉ được hưởng trăm năm hương lửa!". Vua tỉnh dậy, sai giết súc vật để tế, lại
phong làm Thăng Long thành hoàng đại vương. Thời ấy, ở cửa đông có mở chợ buôn
bán, đền thần kéo liền một dăy phố dài. Phố thường bị hỏa hoạn, gió dữ thổi cháy
rất nhiều, duá có đền là vẫn y nguyên không bị lửa bén tới. Vua lại gia phong
cho hưởng lộc, các buổi lễ nghênh xuân đều cử hành tại đây. Ba lần hỏa tai mà
vẫn không bị cháy. Đời Trần phong làm Thuận Dụ tự ứng đại vương. Chùa ở phường
Hà Khẩu huyện Thọ Xương nay gọi là đền Bạch Mă.
26-TRUYỆN
QUỐC SƯ XÂY ĐỀN SÓC THIÊN VƯƠNG
Thời Lê Đại Hành, Khuông Việt thái sư
Ngô Chân Lưu thường lưu lạc tới làng B́nh Lỗ, mến thích phong cảnh thanh u đẹp
đẽ ở đây, bèn dựng một ngôi am mà ở. Đêm, vào lúc canh ba, sư mộng thấy có vị
thần đeo qua vàng, cưỡi ngựa sắt, tay trái cầm cây thương vàng, tay phải cầm bảo
kiếm, theo sau tới hơn mười người, diện mạo đáng sợ, tới mà nói rằng: "Ta là Tỳ
Sa Môn đại vương, kẻ theo sau đều là thần Dạ Xoa. Thiên đế có sách sai ta tới
Bắc quốc để bảo hộ hạ dân ở đó. Ta vốn có duyên với ngươi, cho nên tới báo để
ngươi biết". Thái sư kinh hoàng tỉnh dậy, nghe thấy trong núi có tiếng thét,
trong ḷng vô cùng sợ hăi, bèn thân vào núi, thấy một cây lớn có mây lành vây ở
trên bèn sai thợ tới đốn để tạc tượng thần như h́nh dạng trông thấy trong mộng,
rồi lập đền thờ, hương lửa cúng vái. Năm Thiên Phúc thứ nhất, quân Tống vào ăn
cướp, bên ta sai quân tới đền cầu khẩn. Khi ấy, quân Tống đóng ở thôn Tây Kết,
hai bên chưa giao chiến, quân Tống trông thấy đă kinh hăi lui về giữ Đại Giang,
lại gặp lúc sóng nổi cuồn cuộn, giao long nổi lên mặt nước, quân giặc tan vỡ.
Vua cảm sự anh linh của thần, bèn xây thêm miếu vơ, phong làm Sóc Thiên Vương để
trấn phương bắc. Đền ở xă Vệ Linh, huyện Kim Hoa, thường xuyên phụng thờ không
bao giờ ngớt. Có người cho rằng Đổng Thiên Vương sau khi dẹp được giặc, cưỡi
ngựa sắt tới cây đa núi Vệ Linh th́ lên trời, chỉ để lại một cái áo. Tới nay
người đời gọi cây này là "cây thay áo". Phàm khi thờ cúng, chỉ dùng những đồ
chay tịnh. Tới triều Lư, để tiện thờ cúng, mới xây đền vũ ở phía đông Tây Hồ để
trấn phương bắc, lại tôn làm phúc thần, nay là phường Nhật Quả Tây Hồ vậy.
27-
TRUYỆN ĐỀN THỜ HOẰNG THÁNH ĐẠI VƯƠNG
Hoằng Thánh đại vương chính là Phạm
Cự Lượng ở triều vua Lê Đại Hành. Cự Lượng người Nam Sách, ông nội Lượng là
Chiêm làm chức Đồng Giáp tướng quân nhà Ngô, bố Lượng là Mạn, làm chức tham
chính đời Ngô Nam Tấn Vương, anh Lượng là Dinh làm chức vệ úy tướng quân đời
Đinh. Khi vua Đinh c̣n thơ ấu, quân Tống sang xâm lược, Đại Hành nắm mọi quyền
binh. Đinh thái hậu truyền lựa chọn dũng sĩ để chống giặc Tống, Đại Hành cử
Lượng làm đại tướng quân. Đương khi đặt kế xuất quân, Cự Lượng cầm đầu tướng sĩ,
tôn Đại Hành làm hoàng đế. Lượng làm quan đến chức thái úy. Năm Thông Thụy đời
Lư Thái Tông, vua thấy trong đô hộ phủ có nhiều nghi án, án quan không giải
quyết nổi, có ư muốn lập thần tự chuyên xét xử các án kiện, tỏ rơ sự linh hiển
để thấy hết mọi kẻ gian trá, bèn tắm rửa, thắp hương cầu khẩn thượng đế. Đêm đó,
mộng thấy có vị sứ giả mặc áo đỏ, vâng mệnh thượng đế tới phong Cự Lượng làm
minh chủ của các án quan ở đô hộ phủ. Vua hỏi sứ giả rằng: "Người ấy là ai, giữ
chức ǵ của ta?".
Đáp: "Chính là chức thái úy của vua
Lê Đại Hành". Vua tỉnh mộng bèn hỏi lại quần thần. Khi biết rơ chuyện, bèn phong
Lượng làm Hoằng Thánh đại vương, sai quân lập đền ở phía Tây cửa nam thành để
phụng thờ lại đổi làm Hồng Thánh, đời đời tôn là ngục thần.
28-
TRUYỆN BÀ PHU NHÂN TRINH LIỆT MỴ Ê
Bà Mỵ là vợ Xạ Đẩu, chúa nước Chiêm
Thành. Lư Thái Tôn đánh được Chiêm Thành, chém Xạ Đẩu, bắt Mỵ mang về. Đến sông
Lư Nhân, vua sai quan trung sứ triệu bà sang hầu. Bà căm giận khôn xiết, lấy
chiên trắng quấn quanh ḿnh rồi nhảy xuống sông Hoàng Giang mà chết. Những buổi
sáng sớm sương mù và đêm trăng thường nghe thấy có tiếng than ai oán ở khúc sông
đó. Người nước ta bèn lập đền thờ cúng. Về sau, vua ta đi qua hạt Lư Nhân, ngồi
ngự ở thuyền rồng nh́n sang bên kia sông thấy có đền thờ, bèn quay lại hỏi tả
hữu. Tả hữu bèn đem chuyện bà tâu rơ lại. Vua thương t́nh nói rằng: "Nếu quả
thực là linh thiêng tất nàng sẽ báo cho trẫm biết". Đêm đó vào hồi canh ba, bà
bèn ứng mộng cho vua. Bà ḿnh mặc y phục Chiêm Thành, vừa vái vừa khóc mà tâu
rằng: "Thiếp giữ đạo nữ nhi, một ḷng một dạ với chồng. Xạ Đẩu tuy không thể
cùng bệ hạ tranh sáng, nhưng cũng là người hiển hách ở một phương, thiếp thường
vẫn chịu ơn nghĩa của chàng. Ngày nay Xạ Đẩu lỗi đạo, thượng đế giáng chích,
mượn tay bệ hạ để trị tội cho nên nước mất thân tan. Thiếp hàng ngày vẫn muốn
báo ơn chàng nhưng chưa có dịp. Thiếp may mắn một ngày được gặp bệ hạ. Bệ hạ sai
quan trung sứ tiễn thiếp xuống ḍng nước này, nhờ đó mà giữ được tiết trong giá
sạch, ơn đó kể sao cho xiết. Thiếp nào có pháp thuật ǵ để dám tự xưng là linh
thiêng, nào có lời nói ǵ có thể xứng tai bệ hạ". Nói xong bỗng biến mất không
thấy đâu nữa. Vua kinh hăi tỉnh mộng, phong bà là hiệp chính nương phu nhân. Đời
Trần Trùng Hưng lại gia phong cho bà là tá lư phu nhân, thêm hai chữ trinh liệt
để biểu dương cái tiết đoan trinh của bà vậy.
29-
TRUYỆN ỨNG THIÊN HOÁ DỤC HẬU THẦN
Thần vốn là vị thổ thần ở nước Nam
ta. Năm Thần vơ thứ nhất đời Thánh Tông, vua đi chinh phạt nước Chiêm Thành, tới
cửa bể Hoàn Hải, bỗng nhiên trời nổi mưa to gió lớn, sóng dâng cuồn cuộn, xa
nh́n như núi, ngự thuyền và chiến thuyền đều không thể qua bến được, bèn phải
cắm thuyền ở bờ biển. Đêm ấy, mộng thấy có người con gái mặc đồ trắng, quần đỏ,
trang điểm sơ sài, phong tư yểu điệu bước lên thuyền ngự mà nói rằng: "Thiếp là
tinh đất ở nước này, hồn đậu ở trên cây đă lâu. Nay gặp lúc minh quân xuất
chinh, nguyện xin cùng đi theo để lập chiến công". Rứt lời không thấy đâu nữa.
Vua bèn tỉnh dậy triệu tập tả hữu và các bậc kỳ túc kể lại chuyện. Có vị tăng
thống là Huệ Sinh tâu rằng: "Thần đă nói là đậu nhờ ở trên cây, vậy nên cầu khẩn
tất được yên". Bèn sai thân nhân t́m khắp các núi trên bờ, ngẫu nhiên thấy một
cái cây ngọn như h́nh người, giống hệt vị thần trong mộng, bèn đặt trên thuyền
ngự, thắp hương cầu đảo, đặt hiệu là Hậu thổ phu nhân. Trong khoảng khắc, gió
yên sóng lặng, hành quân vượt biển thuận lợi, không lo ngại v́ sóng gió nữa. Vua
bèn lập thần từ, phút chốc sóng gió lại nổi cuồn cuộn như trước. Huệ Sinh tâu
rằng: "ư thần không muốn ở lại bên bờ". Bèn về kinh xin âm dương để cầu cho sóng
bể được yên. Kíp khi về tới kinh, xây đền thờ ở làng An Lăng... Tới đời Trần Anh
Tông, gặp hạn hán, vua sai lập đàn để cầu đảo. Thần bèn thác mộng cho vua, nói:
"Đền này có vua Câu Mang, có phép làm mưa". Vua tỉnh dậy, sai quân dâng lễ, quả
nhiên được buổi mưa to gió lớn. Vua bèn sách phong cho thần làm Hậu thổ đại phu
nhân, đời đời gia phong v́ nghĩ thần có công với dân. Triều Trần lại phong làm
ứng thiên hậu thổ thần kỳ nguyên quân. Phàm tiết lập xuân đều mang thổ ngưu nộp
ở dưới đền, tới nay đă thành tục lệ.
30-
TRUYỆN VỊ THẦN NÚI HỒNG LĨNH
Núi Hồng Lĩnh ở đạo Nghệ An. Xưa ở
huyện La Sơn có bốn người đốn củi trong núi thấy một cái hồ, trong hồ có một mỹ
nhân rất đẹp đang tắm trên một tảng đá bằng phẳng. Mỹ nhân trông thấy bốn người
th́ nhảy xuống hồ. Bỗng có một con ba ba lớn nổi ở trên mặt nước, bốn người kinh
hăi bèn hái những quả quí trên hồ mà đi. Đi suốt ngày không tiến được bước nào,
bỗng thấy một dị nhân đến nói rằng: "Vứt những quả quí đi th́ mới có thể ra khỏi
chốn này, nếu về được tới nhà th́ chớ có tiết lộ chuyện trong núi cho ai biết".
Về sau có người tiết lộ chuyện, hộc máu mà chết. Đến đời Thánh Tông hoàng đế,
vua tới núi này, cắm biển ở trên núi. Núi có chín mươi ngọn. Tịnh không thấy hồ,
chỉ nghe như có tiếng sóng vỗ. Trời lập tức đổ mưa. Thấy thần rất là linh ứng,
nhà vua ban phong cho điển lễ, đến nay người đời vẫn c̣n kể lại chuyện xưa. Nơi
đó là núi Hồng Lĩnh thuộc huyện La Sơn, phủ Đức Quang, tỉnh Nghệ An, nay là hai
huyện Nghi Xuân và Can Lộc.
31-
TRUYỆN THẦN NÚI VỌNG PHU
Núi Vọng Phu thuộc huyện Vũ Xương, ở
cửa bể của đạo Thuận Hóa. Người đời tương truyền rằng: Ngày xưa có hai anh em
một trai một gái làm nghề đốn củi ở trong rừng. Người anh chặt gỗ, lỡ tay trúng
phải mặt em. Người em đau quá ngă lăn xuống đất. Người anh tưởng em chết, sợ hăi
mà bỏ trốn đi xa. Người em được một cụ già đem về nuôi, đến khi trưởng thành,
nhan sắc tuyệt đẹp, khác hẳn ngày xưa. Khi cụ già chết, người em gái mới đi lấy
chồng, lại lấy đúng người anh ḿnh. Người anh không biết vợ là em gái. Anh ta
thấy trên đầu vợ có một vết sẹo, nhân hỏi duyên do. Người vợ nói: "Lúc c̣n nhỏ
thiếp theo anh trai vào rừng đốn gỗ, anh thiếp lỡ tay chém trúng vào giữa trán
thiếp rồi bỏ trốn mất, không biết sống chết nơi nào". Người anh nhận ra em gái
ḿnh nhưng đă trót kết làm vợ chồng, cho nên ngại mà không dám nói rơ, lấy cớ đi
buôn, bỏ ra đi mà không về nữa. Người em không biết chồng là anh ḿnh, ngày ngày
trông đợi, chết mà biến thành ḥn đá. Người đời bèn gọi ḥn đá ấy là đá Vọng
Phu, lại thấy linh thiêng bèn lập đền thờ phụng.
32-
TRUYỆN HAI CON TRÂN VÀNG Ở HUYỆN TIÊN DU
Ngày xưa, đời thượng cổ, có Vương
Chất đi đốn củi ở trong núi gặp hai tiên đồng đang đánh cờ. Hai tiên đồng cho
Chất một hạt táo, Chất ăn khỏi đói rồi gác ŕu mà ngồi xem đánh cờ. Tiên đồng
bảo Chất: "Cán ŕu của người nát rồi". Chất cúi xuống, lúc ngẩng lên th́ không
thấy tiên đồng đâu. Kịp đến khi trở về nhà th́ không c̣n gặp lại những người
thân cũ ở trần gian nữa. Do tích đó người đời bèn gọi quả núi này là núi Lạn Kha
(núi ŕu nát) c̣n gọi là núi Tiên Du (núi chơi tiên) rồi nhân lấy tên ấy để đặt
tên huyện. ở huyện Tiên Du nay vẫn c̣n vết cũ. Núi Tiên Du có tinh trâu vàng nửa
đêm thường tỏa ra ánh sáng. Có nhà sư lấy tích trượng yểm lên trán trâu, trâu
vàng bỏ chạy húc vào đất làm sụp thành cái hồ.
Nơi này sau gọi là thôn Húc. Trâu
chạy đến địa phận Văn Giang, v́ vậy ở đây có cái vũng lớn gọi tên là vũng Trâu
Đằm. Trâu chạy qua các xă Như Phượng, Như Loan, Đại Lạn, Đa Ngưu. Các xă này sở
dĩ tên như vậy là v́ có vết chân trâu đi tới. Trâu lại từ trong bến ra sông Cái,
đến Ninh Giang, đi men phủ Lư Nhân, theo ven sông Cái tới sông Tô Lịch, chỗ ấy
chính là Tây Hồ. Người đời truyền tụng rằng Cao Biền giỏi thuật số, thông địa
lư, thường cưỡi diều giấy bay trên không trung để yểm các nơi thắng cảnh. Biền
thấy trâu đi vào hồ Dâm Đàn (nay là Tây Hồ) rồi thoắt không thấy trâu đâu nữa.
Trên đường trâu chạy, khắp nơi biến thành khe, ng̣i, rănh,lạch.
33-
TRUYỆN VỊ THẦN LÀNG BỐ BÁI
Thần làng Bố Bái là tinh của Viêm
Long. Xưa ở làng Hạn Kiều thuộc lộ Hạ Hồng có hai anh em nhà họ Đặng, một tên là
Thiện Minh, một tên là Thiện Xạ xuống biển đánh cá gặp một vật lạ giống như h́nh
cây gỗ, dài hơn 3 thước, sắc như trứng quạ, dập dềnh trôi theo ngọn sóng. Hai
anh em lặt lấy đem về. Đến đêm bỗng nghe thấy ở trong vật ấy có tiếng động. Hai
anh em kinh hăi vội đem vứt ra giữa ḍng nước, rồi sang thuyền khác ngủ nhờ. Đêm
ấy, hai anh em mộng thấy có một người đến nói rằng: "Ta là vợ Đông Hải Long
Vương, trót lỡ đi lại với Viêm Long Vương do đó sinh ra đứa con ấy, ta sợ Đông
Hải Long Vương biết nên đem gửi các ngươi. Các người hăy giữ lấy và bảo hộ cho
cẩn thận, không được để ai xúc phạm tới. Sau này nó trưởng thành tất có thể ban
phúc cho các ngươi". Hai anh em kinh hăi tỉnh dậy thấy cây gỗ trước lại trôi
theo thuyền, bèn đem theo về. Tới nhà, hai anh em nghỉ đậu ở đất Bố Bái. Cây gỗ
bỗng nhảy từ trong thuyền lên mặt đất. Hai anh em bèn lập đền, lấy cây gỗ tạc
tượng để thờ, gọi là Long Quân. Đời Trần, vua sai thị thần lặn xuống bể ṃ hạt
châu. Thị thần không ṃ được ǵ cả, chỉ có con cháu họ Đặng ṃ được rất nhiều.
Thị thần hỏi duyên do, họ Đặng bèn đem hết chuyện xưa nói rơ. Thị thần tâu lên
vua. Vua sai dùng nghi lễ, âm nhạc đi rước tượng, từ đó ṃ được rất nhiều châu
ngọc. Vua giáng chiếu thưởng cho danh hiệu Thần Châu Long Quân, tặng phong là
Lợi tế linh thông huệ tín Long Quân. Đền thờ đặt ở xă Bố Bái, huyện Quỳnh Côi.
Phía đông đền có băi tha ma, đó chính là nơi khắc tượng ngày xưa. Trải qua các
triều vua, thần đều được gia phong mỹ tự. Tới ngày nay đền đó vẫn rất là linh
ứng.
34-
TRUYỆN VI THẦN Ở CHẰM LÂN ĐÀM
Thần Lân Đàm chính là thần rồng vậy.
Xưa thần thường hóa thành người để t́m thầy học đạo. Thầy học lấy làm lạ bèn t́m
chỗ ở của thần, thấy thần náu ở trong chằm. Thầy học thường tra hỏi, thần bèn
nói thực rằng: "Năm nay trên thiên đ́nh ngừng việc làm mưa". Thầy học cố nài
thần ra làm mưa. Thần bất đắc dĩ phải nghe lời. Sau trong chằm có biến động,
thầy học tới chằm thấy thần hút nước trong nghiên phun thành mưa mực để trừ hạn
hán. Thượng đế cho là việc đă tiết lộ bèn bắt tội thần. Thây thần nổi ở trên
chằm, thầy học thu về an táng, nhân đặt tên chằm là Long Đàm, sau đổi thành Lân
Đàm.