Đế Minh cháu ba đời họ Viêm Đế Thần
Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con
gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Tục dung mạo đoan chính, thông minh
phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi ḿnh. Lộc Tục cố từ, xin
nhường cho anh. Đế Minh liền lập Nghi làm kẻ nối ngôi. Lại phong Lộc Tục là Kinh
Dương Vương để trị đất Nam, lấy hiệu nước là Xích Quá. Kinh Dương Vương có tài
đi dưới Thủy Phủ, lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đ́nh, sinh ra Sùng Lăm hiệu
là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương Vương không biết đi đâu mất.
Lạc Long Quân dạy dân việc cày cấy nông tang, đặt ra các đẳng quân, thần, tôn,
ti, các đạo cha con, vợ chồng, đôi khi trở về Thủy Phủ mà trăm họ vẫn yên vui vô
sự, không biết do đâu được thế. Hễ dân có việc lại lớn tiếng gọi Long Quân rằng:
"Bố ơi! sao không lại cứu chúng tôi". Long Quân tới ngay, sự linh hiển của Long
Quân, người đời không ai lường nổi. Đế Nghi truyền ngôi cho con là Đế Lai, cai
trị Bắc phương. Nhân khi thiên hạ vô sự bèn sai quần thần là bọn Xuy Vưu thay
ḿnh trông coi quốc sự rồi đi tuần xuống nước Xích Quỷ ở phía Nam. Khi đó, Long
Quân đă về Thủy Phủ, trong nước không có chúa. Đế Lai bèn để ái nữ là âu Cơ và
các thị tỳ ở lại nơi hành tại rồi đi chu du thiên hạ, ngắm các nơi danh lam
thắng cảnh. Thấy hoa kỳ cỏ lạ, trân cầm dị thú, ngọc ngà vàng bạc... các thứ đá
quư, các cây trầm, đàn cùng các sơn hào hải vật không thiếu thứ ǵ, khí hậu bốn
mùa không lạnh không nóng, Đế Lai rất ái mộ, vui quên trở về. Dân phương Nam khổ
v́ bị người Bắc phương quấy nhiễu, không được yên sống như xưa mới cùng gọi Long
Quân rằng: "Bố ơi ở đâu mà để cho dân Bắc xâm nhiễu phương dân".
Long Quân đột nhiên trở về, thấy âu
Cơ có dung mạo đẹp đẽ kỳ lạ, trong ḷng vui mừng, bèn hóa thành một trang thiếu
niên phong tư tú lệ, tả hữu kẻ hầu người hạ đông đúc, vừa đi vừa ca hát đánh
trống. Cung điện tự nhiên dựng lên. âu Cơ vui ḷng theo Long Quân. Long Quân
giấu âu Cơ ở Long Đài. Nham Đế Lai trở về, không thấy âu Cơ, sai quần thần đi
t́m khắp thiên hạ. Long Quân có phép thần thông biến hóa thành trăm h́nh vạn
trạng yêu tinh, quỷ sứ, rồng, rắn, hổ, voi... làm cho bọn đi t́m đều sợ hăi
không dám sục sạo, Đế Lai bèn phải trở về. Truyền ngôi đến đời Du Vơng, th́ Xuy
Vưu làm loạn. Vua nước Hữu Hùng là Hiên Viên đem chư hầu tới đánh nhưng không
được. Xuy Vưu ḿnh thú mà nói tiếng người, có sức khỏe dũng mănh. Có người dạy
Hiên Viên dùng trống da thú làm lệnh, Xuy Vưu sợ hăi chạy về đất Trác Lộc. Đế Du
Vơng xâm lăng chư hầu, cùng Hiên Viên giao binh ở Phản Tuyền đánh ba trận đều bị
thua, bị giáng phong ở đất lạc ấp rồi chết ở đó. Gịng họ Thần Nông tới đây th́
hết. Long Quân lấy âu Cơ rồi đẻ ra một bọc, cho là điềm bất thường, vứt ra cánh
đồng; qua sáu bảy ngày, bọc vỡ ra một trăm quả trứng, mỗi trứng nở ra một con
trai, mới đem về nhà nuôi. Không phải bú mớm, các con tự lớn lên, trông đẹp đẽ
kỳ dị, người nào cũng trí dũng song toàn, người người đều kính trọng cho là
triệu phi thường. Long Quân ở lâu dưới Thủy Quốc vợ con thường muốn về đất Bắc.
Về tới biên giới, hoàng đế nghe nói
rất sợ hăi cho binh ra giữ cửa ải, mẹ con âu Cơ không thể về được bèn quay về
nước Nam mà gọi Long Quân rằng: "Bố ở nơi nào mà để mẹ con tôi cô độc, ngày đêm
buồn khổ thế này". Long Quân bỗng trở về, gặp nhau ở đất Tương. âu Cơ nói:
"Thiếp vốn là người nước Bắc, ở với vua, sinh hạ được trăm con trai, vua bỏ
thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi con, làm người vô phu vô phụ, chỉ biết thương
ḿnh". Long Quân nói: "Ta là ṇi rồng, đứng đầu thủy tộc, nàng là giống tiên,
sống ở trên đất, tuy khí âm dương hợp lại mà sinh ra con, nhưng thủy hỏa tương
khắc, gịng giống bất đồng, khó ở lâu với nhau được, nay phải chia lá. Ta đem
năm mươi con về Thủy Phủ chia trị các xứ, năm mươi con theo nàng về ở trên đất,
chia nước mà trị. Lên núi, xuống bể, hữu sự báo cho nhau biết, đừng quên". Trăm
con vâng theo, sau đó từ biệt mà đi. âu Cơ và năm mươi con lên ở đất Phong Châu
suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy
tên nước là Văn Lang, đông giáp Nam Hải, tây tới Ba Thục, bắc tới Động Đ́nh hồ,
nam tới nước Hồ Tôn (nay là Chiêm Thành). Chia nước làm 15 bộ (c̣n gọi là quận)
là Việt Thường, Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Ninh Hải, Dương Tuyền,
Lục Hải, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Chân Định, Văn Lang, Quế Lâm, Tượng
Quận. Chia các em ra cai trị, lại đặt các em làm tướng văn tướng vơ, văn là lạc
hầu, vơ là lạc tướng. Con trai vua gọi là quan lang, con gái vua gọi là mỵ
nương, trăm quan gọi là bồ chính, thần bộc, nữ lệ gọi là xảo xứng (c̣n gọi là nô
tỳ). Bề tôi gọi là hồn, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo. Vua đời đời
thế tập gọi là Hùng Vương, không hề thay đổi. Lúc ấy, dân sống ở ven rừng, xuống
nước đánh cá thường bị giống giao long làm hại, bèn nói với vua. Đáp: "Giống sơn
man và giống thủy tộc có thù với nhau, thường ghét nhau cho nên hại nhau đó".
Khiến người đời lấy mực xăm vào ḿnh theo h́nh Long Quân, theo dạng thủy quái.
Từ đó, dân không bị tai họa giao long làm hại nữa. Tục xăm ḿnh của dân Bách
Việt cũng bắt đầu từ đấy. Hồi quốc sơ, dân không đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây làm
áo, dệt cỏ gianh làm chiếu, lấy cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây tung
lư làm cơm (có chỗ viết là uống), lấy cầm thú, cá, ba ba làm mắm, lấy rễ gừng
làm muối, cầy bằng dao, trồng bằng lửa. Đất sản xuất được nhiều gạo nếp, lấy ống
tre mà thổi cơm. Bắc gỗ làm nhà để tránh hổ sói. Cắt tóc ngắn để dễ đi lại trong
rừng rú. Đẻ con ra lấy lá chuối lót cho nằm, có người chết th́ giă cối làm lệnh,
người lân cận nghe tiếng đến cứu. Chưa có trầu cau, việc hôn thú giữa nam nữ lấy
gói đất làm đầu, sau đó mới giết trâu dê làm đồ lễ, lấy cơm nếp để nhập pḥng
cùng ăn, sau đó mới thành thân. Đó trăm người con trai chính là tổ tiên của
người Bách Việt vậy.
ở biển Đông
có con tinh ngư xà (c̣n gọi là Ngư Tinh) dài hơn năm mươi trượng, chân nhiều như
chân rết, biến hóa vạn trạng, linh dị khôn lường, khi đi th́ ầm ầm như mưa, lại
ăn được thịt người nên ai cũng sợ. Đời thượng cổ có con cá dung mạo như người,
đi tới bờ Đông Hải, sau biến thành người, biết nói năng, dần dần lớn lên, sinh
ra nhiều con trai con gái, hay bắt cá, tôm, ṣ, hến mà ăn. Lại có giống Đản Nhân
sống ở một cái g̣ dưới bể, chuyên nghề bắt cá, sau cũng biến thành người, giao
dịch với man dân đổi lấy thóc gạo, dao, búa, thường qua lại ở Đông Hải. Có ḥn
đá Ngư Tinh, răng đá lởm chởm cắt ngang bờ bể, ở dưới đá có hang, Ngư Tinh sống
ở trong đó. V́ sóng gió hiểm trở, không có lối thông, dân muốn mở một đường đi
khác nhưng đá rắn khó đẽo. Thuyền của nhân dân đi qua chỗ này thường hay bị Ngư
Tinh làm hại. Đêm kia có bọn người tiên đục đá làm đường đi để cho hành nhân có
chỗ qua lại. Ngư Tinh bèn hóa làm con gà trắng gáy ở trên núi. Quần tiên nghe
tiếng ngỡ rằng đă rạng đông bèn cùng bay lên trời. Tới nay người ta gọi lối đi
ấy là Phật Đào Hạng (ngơ Phật đào). Long Quân thương dân bị hại bèn hóa phép
thành một chiếc thuyền của thường dân, hạ lệnh cho quỉ Dạ Thoa ở Thủy Phủ cấm
hải thần nổi sóng, rồi chèo thuyền đến bờ hang đá Ngư Tinh, giả cách cầm một
người sắp ném vào cho nó ăn. Ngư Tinh há miệng định nuốt. Long Quân cầm một khối
sắt nung đỏ ném vào miệng cá. Ngư Tinh chồm lên quẫy ḿnh quật vào thuyền. Long
Quân cắt đứt đuôi cá, lột da phủ lên trên núi nay chỗ đó gọi là Bạch Long Vĩ c̣n
cái đầu trôi ra ngoài bể biến thành con chó. Long Quân bèn lấy đá ngăn bể rồi
chém nó. Nó biến thành cái đầu chó, nay gọi là Cẩu Đầu Sơn. Thân trôi ra ngoài
Mạn Cầu, chỗ đó nay gọi là Mạn Cầu Thủy (c̣n gọi là Cẩu Đầu Thủy).
Thành Thăng Long xưa hiệu là Long
Biên, hồi thượng cổ không có người ở. Vua Thái Tổ nhà Lư chèo thuyền ở bến sông
Nhĩ Hà, có hai con rồng dẫn thuyền đi, cho nên đặt tên là Thăng Long rồi đóng đô
ở đấy, ngày nay tức là thành Kinh Hoa vậy. Xưa ở phía tây thành có ḥn núi đá
nhỏ, phía đông gối lên sông Lô Giang. Trong hang, dưới chân núi, có con cáo
trắng chín đuôi sống hơn ngàn năm, có thể hóa thành yêu quái, thành người hoặc
thành quỉ đi khắp nhân gian. Thời đó, dưới chân núi Tản Viên, người Mán chôn gỗ
kết cỏ làm nhà. Trên núi có vị thần rất linh thiêng, người Mán thường thờ phụng.
Thần dạy người Mán trồng lúa, dệt vải làm áo trắng mà mặc cho nên gọi là Bạch Y
Man (mán áo trắng).
Con cáo chín đuôi biến thành người áo
trắng nhập vào giữa đám dân Mán cùng ca hát rồi dụ dỗ trai gái trốn vào trong
hang núi. Người Mán rất khổ sở. Long Quân bèn ra lệnh cho lục bộ thủy phủ dâng
nước lên công phá hang đá. Cáo chín đuôi bỏ chạy, quân thủy phủ đuổi theo, phá
hang bắt cáo mà nuốt ăn. Nơi này trở thành một cái vũng sâu gọi là "đầm xác cáo"
(tức Tây Hồ ngày nay). Sau lập miếu (tức Kim Ngưu Tự) để trấn áp yêu quái. Cánh
đồng phía Tây Hồ rất bằng phẳng, dân địa phương trồng trọt làm ăn, nay gọi là Hồ
Đỗng (hang cáo). Đất ở đây cao ráo, dân làm nhà mà ở nay gọi là Hồ Thôn (thôn
Cáo). Chỗ hang cáo xưa, nay gọi là Lỗ Khước Thôn.
4-
TRUYỆN ĐỔNG THIÊN VƯƠNG
Hùng Vương cậy nước ḿnh giàu mạnh,
mà chểnh mảng việc triều cận Bắc phương. Vua nhà ân mượn cớ tuần thú sang xâm
lược. Hùng Vương nghe tin, triệu tập quần thần hỏi kế công thủ. Có người phương
sĩ tâu rằng: sao không cầu Long Vương đưa quân âm lên giúp! Vua nghe lời, bèn
lập đàn, bày vàng bạc lụa là lên trên, ăn chay, thắp hương, cầu đảo ba ngày.
Trời nổi mưa to gió lớn, bỗng thấy một cụ già cao hơn chín thước, mặt vàng bụng
lớn, mày râu bạc trắng, ngồi ở ngă ba đường mà cười nói ca múa. Những người
trông thấy biết là kẻ phi thường, mới vào tâu vua. Vua thân hành ra vái chào,
rước vào trong đàn. Cụ già không ăn uống cũng không nói năng. Vua nhân hỏi:
"Nghe tin quân Bắc sang xâm lược, ta thua được thế nào, ngài có kiến văn xin bảo
giúp". Cụ già ngồi im một lúc, rút thẻ ra bồi, bảo vua rằng: "Ba năm nữa giặc
Bắc sẽ sang, phải nghiêm chỉnh khí giới, tinh luyện sĩ binh mà giữ nước, lại
phải đi t́m bậc kỳ tài trong thiên hạ, kẻ nào phá được giặc th́ phân phong tước
ấp, truyền hưởng lâu dài. Nếu được người giỏi, có thể dẹp được giặc vậy".
Dứt lời, bay lên không mà đi, mới
biết đó là Long Quân. Ba năm sau, người biên giới cấp báo có giặc ân tới. Vua
làm theo lời cụ già dặn, sai sứ đi khắp các nơi cầu hiền tài. Tới làng Phù Đổng,
huyện Tiên Du, Bắc Ninh, có một phú ông tuổi hơn sáu mươi, sinh được một người
con trai vào giữa ngày mồng 7 tháng giêng, ba tuổi c̣n không biết nói, nằm ngửa
không ngồi dậy được. Người mẹ nghe tin sứ giả tới mới nói dỡn rằng: "Sinh được
thằng con trai này chỉ biết ăn, không biết đánh giặc để lấy thưởng của triều
đ́nh, báo đáp công bú mớm". Người con nghe thấy mẹ nói, đột nhiên bảo: "Mẹ gọi
sứ giả tới đây". Người mẹ rất lấy làm kinh ngạc, kể lại với hàng xóm. Hàng xóm
cả mừng, tức tốc gọi sứ giả tới. Sứ giả hỏi: "Mày là đứa trẻ mới biết nói, mời
ta đến làm ǵ?".
Đứa trẻ nhỏm dậy bảo sứ giả rằng:
"Mau về tâu với vua rèn một ngựa sắt cao mười tám thước, một thanh kiếm sắt dài
bảy thước, một roi sắt và một nón sắt. Ta cưỡi ngựa đội nón ra đánh, giặc tất
phải kinh bại, vua phải lo ǵ nữa?". Sứ giả mừng rỡ vội về tâu vua. Vua vừa kinh
vừa mừng nói rằng: "Ta không lo nữa". Quần thần tâu: "Một người th́ làm sao mà
đánh bại được giặc?". Vua nổi giận nói: "Lời nói của Long Quân ngày trước không
phải là ngoa, các quan chớ nghi ngờ ǵ nữa! Mau đi t́m năm mươi cân sắt luyện
thành ngựa, kiếm, roi và nón". Sứ giả tới gặp, người mẹ sợ hăi cho rằng tai họa
đă đến, bèn bảo người con. Con cả cười bảo rằng: "Mẹ hăy đưa nhiều cơm rượu cho
tôi ăn, việc đánh giặc mẹ chớ có lo". Người con lớn lên rất nhanh, ăn uống tốn
rất nhiều, người mẹ cung đốn không đủ. Hàng xóm sửa soạn trâu rượu bánh quả rất
nhiều mà người con ăn vẫn không no bụng. Vải lụa gấm vóc rất nhiều mà mặc vẫn
không kín thân, phải đi lấy hoa lau buộc thêm vào cho kín người. Kíp đến lúc
quân nhà ân tới chân núi Trâu Sơn ở Vũ Ninh, người con duỗi chân đứng dậy cao
hơn mười thước (có chỗ nói là trượng) ngửa mũi hắt hơi liền hơn mười tiếng, rút
kiếm thét lớn: "Ta là thiên tướng đây!" rồi đội nón cưỡi ngựa. Ngựa chồm lên, hí
dài một tiếng mà phi như bay, nháy máy đă tới trước quân vua, vỗ kiếm đi trước,
quan quân đều theo sau, tiến sát đồn giặc. Quân giặc bỏ chạy, c̣n lại tên nào
đều la bái kêu lạy thiên tướng rồi cùng đến hàng phục. ân vương bị chết ở trong
trận. Đi đến đất Sóc Sơn huyện Kim Hoa, thiên tướng cởi áo cưỡi ngựa mà lên
trời, hôm đó là ngày mồng 9 tháng 4, c̣n để vết tích ở ḥn đá trên núi. Hùng
Vương nhớ công ơn đó mới tôn là Phù Đổng Thiên Vương, lập miếu thờ ở nhà cũ
trong làng, lại ban cho một ngàn mẫu ruộng, sớm hôm hương lửa. Nhà ân đời đời,
644 năm không dám ra quân. Sau Lư Thái Tổ phong làm Xung Thiên Thần Vương, lập
miếu ở làng Phù Đổng cạnh chùa Kiến Sơ, lại tạc tượng ở núi Vệ Linh, xuân thu
hai mùa tế lễ. Tới đời vua Thuần Đế nhà Lê, ở xă Phù Lỗ có người con gái tên là
Ngô Chi Lan chăm đọc sách, rành văn chương, thơ ca điêu luyện, nhân đi dạo chơi
tới núi này có đề bài thơ rằng: Vệ Linh cây cỏ lẫn mây ngàn, Vạn tía muôn hồng
rỡ thế gian. Ngựa sắt bay rồi tên vẫn đó, Anh hùng sống măi với giang san. (Dịch
ư)
5-
TRUYỆN NHẤT DẠ TRẠCH
Hùng Vương truyền tới đời thứ ba th́
sinh hạ được người con gái tên là Tiên Dung mỵ nương đến tuổi 18 dung mạo đẹp
đẽ, không muốn lấy chồng mà chỉ vui chơi, chu du khắp thiên hạ. Vua cũng không
cấm đoán nàng. Mỗi năm vào khoảng tháng hai tháng ba lại sắm sửa thuyền bè chèo
chơi ở ngoài bể, vui quên trở về. Hồi đó ở làng Chử Xá cạnh sông lớn có người
dân tên là Chử Vi Vân sinh hạ được Chử Đồng Tử, cha từ con hiếu, nhà gặp hỏa
hoạn, của cải sạch không, c̣n lại một khố vải cha con ra vào thay nhau mà mặc.
Kíp tới lúc cha lâm bệnh, bảo con rằng: "Cha chết cứ để trần mà chôn, giữ khố
lại cho con". Con không nỡ làm theo, dùng khố mà liệm bố. Đồng Tử thân thể trần
truồng đói rét khổ sở, đứng ở bên sông hễ nh́n thấy có thuyền buôn qua lại th́
đứng ở dưới nước mà ăn xin, khi th́ câu cá độ thân không ngờ thuyền Tiên Dung
xốc tới, chiêng trống nhă nhạc, kẻ hầu người hạ rất đông.
Đồng Tử rất kinh sợ. Trên băi cát có
khóm lau sậy, lưa thưa dăm ba cây, Đồng Tử bèn nấp trong đó, bới cát thành lỗ
nằm xuống mà phủ cát lên ḿnh. Thoắt sau, Tiên Dung cắm thuyền dạo chơi trên băi
cát, ra lệnh vây màn ở khóm lau mà tắm. Tiên Dung vào màn, cởi áo dội nước, cát
trôi mất, trông thấy Đồng Tử. Tiên Dung kinh sợ hồi lâu, thấy là con trai bèn
nói: "Ta vốn không muốn lấy chồng, nay lại gặp người này, cùng ở trần với nhau
trong một hố, đó chính là do trời xui nên vậy. Người hăy đứng dậy tắm rửa, ta
ban cho quần áo mặc rồi cùng ta xuống thuyền mở tiệc ăn mừng". Người trong
thuyền đều cho đó là cuộc giai ngộ xưa nay chưa từng có. Đồng Tử bảo: "Đâu dám
như vậy!" Tiên Dung ta thán, ép làm vợ chồng. Đồng Tử cố từ, Tiên Dung nói: "Đây
do trời chắp nối, sao cứ chối từ?". Người theo hầu vội về tâu lại với vua. Hùng
Vương nói: "Tiên Dung không thiết tới danh tiết, không màng tới của cải của ta,
ngao du bên ngoài, hạ ḿnh lấy kẻ bần nhân, c̣n mặt mũi nào trông thấy ta nữa".
Tiên Dung nghe thấy, sợ không dám về, bèn cùng Đồng Tử mở bến chợ, lập phố xá,
cùng dân buôn bán, dần dần trở thành cái chợ lớn (nay là chợ Thám, c̣n gọi là
chợ Hà Lương). Phú thương ngoại quốc tới buôn bán tấp nập, thờ Tiên Dung, Đồng
Tử làm chúa. Có người lái buôn giàu nói rằng: "Quí nhân bỏ một dật vàng ra ngoài
bể mua vật quí, sang năm có thể thành mười dật". Tiên Dung cả mừng bảo Đồng Tử:
"Vợ chồng chúng ta do trời tác thành, đồ ăn thức mặc do trời phú cho, nay hăy
đem vàng cùng phú thương ra bể buôn bán". Có núi Quỳnh Viên, trên núi có am nhỏ,
bọn lái buôn thường ghé lại đó uống nước. Đồng Tử lên am chơi, có tiểu tăng tên
gọi Ngưỡng Quang truyền phép cho Đồng Tử. Đồng Tử lưu học ở đó, giao tiền cho
lái buôn mua hàng. Sau lái buôn quay lại am chở Đồng Tử về. Sư tặng Đồng Tử một
cây trượng và một chiếc nón mà nói rằng: "Linh thiêng ở những vật này đây".
Đồng Tử trở về, giảng lại đạo Phật.
Tiên Dung bèn giác ngộ, bỏ phố phường, chợ búa, cơ nghiệp, rồi cả hai đều t́m
thầy học đạo. Trên đường viễn hành, trời tối mà chưa thấy thôn xá, hai người tạm
nghỉ ở giữa đường, cắm trượng che nón mà trú thân. Đến canh ba, thấy hiện ra
thành quách, lầu ngọc, điện vàng, đền đài dinh thự, vàng bạc châu báu, giường
chiếu chăn màn, tiên đồng ngọc nữ, tướng sĩ thị vệ, la liệt trước mắt. Sáng hôm
sau, ai trông thấy cũng kinh lạ, đem hương hoa, ngọc thực tới dâng mà xin làm bề
tôi. Có văn vơ bách quan chia quân túc vệ, lập thành nước riêng. Hùng Vương nghe
tin, cho rằng con gái làm loạn, bèn sai quân tới đánh. Quần thần xin đem quân ra
phân nhau chống giữ. Tiên Dung cười mà bảo: "Điều đó ta không muốn làm, do trời
định đó thôi, sinh tử tại trời, há đâu dám chống lại cha, chỉ xin thuận theo lẽ
chính, mặc cho đao kiếm chém giết". Lúc đó, dân mới tới đều kinh sợ tản đi, chỉ
có dân cũ ở lại. Quan quân tới, đóng trại ở châu Tự Nhiên, c̣n cách sông lớn th́
trời tối không kịp tiến quân. Nửa đêm, gió lớn thổi bay cát nhổ cây, quan quân
hỗn loạn. Tiên Dung cùng thủ hạ, thành quách phút chốc bay tản lên trời, đất chỗ
đó sụt xuống thành cái chằm lớn. Về sau, dân lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, gọi
chằm là chằm Nhất Dạ Trạch (nghĩa là chằm một đêm), gọi băi là băi Mạn Trù, gọi
chợ là chợ Thám c̣n gọi là chợ Hà Lương. Sau vua Hậu Lương là Diễn sai Trần Bá
Tiên đêm quân xâm lược phương Nam. Lư Nam Đế sai Triệu Quang Phục làm tướng cự
địch. Quang Phục đem quân nấp ở chằm. Chằm sâu mà rộng, quân địch vướng mắc,
tiến binh rất khó, Quang Phục dùng thuyền độc mộc đột xuất ra đánh cướp lương
thực, cầm cự lâu ngày làm cho quân giặc mệt mỏi, trong ba bốn năm không hề đối
diện chiến đấu. Bá Tiên than rằng: "Ngày xưa nơi đây là chằm một đêm bay về
trời, nay lại là chằm một đêm cướp đoạt người". Nhân gặp loạn Hầu Cảnh, vua nhà
Lương bèn gọi Bá Tiên về, ủy cho t́ tướng là Dương Sằn thống lĩnh sĩ tốt, Quang
29 30 Prev Page
13 Next Phục ăn chay lập đàn ở giữa
đầm, đốt hương mà cầu đảo, bỗng thấy thần nhân cưỡi rồng bay vào trong đàn mà
bảo Quang Phục rằng: "Hiển linh c̣n đó, ngươi có thể cầu tới cứu trợ để dẹp bằng
họa loạn".
Dứt lời, tháo vuốt rồng trao cho
Quang Phục, bảo: "Đem vật này đeo lên mũ đâu mâu có thể khiến giặc bị diệt".
Đoạn bay lên trời mà đi. Quang Phục được vật đó, reo mừng vang động, xông ra đột
chiến, quân Lương thua to. Chém Dương Sằn ở trước trận, giặc Lương phải lùi.
Quang Phục nghe tin Nam Đế mất, bèn tự lập làm Triệu Việt Vương, xây thành ở
Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh.
6-
TRUYỆN MỘC TINH
Đất Phong Châu thời thượng cổ có một
cây lớn gọi là cây chiên đàn cao hơn ngàn trượng cành lá xum xuê, không biết che
rợp tới mấy ngàn rậm. Có chim hạc bay đến đậu nên đất chỗ đó gọi là đất Bạch
Hạc. Cây trải qua hàng mấy ngàn năm khô héo mà biến thành yêu tinh, thường thay
đổi h́nh dạng, rất dũng mănh, có thể giết người hại vật. Kinh Dương Vương dùng
nhạc mà đánh thắng yêu, yêu hơi chịu nhún nhưng vẫn nay đây mai đó, biến hóa
khôn lường, thường ăn thịt người. Dân phải lập đền thờ, hàng năm tới ngày 30
tháng chạp, theo lệ phải mang người sống tới nộp, dân mới được yên ổn. Dân
thường gọi yêu là thần Xương Cuồng. Biên giới tây nam giáp liền với nước Mi Hầu,
vua Hùng Vương sai dân man Bà Lô (nay là phủ Diễn Châu) hàng năm bắt giống người
lăo tử sống ở khe núi tới tiến, không thể thay đổi được lệ ấy. Kíp tới khi Tần
Thủy Hoàng bổ Nhâm Hiêu làm quan lệnh ở Long Xuyên, muốn bỏ tệ ấy đi. Thần Xương
Cuồng tức giận vật chết Hiêu, v́ thế về sau lại phải phụng thờ cẩn thận. Đến đời
vua Đinh Tiên Hoàng có pháp sư Văn Du Tường vốn người phương bắc, đức hạnh thanh
cao, đă từng đi qua nhiều nước, biết được tiếng các dân man, học được thuật làm
nanh vàng và răng đồng, năm hơn 80 tuổi sang nước Nam ta. Tiên Hoàng lấy lễ thầy
tṛ mà tiếp, pháp sư bèn dạy cho nghề tạp kỹ để làm tṛ vui cho thần Xương Cuồng
xem mà giết y. Đoàn tạp kỹ này có Thượng Kỵ, Thượng Can, Thượng Hiểm, Thượng
Đát, Thượng Toái, Thượng Câu. Hàng năm tới tháng 11 lại dựng lầu Phi Vân cao 20
thước, dựng một cây đứng ở trong, tết vỏ gai làm dây chăo dài 136 thước, đường
kính rộng 2 tấc, lấy mây mà quấn ngoài rồi chôn hai đầu dây xuống đất, giữa gác
lên cây. Thượng Kỵ đứng lên trên dây mà chạy nhanh 3,4 lần, đi đi lại lại mà
không ngă. Kỵ đầu đội khăn đen, ḿnh mặc quần đen. Dây của Thượng Can dài 150
thước, có một chỗ mắc chạc ba. Can hai tay cầm hai cán cờ. Hai người đi trên
dây, gặp nhau ở chỗ chạc ba th́ lại tránh, lên xuống mà không ngă. Khi th́
Thượng Đát lấy một tấm gỗ lớn rộng 1 thước 3 tấc, dày 7 tấc đặt lên trên cây cao
17 thước 3 tấc, Đát đứng ở trên nhảy 2, 3 cái, tiến tiến lùi lùi điên đảo. Khi
th́ Thượng Toái lấy tre đan thành lồng h́nh như cái lờ bắt cá, dài 5 thước, tṛn
4 thước rồi chui vào đứng thẳng ḿnh mà lăn. Khi th́ Thượng Câu vỗ tay nhảy
nhót, la hét kêu gào, chuyển động chân tay, vỗ đùi vỗ bụng, tiến lùi lên xuống,
hoặc cưỡi ngựa bôn tẩu, cúi ḿnh xuống lấy vật ở dưới đất mà không ngă. Khi th́
Thượng Hiểm ngả ḿnh nằm ngửa lấy thân đỡ một cái gậy dài rồi cho đứa trẻ trèo
lên mà không rớt xuống. Khi th́ cho bọn ca hát gơ trống khua chiêng, ca múa rầm
rĩ. Lại giết súc vật mà tế. Thần Xương Cuồng tới, thấy thế bèn đến xem, pháp sư
đọc mật chú rồi lấy kiếm mà chém. Thần Xương Cuồng cùng bộ hạ đều chết hết,
không thể trở lại thành yêu nữa. Lệ tiến lễ hàng năm bèn bỏ, dân lại sống yên
lành như xưa.
7-
TRUYỆN CÂY CAU
Thời thượng cổ có một vị quan lang
sức vóc cao lớn, nhà vua ban tên là Cao cho nên lấy Cao làm họ. Cao sinh hạ được
hai người con trai, con cả tên là Tân, con thứ tên là Lang. Hai anh em giống
nhau như đúc, trông không thể phân biệt nổi. Đến năm 17, 18 tuổi, cha mẹ đều từ
trần, hai anh em đến theo học đạo sĩ Lưu Huyền. Nhà họ Lưu có người con gái tên
là Liên, tuổi cũng khoảng 17, 18. Hai anh em thấy nàng th́ rất vừa ư, muốn kết
làm vợ chồng. Nàng chưa biết người nào là anh, mới bày một chậu cháo và một đôi
đũa, cho hai anh em cùng ăn, Người em nhường anh ăn trước. Nàng về nói với cha
mẹ xin làm vợ người anh. Khi cùng ở với nhau, người anh thường lạt lẽo với em.
Người em tự lấy làm tủi hổ, cho rằng anh lấy vợ rồi th́ quên ḿnh, bèn không cáo
biệt mà bỏ đi về quê nhà. Đi tới giữa rừng, gặp một ḍng suối sâu mà không có
thuyền để qua, đau đớn khóc lóc mà chết, hóa thành một cây mọc ở cửa sông. Người
anh ở nhà không thấy em bèn đi t́m. Tới chỗ đó, gieo ḿnh chết ở bên gốc cây,
hóa thành phiến đá nằm ôm lấy gốc cây. Người vợ đi t́m chồng, tới chỗ này cũng
gieo ḿnh ôm lấy phiến đá mà chết, hóa thành một cây leo cuốn quanh thân cây và
phiến đá, lá có mùi thơm cay. Cha mẹ nàng họ Lưu đi t́m con tới đây, đau xót vô
cùng, bèn lập miếu thờ. Người trong vùng hương hỏa thờ cúng, ca tụng anh em ḥa
thuận, vợ chồng tiết nghĩa. Khoảng tháng bảy tháng tám, khí nóng chưa tan, Hùng
Vương đi tuần thú, nhân dừng chân nghỉ mát ở trước miếu, thấy cây lá xum xuê,
giây leo chằng chịt, tự đưa lên miệng nhai, nhổ bọt lên phiến đá, thấy có sắc
đỏ, mùi vị thơm tho, Vương bèn sai đốt đá lấy vôi mà ăn cùng với quả và lá dây
leo, thấy mùi vị thơm ngon, môi đỏ má hồng, biết là vật quư, bèn lấy mang về.
Ngày nay cây thường trồng ở khắp nơi, đó chính là cây cau, cây trầu không và vôi
vậy. Về sau, người nước Nam ta phàm cưới vợ gả chồng hay lễ tết lớn nhỏ đều lấy
trầu cau làm đầu. Nguồn gốc cây cau là như thế đó.
8-
TRUYỆN BÁNH CHƯNG
Sau khi vua Hùng Vương phá được giặc
ân, nhân quốc gia vô sự, muốn truyền ngôi cho con, bèn triệu hai mươi hai vị
quan lang và công chúa lại mà phán rằng: "Ta muốn truyền ngôi cho kẻ nào làm ta
vừa ư, cuối năm nay mang trân cam mỹ vị đến để tiến cúng tiên vương cho ta được
tṛn đạo hiếu th́ sẽ được ta truyền ngôi". Các con đều đua nhau đi t́m của ngon
vật lạ khắp trên cạn dưới bể, nhiều không sao kể xiết. Duá có vị công tử thứ 18
là Lang Liêu, bà mẹ trước kia vốn bị vua ghẻ lạnh, v́ cô đơn mà chết, tả hữu ít
người giúp đỡ, khó xoay xở nên đêm ngày lo lắng, mộng mị bất an. Một đêm kia,
mộng thấy có thần nhân tới nói rằng: "Các vật trên trời đất và mọi của quư của
người không ǵ bằng gạo. Gạo có thể nuôi người khỏe mạnh mà ăn không bao giờ
chán, các vật khác không thể hơn được. Nay đem gạo nếp làm bánh, cái h́nh vuông,
cái h́nh tṛn để tượng trưng h́nh trời đất rồi dùng lá bọc ngoài, ở trong cho mỹ
vị để ngụ ư công đức sinh thành lớn lao của cha mẹ". Lang Liêu tỉnh dậy, mừng rỡ
mà nói rằng: "Thần nhân giúp ta vậy!". Nói rồi bèn theo lời dặn trong mộng mà
làm, chọn thứ gạo nếp trắng tinh, lặt lấy những hạt tṛn mẩy không bị vỡ, vo cho
thật sạch, lấy lá xanh bọc xung quanh thành h́nh vuông, cho trân cam mỹ vị vào
bên trong để tượng trưng cho trời đất, vạn vật rồi nấu chín, gọi là bánh chưng.
Lại lấy gạo nếp nấu chín, giă cho nát, nặn thành h́nh tṛn, tượng trưng cho trời
gọi là bánh dày. Đến kỳ, vua vui vẻ truyền các con bày vật tiến lên. Xem qua
khắp lượt, thấy không thiếu thức ǵ. Duá có Lang Liêu chỉ tiến dâng bánh chưng
và bánh dày. Vua kinh ngạc mà hỏi, Lang Liêu đem giấc mộng thuật lại. Vua đem
nếm, thấy ngon miệng không chán, hơn hẳn các thức của các con khác, tấm tắc khen
hồi lâu rồi cho Lang Liêu được nhất. Đến ngày Tết, vua thường lấy bánh này dâng
cúng cha mẹ. Thiên hạ bắt chước, đến nay đổi tên Lang Liêu thành Tiết Liệu. Vua
bèn truyền ngôi cho Liêu, anh em 21 người đều được chia giữ các nơi phiên trấn,
tụ tập bộ đảng mà thành phiên quốc. Về sau, các tướng tranh giành nhau thường
dựng mộc sách (hàng rào bằng gỗ) để pḥng ngự; cho nên, từ đó mới có sách, thôn,
trang, phường.
9-
TRUYỆN DƯA HẤU
Về đời Hùng Vương có viên quan tên là
Mai Tiêm vốn người ngoại quốc, khi lên 7, 8 tuổi, vua mua từ thương thuyền về
làm nô bộc. Kíp tới khi lớn lên diện mạo đoan chính, nhớ thuộc sự vật, vua ban
tên cho là Mai Yển, hiệu An Tiêm, lại ban cho một người thiếp. Tiêm sinh hạ được
một trai một gái. Vua rất tin yêu, giao cho công việc, dần dần trở nên phú quư,
bổng lộc rất nhiều. Sau Tiêm đâm ra kiêu căng ngạo mạn, thường nói rằng: "Đó đều
do tiền thân của ta, không phải do ơn chúa". Vua nghe nói cả giận, phán: "Làm
thần tử của người mà kiêu căng ngạo mạn, không biết ơn chúa, lại nói là do tiền
thân! Nay đưa nhà ngươi ra một nơi không có người ở giữa bể xem có c̣n tiền thân
không?" Bèn đày ra ngoài cửa bể huyện Nga Sơn (c̣n gọi là Giáp Sơn), bốn bề toàn
cát và nước không có vết chân người qua lại, ban cho một số lương thực đủ ăn bốn
năm tháng để cho ăn hết th́ chết. Vợ Tiêm than khóc, Tiêm cười mà bảo: "Trời
sinh ta tất nuôi nổi ta, sống chết bởi trời, ta đâu lo lắng". Bỗng thấy một con
bạch trĩ từ phương Tây bay lại đậu ở đầu núi, kêu lên 3, 4 tiếng 6,7 hạt dưa
theo tiếng kêu mà rơi xuống cát, mọc lên xanh ŕ rồi kết thành quả. An Tiêm mừng
rỡ mà nói: "đây không phải là dị vật mà là trời cho để nuôi ta đó". Bèn bổ ra mà
ăn, thấy vị thơm ngon, tinh thần sảng khoái, mới giữ lấy hạt, năm sau đem trồng.
n không hết, lại đem đổi lấy gạo nuôi vợ con. Tiêm không biết gọi là quả ǵ,
nhân v́ chim trĩ ngậm hạt từ phương Tây bay tới nên gọi là quả Tây Qua. Phường
chài phường buôn ăn đều cho là ngon. Những người ở thôn xóm xa gần đều mua để
lấy giống. Sau vua nghĩ tới Tiêm, cho người đến xem c̣n sống hay đă chết. Người
đó về tâu lại với vua, vua thở dài mà than rằng: "Hắn nói là do ở tiền thân,
điều đó thực không ngoa". Bèn ra chiếu gọi về cho phục chức cũ, lại cấp cho nô
tỳ. Băi cát Tiêm ở gọi là băi An Tiêm, làng đó gọi là Mai thôn. Có người lại suy
tôn nơi tổ tiên An Tiêm ở mà cho rằng nơi đó là châu An Tiêm thuộc tỉnh Thanh
Hóa.
10
- TRUYỆN BẠCH TRĨ
Về đời vua Thành Vương nhà Chu, Hùng
Vương sai bề tôi tự xưng là họ Việt Thường đem chim bạch trĩ sang tiến cống. V́
ngôn ngữ bất đồng, Chu Công phải sai sứ qua nhiều lần dịch mới hiểu nhau được.
Chu Công hỏi: "Tại sao tới đây?". Họ Việt Thường đáp: "Đời nay không có mưa dầm
gió dữ, ngoài bể không nổi sóng lớn đă ba năm nay, ư chừng là Trung Quốc có
thánh nhân xuất thế, nhân vậy tới đây". Chu Công than rằng: "Chính lệnh không
thi hành th́ người quân tử không bắt được kẻ khác thuần phục ḿnh, đức trạch
không mở rộng th́ người quân tử không hưởng lễ của người. C̣n nhớ Hoàng Đế có
câu thề rằng: phương Việt Thường không thể xâm phạm được". Bèn ban thưởng cho
phẩm vật địa phương, dạy răn mà cho về. Họ Việt Thường quên đường về, Chu Công
bèn ban cho 5 cỗ biền xa đều chế cho hướng về phương Nam. Họ Việt Thường nhận
lấy rồi theo bờ biển Phù Nam, Lâm ấp đi một năm th́ về tới nước. Cho nên, xe chỉ
nam thường dùng để đi trước đưa đường. Về sau, Khổng Tử viết kinh Xuân Thu cho
nước Văn Lang là một nơi hoang vu, văn vật chưa có bèn bỏ trống mà không chép.
Theo bản cũ chép th́ Chu Công có hỏi: "Người Giao chỉ cắt tóc ngắn, xăm ḿnh, để
đầu trần, đi chân đất, nhuộm răng đen là cớ làm sao?". Đáp: "Cắt tóc ngắn để
tiện đi trong rừng rú. Xăm ḿnh để giống h́nh Long Quân bơi lội dưới sông loài
giao long không phạm tới. Đi chân đất để tiện leo cây. Cày bằng dao, trồng bằng
lửa. Để đầu trần để tránh lửa bén. n trầu cau để trừ uế cho nên răng đen vậy".
11-
TRUYỆN LƯ ÔNG TRỌNG
Cuối đời Hùng Vương có người ở xă
Thụy Hương, huyện Từ Liêm, đất Giao Chỉ họ Lư tên Thân. Khi đẻ ra rất to lớn,
rồi cao đến 2 trượng 3 thước, tính t́nh hung hăn, hay giết người, tội ác đáng
chết, Hùng Vương tiếc mà không nỡ giết. Đời An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng muốn
cất binh đánh ta, An Dương Vương bèn đem Lư Thân tiến nhà Tần. Thủy Hoàng mừng
lắm, phong cho làm chức tư lệ hiệu úy. Khi Thủy Hoàng đă lấy được cả thiên hạ,
sai Lư đem quân giữ đất Lâm Thao, uá danh vang dội đến Hung Nô, Hung Nô không
dám xâm phạm cửa ải. Thủy Hoàng phong Lư làm phụ tín hầu, lại gả công chúa cho
Lư. Sau tuổi già trở về nước. Hung Nô lại xâm phạm cửa ải. Thủy Hoàng nhớ tới Lư
Thân, sai người sang triệu. Lư Thân không chịu đi, trốn vào rừng núi. Vua Tần
trách quở, An Dương Vương t́m không được, nói dối là Lư đă chết. Vua Tần hỏi v́
sao mà chết. Trả lời: v́ đi tả. Tần sai sứ sang khám. An Dương Vương bèn nấu
cháo đổ xuống đất để làm thực tích. Vua Tần đ̣i mang xác sang, Lư Thân bất đắc
dĩ phải tự vẫn (hôm đó là ngày mồng 2 tháng 2).
An Dương Vương sai lấy thủy ngân rắc
lên xác rồi đem nộp vua Tần. Thủy Hoàng lấy làm lạ, mới đúc đồng làm tượng, đặt
hiệu là ông Trọng, đem dựng ở cửa Kim Mă đất Hàm Dương. Trong bụng tượng chứa
mấy chục người để lay cho tượng cử động. Hung Nô trông thấy tưởng là quan hiệu
úy sống, không dám động tới cửa ải. Tới đời đường, Triệu Xương sang làm quan đô
hộ đất Giao Châu, đêm mộng thấy cùng Lư Thân giảng sách Xuân Thu, Tả Truyện,
nhân hỏi thăm nhà cũ, lập đền thờ cúng. Sau Cao Biền dẹp giặc Nam Chiếu, Lư hiển
linh cứu trợ, Cao Biền bèn sửa sang lại miếu đền, tạc gỗ làm tượng, gọi là đền
Lư hiệu úy nay thuộc xă Thụy Hương, huyện Từ Liêm (xưa gọi là xă Thụy Hàm, nay
gọi là xă Thụy Hương) ở bên bờ sông Cái cách kinh thành 15 dặm.
12-
TRUYỆN GIẾNG VIỆT
Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ
Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà ân cử binh sang sâm chiếm nước Nam, đóng
quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi t́m
bậc kỳ tài trong thiên hạ th́ sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên Vương ứng kỳ mà sinh,
cưỡi ngựa sắt đánh giặc, tướng sĩ nhà ân đều bỏ chạy. ân Vương chết ở dưới núi,
biến thành vua ở địa phụ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần, đền miếu bỏ
hoang. Qua đời Chu, tới đời Tần, có người nước ta là Thôi Lượng làm quan cho nhà
Tần đến chức ngự sử đại phu, thường qua vùng này, thấy cảnh suy tàn, trạnh ḷng
thương cảm, bèn sửa sang lại đền miếu. Sau các tướng Nhâm Hiêu, Triệu Đà đem
quân xâm chiếm phương Nam (đời An Dương Vương) trú quân ở dưới núi, sai tu sửa
lại miếu mạo, nghiêm cẩn khấn thờ. ân Vương cảm cái đức của Lượng xưa, muốn đền
ơn, bèn sai tiên nữ Ma Cô ra ngoài cơi t́m kiếm. Khi ấy Lượng đă chết ở đất Tần,
duá có con là Vỹ hăy c̣n du học. Khoảng đầu tháng giêng, dân chúng tới thăm đền
này, có người cúng một đôi b́nh pha lê, tiên nữ Ma Cô cầm lên tay ngắm nghía, lỡ
rơi xuống đất vỡ khuyết một mảnh, bị người ta bắt đền. Ma Cô mặc áo rách, mọi
người không biết là tiên, nên đánh đập tàn nhẫn. Thôi Vỹ thấy vậy động ḷng
thương, bèn cởi áo đền cho Ma Cô được tha. Ma Cô hỏi Vỹ ở đâu, Vỹ kể lại lai
lịch của cha.
Ma Cô lúc ấy mới biết là con quan
Thôi ngự sử, mừng rỡ mà nói với Vỹ rằng: "Nay ta không có ǵ báo đáp, sau này
tất sẽ tạ ơn". Nhân đưa cho Vỹ một bó lá ngải mà nói: "Giữ cẩn thận vật này,
đừng để rời khỏi ḿnh, sau này thấy ai có bướu trên đầu, đem cứu cho tan tất sẽ
được phú quư to". Vỹ nhận lấy, chưa biết đó là thuốc thiên. Đi đến nhà người bạn
thân là ứng Huyền, Huyền là một vị đạo sĩ có cái bướu trên đầu, Vỹ nói: "Tôi có
lá ngải có thể trị được tật này". Huyền nhờ chữa cho. Vỹ bèn dùng lá ngải mà
cứu, bướu lập tức tan, Huyền nói: "Đó là thuốc tiên, ta nay không có vật ǵ báo
đáp, xin lấy ơn khác đền lại. Ta quen một vị quí nhân mắc tật này, thường nói
rằng ai chữa được th́ sẽ chia sẻ gia tài mà không tiếc, ông hăy tới đó chữa".
Huyền đưa Vỹ tới nhà Nhâm Hiêu chữa, bướu tự khắc tan. Hiêu cả mừng, nuôi Vỹ làm
nghĩa tử, mở trường cho Vỹ học để chờ khi hữu dụng. Vỹ là người thông minh, hay
đọc sách, gảy đàn. Con gái Hiêu là Phương Dung thấy Vỹ th́ phải ḷng, bèn cùng
tư thông. Con giai Hiêu là Nhâm Phu biết chuyện, muốn giết Vỹ, đem Vỹ tế thần
Xương Cuồng, bèn dỗ rằng: "Cuối năm phải lễ thần Xương Cuồng mà chưa có người
làm đồ lễ nay không nên đi ra ngoài, e rằng bị bắt sống, phải ẩn vào pḥng kín
để tránh". Vỹ vô t́nh nghe theo, Nhâm Phu bèn khóa cửa buồng. Phương Dung biết
ư, ngầm lấy dao đưa cho Vỹ, Vỹ đào ngạch mà ra. Ban đêm, Vỹ lẻn đi, muốn tới
nương tựa nhà ứng Huyền. Đi gấp lên trên núi, núi có hang sâu. Vỹ lỡ chân rơi
xuống hang.
Đương lúc canh một th́ rơi tới đáy,
Vỹ đau quá, hơn một khắc mới ngồi dậy được. Đến lúc đúng ngọ, mặt trời chiếu
thẳng xuống hang, thấy xung quanh đều là vách đá, không có bậc lên. ở trên có
một ḥn đá, thạch nhũ rủ xuống bàn đá. Có một con rắn trắng ḿnh dài trăm
trượng, mào vàng, miệng đỏ, râu xanh, vẩy trắng, dưới cổ có cái bướu, trên trán
có ḍng chữ vàng đề "Vương Kinh Tử". Rắn ra ăn thạch nhũ rồi lại chui vào trong
hang. Vỹ ở trong hang ba ngày, đói lắm phải ăn vụng thạch nhũ. Rắn ra thấy trên
bàn đá hết cả thạch nhũ, ngửng đầu thấy Vỹ th́ định nuốt. Vỹ kinh sợ, sụp lạy mà
nói: "Tôi tị nạn rơi xuống dưới này, không có ǵ ăn, đói dạ nên phải ăn vụng,
thực là đắc tội. Nay thấy dưới cổ ngài có cái bướu thịt, tôi có lá ngải để đă ba
năm, xin khoan tha cho tôi để tôi thi thố chút tài mọn". Rắn ngẩng đầu xin cứu.
Bỗng thấy ánh lửa sáng, một mảnh than rơi xuống hang. Vỹ lấy lửa mà cứu, bướu
lập tức tiêu tan. Rắn quẫy ḿnh tới trước mặt Vỹ như có ư bảo Vỹ cưỡi lên lưng.
Vỹ cưỡi lên, rắn bèn tức th́ đưa Vỹ ra khỏi hang. Đúng canh hai th́ lên tới cửa
hang, nh́n không thấy ai qua lại, rắn bèn vẫy đuôi bảo Vỹ xuống, sau đó rắn lại
trở vào trong hang. Vỹ đi lạc đường, chợt thấy trước mặt có một ṭa thành, trên
cổng thành có lầu cao lợp ngói đỏ lộng lẫy, ánh sáng mờ mờ chiếu tỏa. Trên cổng
treo biển đỏ viết chữ "ân Vương Thành" bằng vàng. Vỹ ngồi bên cạnh cổng nh́n
thấy trong sân có ao, giữa ao có sen ngũ sắc, cạnh ao có ḥe, liễu mấy hàng.
Thấy đường gạch phẳng lỳ, điện ngọc cung châu, lầu cao gác rộng. Trên điện kê
giường kim qui, trải chiếu hoa bạc, có hai cây đàn cầm, sắt, vắng lặng không
thấy người. Vỹ bèn vào đánh đàn, bỗng thấy kim đồng ngọc nữ hàng trăm người theo
hầu ân hậu mở cửa mà ra. Vỹ cả kinh, xuống điện phục lậy. Hậu cười phán rằng:
"Thôi quan nhân ở đâu tới đây?" Rồi lại mời lên điện mà nói: "Xưa kia điện ân
Vương bỏ hoang đổ nát, không người thờ cúng, nhờ có Thôi ngự sử sửa chữa, người
đời mới theo gương mà cúng thờ măi măi. Ta đă sai tiên nữ Ma Cô đi t́m để báo
ơn, không gặp ngự sử mà chỉ gặp công tử. Vẫn chưa có ǵ báo đáp, nay may được
trông thấy mặt công tử, nhưng hiềm v́ có sắc gọi cho nên Vương lên chầu trời
hiện không ở nhà". Bèn ban tiệc rượu, chuốc cho ăn uống no say. Xong tiệc, bỗng
thấy có một người râu dài bụng to tiến lên dâng biểu, quỳ xuống mà tâu rằng:
"Ngày 13 tháng giêng, người phương Bắc là Nhâm Hiêu đă bị thần Xương Cuồng đánh
chết". Tâu xong, Hậu bèn nói: "Dương quan nhân hăy đưa Thôi công tử trở về trần
thế". Hậu quay vào. Dương quan nhân bèn bảo Vỹ nhắm mắt ngồi lên vai ḿnh. Hơn
một khắc sau lại xuống tới đỉnh núi. Dương quan nhân biến thành một con dê đá mà
đứng ở trong núi, nay con dê ấy c̣n ở sau chùa Triệu Việt Vương trên núi Trâu
Sơn. Vỹ trở về nhà ứng Huyền kể lại đầu đuôi câu chuyện.
Đêm ngày mồng 1 tháng 8, đương lúc xế
bóng, Vỹ và Huyền cùng đi dạo bên ngoài. thấy tiên nữ Ma Cô dắt một người con
gái tới cho Vỹ để kết làm vợ chồng, lại cho cả viên ngọc Long Tụy. Vốn xưa ngọc
đó có hai viên thư, hùng, suốt từ đời vua Hoàng Đế tới triều nhà ân vẫn được lưu
truyền là vật quí ở đời. Trong cuộc chiến trận ở Trâu Sơn, vua ân đeo ngọc đó mà
chết, ngọc bị vùi xuống đất mà hào quang của nó vẫn chiếu tỏa đến tận trời. Thời
binh hỏa đời Tần, báu ngọc đều cháy hết, người ta xem linh khí mà biết rằng viên
ngọc quí Long Tụy vẫn c̣n ở nước Nam, mới từ xa tới t́m. Đến nay ân Vương lấy
ngọc qúi này báo đáp ơn Vỹ. Người thời ấy đem vàng bạc lụa là đáng giá trăm
ngh́n quan tới mua, Vỹ do đó mà giàu lớn. Sau tiên nữ Ma Cô tới đón vợ chồng Vỹ
đi đâu không biết, có lẽ đă hóa thành tiên vậy. Nay giếng đă lở thành cái huyệt
rộng, gọi là Việt Tỉnh Cương.
13-
TRUYỆN RÙA VÀNG
Vua An Dương Vương nước âu Lạc là
người Ba Thục, họ Thục tên Phán. Nhân v́ tổ phụ ngày trước cầu hôn lấy Mỵ Nương
là con gái vua Hùng Vương, Hùng Vương không gả cho, bèn mang oán. Phán muốn hoàn
thành chí người trước, cử binh đi đánh Hùng Vương, diệt nước Văn Lang, cải tên
nước thành âu Lạc, rồi lên làm vua, xây thành ở đất Việt Thường, hễ đắp tới đâu
lại lở tới đấy. Vua bèn lập đàn trai giới, cầu đảo bách thần. Ngày mồng 7 tháng
3 bỗng thấy một cụ già từ phương đông tới trước cửa thành mà than rằng: "Xây
dựng thành này biết bao giờ cho xong được!" Vua mừng rỡ đón vào trong điện, thi
lễ, hỏi rằng: "Ta đắp thành này đă nhiều lần băng lở, tổn nhiều công sức mà
không thành, thế là cớ làm sao?" Cụ già đáp: "Sẽ có sứ Thanh Giang tới cùng nhà
vua xây dựng mới thành công", nói xong từ biệt ra về. Hôm sau vua ra cửa đông
chờ đợi, chợt thấy một con rùa vàng từ phương đông lại, nổi trên mặt nước, nói
sơi tiếng người, tự xưng là sứ Thanh Giang, thông tỏ việc trời đất, âm dương,
quỷ thần. Vua mừng rỡ nói: "Điều đó chính cụ già đă báo cho ta biết trước". Bèn
rước vào trong thành, mời ngồi trên điện, hỏi v́ sao xây thành không được. Rùa
vàng đáp: "Cái tinh khí ở núi này là con vua đời trước, muốn báo thù cho nước.
Lại có con gà trống sống ngàn năm, hóa thành yêu tinh ẩn ở núi Thất Diệu.
Trong núi có ma, đó là hồn người nhạc
công triều đại trước chôn ở đây. ở bên cạnh, có một quán trọ cho khách văng lai,
chủ quán tên là Ngộ Không, có một người con gái và một con gà vốn là dư khí của
quỉ tinh, phàm có khách qua đường nghỉ đêm ở quán th́ quỉ tinh lại biến hóa muôn
h́nh vạn trạng để làm hại. Người chết v́ thế rất nhiều. Nay con gà trống trắng
lại lấy con gái chủ quán, nếu giết được con gà trống th́ trấn áp được quỉ tinh,
quỉ tinh sẽ tụ âm khí thành yêu, hóa ra con chim cú ngậm lá thư bay lên trên cây
chiên đàn tâu cùng thượng đế xin phá thành. Thần sẽ xin cắn rơi lá thư, nhà vua
tức tốc lặt lấy, thành sẽ xây được". Rùa vàng bảo vua giả làm kẻ hành nhân nghỉ
trọ ở quán, để rùa vàng ở phía trên khung cửa. Ngộ Không nói: "Quán này có yêu
tinh, đêm thường giết người. Hôm nay trời chưa tối, xin ngài đi mau chớ nghỉ
lại". Vua cười, nói: "Sống chết có mệnh, ma quỷ làm ǵ được, ta không sợ". Bèn
cứ nghỉ lại. Đến đêm, quỉ ở ngoài vào, thét lớn: "Kẻ nào ở đây, sao chẳng mau mở
cửa?" Rùa vàng hét: "Cứ đóng cửa th́ mày làm ǵ?". Quỉ bèn biến hóa trăm h́nh
vạn trạng, muôn kế ngh́n phương để ḥng dọa nạt, sau cùng cũng chẳng nổi. Đến
lúc gà gáy sáng, quỷ tinh tẩu tán. Rùa vàng cùng vua đuổi theo, tới núi Thất
Diệu, quỉ tinh thu h́nh biến mất. Vua bèn quay về quán. Sáng hôm sau, chủ quán
sai người đến lượm xác khách trọ để chôn, thấy vua vẫn cười nói hớn hở, bèn cùng
chạy tới lạy mà nói rằng: "Ngài được như thế tất là thánh nhân, vậy xin ban
thuốc thần để cứu sinh dân".
Vua nói: "Nhà ngươi giết con gà trắng
mà tế thần, quỉ tinh sẽ tan hết". Ngộ Không y lời, đem gà trắng ra giết, người
con gái lập tức quay ra chết. Vua bèn sai đào ở núi Thất Diệu, lấy được nhiều
nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống ḍng sông. Trời gần
tối, vua và rùa vàng lên núi Việt Thường thấy quỉ tinh đă biến thành con chim cú
sáu chân, ngậm lá thư bay lên cây chiên đàn, rùa vàng biến thành con chuột đen
theo sau, cắn vào chân cú, lá thư rơi xuống đất, vua vội nhặt lấy, lá thư đă bị
nhấm rách quá nửa. Từ đó quỉ tinh bị diệt. Thành xây nửa tháng th́ xong. Thành
đó rộng hơn ngàn trượng, xoắn như h́nh trôn ốc, cho nên gọi là Loa Thành, c̣n
gọi là Tư Long thành, người đời Đường gọi là Côn Lôn thành, lấy lẽ rằng nó cao
lắm. Rùa vàng ở lại ba năm, rồi từ biệt ra về. Vua cảm tạ nói: "Nhờ ơn của thần,
thành đă xây được. Nay nếu có giặc ngoài th́ lấy ǵ mà chống?". Rùa vàng đáp:
"Vận nước suy thịnh, xă tắc an nguá đều do mệnh trời, vua có thể tu đức mà kéo
dài thời vận. Song vua ước muốn, ta có tiếc chi". Bèn tháo vuốt đưa cho nhà vua
mà nói: "Đem vật này làm nẫy nỏ, nhằm quân giặc mà bắn th́ sẽ không lo ǵ nữa".
Dứt lời, trở về biển đông. Vua sai Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt làm nẫy. Gọi là Linh
Quang Kim Quá thần cơ. Về sau Triệu Vương là Đà cử binh nam xâm, cùng vua giao
chiến. Vua lấy nỏ thần ra bắn, quân Đà thua lớn, chạy về Trâu Sơn cầm cự với nhà
vua, không dám đối chiến, bèn xin ḥa. Vua cả mừng, hẹn rằng phía bắc sông Tiểu
Giang thuộc Triệu Đà cai trị, phía nam th́ vua cai trị. Không bao lâu, Đà cầu
hôn. Vua vô t́nh gả con gái là Mị Châu cho con trai Đà là Trọng Thủy. Trọng Thủy
dỗ Mị Châu cho xem trộm nỏ thần rồi ngầm làm một cái lẫy nỏ khác thay vuốt rùa
vàng, nói dối là về phương bắc thăm cha. Nói rằng: "T́nh vợ chồng không thể lăng
quên, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ. Ta nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai
nước thất ḥa, bắc nam cách biệt, ta lại t́m nàng, lấy ǵ làm dấu?". Đáp: "Thiếp
phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt lá th́ đau đớn khôn xiết, thiếp có áo gấm lông
ngỗng thường mặc trên ḿnh, đi đến đâu sẽ rứt lông mà rắc ở ngă ba đường để làm
dấu, như vậy sẽ có thể cứu được nhau". Trọng Thủy mang lẫy thần về nước. Đà được
lẫy cả mừng, bèn cử binh sang đánh. Vua cậy có nỏ thần, vẫn điềm nhiên đánh cờ,
cười mà nói rằng: "Đà không sợ nỏ thần sao?" Quân Đà tiến sát, vua cầm lấy nỏ,
thấy lẫy thần đă mất bèn bỏ chạy. Vua đặt Mỵ Châu ngồi đằng sau ngựa rồi cùng
nhau chạy về phương Nam. Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng mà đuổi. Vua chạy tới bờ
bể, đường cùng, không có thuyền qua bèn kêu rằng: "Trời hại ta, sứ Thanh Giang ở
đâu mau mau lại cứu". Rùa vàng hiện lên mặt nước, thét lớn: "kẻ ngồi sau ngựa
chính là giặc đó!". Vua bèn tuốt kiếm chém Mỵ Châu, Mỵ Châu khấn rằng: "Thiếp là
phận gái, nếu có ḷng phản nghịch mưu hại lại cha, chết đi sẽ biến thành hạt
bụi. Nếu một ḷng trung hiếu mà bị người lừa dối th́ chết đi sẽ biến thành châu
ngọc để tẩy sạch mối nhục thù". Mỵ Châu chết ở bờ bể, máu chảy xuống nước, trai
ṣ ăn phải đều biến thành hạt châu. Vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa vàng rẽ nước
dẫn vua đi xuống bể. Đời truyền rằng nơi đó là đất Dạ Sơn, tổng Cao Xá, phủ Diễn
Châu. Quân Đà kéo tới đấy không thấy bóng vết ǵ, chỉ c̣n lại xác Mỵ Châu. Trọng
Thủy ôm xác vợ đem về táng ở Loa Thành, xác biến thành ngọc thạch. Mỵ Châu đă
chết, Trọng Thủy thương tiếc khôn cùng, khi đi tắm tưởng như thấy bóng dáng Mỵ
Châu, bèn lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau ṃ ngọc ở biển đông lấy
nước giếng này mà rửa th́ thấy trong sáng, nhân kiêng tên Mỵ Châu cho nên gọi
ngọc minh châu là đại cữu và tiểu cữu.
14-
TRUYỆN HAI BÀ TRINH LINH PHU NHÂN HỌ TRƯNG
Theo sách Sử Kư th́ hai bà Trưng vốn
ḍng họ Hùng, chị tên là Trắc, em tên là Nhị, người ở huyện Mê Linh, đất Phong
Châu, con gái quan Hùng tướng đất Giao Châu. Xưa Trắc lấy Thi Sách người huyện
Chu Diên. Bà rất có tiết nghĩa, tính khí hùng dũng, có trí quyết đoán sáng suốt.
Thời ấy, Tô Định ở Giao Châu rất tham bạo, nhân dân rất khổ sở. Trắc thù Định
giết chồng ḿnh, bèn cùng em là Nhị dấy binh đánh Định, vây hăm Giao Châu; các
quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, hai chị em bèn b́nh định được
sáu mươi lăm thành ở Lĩnh Ngoại tự lập làm vua, xưng hiệu là Trưng vương, đóng
đô ở thành ạ Diên. Tô Định chạy về Nam Hải, Hán Quang Vũ nghe tin, biếm Tô Định
về quận Đạn Nhĩ sai tướng là bọn Mă Viện và Lưu Long sang thay. Quân địch đến
Lăng Bạc, bà chống cự. Qua năm, bà thấy binh thế Mă Viện cường thịnh, tự lượng
sức quân ḿnh ô hợp, sợ không chống nổi, bèn lui về giữ đất Cẩm Khê. Viện đem
quân đến đánh, bộ hạ bà Trưng đều bỏ chạy. Bà thế cô, bị hại trong trận. Có chỗ
nói rằng bà lên núi Há Sơn rồi không biết đi đâu mất. Người trong châu thương
cảm, lập miếu ở cửa sông Hát Giang để phụng thờ. Phàm những người gặp tai họa
tới cầu đảo đều ứng nghiệm.
Thời Lư Anh Tông gặp đại hạn, vua sai
Cảm Tĩnh thiền sư cầu mưa. Một hôm mưa xuống mát lạnh thấu người. Vua mừng, ra
xem, tự nhiên ngủ thiếp đi, mộng thấy hai người con gái đội mũ phù dung, mặc áo
xanh, thắt lưng đỏ, cưỡi ngựa sắt theo gió lướt qua. Vua lấy làm lạ bèn hỏi. Hai
người trả lời rằng: "Chúng ta là hai chị em họ Trưng vâng mệnh thượng đế làm ra
mưa".
Vua muốn hỏi thêm cặn kẽ. Hai người
bèn giơ tay ngăn lại. Vua tỉnh mộng, cảm kích, ra lệnh tu sửa đền, đem lễ đến
dâng. Về sau hai bà lại thác mộng cho vua xin lập đền ở băi Đồng Nhân. Vua nghe
theo, sách phong làm trinh linh nhị phu nhân. Triều Trần lại gia phong cho mỹ tự
là Hiển liệt chế thắng thuần bảo thuận. Cho đến nay vẫn được bao phong đời đời,
lửa hương không dứt.
15-
TRUYỆN MAN NƯƠNG
Thời Hiến Đế nhà Hán, quan thái thú
là Sĩ Nhiếp đóng đô thành ở bờ phía nam sông B́nh Giang (nay là Thiên Đức
Giang). Phía Nam thành đó có chùa thờ Phật, có vị sư từ phương Tây tới, hiệu là
Già-la-đồ-lê trụ tŕ ở đấy, có phép đứng một chân, mọi người đều kính phục gọi
là tôn sư, kéo nhau tới học đạo. Hồi ấy có người con gái tên là Man Nương, cha
mẹ đều đă mất, nghèo khổ vô cùng, cũng tới đó dốc ḷng theo học đạo Phật, nhưng
v́ ả có tật nói lắp, không thể cùng chúng tụng kinh, thường ở dưới bếp, vo gạo,
nhặt rau, nấu nướng cho các vị tăng trong chùa và khách tứ phương tới học. Một
đêm vào tháng năm, đêm ngắn, tăng đồ tụng kinh đến lúc gà gáy. Man Nương nấu
cháo đă chín mà tăng đồ tụng kinh chưa xong, chưa tới ăn cháo. Man Nương bèn nằm
tựa ở trong cửa bếp, không ngờ ngủ quên đi mất. Tăng đồ tụng kinh xong đều về
pḥng riêng. Man Nương ngủ ở giữa cửa, sư Già-la bước qua ḿnh Man Nương. Man
Nương tự nhiên động thai. Có thai được ba bốn tháng, Man Nương xấu hổ bỏ về. Sư
Già-la cũng thẹn mà bỏ đi. Man Nương về tới một ngôi chùa ở ngă ba sông th́ ở
lại đó. Đầy tháng sinh ra một đứa con gái, t́m sư Già-la mà trả. Đêm đến, sư
Già-la bế đứa con gái tới ngă ba đường thấy một cây phù dung cành lá xum xuê, có
một cái hốc sâu mà sạch sẽ, sư đặt đứa trẻ vào mà nói: "Ta gửi con Phật, mi giữ
lấy sẽ thành Phật đạo". Già-la, Man Nương từ giă ra về, Già-la cho Man Nương một
cây trượng mà bảo: "Ta cho nàng vật này, nàng về nhà nếu gặp năm đại hạn th́ lấy
trượng cắm xuống đất, lấy nước cứu sinh dân". Man Nương cung kính bái lĩnh mà về
ở trong chùa. Gặp năm đại hạn, nàng lấy trượng cắm xuống đất, tự nhiên nước cuồn
cuộn chảy ra, dân được nhờ ơn. Khi Man Nương ngoài chín mươi tuổi là lúc cây phù
dung bị đổ, trôi ra ở bến sông 83 84 Prev Page 19 Next trước cửa chùa, quanh quẩn ở đấy mà
không trôi đi. Dân thấy thế, định bổ làm củi nhưng ŕu nào cũng đều bị găy, bèn
đưa hơn ba trăm người trong làng ra kéo cây gỗ lên mà không chuyển.
Gặp lúc Man Nương xuống bến rửa tay,
thử kéo chơi th́ cây chuyển động. Chúng đều ngạc nhiên, bảo Man Nương kéo lên bờ
sai thợ tạc bốn pho tượng Phật. Khi xẻ cây gỗ đến chỗ đặt đứa con gái th́ thấy
đă hóa thành một tảng đá rất rắn. Tốp thợ lấy ŕu đập tảng đá, ŕu đều bị mẻ. Họ
liền vứt đá xuống vực sông, một tia sáng chói lên, hồi lâu đá mới ch́m xuống
nước. Bọn thợ đều chết cả. Dân mời Man Nương bái lễ, thuê dân chài lặn xuống
nước vớt lên, rước vào tự điện, đặt vào bên trong tượng Phật, tượng Phật tự
nhiên trông như mạ vàng. Sư Già-la đặt Phật hiệu là: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp
Lôi, Pháp Long, tứ phương cầu đảo không điều ǵ không ứng. Dân làng đều gọi Man
Nương là Phật mẫu. Ngày 4 tháng 4, Man Nương không bệnh mà chết, táng ở trong
chùa. Người đời lấy ngày này làm ngày sinh của Phật. Hàng năm, tới ngày ấy, nam
nữ bốn phương thường tụ hội ở chùa này vui chơi ca múa, người đời gọi là hội Tắm
Phật.
16-
TRUYỆN NAM CHIẾU
Người Nam Chiếu là con cháu vua Vũ Đế
Triệu Đà vậy. Thời Hán Vũ Đế, thừa tướng nước Nam Việt là Lữ Gia không phục,
giết sứ Hán là bọn An quốc, Thiếu Quư. Hán Vũ Đế sai tướng là bọn Lộ Bác Đức,
Dương Phác đem quân chinh phạt, bắt Vệ Dương Vương Kiến Đức và Lữ Gia, thôn tính
cả nước, phân đất cho các quan cai trị. Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương,
sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn là những xứ vắng vẻ không có người.
Khi bộ hạ
đông đúc, họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp
người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu,
sau gọi sai là Nam Chiếu, cho nên họ mang danh hiệu ấy. Đến đời Ngô, Tôn Quyền
sai Đái Lương, Lữ Đại làm thú mục để đánh dẹp. Quân Nam Chiếu ở cả một vùng từ
núi Thiên Cầm tới Hà Hoa, Cao Vọng, Hoành Sơn, ạ Tung, Hải Ngạn, Sử Bộ, Trường
Sa, Quế Hải, Vọng Cái, Lỗi Lôi, núi cao bể rộng, sóng gió hiểm trở, không có một
vết chân người. Quân Nam Chiếu ở đấy thường lấy việc cướp bóc để sinh sống, đánh
giết thú mục, không thể ngăn cản nổi. Đồ đảng của chúng khá nhiều, hay đem hàng
hóa châu ngọc đút lót cho nước Tây Bà Dạ cầu làm thân thuộc, cùng giúp đỡ nhau.
Cuối đời Tấn thiên hạ rối loạn, có người thổ tù là Triệu ông Lư cũng là con cháu
của Triệu Vũ Đế, anh em đông đúc, thảy đều dũng lược hơn người, ai nấy đều phục,
cùng với quân Nam Chiếu hợp lại, được hơn hai vạn người, lại đem châu ngọc tiến
nước Tây Bà Dạ, xin chỗ đất không ngay cạnh đó để ở. Khi ấy, Tây Bà Dạ quốc chia
đều băi bể và đồng nội ra thành hai lộ. Một lộ trên từ Quư Châu, dưới tới Diễn
Châu gọi là lộ Gia Viễn, giết trâu ăn thề rồi giao cho nước Nam Chiếu và Triệu
ông Lư thống lĩnh. Sau đó, ông Lư xây thành ở tổng Cao Xá, đất Diễn Châu, đông
tới Giáp Hải, tây tới nước Bà Dạ, nam tới Hoành Sơn, tự xưng làm chúa. Nhà Đông
Tấn sai tướng quân là Tào Nhĩ đem quân sang đánh, ông Lư phục tượng binh ở chỗ
hiểm trở nơi đầu nguồn sông mà đánh, rồi lại tới nấp ở Mê Sơn và Mạt Sơn ngoài
bể, địch tụ th́ ḿnh tán, địch tán th́ ḿnh tụ, sáng ra tối vào, cầm cự trong 4,
5 năm trời. Quân Tấn không chịu nổi khí núi, tử vong quá nửa, bèn rút quân về.
Quân Nam Chiếu thường tới cướp các xứ Nam Thành, Đông Thành, Trường An, thú lệnh
không thể dẹp nổi. Tới khi nhà Đường thịnh lên, vua ư Tông sai Cao Biền đem quân
sang dẹp, không đánh nổi phải bỏ về. Tới đời Ngũ Đại, vua Tấn là Thạch Kinh
Đường sai quan tư mă họ Lư đem 20 vạn quân đánh vào Đồ Sơn, quân Nam Chiếu bèn
rút về ở nhờ tại biên giới Ai Lao, hiệu là Đầu Hoành Mô Quốc Bồn Mang, thường
lấy sự cướp bóc làm nghề, lúc đánh lúc nghỉ, chưa hề bao giờ yên chiến sự. Đất
đó nay là phủ Trấn Ninh, muôn đời sát nhập trong bản đồ nước Đại
Việt.
17-
TRUYỆN SÔNG TÔ LỊCH
Năm Hàm Thông thứ 6, vua Đường ư Tông sai Cao Biền làm đô hộ tướng quân, đem binh đánh giặc Nam Chiếu. Lúc Biền trở về, nhà vua đặt Tĩnh Hải quân ở thành Lĩnh Nam, cho Biền làm tiết độ sứ. Biền thông hiểu thiên văn địa lư, xem h́nh thế đất mà xây thành Đại La ở phía tây Lô Giang, chu vi 30 dặm để ở. Có ḍng sông con từ Lô Giang chảy vào phía Tây Bắc, cuốn quanh phía nam, ôm lấy thành Đại La rồi lại nhập vào sông cái. Hồi đó đang giữa tháng sáu nước mưa lên cao: Biền cưỡi thuyền nhẹ thuận ḍng vào tiểu giang đi khoảng một dặm, bỗng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, dung mạo dị kỳ, tắm ở giữa ḍng sông, cười nói tự nhiên. Biền hỏi họ tên. Đáp: ta họ Tô tên Lịch. Biền lại hỏi: Nhà ở đâu? Đáp: Nhà ở trong sông này. Dứt lời, lấy tay đập nước bắn tung mù mịt, bỗng nhiên không thấy đâu nữa. Biền biết là thần, bèn đặt tên sông là Tô Lịch. Một buổi sớm khác, Biền ra đứng ở bờ sông Lô Giang, phía đông thành Đại La, thấy trận gió lớn nổi lên, sóng nước cuồn cuộn, mây trời mù mịt, có một dị nhân đứng trên mặt nước, cao hơn hai trượng, ḿnh mặc áo vàng, đầu đội mũ tím, tay cầm hốt vàng rực rỡ một khoảng trời, chập chờn lên xuống trên khoảng không. Mặt trời cao ba con sào, khí mây hăy c̣n mù mịt, Biền rất kinh dị, muốn yểm thần. Đêm nằm mộng thấy thần nhân tới nói rằng: "Chớ yểm ta, ta là tinh ở Long Đỗ, đứng đầu các địa linh, ông xây thành ở đây, ta chưa được gặp, cho nên tới xem đó thôi, ta có sợ ǵ bùa phép?" Biền kinh hăi. Sáng hôm sau, Biền lập đàn niệm chú, lấy kim đồng thiết phù để yểm. Đến hôm ấy, sấm động ầm ầm, gió mưa dậm dật, đất trời u ám, thần tướng ḥ reo, kinh thiên động địa. Trong khoảnh khắc, kim đồng thiết phù bật ra khỏi đất, biến thành tro, bay tan trên không. Biền càng kinh hăi, than rằng: "Xứ này có thần linh dị, ở lâu tất chuốc lấy tai vạ”. Sau ư Tông triệu Biền về, quả nhiên Biền bị giết và Cao Tàm được cử sang thay.