Khổng Tử
Đức Nguyên Nguyễn Văn Hồng
Khổng Tử (551 - 479 t.TL): người lập ra Nho giáo
孔子
A: Confucius.
P: Confucius.
Khổng: Họ Khổng, chỉ Đức Khổng Tử. Tử: thầy.
Khổng Tử là Thầy Khổng.
Tiểu sử của Đức Khổng Tử.
Tiểu sử
Đức tánh của Đức Khổng Tử
Thời kỳ tham chánh và dạy học
Thời kỳ chu du các nước chư Hầu
Đức Khổng Tử gặp Thần đồng Hạng Thác
Thời kỳ soạn sách và dạy học trò
Đức Khổng Tử tạ thế
Các triều đại phong tặng Đức Khổng Tử
Văn miếu
Đức Khổng Tử trong Đạo Cao Đài
Sau đây là phần: Tiểu sử của Đức Khổng Tử.
Đức Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni, sanh ngày
27 tháng 8 âm lịch năm Canh Tuất (551 trước Tây lịch),
đời vua Châu Linh Vương năm thứ 21 nhà Châu, tương ứng
với đời vua Lỗ Tương Công năm thứ 22, tại làng Xương
Bình, huyện Khúc Phụ, nước Lỗ, bây giờ là Tỉnh Sơn Đông
nước Trung Hoa.
Đức Khổng Tử là dòng dõi của Vi Tử Khải và Vi Tử Diễn,
hai người nầy là anh ruột của vua Trụ, con của vua Đế
Ất nhà Thương (cũng còn gọi là nhà Ân).
Sau khi Châu Võ Vương diệt vua Trụ, mở ra nhà Châu,
Ông Châu Công Đán cho Vi Tử Khải làm vua nước Tống,
gọi là Tống Công, để trông nom việc tế tự các vua nhà
Thương. Vi Tử Khải mất, em là Vi Tử Diễn lên thay.
Cháu 13 đời của Vi Tử Diễn là Thúc Lương Ngột, làm
quan Đại phu nước Lỗ, là thân phụ của Đức Khổng Tử.
Ngài lấy họ Khổng, bởi vì Thúc Lương Ngột là dòng dõi
của Khổng Phùng Thúc, biệt lập ra họ Khổng kể từ Khổng
Phụ Gia, sau 5 đời Công Khanh thế tập ở nước Tống.
Thúc Lương Ngột có người vợ cả họ Thi, sanh được 9
người con gái, một người vợ lẽ sanh được một con trai
nhưng bị què một chân, tên là Mạnh Bì, tự là Bá Ni.
Năm Thúc Lương Ngột 70 tuổi, sợ không có người kế tự,
mới sai người đến nhà họ Nhan để cầu hôn. Họ Nhan có
năm người con gái đều chưa gả chồng, có ý chê Thúc Lương
Ngột quá già, mới bảo với các con gái rằng:
- Các con có đứa nào thuận kết duyên với quan Đại phu
ở Châu Ấp đó không?
Bốn người con gái lớn đều làm thinh, người con gái
út là Trưng Tại đứng dậy thưa rằng:
- Phép làm con gái, khi còn ở nhà thì theo lời cha,
cha đặt đâu con xin ngồi đó.
Họ Nhan nghe con gái út nói thế thì lấy làm lạ, liền
gả Trưng Tại cho Thúc Lương Ngột.
Trưng Tại đã kết duyên với Thúc Lương Ngột rồi, vợ
chồng lo về sự hiếm hoi không có con trai nối dõi, nên
cùng nhau vào núi Ni Sơn cầu tự. Khi Trưng Tại trèo
lên núi Ni sơn, bao nhiêu lá cây đều rung động lên cả.
Khi làm lễ cầu tự xong, đi trở xuống thì lá cây lại
rủ xuống như cũ.
Đêm hôm ấy, Trưng Tại nằm mộng thấy Thần Hắc Đế triệu
đến mà bảo rằng:
- Sau nầy, nàng sẽ sanh con Thánh, nhưng khi nào lâm
sản thì nên vào ở trong hang núi Không Tang.
Đến khi nàng thức giấc tỉnh dậy thì biết mình có thai.
Một hôm khác, Trưng Tại mơ mơ màng màng như người chiêm
bao, chợt thấy một Ông già đến đứng ở sân, tự xưng là
Ngũ Tinh, dắt theo một con thú giống như con trâu con
mà lại có một sừng, mình có vằn. Con thú ấy trông thấy
Trưng Tại thì nằm phục xuống và nhả ra một cái ngọc
xích, trên đó có đề chữ "Con nhà Thủy Tinh, nối
đời suy Châu mà làm vua không ngôi."
Trưng Tại biết là điềm lạ, liền lấy dải lụa buộc vào
sừng con thú ấy. Khi tỉnh dậy, Trưng Tại thuật điềm
chiêm bao ấy cho chồng nghe. Thúc Lương Ngột nói:
- Con thú ấy là con kỳ lân.
Gần đến sản kỳ, Trưng Tại hỏi hang núi Không Tang ở
đâu? Thúc Lương Ngột nói:
- Núi Nam sơn có một cái hang đá, tục gọi là hang Không
Tang.
Trưng Tại liền sửa soạn đến đó ở và sanh đẻ trong hang
Không Tang đúng theo lời Thần nhân mách bảo. Đêm hôm
sanh ra Khổng Tử, có hai con rồng xanh từ trên Trời
bay xuống nằm phục ở hai bên sườn núi và có hai vị Thần
Nữ đem nước hương lộ đến gội đầu cho Trưng Tại. Gội
xong thì biến đi. Khi Trưng Tại lâm sản, bỗng thấy trong
hang đá có một suối nước nóng chảy ra để Trưng Tại tắm.
Tắm xong thì suối cạn ngay.
Thúc Lương Ngột nói:
- Vì ta cầu tự nơi núi Ni Sơn mà được đứa bé nầy, nên
ta đặt tên cho nó là Khâu, tự là Trọng Ni.
Trưng Tại biết đứa con nầy sẽ làm nên việc lớn, nên
hết sức nuôi nấng và chăm sóc con.
Ông Khổng Tử có tướng lạ lắm: Môi như môi trâu, tay
như tay hổ, vai như vai chim uyên, lưng rùa, miệng rộng,
hầu lộ, trán phẳng và cao, khi lớn, mình cao 9 thước
6 tấc (thước Tàu), có tánh ham học.
Năm Khổng Tử lên 3 tuổi thì cha mất. Ngài sống với
mẹ trong cảnh nhà nghèo. Khi lớn lên, mẹ cho đi học,
Ngài chơi với trẻ hàng xóm, thích bày trò cúng tế.
Năm 15 tuổi, lập chí học tập.
Năm 19 tuổi, Ngài cưới vợ, vợ của Ngài là con của họ
Thượng Quan nước Tống.
Năm 20 tuổi, vợ Ngài sanh đặng một con trai. Hôm đó,
Lỗ Chiêu Công sai đem đến ban cho Ngài một con cá chép
(Lý ngư), nên nhân đó, Ngài đặt tên con là Lý tự là
Bá Ngư, để tỏ lòng tôn trọng vật của vua ban tặng. Về
sau, Bá Ngư chết lúc 50 tuổi, chết trước Đức Khổng Tử.
Con của Bá Ngư tên là Khổng Cấp, tự là Tử Tư, sau theo
học với Tăng Sâm, rồi làm ra sách Trung Dung.
1. Đức tánh của Đức Khổng Tử:
Đức Khổng Tử là người rất thông minh, luôn luôn ham
học. Bất cứ việc gì, Ngài cũng để ý xem xét rất kỹ lưỡng
để biết cho cùng tận mới thôi. Tánh Ngài ôn hòa, nghiêm
trang, khiêm tốn, làm việc gì cũng hết sức cẩn thận,
đề cao lễ nhạc, luôn luôn tin vào Thiên mệnh.
2. Thời kỳ tham chánh và dạy học:
Năm 21 tuổi, Đức Khổng Tử được cử làm chức Ủy Lại,
một chức quan nhỏ coi việc sổ sách của kho lúa, cùng
là cân đo và gạt lúa. Sau đó, qua làm chức Tư Chức Lại,
coi việc nuôi bò, dê, súc vật dùng trong việc tế tự.
Năm Ngài 25 tuổi thì chịu tang mẹ.
Năm 29 tuổi, Ngài học đàn với Sư Tương, ở nước Lỗ.
Tuy làm chức quan nhỏ, nhưng Đức Khổng Tử đã nổi tiếng
là người học rộng, biết nhiều, nên quan Đại phu nước
Lỗ là Trọng Tôn Cồ, cho hai người con trai là Hà Kỵ
và Nam Cung Quát theo Ngài học Lễ.
Đức Khổng Tử muốn đến Lạc Dương, kinh đô nhà Châu,
để nghiên cứu về nghi lễ, chế độ miếu đường, nhưng vì
nhà nghèo, không đủ tiền lộ phí, đành than thở mà thôi.
Học trò Ngài là Nam Cung Quát nghe vây, liền về tâu
với Lỗ Chiêu Công. Vua liền ban cho Ngài một cổ xe song
mã và vài tên quân hầu cận để đưa Ngài và Nam Cung Quát
đi Lạc Dương. Đến nơi, Đức Khổng Tử quan sát nhà Tôn
miếu, nhà Minh đường, khảo cứu luật lệ và thư tịch đời
cổ, đi xem Giao đàn là nơi nhà vua tế Thiên Địa và Tinh
tú, rồi đến Xã đàn là nơi vua tế Thần Nông và Thần Hậu
Thổ.
Nơi nào có quan hệ đến việc tế lễ thì Ngài đến quan
sát và hỏi han cho tường tận.
Ngài đến gặp Trành Hoành để hỏi về Nhạc.
Khi ở Lạc Dương, Đức Khổng Tử còn tìm đến gặp Đức Lão
Tử để hỏi về Lễ. (Xem Tiểu sử của Đức Lão Tử để biết
việc đối đáp của 2 vị Thánh nhân, nơi chữ Lão Tử, vần
L) .
Đức Khổng Tử ở Lạc Dương khảo sát các việc xong thì
trở về nước Lỗ.
Từ đó, sự học của Ngài càng rộng hơn nhiều nên học
trò xin theo học càng lúc càng đông. Nhưng vua Lỗ vẫn
chưa dùng Ngài vào việc nước.
Được mấy năm, trong nước Lỗ, Quý Bình Tử khởi loạn.
Ngài theo Lỗ Chiêu Công tạm lánh sang nước Tề. Ở đây
Ngài học được Nhạc thiều. Tề Cảnh Công mời Ngài tới
để hỏi việc Chánh trị. Vua Tề rất khâm phục, muốn đem
đất Ni Khê phong cho Ngài, nhưng quan Tướng Quốc nước
Tề là Yến Anh ngăn cản không cho.
Năm sau, Ngài trở về nước Lỗ, thấy họ Quý dùng Dương
Hổ để chuyên quyền, ý muốn tiếm đoạt. Ngài quay về quê
lo việc dạy học, và nghiên cứu cho tường tận Đạo học
của Thánh hiền. Lúc đó Ngài được 36 tuổi.
Đến năm thứ 9 đời vua Lỗ Định Công, Ngài được 51 tuổi,
được vua Lỗ mời ra làm quan, phong cho chức Trung Đô
Tể lo việc cai trị ở Ấp Trung Đô, tức là đất Kinh thành.
Một năm sau, bốn phương lấy chính sự của Ngài làm khuôn
mẫu.
Năm Lỗ Định Công thứ 10 (500 năm trước Tây lịch), Ngài
phò vua Lỗ đi phó hội với Tề Cảnh Công ở Giáp Cốc. Nhờ
tài ngôn luận và ứng đáp kịp thời, vua Tề rất khâm phục
và trả lại cho nước Lỗ ba khoảnh đất ở Quy Âm mà Tề
đã chiếm của Lỗ từ mấy năm trước.
Qua năm sau, Đức Khổng Tử giữ chức Tư Không, rồi thăng
lên Đại Tư Khấu (Hình Bộ Thượng Thơ) coi việc hình án.
Ngài đặt ra luật lệ để cứu giúp kẻ nghèo khổ, lập ra
phép tắc, định việc tống táng, lớn nhỏ có trật tự, trai
gái không lẫn lộn, gian phi trộm cắp không còn nữa,
xã hội được an bình thạnh trị.
Sau 4 năm, Lỗ Định Công phong Ngài lên làm Nhiếp Tướng
Sự (Tướng Quốc), coi việc Chánh trị trong nước.
Ngài cầm quyền được 7 ngày thì tâu với vua Lỗ xin giết
gian thần Thiếu Chính Mão để chỉnh đốn quốc chính.
Đức Khổng Tử giết Thiếu Chính Mão:
Thiếu Chính Mão là một nịnh thần rất nguy hiểm dưới
trào Lỗ Định Công. Bấy giờ, Đức Khổng Tử đang làm quan
Tướng Quốc nước Lỗ. Quý Tôn Tư, một vị Đại Thần quyền
thế trong triều, nhưng luôn luôn hỏi ý kiến của Đức
Khổng Tử mỗi khi có một quyết định trong công việc trị
nước. Nhưng phần Thiếu Chính Mão, khi Đức Khổng Tử nói
ra câu gì thì liền gièm pha khiến người nghe phân vân
và đôi khi bị mê hoặc.
Đức Khổng Tử mật tâu với Lỗ Định Công:
- Nước Lỗ không cường thịnh lên được là vì trung nịnh
không phân biệt, thưởng phạt không nghiêm minh. Thí
dụ như muốn trồng lúa tốt tất phải trừ bỏ cỏ xấu. Xin
Chúa công cho đem các đồ phủ việt (dùng vào việc hình)
trong nhà Thái miếu bày ra ở dưới Lưỡng quán để dùng
vào việc hình.
Lỗ Định Công thuận cho.
Sáng hôm sau, Lỗ Định Công truyền cho các quan triều
đình hội nghị để bàn việc phá thành ấp xem lợi hại thế
nào. Các quan người nói nên phá, người nói không nên
phá.
Thiếu Chính Mão đón ý Đức Khổng Tử, nói rằng:
- Phá thành có 6 điều tiện:
Để tôn trọng quyền vua không ai bằng.
Để tôn trọng cái quyền thế Đô thành.
Để ức quyền tư môn.
Để khiến cho kẻ gia thần lộng quyền không chỗ nương
cậy.
Để yên lòng ba nhà: Mạnh, Thúc, Quý.
Để khiến cho các nước nghe việc nước Lỗ ta làm mà phải
kính phục.
Đức Khổng Tử tâu với Lỗ Định Công:
- Thành ấp nay đã thế cô còn làm gì được, huống chi
Công Liễm Dương vẫn có lòng trung với vua, sao dám bảo
là lộng quyền. Thiếu Chính Mão dùng lời nói khéo để
làm loạn chánh trị, khiến vua tôi ly gián, cứ theo phép
thì nên giết.
Các quan trong triều tâu:
- Thiếu Chính Mão là người danh giá ở nước Lỗ ta, dầu
có nói lầm đi nữa cũng chưa đến tội chết.
Đức Khổng Tử lại tâu với Lỗ Định Công:
- Thiếu Chính Mão là người dối trá mà lại biện bác,
làm người ta mê hoặc. Nếu không giết đi thì việc chánh
trị không thi hành nổi. Xin Chúa Công cho đem phủ việt
ra để trị tội.
Đức Khổng Tử truyền cho lực sĩ trói Thiếu Chính Mão
đem đến Lưỡng quán mà giết đi.
Các quan trong triều đều sợ hãi, xám xanh cả mặt. Ba
nhà: Mạnh, Thúc Quý, trông thấy cũng đều kinh sợ.
Từ khi giết xong Thiếu Chính Mão, Lỗ Định Công và ba
nhà Mạnh, Thúc, Quý mới một lòng nghe theo lời của Đức
Khổng Tử. Nhờ vậy, Đức Khổng Tử chỉnh đốn kỷ cương trong
nước, dạy dân những điều lễ, nghĩa, liêm, sĩ, nên dân
không còn nhiễu loạn mà chánh trị mỗi ngày một hay.
Ba tháng sau, phong tục biến cải cả: Các nhà buôn gà
và heo không dám nhồi cám để dối người mua, trong khi
ra đường, trai gái đi phân biệt nhau, không hỗn loạn,
thấy của rơi ngoài đường thì không ai lượm, người nước
khác du lịch đến nước Lỗ được tiếp đãi tử tế, không
để cho thiếu thốn.
Dân nước Lỗ có làm một bài ca để tán tụng công đức
của Khổng Tử. Bài ca ấy được truyền tụng sang nước Tề.
Tề Cảnh Công lo ngại nói rằng:
- Nước Lỗ biết dùng Khổng Khâu ắt nên nghiệp Bá, tất
họa đến nước Tề, ta biết làm thế nào?
Quan Đại Phu Lê Di tâu rằng:
- Chúa Công lo nước Lỗ biết dùng Khổng Khâu, sao không
lập cách ngăn đi.
Tề Cảnh Công nói:
- Nước Lỗ giao quyền chánh trị cho Khổng Khâu, ta dùng
cách gì mà ngăn trở được?
Lê Di tâu:
- Tính con người ta, hễ được cường thịnh tất sanh lòng
kiêu mạn. Xin Chúa Công lập một Bộ Nữ Nhạc mà đem dâng
vua Lỗ. Vua Lỗ mà nhận Bộ Nữ Nhạc tất sanh lười biếng
mà chán Khổng Khâu. Bấy giờ tất Khổng Khâu phải bỏ nước
Lỗ mà đi, Chúa Công mới có thể ngồi yên được.
Quả vậy, Lỗ Định Công, không nghe lời can gián của
Đức Khổng Tử, nhận Bộ Nữ Nhạc thì mê say theo, bỏ bê
việc triều chánh, có khi luôn 3 ngày không ra coi triều,
mọi việc đều giao cả cho Họ Quí. Đức Khổng Tử can gián
vua Lỗ nhiều lần nhưng không được, lại có thể bị hại
vì lời gièm siễm của bọn gian thần.
Do đó, trong ngày Lễ Tế Giao, vua Lỗ không nhìn đến,
cũng không đem phần thịt tế biếu cho các quan Đại Phu.
Đức Khổng Tử nhân việc lỗi nhỏ của vua Lỗ mà xin từ
chức, bỏ nước Lỗ đi chu du các nước chư hầu.
3. Thời kỳ chu du các nước chư Hầu:
Đức Khổng Tử cùng các học trò đi qua các nước: Vệ,
Khuông, Trần, Tống, Thái, Sở, để mong thuyết phục các
vua chư Hầu chịu đem cái Đạo của Ngài ra ứng dụng để
đem lại thái bình thạnh trị cho dân chúng. Nhưng cái
Đạo của Ngài là Vương Đạo nên đi ngược ý đồ Bá Đạo của
các vua chư Hầu và quyền lợi của các quan Đại phu nên
các vua chư Hầu đều không dám dùng Ngài.
Rốt cuộc, sau 14 năm đi chu du các nước không thành
công, Ngài phải trở về nước Lỗ, có quan Đại Phu Quý
Khang Tử sai Công Hoa ra đón Ngài.
Phu nhân của Đức Khổng Tử là bà Thượng Quan đã mất
trước đó một năm, nhằm năm Lỗ Ai Công thứ 10.
4. Đức Khổng Tử gặp Thần đồng Hạng Thác.
Đức Khổng Tử cùng một số học trò, trên đường qua nước
Trần, gặp một đám trẻ nhỏ chơi đùa giữa đường. Ngài
ngồi trên xe nhìn đám trẻ, thấy một cậu bé cặm cụi lấy
cát đắp một cái thành nhỏ mà không đùa giỡn. Ngài hỏi
cậu bé:
- Sao cậu không chơi đùa với mấy đứa trẻ kia?
Cậu bé đáp: - Đùa giỡn thì vô ích, vì có thể bị rách
áo quần, nhọc công mẹ vá, lại buồn lòng cha, nên tôi
không giỡn.
Nói xong, cậu tiếp tục lo đắp thành. Đức Khổng lại
hỏi:
- Cậu không tránh cho xe của tôi đi sao?
Cậu bé thản nhiên đáp: - Từ xưa đến giờ, xe phải tránh
thành, chớ có bao giờ thành tránh xe.
Đức Khổng Tử nghe cậu bé trả lời một câu bất ngờ và
hay quá, liền xuống xe lại gần cậu hỏi nhiều điều khó
khăn, được cậu trả lời thông suốt, sau đó cậu hỏi lại
Đức Khổng Tử mấy câu mà Ngài không trả lời được, khiến
Ngài rất phục cậu bé, tôn cậu bé làm thầy. Cậu bé ấy
là Thần đồng Hạng Thác.
"Lúc Khổng Tử dạy về Nhơn đạo thời chưa thông
Thiên đạo, còn dùng tửu nhục. Đến khi ngộ đạo cùng Hạng
Thác thì trì trai thủ giới, nên mới có câu: Thiên sanh
Khổng Tử chơn kỳ trí, tánh mạng công phu thỉ bất minh,
vãng Trần lộ ngộ Hạng Thác vi sư, lão tác đồ ty thiếu
vi tôn, cùng câu: Trai minh thạnh phục, yết dục dưỡng
tinh.
Sau ngươi Châu Tử chẳng thông thời vụ, học Trung Dung
chưa rồi mà luận đến Thiên đạo, lại chê Khổng Tử, Lão
Tử rằng luận thuyết hư vô tịch diệt là dị đoan. Có phải
ấy là ếch nằm đáy giếng xem trời nhỏ chăng?" (Đại
Thừa Chơn Giáo)
Đức Khổng Tử ở Nhơn đạo, nhờ Thần đồng Hạng Thác mà
Ngài giác ngộ, tu theo Thiên đạo nên trường trai, tuyệt
dục, dưỡng Tinh luyện đạo, đắc phẩm Chí Thánh.
5. Thời kỳ soạn sách và dạy học trò:
Khi trở về nước Lỗ, Đức Khổng Tử đã 68 tuổi. Ngài trở
lại quê nhà để mở mang việc dạy học và soạn sách.
Tổng số môn đệ của Đức Khổng Tử có lúc lên tới 3000
người (Tam thiên đồ đệ), trong đó có 72 người được liệt
vào hạng tài giỏi, nên gọi là Thất thập nhị Hiền.
Đức Khổng Tử san định lại các kinh sách của Thánh Hiền
đời trước như: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc,
Kinh Dịch.
Ngài ghi chú các lời nói của Thánh Hiền đời trước,
xếp đặt lại cho có thứ tự, chú thích những chỗ khó hiểu,
nhất là với Kinh Dịch, Ngài chú giải rất kỹ.
Sau đó, Đức Khổng Tử viết ra sách Xuân Thu, chép những
việc của nước Lỗ và của nhà Châu (Chu) liên hệ với các
nước chư Hầu từ đời Lỗ Ẩn Công nguyên niên (721 trước
Tây lịch) đến đời Lỗ Ai Công thứ 14 (481 trước Tây lịch),
tổng cộng là 242 năm. (Xem chi tiết nơi phần sau: Khổng
Tử tác Xuân Thu)
Đức Khổng Tử là bậc Chí Nhân Chí Thánh, nhưng Ngài
vẫn khiêm tốn không dám nhận mình là Thánh nhân.
Đối với các môn đệ, Ngài rất dễ dãi. Hễ ai theo đúng
lễ đến xin học thì Ngài không bao giờ từ chối. Ngài
thâu nhận học trò, không kể giàu nghèo, con quan hay
con dân. Ngài mở ra một nền giáo dục bình dân đại chúng,
đào tạo được một lớp người trí thức mới, tài giỏi và
có đức hạnh trong giới bình dân.
Sự giáo hóa của Ngài chủ yếu là làm sao cho sáng tỏ
cái đức sáng của người, chớ không gom vào trong sự truyền
thụ kiến thức. Đây là một phương pháp giáo dục rất hay
để khai mở cái Tâm của con người vậy.
6. Đức Khổng Tử tạ thế:
Mùa Xuân năm Lỗ Ai Công thứ 14 (481 trước Tây lịch),
người nước Lỗ đi săn bắt được một con kỳ lân què chân
trái phía trước. Đức Khổng Tử đến xem rồi bưng mặt khóc.
Khi trở về, Ngài than rằng: Ngô đạo cùng hỹ! (Đạo của
ta đến lúc cùng)
Sách Xuân Thu chép đến chuyện nầy thì hết, nên đời
sau còn gọi sách Xuân Thu là Lân Kinh.
Năm Nhâm Tuất đời Lỗ Ai Công thứ 17 (479 trước Tây
lịch), một hôm Đức Khổng Tử chống gậy đi tản bộ trước
nhà, vừa đi vừa hát: Thái sơn kỳ đồi hồ! Lương mộc kỳ
hoại hồ! Triết nhân kỳ nuy hồ! (Núi Thái sơn đổ ư! Cây
gỗ tốt hư hoại ư! Triết nhân mòn mỏi ư!)
Học trò của Ngài là Tử Cống liền đến hỏi thăm Ngài.
Ngài nói: Ta biết mình sắp chết.
Đến ngày Kỷ Sửu, tức là ngày 18 tháng 2 năm Nhâm Tuất,
Đức Khổng Tử tạ thế, hưởng thọ 73 tuổi. Mộ của Ngài
ở bên bờ sông Tứ Thủy, phía Bắc thành nước Lỗ, nay gọi
là Khổng Lâm, thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông.
Ba ngàn đồ đệ của Ngài đều thương tiếc và than khóc,
nguyện để tang Thầy 3 năm. Có hơn 100 môn đệ làm nhà
chung quanh phần mộ để lo phụng tự trong 3 năm, riêng
Tử Cống ở đó hết 6 năm mới thôi.
Chu vi đất quanh mộ của Đức Khổng Tử rộng chừng 100
mẫu mà không hề có cây gai và cỏ may mọc. Học trò bảo
nhau đi tìm các thứ hoa thơm cỏ lạ ở các nơi đem về
trồng khắp chung quanh.
7. Các triều đại phong tặng Đức Khổng Tử:
- Năm 739, vua Đường Huyền Tôn phong tặng Đức Khổng
Tử là Văn Tuyên Vương, mặc phẩm phục Hoàng đế, tặng
cho các đệ tử các tước: Công, Hầu, Bá.
- Năm 1008, vua Tống Chân Tông phong Ngài là: Đại Thánh
Văn Tuyên Vương, phong cho thân phụ Ngài là Lỗ Công,
thân mẫu Ngài là Lỗ Phu Nhân, vợ là Bà Thượng Quan Thị
làm Vân Phu Nhân, và ra lịnh cho các tỉnh lập miếu thờ
Ngài.
- Năm 1306, vua Minh Thế Tông phong tặng Ngài là Chí
Thánh Tiên Sư.
- Năm 1645, vua Thanh Thế Tổ phong Ngài là Đại Thành
Chí Thánh Văn Tuyên Vương Thánh Sư Khổng Phu Tử.
8. Văn miếu:
Văn miếu hay Văn Thánh miếu là tòa nhà dựng lên để
làm Đền thờ Đức Khổng Tử và các môn đệ của Ngài cùng
với các Tiên hiền, Tiên nho qua các thời đại gồm:
a. Tứ Phối: Bốn vị Thánh cùng được phối hưởng cúng
tế với Đức Khổng Tử. Tứ Phối gồm:
Phục Thánh Nhan Tử (Nhan Hồi)
Tông Thánh Tăng Tử (Tăng Sâm)
Thuật Thánh Tử Tư (Khổng Cấp)
Á Thánh Mạnh Tử (Mạnh Kha)
b. Thập Triết: Mười vị Hiền triết, học trò tài giỏi
nhứt của Đức Khổng Tử. Thập Triết gồm:
Mẫn Tổn (Mẫn Tử Khiên)
Bá Ngưu (Nhiễm Canh)
Trọng Cung (Nhiễm Ung)
Tể Dư (Tử Ngã)
Đoan Mộc Tứ (Tử Cống)
Nhiễm Cầu (Tử Hữu)
Trọng Do (Tử Lộ)
Ngôn Yển (Tử Du)
Bốc Thương (Tử Hạ)
Chuyên Tôn Sư (Tử Trương).
c. Thất thập nhị Hiền: 72 vị học trò giỏi của Đức Khổng
Tử, nhưng ở dưới Thập Triết một bực.
Nói là Thất thập nhị Hiền, chớ thật ra chỉ có 62 vị,
vì trong Thất thập nhị Hiền có Thập Triết, nên phải
trừ ra 10 vị.
d. Tiên Hiền, Tiên Nho: gồm 120 vị, qua các triều đại
từ xưa đến nay.
9. Đức Khổng Tử trong Đạo Cao Đài:
Đức Khổng Tử là một Đấng Giáo chủ trong Tam giáo thuộc
thời Nhị Kỳ Phổ Độ. Nhờ Đức Khổng Tử mà Nho giáo mới
được hưng hạnh, và trở thành một học thuyết triết học
nhân sinh có hệ thống chặt chẽ và hoàn hảo, chủ yếu
dạy về Nhơn Đạo (Đạo làm Người). Không có một giáo thuyết
nào dạy Nhơn Đạo hoàn hảo bằng Nho giáo.
Trong Kinh Cúng Tứ Thời của Đạo Cao Đài có bài Kinh
Nho giáo để xưng tụng công đức của Đức Khổng Tử.
Ngày Đại Lễ Vía Đức Khổng Tử được chọn là ngày giáng
sanh của Đức Khổng Tử, đó là ngày 27 tháng 8 âm lịch.
Hằng năm, khi đến ngày nầy, tại Toà Thánh và các Thánh
Thất địa phương đều có thiết lễ Đại Đàn cúng Vía Đức
Khổng Tử, có Chức sắc thuyết đạo nhắc lại Tiểu sử của
Ngài, và nói về sự ích lợi của Nho giáo đối với sự ổn
định trật tự trong gia đình và ngoài xã hội.
Do đó, Đức Chí Tôn mới có chủ trương NHO TÔNG CHUYỂN
THẾ, tức là dùng tinh hoa của Giáo lý Nho giáo để dạy
dỗ người đời, tái lập trật tự và đạo đức trong xã hội.
Trong Kinh Tam Nguơn Giác Thế, Đức Khổng Tử có giáng
cơ dạy Đạo.
Sau đây, xin chép lại bài Thánh giáo nầy của Ngài:
Ngày 17 tháng Giêng năm Nhâm Thân (1932).
THI:
NGÃ dĩ từ chương giáo nghĩa phương,
KHỔNG văn hoằng hóa sự luân thường.
PHU thê, phụ tử, quân thần đạo,
TỬ đệ phùng thời độ thiện lương.
DIỄN DỤ:
Các sĩ cùng chư khanh nghe rõ: việc Tam giáo hiệp nhứt.
Từ mới mở mang Trời Đất đã có Đại Đạo. Tam giáo vốn
một nhà, đời sau chia làm ba, chớ kỳ trung một bổn,
kẻ thế không thông hiểu nên tranh luận giành điều chơn
giả với nhau hoài. Những người xưng mình là Minh Sư,
thọ truyền cho đồ đệ, thì mỗi người cũng muốn khoe tài
mình mà truyền khẩu với chúng sanh rằng, đạo mình chánh,
đạo khác thì tà: Té ra, mình là manh sư gạt chúng.
Nếu Đạo Tiên, Đạo Phật mà không dùng văn chương thì
lấy chi mà tả kinh diễn kệ. Còn học Nho mà không học
Đạo thì ra người cuồng sĩ kiêu căng.
Vậy khuyên mấy sĩ Ba Đạo cũng đồng tìm kiếm gốc cho
minh chơn lý, đặng trước độ mình, sau độ chúng. Vậy
mới gọi là Chánh kỷ hóa nhơn. Thi rằng:
Tam giáo từ xưa vốn một nhà,
Người sau lầm tưởng, vọng chia ba.
Minh tâm may hiểu đường chơn giả,
Mẫn tánh mới thông nẻo chánh tà.
Thích, Đạo tỷ như hành bộ khách,
Nền Nho ví tợ chiếc đò qua.
Muôn ngàn kinh kệ do nơi chữ,
Tam giáo từ xưa vốn một nhà.
KHỔNG PHU TỬ
Khổng Tước Minh Vương
Khổng Tử tác Xuân Thu
Tiểu sử Mạnh Tử
|