| ₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪
GIA HUẤN CA * Nguyễn Trăi ₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪₪ |
Lời Mở Đầu
1.
Đặt quyển sách, vắt tay nằm nghĩ,
Hễ làm người dạy kỹ th́ nên,
Phấn son
cũng phải bút nghiên,
Cũng nhân tâm ấy há thiên lư nào.
Dạy Vợ
Con
5.
Nhân thong thả lựa vần quốc ngữ,
Làm bài ca dạy vợ nhủ con:
Lời ăn nết ở
cho khôn,
Chớ nên đa quá, đa ngôn chút nào!
Ăn mặc chớ mỹ miều chải
chuốt,
10. H́nh dung đừng ve vuốt ngắm trông,
Một vừa hai phải th́
xong,
Giọt dài giọt ngắn cũng không ra ǵ?
Khi đứng ngồi chứ hề lơ
lẳng,
Tiếng nhục nhằn nữa nặng đến ḿnh,
15. Hạt mưa chút phận lênh
đênh,
Tấm son tạc lấy chữ trinh làm đầu.
Ḱa mấy kẻ làu làu tiết
ngọc,
Đem sắt đanh nguyện lúc lửa châm,
Con hiền cha mẹ an tâm,
20. Một
nhà khen ngợi, ngh́n năm bia truyền.
Nọ những kẻ nước nguyền non
hẹn,
Thấy mùi hoa bướm nghển, ong chào,
Miệng đời dê diếu biết
bao,
Đông ra quốc pháp, nhục vào gia thanh.
25. Đem người trước lấy ḿnh
ngắm lại,
Khôn ba năm đừng dại một giờ,
Đua chi chén rượu câu
thơ,
Thuốc lào ngọt nhạt, nước cờ thấp cao.
Đám dồi mỏ ra vào săn
sóc,
30. Lại bài phu, tam cúc, đánh đinh,
Đố mười, chẵn lẻ, đố kinh,
Tổ
tôm, kiệu chắn, sám quanh tứ chiều.
Đi đứng đắn, chớ điều vùng vẫy,
Khi
tối tăm đèn phải phân minh,
35. Hoặc khi hội hát linh đ́nh,
Đ ược lời dạy
đến th́ ḿnh hăy ra.
Ra phải có mẹ già em nhỏ,
Đ ừng đánh đàn, đánh lũ
không hay,
Nói đừng chau mặt, chau mày,
40. Nghe ra ngậm đắng nuốt cay hay
nào!
Của tằn tiện, chắt chiu hàn gắn,
Khách buôn tàu chưa hẳn nơi đây
!
Cũng đừng vắt nước cổ chày,
Tiếp tân tế lễ là ngày nên hoang.
45. Ăn
ở chớ ḷng mang khoảnh khắc,
Mua bán đừng điêu trác đong đưa,
Mua đừng ráo
riết quá lừa,
Bán đừng bo xiết, ích ta hại người.
Chớ tắt mắt của người
kém cỏi,
50. Đ ừng đảo điên có nói làm không,
Giàu sang cũng chớ khoe
ngông,
Miễn ḿnh ấm phận chớ ḷng khinh ai.
Khó khăn chớ vật nài oán
hối,
Hết bĩ rồi tới buổi thái lai,
55. Cầm cân, tạo hóa đổi dời,
Giàu
ba họ, khó ba đời mấy ai?
Đừng học cách tham lời đặt lăi,
Lợi kẻ cho th́
hại kẻ vay,
Dễ dàng nợ phải lay nhay,
60. Đến đầu đũa quá, e cay đắng
nhiều.
Hoặc lỡ thiếu phải điều lĩnh tạm,
Dù ít nhiều liệu sớm tính
xong,
Chẳng nên mê mẩn hơi đồng,
Qua lần cho khỏi th́ ḷng mới
nguôi.
65. Thói mách lẻo, ngồi rồi bỏ hết,
Hễ điều ǵ nói ít mới
hay,
Lân la giắt rợ, giắt rây,
Đă hư công việc, lại dày tiếng tăm.
Việc chợ búa chăm chăm chúi chúi,
70. Buổi bán xong liệu vội ra
về,
Cửa nhà trăm việc sớm khuya,
Thu va thu vén mọi bề mới xong.
Pḥng
những kẻ có ḷng gian vặt,
Nhỡ xảy ra một mất mười ngờ,
75. Tiếc thầm đứng
ngẩn, ngồi ngơ,
Đau buồn thôi lại đổ cho tại trời.
Từ chốn ở, nơi ngồi
thay thảy,
Rác ngập đường nh́n vậy chan chan,
Ai vào rác ngập ước
chân,
80. Bát mâm tơi tả chiếu chăn đầy giường.
Tuy khó rách, giữ ǵn thơm
sạch,
Có hay ǵ chiếu lệch bụi nhơ,
Đồ ăn thức nấu cho vừa,
Thường
thường giữ lấy muối dưa ngon lành.
85. Nghề bánh trái chiều thanh vẻ
lịch,
Cũng học dần thói cách người ta,
Vá may giữ nếp đàn bà,
Mũi kim
nhỏ nhặt mới là nữ công.
Thủa tại gia phải ṭng phụ giáo,
90. Khi lấy
chồng giữ đạo chính chuyên,
Lại là hiếu với tổ tiên,
Những ngày giỗ tết
không nên vắng nhà.
Đồ cúng cấp hương trà tinh khiết,
Theo lễ nghi khép
nép, khoan thai,
95. Ăn nhiều ăn ít cho rồi,
Nhớ điều ghẻ lạnh lễ thôi lại
về.
Với Cha Mẹ
Dù
nội, ngoại hai bề cũng vậy,
Đừng trành hanh bên ấy, bên này,
Cù lao đội
đức cao dày,
100. Phải lo hiếu kính đêm ngày khăng khăng.
Bởi thương đến
mới năng mắng quở,
Muốn cho ta sáng sủa hơn người,
Ân cần kẽ tóc, chân
tơ,
Tấm ḷng chép để mấy lời tạc ghi.
105. Đừng nặng nhẹ, tiếng ch́ tiếng
bấc,
Đ ừng vùng vằng mặt vực, mặt lưng,
Có th́ sớm tiến trưa dâng,
Cơm
ngon canh ngọt cho bằng chị em.
Dù chẳng có th́ yên một phận,
110. Người
trên ta há giận ta sao!
Hoặc khi lầm lỗi điều nào,
Đánh đằng cửa trước,
chạy vào cửa sau.
Khi ấm lạnh ta hầu coi sóc,
Xem cháo cơm, thang thuốc
mọi bề,
115. Ra vào thăm hỏi từng khi,
Người đà vô sự, ta th́ an
tâm.
Việc báo hiếu phải chăm chữ hiếu,
Kiệm hay phong cũng liệu tùy ngơi,
Đừng điều tranh cạnh chia bai,
120. Xấu trong làng nước, để cười mai sau.
Với Chồng
Đạo
vợ chồng t́nh sâu nghĩa ái,
Lại chẳng nên mặt tái, mày tăm,
Chuyện đâu bỏ
đấy cho êm,
Đ ừng đem bên ấy về gièm bên ta.
125. Sách có chữ "nhập gia
vấn húy",
Khi nói năng phải kỹ kiêng khem,
Dịu dàng tiếng thuận lời
mềm,
Cứ lời chồng dạy mới yên cửa nhà.
Chớ nên cậy ḿnh ta tài
sắc,
130. Chồng nói ra nhiếc móc chê khen.
Nói càn như ở bậc
trên,
Thường khi động đến tổ tiên quá lời.
Cơn giận đến, sự đời ngang
ngửa,
Dở dói ra nát cửa tan nhà,
135. Chữ "tùy" là phận đàn bà,
Nhu ḿ
để dạ, chua ngoa gác ngoài.
Dù lỗi phận gặp người tửu sắc,
Hay gặp người
cờ bạc lưu liên,
Nhỏ to tiếng dịu lời êm,
140. Dần dà uốn măi may mềm được
chăng !
Phải chồng ngược, cắn răng chịu khổ,
Chớ nghiêng đầu, ngảnh cổ
thiệt thân,
Duyên may gặp được văn nhân,
Thuộc câu "tương kính như tân"
làm ḷng.
145. Nghiệp đèn sách khuyên chồng sập să,
Tiếng kê minh gióng
giả đêm ngày,
Khuyên chồng nhớ đến đạo thầy,
Vật dâng lớn nhỏ gọi nay lễ
thường.
Với Vợ Lẻ
In lấy
chữ tao khang chi nghị,
150. Đ ừng mang câu đố kỵ chi thường,
Dây b́m cho
tựa cành vàng,
Trước chàng đẹp mặt, sau nàng đỡ tay.
Câu "đường cái" xưa
nay cũng vậy,
Trai làm nên lấy bảy lấy ba,
155. Lấy về hầu hạ nhà
ta,
Thêm ḥe, nẩy quế có là con ai?
Cũng da thịt cũng tai mắt thế,
Kém
ta nên phận ế hoa ôi,
Nghĩ t́nh ăn cạnh nằm ngoài,
160. Ấm no nên xót lấy
người bơ vơ.
Thế mới phải phép thờ phu tử,
Ấy mới là đạo xử hài
ḥa,
Chữ "Tùy" rắn khúc nghi gia,
Môn đường thong thả, một nhà vẻ vang.
Với Bạn Hữu Của Chồng
165.
Ḱa những đứa mặt thường cau có,
Khách đến nhà chửi chó mắng mèo,
Cất lời
nặng cỡ đá đeo,
Đă ra thét tớ lại vào mắng con.
Khách về đoạn sợ ṃn mất
chiếu,
170. Chồng ra đường chẳng kẻo mặt mo!
Hễ ngày bạn hữu giao
du,
Sai người trải chiếu, sắp đồ tiếp ra.
Dù trăm giận th́ ta để
bụng,
Có trọng người mới trọng chồng ta.
175. Tùy người thết đăi rượu
trà,
Nhớ rằng: Của gửi chồng ta đi đường!
Với Chị
Em
Ấy là
vẹn cương thường bằng hữu,
Lại phải tường trong đạo chị em,
Đạo em th́
phải trông lên,
180. Đạo chị trông xuống cho êm đẹp chiều.
Miếng bùi ngọt
chia đều như một,
Khi nắng mưa ấm sốt đỡ tay,
Với nhau như bát nước
đầy,
Lá lành đùm bọc bóng cây rườm rà!
185. Đạo thúc tẩu một nhà minh
bạch,
Lánh hiềm nghi tăm tích rơ ràng,
Trộm trông bóng đuốc Vân
Trường,
Nức danh ba nước treo gương muôn nhà.
Với Trong Họ
Ngoài Làng
Cả
trong ngoài cùng là đàn cháu,
190. Xem như con yêu dấu chẳng sai,
Đồng
quà, tấm bánh hôm mai,
Chớ điều dằn vật, chớ lời gieo đanh.
Từ họ mạc,
láng giềng, hàng xóm,
Cũng ở cho trong ấm ngoài êm,
195. Tiếng chào, tiếng
hỏi cho mềm,
Chẳng khinh ai cũng chẳng hiềm oán ai.
Với Những
Khi Sản Dục
Ấy
ngôn hạnh các lời hằng giữ,
Lại cần điều cư xử cho tuyền,
Hễ ngày sóc,
vọng, hối, huyền,
200. Cùng ngày nguyệt tín phải khuyên dỗ chồng.
Khi
thai sản trong pḥng ǵn giữ,
Học cổ nhân huấn tử trong thai,
Dâm thanh
chớ để vào tai,
Ác ngôn chớ chút bợn lời sam sưa!
205. Từ xuất nhập, khởi
cư, hành động,
Có lễ nghi nghiêm trọng đoan trinh,
Đứng ngồi chính đại
quang minh,
Cho bằng phẳng thế, chớ chênh lệch ḿnh.
Chớ vịn cao cũng
đừng mang nặng,
210. Đừng ăn đồ cay đắng canh riêu,
Đừng ăn ít, chớ ăn
nhiều,
Nuôi từ trong dạ khỏi điều lo xa.
Khi sinh nở thai ḥa vô
sự,
Cẩn từ khi trong cữ ngoài tuần,
215. Chiều sương chớ để áo
quần,
Đỉnh đầu phải cúi, bước chân phải ḍ.
Nơi bếp vách đừng cho hơ
lửa,
Ngọn đèn hoa chớ quở quá ngôn,
Kiêng khem trăm sự vuông
tṛn,
220. Trước ḿnh yên dạ, sau con ít sài.
Với Con Cái
Ngày
con đă biết chơi biết chạy,
Đừng cho chơi cầm gậy, trèo cao,
Đừng cho chơi
búa chơi dao,
Chơi vôi, chơi lửa, chơi ao có ngày.
225. Lau cho sạch không
hay dầm nước,
Ăn cho vừa, đừng ước cao lương,
Mùa đông tháng hạ thích
thường,
Đ ừng ôm ấp quá, đừng suồng să con.
Dạy từ thuở hăy c̣n trứng
nước,
230. Yêu cho đ̣n bắt chước lấy người,
Tŕnh thưa, vâng dạ, đứng
ngồi,
Gái trong kim chỉ, trai ngoài bút nghiên.
Gần mực đen, gần đèn th́
sáng,
Ở bầu tṛn, ở ống th́ dài,
235. Lạ ǵ con có giống ai,
Phúc đức
tại mẫu là lời thế gian.
Làm mẹ chớ ăn càn, nói dở,
Với con đừng chửi rủa
quá lời,
Hay chi thô tục những người,
240. Hôm nay cụ cụ, ngày mai bà
bà.
Gieo tiếng ra chết cây, găy cối,
Mở miệng nào có ngọn có ngành,
Đến
tay bụt cũng không lành,
Chồng con khinh rẻ, thế t́nh mỉa mai!
245. Ấy
những thói ở đời ngông dại,
Khôn th́ chừa, mới phải giống người,
Sinh con
th́ dạy th́ nuôi,
Biết câu phải trái lựa lời khuyên răn.
Với Dâu Rể
Tuổi
cả khôn, hôn nhân trạch phối,
250. Giàu đừng tham, khó đói chớ nề,
Dâu
hiền, rể thảo t́m về,
Xem tông xem giống kẻo mê mà lầm.
Xử với rể một
niềm kính trọng,
Dù dở hay, đừng giọng mỉa mai,
255. Với dâu, dạy bảo phải
lời,
Bắt khoan bắt nhặt, biết ai cho vừa!
Với Tôi Tớ
Gương
giáo tử nhường đưa mặt nhận,
Mực tŕ gia đặt hẳn ân uy,
Bọt bèo là phận nô
tỳ,
260. Dạy nghiêm, ở thảo hai bề vẹn hai.
Có câu ví "Chiều người lấy
việc",
Chẳng há nên ráo riết người ta,
Hay th́ nó ở lâu ra,
Dở th́ nó
bước nào ta bận ǵ.
265. Một đôi kẻ phải khi lỡ độ,
Có th́ cho chẳng có
th́ thôi,
Chẳng nên nhiếc mắng nhiều lời,
Cơ hàn hầu dễ có ai muốn
ǵ.
Thờ Cúng
Trong
nhà vận thịnh suy có mệnh,
270. Đạo quỉ thần th́ kính viễn chi,
Nắng mưa
giải kiết có khi,
Phải chăm cơm thuốc, đừng mê cốt thầy.
Nhà chẳng quét,
quét hay có rác,
Đă bói ra, bỏ nhác sao đành,
275. Cao tay mấy kẻ có
danh,
Bùa bèn chẳng bỏ là tinh hiện vào.
Suy cho thấu, tà nào phạm chính,
Cứ thánh kinh cảnh tỉnh dị kỳ,
Ḱa như mấy kẻ tăng, ni,
280. Thôi tuần
cúng Phật, lại khi vào hè.
Nam mô Phật rù ŕ hai chữ,
Đua nhau rằng tín nữ
thiện nam,
Miệng rằng chừa độc chừa dâm,
Tay lần tràng hạt dao găm một
bồ.
285. Kẻ trốn việc ở chùa cũng có,
Kẻ lộn chồng, trốn chúa cũng
nhiều,
Gian ngoan rất mực làm kiêu,
Mượn danh Ḥa thượng, lợi điều tham
dâm.
Chẳng qua lũ ngu dân hoặc thái,
290. Phúc đức đâu nghĩ lại mà
coi,
Trước sau có bấy nhiêu lời,
Bảo nhau ǵn giữ nên người thơm
danh.
Dù ai nấy có t́nh chẳng cứ,
Thói Thọ Dương vẫn giữ không
chừa,
295. Ngày ngày mắng sớm đ̣n trưa,
Thường thường dạy dỗ mà ra tuồng
ǵ.
Cành kia lớn sợ khi khó nắn,
Sắt nọ mài ắt hẳn nên kim,
Diễn nôm
cho tiện mà xem,
300. Dạy nhà trước đă mới đem dạy người.
Dạy Con Ở
Cho Có Đức
Lấy
điều ăn ở dạy con,
Dẫu mà gặp tiết nước non chuyền vần.
Ở cho có đức có
nhân,
Mới mong đời trị được ăn lộc trời.
305. Thương người tất tả ngược
xuôi,
Thương người lỡ bước, thương người bơ vơ.
Thương người ôm dắt trẻ
thơ,
Thương người tuổi tác già nua bần hàn.
Thương người quan quả, cô đơn,
310. Thương người lỡ bước lầm than kêu đường.
Thấy ai đói rách th́
thương,
Rách thường cho mặc, đói thường cho ăn.
Thương người như thể
thương thân,
Người ta phải bước khó khăn đến nhà.
315. Đồng tiền bát gạo
mang ra,
Rằng đây "cần kiệm" gọi là làm duyên.
May ra ở chốn b́nh
yên,
C̣n người tàn phá chẳng nên cầm ḷng.
Tiếng rằng: ngày đói tháng
đông,
325. Ở phải có nhân có ngh́,
Thơm danh vả lại làm bia miệng
người.
Hiền lành lấy tiếng với đời,
Ḷng người yêu dấu, là trời hộ
ta.
Tai ương hoạn nạn đều qua,
330. Bụi trần giũ sạch thực là từ
đây.
Vàng trời tuy chẳng trao tay,
B́nh an hai chữ xem tày mấy
mươi.
Mai sau bạc chín tài mười,
Sống lâu ăn măi của đời về
sau.
335. Ḱa người ăn ở cơ cầu,
Ở th́ chẳng biết về sau pḥng
ḿnh,
Thấy ai đói rách th́ khinh,
Cách nào là cách ích ḿnh th́
khen.
Hứng tay dưới với tay trên,
340. Lọc lừa từng tí, bon chen từng
đồng!
Ở th́ phất giấy đan lồng,
Nói th́ mở miệng như rồng như tiên.
Gan th́ quá ngỡ sắt đèn,
Miệng thơn thớt nghĩ rơi tiền bạc ra.
345.
Mặt lành khéo nói thực thà,
Tưởng như xẻ cửa xẻ nhà cho nhau.
Ở nào mùi mẽ
chi đâu,
Như tuồng cuội đất giấu đầu hở đuôi.
Nói lời lại nuốt lấy
lời,
350. Một lưng bát xáo mười voi chưa đầy.
Cho nên mới phải lúc
này:
Cửa nhà tàn phá phút rày sạch trơn.
Kẻ th́ mắc phải vận nàn,
Cửa
nhà một khắc lại tàn như tro.
355. Kẻ th́ phải lính, phải phu,
Đem ḿnh
vào chốn quân gia trận tiền.
Kẻ th́ mắc phải dịch ôn,
Kẻ th́ thủy hỏa gian
nan kia là!
Thấy người mà phải lo ta,
360. Sờ sờ trước mắt thực là thương
thay,
Khuyên ai chớ bắt chước rày,
Ở ḷng nhân nghĩa cho đầy mới
khôn.
Lời cha dạy bảo nỉ non,
Trước sau ghi chép khuyên con nghe
lời.
365. Nghe th́ mới phải là người,
Chẳng nghe th́ cũng là đời bỏ
đi.
Dạy Con Gái Phải Có Đức Hạnh
Phận
làm gái ở cùng cha mẹ,
Ḷng phải chăm học khéo học khôn,
Một mai xuất giá
hồi môn,
370. Phận bồ liễu giá trong như ngọc,
Khéo là khéo bánh trong,
bánh lọc,
Lại ngoan nghề dệt vóc, may mền.
Khôn là khôn lẽ phải, đường
tin,
Lại trọn đạo nâng khăn sửa túi.
375. Khôn chẳng tưởng mưu lừa chước
dối,
Khéo chẳng khoe vẻ lịch, chiều trai.
Xưa nay hầu dễ mấy
người,
Miệng khôn, tai khéo cho ai được nhờ.
Phận làm gái này lời giáo
huấn,
380. Lắng tai nghe cổ truyện mới nên,
Hăy xem xưa những bậc dâu
hiền,
Kiêm tứ đức: dung, công, ngôn, hạnh,
Công là đủ mùi xôi, thức
bánh,
Nhiệm nhặt thay đường chỉ mũi kim.
385. Dung là nét mặt ngọc trang
nghiêm,
Không tha thiết, không chiều lả tả.
Ngôn là dạy tŕnh thưa vâng
dạ,
Hạnh là đường ngay thảo kính tin.
Xưa nay mấy kẻ dâu hiền,
390.
Dung, công, ngôn, hạnh là tiên phàm trần.
Phận con gái ở nhà thi lễ,
Lắng
mà nghe kể chuyện tam cương:
Dẫu ái ân cùng chiếu cùng giường,
Đạo chồng
sánh quân thân chi đạo,
395. Làm tôi con chỉ trung chỉ hiếu,
Làm dâu th́
chỉ kính mới nên.
Chớ khoe khoang ḿnh bạc ḿnh tiền,
Đừng đỏng đảnh cậy
khôn cậy khéo.
Bề thiếp phụ thuận ṭng là điệu,
400. Cũng như bên thờ chúa
thờ cha,
Muôn ngh́n đừng thói kiêu ngoa,
Mắng ta không giận, yêu ta không
nhờn.
Quyền mệnh phụ là ḿnh làm chủ,
Trong đại hôn áo mũ thân nghênh,
405. Kính người vợ phép ở Lễ Kinh.
Chức phận phải chăm bề tần
tảo,
Trong khuê khổn giữ ǵn khăn áo,
Trên từ đường trăm việc trơn
tru.
Từ cơm, canh, cá, thịt, mọi đồ,
410. Dẫu nhiều ít sửa cho trong
sạch.
Bằng nhường ấy thần minh lai cách,
Câu "hữu trai" nên tiếng để
đời,
Hoa thơm ai nỡ bỏ rơi,
Người khôn ai nỡ nặng lời đến ai.
415. Bề
nội trợ việc trong xem xét,
Siêng năng th́ trăm việc đều nên,
Chớ khoe
khoang lắm thóc nhiều tiền,
Ngồi ăn măi non ṃn núi lở.
Việc nhà có kẻ ăn
người ở,
420. Từ trong ngoài như bảo trước sau,
Đồ làm ăn, ngày để đâu
đâu,
Ban tối phải thu về cho đủ.
Trống canh một chớ đà vội ngủ,
Siêng
năng th́ chăm chú việc ta.
425. Lũ nô tỳ trai gái năm ba,
Cơm chưa chín
không nên khua xáo.
Đứa xay thóc, đứa th́ giă gạo,
Đứa bếp th́ chủ việc
cơm.
Ăn đoạn rồi cho chúng nghỉ ngơi,
430. Đèn ta sẽ soi trong bếp
lại.
Đừøng tin trẻ tôi đ̣i thơ dại,
Lời dạy răn: "giữ lửa chẳng
chơi".
Cho hay đại phú bởi trời,
Nhưng mà ở thế th́ người hết
chê.
435. Cầm then khóa giữ bề thu phát,
Chắt chiu mà dè dặt mới
nên,
Coi sóc từ hạt gạo đồng tiền,
Đừng cậy có ăn càn, tiêu dở.
Bữa
thường phải xem cho con ở,
440. Cũng đừng thừa, chớ thiếu làm chi.
Kẻ lân
bang đến một đôi khi,
Đồ thết đăi xem cho tử tế.
Trong nhà phải bảo nhau
có ư,
Đừng chửi mèo, mắng chó mà chi.
445. Trong anh em thiên tải nhất
th́.
Sang v́ vợ nhưng giàu v́ bạn.
Chiều rộng hẹp tùy cơ ứng biến,
Đạo tŕ gia đăi khách khác màu,
Trần trần một mực nên đâu,
450. Phô
loài bồ các biết đâu lẽ ǵ,
Phận là gái về làm dâu cả,
Việc ta chăm giữ
chốn từ đường,
Lấy ngọn tần, lá tảo lễ thường,
Ḱa hiếu dưỡng Thành Chu
gia pháp.
455. Tôn tộc đến những khi kỵ lạp,
Xem bằng nhường quí khách,
gia tân.
Có chữ rằng: "đạo trọng thân thân",
Dễ mấy thủa đông như ngày
giỗ.
Lúc lễ tất lẻn vào dọn cỗ,
460. Hăy pha trà tiếp đăi cho xong,
Bữa
thường dù dưa muối mặc ḷng,
Khi có họ xem cho tử tế,
Nước đă đoạn rượu
liền nhân thể,
Giục tiểu hầu bưng cỗ tiếp ra.
465. Nhà dưới ta mời họ đàn
bà,
Coi sóc hỏi họ hàng con cháu.
Không bỏ sót là t́nh yêu dấu,
Ai
chẳng khen hiền đức phụ nhân,
Trọn đời đẹp mặt phu nhân,
470. V́ chưng
chủ phụ thân thân biết điều.
Bề phụng dưỡng đôi bên cha mẹ,
Muôn một khi
đá đổ bồ hôi,
Nghĩ xa lo đứng lo ngồi,
Chẳng c̣n tưởng đến tham công tiếc
việc.
475. Đường điều hộ tiền không dám tiếc,
Mặc phu quân giữ việc thuốc
thang,
Song ta nâng giấc giữ giàng,
Điều ăn uống phải hỏi han tùy
thích.
Ḷng người ước chim, gà, cá, thịt,
480. Của nên ăn dù đắt cũng
mua.
Tùy người ưa thức ngọt chua,
Nhưng gia vị phải mong cho đủ
mùi.
Xem quần áo nên thay kẻo bẩn,
Ḷng yêu thân phải cẩn từng
khi,
485. Tấm ḷng trời đất chứng tri,
Dâu hiền có hiếu, tiếng ghi để
đời.
Này con gái thuộc về khôn đạo,
Khôn đức nhu nết gái dịu dàng,
Một
đôi khi chân bước ra đường,
490. Bề tôn trưởng th́ ḷng kính nhượng.
Dù
chẳng phải là ta hơi hướng,
Nghĩa hương lân phải cất tiếng chào.
Bằng thấy
người đầu bạc tuổi cao,
Có mang đội tŕnh đ̣i nâng đỡ.
495. Th́ miệng lưỡi
chê bai ai nỡ,
Ở trên đời gái ở nết na,
Con hiền đẹp mặt mẹ cha,
Chồng
ḥa yêu chuộng, họ ḥa kính chung
Dạy những kẻ đàn bà con gái,
500. Gặp
phải chồng cờ bạc rượu chè,
Nay ông tơ, bà nguyệt trót xe,
Duyên phận ấy
trót làm sao được.
Ở là phải t́m mưu giả chước,
Ngọt lời khuyên lâu cũng
phải nghe,
505. Lúc ham mê cơm rượu say nhè,
Hăy cơm cháo trọn bề phụ
đạo.
Chớ vợ nghiến chồng, thêm trân tráo,
Như chuyện chi lửa cháy dầu
thêm,
Chẳng bằng khi chăn ấm chiếu êm,
510. Hăy năn nỉ đường khôn lẽ
phải.
Bề ân ái vợ chồng là ngăi,
Dẫu giàu ăn, khó chịu cho cam.
Hay ǵ
yến bắc, nhạn nam,
Khăng khăng một tiết cho cam sở nguyền.
515. Đạo vợ
chồng là duyên kim cải,
Vốn trời sinh bể ái nguồn ân,
Ḱa ai nổi trận
phong vân,
Cũng v́ gái nhiều phần nhầm lỗi.
Phận là gái ít đường giao hối
,
520. Thấy chồng yêu dễ lấy làm nhờn,
Miệng sai ngoa nói những giọng
càn,
Bụng kiêu ngạo một ngày một sính,
Đạo cha mẹ đă không biết
kính,
Bề anh em lại chẳng hay nhường,
525. Chua chát thay những tính cương
cường.
Ai là đá ru mà chịu vậy !
Đường gia pháp không ăn lời dạy,
Việc
giáo h́nh đến phải ra tay,
Hổ thân tiếng khắp đông tây,
530. Nông nỗi ấy
hết đương khôn khéo.
Khuyên những các đào tơ liễu yếu,
Lấy làm gương chớ
bắt chước chi,
Một niềm kính thuận vô vi,
Trước là khỏi nhục, sau th́ nên
danh,
535. Thương những kẻ đàn bà mất dạy,
Lại gặp chồng sợ vợ như
ma,
Trách chi mà chẳng thói kiêu ngoa,
Những lừa cạnh, phô ṣng, làm
lệ.
Bề họ mạc không hay kính nể,
540. Nghĩ bon chen tiền bạc là khôn,
Đ
ường gia tài khôn biết vén vun,
Nghĩ tha thướt áo quần là khéo,
Gà eo óc,
pḥng loan uốn éo,
Bầng mắt ra đă tỏ vầng ô,
545. Việc trong ngoài khí
dụng các đồ,
Mặc con cái gặp sao hay vậy,
Bề nội ngoại những phô loài
ấy.
Phúc đức kia c̣n nói làm chi,
Khen cho bà nguyệt khéo xe,
550. Anh
này sánh với chị kia đương vừa.
Vợ Khuyên
Chồng
Vợ
chồng ta tơ hồng vấn vít,
Nhân duyên này bà nguyệt khéo xe.
Tŕnh anh thân
thiếp vụng về,
Yêu th́ nên tốt chớ nề ngu si.
555. Quản bao lỗi nọ, lầm
kia,
Chiều thanh vẻ quí dám b́ được đâu.
Thiếp vâng lời dạy trước
sau,
Nguyện xem then khóa, giữ hầu áo khăn.
Trước là thờ phụng tiền
nhân,
560. Sớm thăm tối viếng ân cần đỡ anh.
Bốn phương chàng hăy kinh
doanh,
Dùi mài kinh sử tập tành cung tên.
Công danh mong đợi ơn
trên,
C̣n trong trần lụy hăy xin dấu mầu.
565. Gửi tŕnh dễ dám khuyên
đâu,
Sắc pḥng thương thận, rượu hầu thương tâm,
Thiếp xin chàng chớ đăm
đăm,
Những nơi cờ bạc chớ ham làm ǵ.
Thế gian lắm kẻ điên mê,
570. Áo
quần lam lũ người th́ như ma.
Thiếp xin chàng lánh cho xa,
Một niềm trung
hiếu để mà lập thân.
Bấy lâu những đợi long vân,
Đào thơ, liễu yếu gửi
thân anh hùng.
575. Xưa nay gái đội ơn chồng,
Hiển vinh bơ lúc cơm sung,
cháo dền.
Ơn trời công đă được đền,
Chàng nên quan cả, thiếp nên hầu
bà!
Dạy Học Tṛ Ở Cho Phải Đạo
Nào là
những kẻ học tṛ,
580. Nghe lời thầy dạy phải lo sửa ḿnh.
Nghĩa cha sinh
cùng công mẹ dưỡng,
Thời đêm ngày tư tưởng chớ khuây,
Hai công đức ấy nặng
thay,
Xem bằng bể rộng, coi tày trời cao!
585. Tŕnh vâng từ tốn ngọt
ngào,
Đi về thưa thốt, ra vào thăm lênh.
Bánh quà, cá thịt, cơm
canh,
Sớm trưa thay đổi để dành hẳn hoi.
Bữa thường dâng ngọt dâng
bùi,
590. Nâng niu chào hỏi chẳng sai đâu là.
Nghĩ công khó nhọc nuôi
ta,
Đến ngày cả lớn mong cho vuông tṛn,
Kể từ lúc hăy c̣n thai
dựng,
Đến những khi nuôi nấng giữ giàn.
595. Nặng nề chín tháng cưu
mang,
Công sinh bằng vượt bể sang nước người.
Đoạn thôi lúc ấy vừa
rồi,
Ấp ôm bú mớm chẳng rời trên tay.
Mong cho biết ngửa biết
ngây,
600. Biết chuyện biết hóng chẳng khuây bao giờ,
Ngày trứng nước,
thủa ngây thơ.
Bao giờ sài ghẻ bấy giờ lại lo.
Lo cho biết lẫy, biết
ḅ,
Mong cho biết đứng, mong cho biết ngồi.
605. Đoạn rồi lại lo khi xảy
đậu,
Công, dại, ngây, thơ ấu, u ơ.
Ba năm nhũ bộ c̣n thơ,
Kể công cha
mẹ biết cơ ngần nào?
Chữ rằng "sinh ngă cù lao",
610. Bể sâu khôn ví,
trời cao khôn b́.
Nhưng mà gặp buổi b́nh th́,
Tiền trăm, bạc chục việc ǵ
mà lo!
Hay là gặp cửa nhà giàu,
Của ch́m của nổi dễ hầu lo chi!
615.
Song ta vốn đă hàn vi,
Lại sinh ra gặp phải th́ can qua.
Đ̣i khi kém đói
thiết tha,
Bán buôn tần tảo cho qua lúc này.
Việc nhà việc cửa chuyên
tay,
620. Khi đêm quên ngủ, khi ngày quên ăn.
Ngược xuôi gánh vác nhọc
nhằn,
Chân le, chân vịt nào phần khoan thai.
H́nh dung ăn mặc lôi
thôi,
Áo thời xốc xếch, khố thời đuôi nheo.
625. Gian nan đ̣i đoạn ngặt
nghèo,
Mà cho con học có chiều bao dong.
Thế gian mấy kẻ có ḷng,
Có
công trời hẳn dành công để chờ.
Bây giờ loạn lạc bơ vơ,
630. Cơ trời bĩ
thái nắng mưa là thường.
Khuyên con học lấy văn chương,
Có bên nghĩa lư,
có đường hiển vinh .
Loạn rồi lại có khi b́nh,
Khi b́nh ta hăy cá ḱnh
giương vây.
635. Say sưa kinh sử chớ khuây,
Sắt mài ắt hẳn có ngày nên
kim.
Măi Thần kia mới là gan,
Trèo non kiếm củi, đốt than dăi dầu.
Bể
thánh sâu, cố gia công lội,
640. Rừng nho gai, thẳng lối xông pha,
Ba năm
chợt đổi khôi khoa,
Sân rồng ruổi ngựa, đường hoa giong cờ.
Trần B́nh nhà
bạc cửa thưa,
Đói no chẳng quản, muối dưa chẳng nề.
645. Đọc sách là chí
nam nhi,
Giúp Lưu trót đă lục kỳ nên công.
Lọng giương, ngựa cưỡi, xe
giong,
Bể sâu cá nhảy vẫy vùng bơ khi.
Ấy là thuở trước nam nhi,
650.
Bây giờ đèn sách sớm khuya thế nào?
Chữ rằng: " loạn độc thư cao",
Khi
nên cũng thế, khác nào người xưa.
Nắng lâu cũng có khi mưa,
Trồng dưa th́
lại được dưa nệ ǵ.
655. Mai ngày treo biển tên đề,
Khôi khoa lại được
gặp kỳ thánh minh.
Lộc trời, tước nước hiển vinh,
Báo đền đôi đức dưỡng
sinh bấy chầy.
Bơ khi nghèo khổ chua cay,
660. Bơ khi đèn sách, bơ ngày
gian truân.
Bệ rồng gang tấc chín lần,
Trong triều mực thước, ngoài dân
quyền hành.
Một triều là một thanh danh,
Bởi chưng có chí học hành th́
nên.
665. Bao nhiêu là gái thuyền quyên,
Lưng ong má phấn cũng chen chân
vào.
Đă má đỏ, lại má đào,
Thơm tho mùi xạ ngạt ngào mùi hương.
Đủ mùi
những thức cao lương,
670. Sơn hào hải vị bữa thường đổi trao.
Lợn quay,
xôi gấc, chè tàu,
Ai ai là chẳng đến hầu làm tôi.
Quạt lông, gối xếp,
thảnh thơi,
Một lời dạy đến, trăm người dạ vâng.
675. Tiếng đàn, tiếng
địch, tưng bừng,
Câu thơ, câu phú lại dâng chén quỳnh.
Trong ngoài quan
khách linh đ́nh,
Treo chông nội thất, truyền sênh công đường.
Phấn trần,
tranh cánh, giá gương.
680. Khi buông màn vóc, khi giường chiếu hoa.
Người
hầu, người hạ, nhởn nhơ,
Thắm chen vẻ tía, vàng pha màu hồng.
Nhà ngang
dăy dọc trùng trùng,
Hầu non: con mới, tiểu đông: thằng tranh.
685. Trai
khoe lịch, gái khoe thanh,
Ra vào hài hán, chung quanh dập d́u !
Giàu sang
khác vẻ trăm chiều,
V́ ơn cha mẹ lắm điều v́ ta.
Nghĩa thứ ba là trong
thầy tớ,
690. Dạy mấy lời phải nhớ đinh ninh.
Nghĩa dưỡng sinh hiếu trung
là thế
Đường công danh có chí th́ nên.
Khuyên Học
Tṛ Phải Chăm Học
Trước
cửa Khổng cung tường chín chắn.
Bước lên đường vào cửa ung dung,
695. Trăm
quan, tôn miếu, lạ lùng,
Học hành cho biết thủy chung tỏ tường.
Bẩm phi
thường khác hơn mọi vật,
Ắt làm người thời chẳng hư sinh.
Phú cho tai mắt
thông minh,
700. Tính t́nh gồm đủ kiếp sinh vẹn tuyền.
Bực thánh hiền ấy
không dám ví,
Song làm người có chí th́ nên,
Khai tâm từ thủa thiếu
niên,
Hiếu kinh tiểu học trước liền cho thông.
705. Đọc cho đến Trung
dung, Đại học,
Tứ thư rồi lại đọc ngũ Kinh,
Thi, Thư, Dịch, Lễ, đều
tinh,
Xuân thu nghĩa cả cho minh nghiệp nhà.
Xem cho đến Bách gia, Chư tử,
710. Bảy mươi pho sử đều thông,
Sớm khuya ở chốn văn pḥng,
Bút
nghiên, giấy mực bạn cùng chân tay.
Bài kinh nghĩa cùng bài văn sách,
Tinh
phú, thơ, mọi vẻ văn chương.
715. Một đèn, một sách, một giường,
Có công
mài sắt có ngày nên kim.
Học tṛ giữ chính tâm làm trước,
Với tu, tề,
b́nh, trị đều yên,
Cương thường giữ hiếu làm nên,
720. Từ đoan, ngũ giáo
cho tuyền công sinh.
Bề đạo đức, gia đ́nh phải giảng,
Phủ thiên quân quang
đăng tinh vi.
Lư cho cách vật, trí tri,
Trong th́ dưỡng đức, ngoài th́ tu
thân.
725. Nghiệp tứ dân nhất rằng chữ sĩ,
Nghề nông, thương, công cổ khôn
sơ,
Đạo thầy thứ nhất là Nho,
Toán, y, lư, số dám so sánh bài.
Khắp
triều đ́nh trong ngoài lớn nhỏ,
730. Những là người áo mũ đai cân,
Đời nào
cũng chuộng nghề văn,
Mưu mô dẹp loạn, kinh luân mở nền.
Pho kinh sử làu
chuyên nghề học,
Chốn thư đường từng đọc hôm mai,
735. Quan sang chẳng có
riêng ai,
Đạo trời nào phụ những người độc thư.
Ḱa trước hết văn nho sĩ
tử,
Dẫu khó khăn kinh sử càng chuyên,
Làm nên trọng chức cao
quyền,
740. Trong ngoài ai chẳng ngợi khen bậc hiền.
Nhặt lấy cỏ bồ biên
mà đọc,
Người Ôn Thư chí học mới cao.
Chàng Hoằng không sách biết
sao.
Mượn kinh mà học viết vào mảnh tre.
745. Dùi đâm vế kẻo khi buồn
ngủ,
Ngươi Tô Tần chí thú đọc kinh,
Tóc treo giường ấy, Tô sinh,
Để
cho dễ thức học hành canh khuya.
Thủa dầu hết đèn hoe bóng tuyết,
750.
Chàng Tôn Khang chịu rét đêm đông,
Nọ ngươi Trác Dận dầu không,
Túi bao
đom đóm bạn cùng thư trai.
Vai gánh củi học thời luôn miệng,
Chu Măi Thần
nên tiếng danh nho,
755. Lư Sinh chẳng quản công phu,
Chăn trâu treo sách
một pho trên sừng.
Ấy những người trước từng khó nhọc,
Sau làm nên tước
lộc quan sang,
Làm trai chí khí hiên ngang,
760. Chớ rằng nguy khổ trễ
tràng làm chi!
Oanh bé nhỏ tuổi th́ lên tám,
Việc đọc thơ sớm đủ tinh
thông,
Lăo Tuyền tuổi cả gia công,
Hai mươi bảy tuổi dốc ḷng nghề
nho.
765. Đường Lưu Án tuổi vừa lên bảy,
Đỗ thần đồng tiếng dậy gần
xa.
Ông Lương đă đến tuổi già,
Tám mươi hai tuổi đỗ khoa đại đ́nh.
Đ
ường vân tŕnh dù sau dù trước,
770. Chữ công danh ai khác chi ai,
Hễ
người có chí có tài,
Gió rung mặc gió khôn rời khôn lay.
Chẳng sợ kẻ lắm
thầy nhiều tớ,
Thấy ta nghèo ra sự rẻ khinh,
775. Thư trung lắm kẻ hiển
vinh,
Dập d́u hầu hạ, linh đ́nh ngựa xe.
Chẳng sợ kẻ lắm tiền, nhiều
lúa,
Nghĩ ḿnh rằng có của th́ hơn,
Thư trung Kim ngọc vô vàn,
780. Đầy
khè chung đỉnh, chứa chan bạc vàng.
Chẳng sợ lắm kẻ thê nhiều thiếp,
Đă
hẳn rằng tốt đẹp hơn ai ?
Thư trung có gái tuyệt vời,
Những người mặt ngọc
là người vẻ vang.
785. Chẳng sợ kẻ ṭa ngang dăy dọc,
Khinh nhau rằng hàn
ốc thê lương.
Thư trung tuấn vũ điêu tường.
Lầu hồng gác phượng cột
giường liền mây
Ai có chí đêm ngày luyện tập,
790. Theo người xưa cho kịp
mới nên.
Học cho hy thánh hy hiền,
Việc ǵ thông biết chẳng phiền lụy
ai.
Chốn lâm tẩu, hoài tài bảo đức,
Khắp bốn phương đồn nức thời
danh,
795. Chiếu nêu cao giá ngọc lành,
Xe loan có thủa cung doanh có
ngày.
* HẾT *