|
Diễn viên xiếc (Truyện ngắn của
William Saroyan)
Lời
người dịch: William Saroyan (1908-1981) sinh tại
thành phố Fresno, California, Hoa Kỳ. Cha mẹ ông
gốc người Armenia di cư sang Mỹ. Ông lớn lên trong
khó khăn bần hàn, nhưng tự tin ở tài năng của mình.
Ông tự học viết văn, bất chấp các luật tắc, khuôn
sáo của lớp đàn anh. Bằng bút pháp riêng của mình,
ông viết nhiều truyện ngắn xuất phát từ con tim,
hiếm hoi mới gặp ít trường hợp can thiệp của lý
trí. Khi ông xuất bản tập truyện ngắn đầu tay năm
1934 (Chàng tuổi trẻ gan dạ trên chiếc đu bay),
giới phê bình văn học đã phải sửng sốt vì văn ông
không có một cấu trúc chính xác và dường như bàng
bạc mơ hồ, không bộc lộ rõ một hướng đi nào.
Tuy nhiên lối văn lãng đãng đó đã làm độc giả thích
thú và rung động, đem tới cho người đọc một tình
cảm khó xác định rõ ràng. Truyện ngắn sau đây nhan
đề The barber whose uncle had his head bitten off
by a circus tiger (Thợ hớt tóc có chú bị cọp gánh
xiếc cắn đứt đầu), với mười ba từ dài lê thê và
những câu văn lạ lùng, có thể coi là tiêu biểu cho
bút pháp của W. Saroyan. Căn cứ theo ấn bản Anh
ngữ của NXB Vyssaja Skola, Moskva, 1984, bản dịch
này ở một chừng mực nào đó cố gắng thể hiện lại,
tuân thủ cách ngắt câu, cái giọng văn đặc biệt...
của nhà văn lớn hiện đại này
Cả thế gian này đều muốn tôi đi hớt tóc. Cái đầu
tôi lớn quá đối với cõi đời này. Thiên hạ nói, tóc
đen nhiều quá. Ai cũng hỏi, bao giờ chú mày mới
hớt tóc?
Thế là cuối cùng tôi tới một thợ hớt tóc người
Armenia tên là Aram ở đường Mariposa vốn đích thị
là nông dân, hay có thể là thợ rèn, hay có thể là
nhà hiền triết. Tôi nào biết. Tôi chỉ biết ông có
cửa tiệm nhỏ ở đường Mariposa và dành hầu hết thời
gian đọc báo Armenia, vấn thuốc lá, hút thuốc, và
nhìn theo người qua đường. Tôi chưa bao giờ thấy
ông hớt hay cạo cho ai, dù tôi cho rằng một- hai
kẻ nào đó đã vô tình lạc bước vào tiệm ông.
Tôi vào tiệm Aram ở đường Mariposa và đánh thức
ông dậy. Ông đang ngồi ở cái bàn nhỏ với cuốn sách
tiếng Armenia mở trước mặt, và ngủ.
Bằng tiếng Armenia tôi nói: Xin ông hớt tóc cho
cháu. Cháu có hai mươi lăm xu.
A, ông nói, ta mừng gặp cháu. Cháu tên gì? Ngồi
xuống đi cháu. Ta sẽ pha cà phê trước đã. Chà, cháu
có cái đầu tóc tốt đấy.
Ai cũng muốn cháu đi hớt tóc, tôi nói. Ông hớt
được không? Ông hớt sạch đi hết được không, để trong
một thời gian dài thiên hạ khỏi đả động tới nó nữa?
Cà phê đã, ông thợ hớt tóc nói. Trước tiên mình
hãy nhắp một chút cà phê nhé.
Ông mang cho tôi tách cà phê, và tôi phân vân tự
hỏi sao mà xưa nay tôi lại chẳng hề ghé qua ông,
có lẽ là người hay ho nhất ở cái thành phố này.
Tôi biết ông là người khác thường qua cách ông thức
dậy khi tôi vào tiệm, cách ông trò chuyện, cách
đi đứng, ra dấu ra hiệu. Ông khoảng đâu năm mươi
còn tôi mười một. Ông không cao hơn tôi mà cũng
chẳng nặng cân hơn, nhưng khuôn mặt ông là mặt của
một kẻ đã tìm thấy, khám phá, hiểu biết, khôn ngoan,
thương yêu và không xấu bụng.
Khi ông mở mắt ra, cái thoáng nhìn dường như muốn
nói: Đời này hả? Ta biết tỏng cả cái thế gian này.
Xấu xa đê tiện, căm thù sợ sệt, nhơ nhớp hư hỏng.
Cho dù vậy, ta yêu hết cả thế gian.
Tôi nâng chiếc tách nhỏ lên môi và nhắp chút cà
phê đen nóng hổi. Nó ngon lành hơn bất cứ thứ gì
mà trước đây tôi đã từng nếm qua.
Ngồi xuống đi - ông nói bằng tiếng Armenia - Ngồi
xuống, ngồi xuống đi. Chúng mình còn có chốn nào
mà đi. Mình còn có chi để làm. Một giờ nữa tóc cháu
sẽ thôi mọc.
Tôi ngồi xuống và cười bằng tiếng Armenia, và ông
bắt đầu kể tôi nghe về cõi đời này.
Ông kể tôi nghe về chú Misak của ông sinh ở Moush.
Chúng tôi uống cà phê và rồi tôi leo lên ghế và
ông khởi sự cắt tóc tôi. Ông cắt cho tôi một cái
đầu tóc tệ hại hơn hết thảy những lần tôi hớt tại
chỗ dạy hớt tóc bên kia đường xe lửa, miễn phí,
nhưng ông kể tôi nghe về chú Misak khốn khổ của
ông và con cọp gánh xiếc.
Chú Misak đáng thương của ta - ông nói với tôi
- sinh ra ở Moush lâu rồi và chú là một đứa bé hoang
tàn, mặc dù chú không phải là kẻ cắp. Chú hoang
tàn với ai cứ tưởng rằng họ mạnh và chú có thể vật
được bất kỳ đứa nào trong khắp cái thành phố này,
và nếu cần thì luôn cả ba má tụi nó. Chấp luôn ông
bà nội ngoại tụi nó nữa, ông kể.
Thế nên ai cũng bảo với chú Misak đáng thương của
ta, Misak, mày mạnh đấy; sao mày không đi đánh vật
để kiếm tiền? Thế là Misak làm võ sĩ đánh vật. Chú
đánh gãy xương mười tám người lực lưỡng trước khi
chú hai mươi. Và tất cả những gì chú làm với tiền
với bạc là ăn nhậu và còn dư lại thì đem hết cho
trẻ con. Chú nào cần chi tiền.
A, ông nói, chuyện ấy cách đây lâu rồi. Nay thì
ai cũng cần tiền. Người ta bảo chú ấy rằng một ngày
kia chú sẽ hối tiếc, và dĩ nhiên họ đúng. Họ bảo
chú phải giữ gìn tiền bạc vì một ngày kia chú sẽ
không còn khỏe nữa và chú cũng không còn đủ sức
đánh vật nổi, và chú sẽ không tiền. Và ngày ấy đã
tới. Chú Misak khốn khổ của ta bốn mươi tuổi và
hết còn khỏe mạnh, và chú chẳng có tiền có bạc.
Thiên hạ cười nhạo chú, và chú bỏ đi. Chú ấy qua
Constantinople. Rồi chú ấy đi Vienna.
Vienna hả? - tôi hỏi - Chú Misak của ông sang Vienna
sao?
Đúng, dĩ nhiên thế, ông hớt tóc nói. Chú Misak
khốn khổ của ta đi nhiều nơi. Ở Vienna - ông nói
- người chú đáng thương của ta không tìm được việc,
và chú gần chết đói, nhưng chú có ăn cắp cho chí
đến một ổ bánh mì hay không? Không đâu, chú chẳng
trộm cắp gì. Rồi chú qua Berlin. Ở nơi ấy cũng vậy,
chú Misak đáng thương của ta gần chết đói.
Ông đang cắt tóc tôi, trái lại phải. Tôi có thể
nhìn thấy tóc đen trên sàn nhà và cảm thấy đầu tôi
càng lúc càng lạnh hơn vì trần trụi. Và mỗi lúc
một nhỏ hơn. A, Berlin, ông nói. Những đường những
phố và những cửa những nhà và những người là người,
nhưng chẳng một cánh cửa nào dành cho chú Misak
của ta, chẳng một phòng, chẳng một bàn, chẳng một
bạn.
A, Chúa ơi, tôi nói, cái nỗi cô đơn này của kiếp
người trên trần thế. Cái cô đơn bi đát này của cuộc
sống.
Và, ông hớt tóc nói, cũng giống như vậy ở Paris,
cũng giống như vậy ở London, cũng giống như vậy
ở New York, cũng giống như vậy ở Nam Mỹ, cũng giống
như vậy ở mọi nơi, những đường những sá, những phố
những nhà, những cửa là cửa, nhưng chẳng có nơi
nào trên cõi đời này dành cho chú Misak khốn khổ
của ta.
A, Chúa ơi, tôi cầu khẩn. Hãy che chở chú ấy. Lạy
Cha ở trên trời, xin che chở cho chú ấy.
Ở Trung Hoa, ông hớt tóc nói, chú Misak khốn khổ
của ta gặp một người Ả Rập làm hề trong gánh xiếc
Pháp. Chàng hề Ả Rập và chú Misak của ta nói chuyện
với nhau bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Chàng hề nói: Nè
người anh em, anh có phải là kẻ yêu người và thú
không? Và chú Misak của ta đáp: Này người anh em,
tớ yêu người yêu thú yêu cá yêu chim yêu đá yêu
sỏi yêu lửa yêu nước yêu mọi thứ thấy được và không
thấy được. Và chàng hề Ả Rập nói: Người anh em ơi,
anh có thể yêu được ngay cả cọp, một con cọp rừng
hung bạo không? Và chú Misak của ta nói: Người anh
em ơi, tình thương của tớ dành cho loại thú rừng
hung dữ thì vô bờ bến. A, chú Misak của ta là một
người đau khổ.
Lạy Chúa, tôi nói.
Chàng hề Ả Rập rất vui khi nghe nói về tình thương
của chú ta dành cho những dã thú rừng xanh, vì chú
ấy là một người rất gan dạ. Người anh em ơi, chàng
hề nói với chú ta, anh có yêu cọp đến mức độ có
thể đút đầu mình vào miệng cọp đang há to không?
Chúa ơi, xin hãy che chở cho chú ấy, tôi cầu khẩn.
Và - thợ hớt tóc Aram nói - chú Misak của ta đáp:
Này người anh em, tớ có thể làm được. Và chàng hề
Ả Rập nói. Anh vô gánh xiếc nhé? Hôm qua con cọp
sơ ý ngậm gọn cái đầu của Simon Perigord xấu số,
và không còn ai trong gánh xiếc có đủ tình yêu to
tát đến thế để dành cho những tạo vật của Chúa.
Chú Misak khốn khổ của ta đã chán ngán cõi đời này,
và chú nói. Này người anh em, tôi bằng lòng vô gánh
xiếc và đút đầu mình vào cái miệng há to của con
cọp thánh thiện của Chúa mỗi ngày một chục lần.
Điều ấy không cần thiết, chàng hề Ả Rập nói. Mỗi
ngày hai bận đủ lắm rồi. Thế là chú Misak khốn khổ
của ta nhập vào gánh xiếc Pháp ở Trung Hoa và bắt
đầu đút đầu vào miệng cọp há to.
Gánh xiếc, ông hớt tóc nói, lưu diễn từ Trung Hoa
sang Ấn Độ, từ Ấn sang Afghanistan, từ Afghanistan
sang Ba Tư, và ở đó, tại Ba Tư, sự cố xảy ra: Con
cọp và chú Misak đáng thương của ta đã là bạn rất
thân của nhau. Tại Tehran, trong đô thị cổ kính
ấy, con cọp hóa ra hung tàn trở lại. Hôm ấy rất
nóng bức, và ai cũng cảm thấy bứt rứt. Con cọp cảm
thấy rất bực tức và chạy quanh chuồng suốt ngày.
Chú Misak của ta đút đầu vào miệng cọp hả to, ở
Tehran, và chú sắp sửa rút đầu ra khỏi miệng cọp
thì con cọp, vốn đầy nhóc những ngu xuẩn của sự
đời nơi cõi thế, cắn phập hàm lại.
Tôi tuột xuống ghế và thấy một kẻ lạ mặt trong
gương, chính tôi đấy. Tôi sợ sệt và tất cả tóc tôi
đều không còn. Tôi trả thợ hớt tóc Aram hai mươi
lăm xu và về nhà. Ai cũng cười nhạo tôi. Anh Krikor
của tôi nói hồi đó đến giờ ảnh chưa từng thấy một
cái đầu nào thảm hại như vậy.
Dù sao, có hề gì đâu.
Tất cả những gì tôi có thể nghĩ được trong nhiều
tuần lễ là người chú xấu số Misak của ông hớt tóc
bị cọp cắn đứt đầu, và tôi mong ngóng tới ngày tôi
lại cần đi hớt tóc, để tôi có thể tới được tiệm
của Aram và lắng nghe câu chuyện của ông kể về con
người trần thế, lạc lõng đơn côi mà luôn luôn bất
trắc, câu chuyện buồn về chú Misak đáng thương của
ông. Câu chuyện buồn của những ai đang còn sống.
Lê Anh Dũng dịch và giới thiệu
XEM
TIẾP
|