Nguyễn Công Trứ

Nguyễn Công Trứ (1778-1895) người huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, là người cùng huyện và sống cùng thời với Nguyễn Du (1766-1820). Sinh vào thời Tây Sơn dựng nghiệp, đại thắng quân Thanh, mất vào lúc giặc Pháp mở đầu xâm lược nước ta, Nguyễn Công Trứ trải qua nhiều thăng trầm của đất nước và của chính cuộc đời ông.
Nguyễn Công Trứ là người đa tài. Ông tự biết điều đó Trời đất cho ta một cái tài. Ngay từ thuở còn là học trò nghèo ông đã nuôi lý tưởng giúp đời, lập công danh: Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông. Chí làm trai của Nguyễn Công Trứ là trách nhiệm kẻ sỹ theo khuôn khổ Nho giáo. Ông từng mượn hình ảnh cây cau Kình thiên một cột giơ tay chống, cái trống Giang sơn sấm dậy tiếng tùng tùng để bộc lộ hoài bão. Tự tin nên nghèo mà không buồn, không phẫn chí. Kẻ sỹ lập thân bằng thi cử, lại gặp lúc triều đình Gia Long bỏ thi (1802-1807), Nguyễn Công Trứ vẫn kiên tâm chấp nhận cái nghèo để theo đuổi thi thư Trái mùa nghiệp cũ không nên bỏ/ Ế chợ nghề nhà cũng phải theo. Bài Hàn Nho phong vị phú cho thấy lối sống, lối nghĩ đầy lạc quan và chủ động của Nguyễn Công Trứ trong túng thiếu. Hoài bão lớn nên gian lao thành nhỏ.
Năm 42 tuổi, đỗ Giải nguyên. 43 tuổi làm hành tẩu ở Quốc sử quán, Nguyễn Công Trứ bắt đầu thời kỳ làm quan đầy sóng gió. Ông hoạt động trong nhiều lĩnh vực. Là quan văn nhưng cầm quân, làm tướng, đánh đâu thắng đó: 1825 dẹp Lê Văn Lương, 1827 dẹp Phan Bá Vành, 1833 dẹp Nùng Văn Vân, 1835 dẹp giặc Khách, được thăng tới Binh bộ thượng thư. Làm kinh tế thì có sáng kiến mộ dân nghèo, đắp đê biển, lập ấp, khai sinh vùng Kim Sơn, Tiền Hải, đề xuất lập Nhà học, Xã thương ở nông thôn nhằm nâng cao dân trí và lưu thông hàng hóa... Được dân yêu mến, tin tưởng đến mức vua nghi ngại, nhiều đề xuất của ông vì thế mà bị xóa bỏ, thậm chí ông còn mắc nạn. Nguyễn Công Trứ hăm hở thi thố tài năng, dám làm những việc chưa ai làm, dám nghĩ những điều ít ai nghĩ, được thăng thưởng nhiều lần nhưng cũng tới bẩy lần bị giáng phạt, nhiều lần giáng liền ba bốn cấp, năm 1843 còn bị cách tuột làm lính thú, năm 1841 bị kết án trảm giam hậu. Vậy mà năm 1858, khi Pháp tấn công Đà Nẵng, các quan trong triều dâng sớ cử ông cầm quân đánh giặc, vị lão tướng 81 tuổi trả lời Dù tôi như cái màn, cái lọng rách cũng không dám từ nan. Còn hơi thở nào, xin lên đường ngay. Nguyễn Công Trứ ca ngợi chữ nhàn cũng chỉ trong những tình thế nào đó, một phản ứng tâm lý chứ không hẳn là sở chí của ông.
Là người hành động, lại lắm thăng trầm, Nguyễn Công Trứ hiểu sâu sắc nhân tình thế thái. Ông đã từng văng tục Đ... mẹ nhân tình đã biết rồi. Ông kinh hãi nó, khinh bỉ nó Thế thái nhân tình gớm chết thay/ Lạt nồng coi chiếc túi vơi đầy, ngán ngẩm nó Tiền tài hai chữ son khuyên ngược/ Nhân nghĩa đôi đường nước chảy xuôi. Vào tuổi 60, khi đã trải ba đời vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị, ông viết Ra trường danh lợi vinh liền nhục/ Vào cuộc trần ai khóc trước cười. Ông giống Nguyễn Bỉnh Khiêm khi nhìn đời nhưng khác Nguyễn Bỉnh Khiêm khi xử thế. Ông cười nhạo sự thăng giáng, (làm quan thì cũng như thằng leo dây) và không giấu sự ngạo mạn: Nào nào! Thằng nào sợ thằng nào. Đã sa xuống thấp lại lên cao. Chán hoạn lộ nhưng không chán đời. Ông vốn yêu đời, và là người chịu chơi, tài kinh bang tế thế cũng đem chơi Trời đất cho ta một cái tài/ Giắt lưng dành để tháng ngày chơi. Nguyễn Công Trứ đào hoa, lại mê hát ả đào, ông viết nhiều bài ca trù đa tình và ngất ngưởng Đạc ngựa, bò vàng đeo ngất ngưởng. Ngất ngưởng, ngông nghênh, về hưu đi chơi không dùng ngựa mà dùng bò. Bảy mươi ba tuổi cưới vợ, trả lời cô dâu khi nàng hỏi tuổi: Ngũ thập niên tiền nhị thập tam (50 năm về trước, anh mới 23). Ngay lúc chua chát nhìn lại đời mình Khi vui muốn khóc buồn tanh lại cười, Nguyễn Công Trứ vẫn đầy khí phách:
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Giữa trời vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thì trèo với thông
Ngất ngưởng, với Nguyễn Công Trứ là cách giành chủ động. Đời ông đầy giai thoại, giai thoại nào cũng cho thấy bản lĩnh sống, bản lĩnh trí tuệ và mang tính bình dân sâu sắc. Thơ ông sinh động, giàu triết lý nhưng vui hóm, đó là chất thơ vọt ra từ đời sống, lấy đời sống làm cốt lõi. Ông chế giễu lối thơ chạy theo hình thức, chữ nghĩa tắc tỵ: Sông Hồng Hà ba trăm thước nước, chim ăn không được, cá bay về Ngũ Hành Sơn. Cung quăng cũng quẵng chi cùng quằng, đặc bất ngoại bò vàng chi liếm lá. Vấn đề ấy của thơ đến nay vẫn còn là thời sự. Hà Nội

4-10-2000
VŨ QUẦN PHƯƠNG

MỜI BẠN ĐỌC TIẾP :

I THÂN THẾ VÀ SỰ NGHIỆP

II THƠ VĂN CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ



|Tại sao? | Hình kì cục|Điển tích|Truyện Tầu|Hỏi&Đáp| Thể Thao |Tiểu phẩm|Thư tín|TRÁI TIM HỒNG|CHĂN GỐI | Rừng cười |Ẩm thực |MÁY TÍNH LÀM THƠ |Bonsai Garden|Tạp văn| | Nhân vật |Đó Đây|KINH TẾ | Động Vật | Vườn hồng | Nghe Nhạc | Tiếng thơ Đọc Truyện

PHÁT MINH, KHÁM PHÁ

LỊCH SỬ VĂN MINH, VĂN HOÁ VIỆT NAM
LỊCH SỬ CÁC PHÁT MINH
TIỂU SỬ DANH NHÂN
KIẾN THỨC TỔNG QUÁT

DANH NHÂN VIỆT NAM

 

KIẾN THỨC TỔNG QUÁT II