|
VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Ôn
Như Nguyễn Văn Ngọc
Nhân
ngày mất của Nhà văn, sưu khảo, nhà thơ Nguyễn Văn
Ngọc ( 26-4-1942 )
1942:
Ngày mất của Nguyễn Văn Ngọc, nhà văn, nhà giáo,
nhà nghiên cứu văn học hiệu Ôn Như.
Ông
sinh ngày 01.03.1890, quê tại làng Hoạch Trạch,
huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. năm 1907, ông
tốt nghiệp trường Thông ngôn, làm giáo học trường
Tiểu học Hà Nội, rồi được cử vào dạy tại trường
Hậu Bổ. Ít lâu sau, ông làm Thanh tra các trường
Sơ học ở Bắc Việt, rồi làm Đốc học tỉnh Hà Đông.
Suốt 30 năm, ngoài việc phục vụ trong ngành giáo
dục, ông còn tận tụy soạn sách, viết báo. Năm 1934,
ông cùng các bạn học giả sáng lập Hội Phật giáo
Bắc Việt và có công xây dựng chùa Quán Sứ thành
Hội quán trung ương. Ông mất ngày 26.04.1942. Các
tác phẩm chính của ông: Phổ thông độc bản, Giáo
khoa Văn học An Nam, Nam thi hợp tuyển, Tục ngữ
phong dao. Câu đối, Đào nương ca, Đông Tây ngụ ngôn,
Nhi đồng lạc viên, Để mua vui, truyện cổ nước Nam,
Cổ học tinh hoa (hợp soạn với Trần Lê Nhân).
CỔ
HỌC TINH HOA
Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc - Từ An Trần Lê Nhân
QUYỂN 1
Tiểu tự
001-Không quên được cái cũ
002-Lúc đi trắng, lúc về đen
003-Lợi mê lòng người
004-Lấy của ban ngày
005-Khổ thân làm việc nghĩa
006-Cách cư xử ở đời
007-Tu thân
008-Ôm cây đợi thỏ
009-Đánh dấu thuyền tìm gươm
010-Ba con rận kiện nhau
011-Hai phải
012-Tăng Sâm giết người
013-Bán mộc, bán giáo
014-Ngọc ở trong đá
015-Bắt chước nhăn mặt
016-Cái được cái mất của người làm quan
017-Can vua bỏ rượu
018-Khéo can được vua
019-Chết mà con răn được vua
020-Yêu nên tốt, ghét nên xấu
021-Hà Bá lấy vợ
022-Ghét con không giống mình
023-Lợn mẹ giết lợn con
024-Giáp, Ất tranh luận
025-Mặt trời xa, gần
026-Cách phục lòng người
027-Lòng cương trực
028- Trí, trung, dũng
029- Biết lẽ ngược, xuôi
030- Tài nghề con lừa
031- Đánh đàn
032- Thổi sáo
033- Người nước Lỗ sang nước Việt
…………………………………………………………………….
121-Mất cung
122-Muôn vật một loài
123-Lúc nào được nghỉ
124-Có chịu lo, chịu làm mới sống được
Danh ngôn, danh lý
QUYỂN 2
001-Chính danh
002-Nên xử thế nào ?
003-Chiếc thuyền đụng chiếc đò
004-Rắn dời chỗ ở
005-Nhường thiên hạ
006-Rửa tai
007-Chết đói đầu núi
008-Đời người
009-Ba điều khó học
010-Ba điều vui
011-Thương mẹ già yếu
012-Áo đơn mùa rét
013-Dưng thư cứu cha
014-Nuôi mẹ bằng điều phải
015-Say bắn chết trâu
016-Tên tù nước Sở
017-Bệnh quên
018-Bệnh mê
019-Vợ lẽ phải đòn
020-Tiết phụ
…………………………………………………………………….
121-Bắt thay chiếu
122-Đám ma to
123-Sống, chết
124-Muôn vật một thể
125-Tự tỉnh
126-Ngu công dọn núi
Tiểu tự
"Có mới, nới cũ" thường tình vẫn thế.
Tân học mỗi ngày một tiến, tất Cựu học phải lùi
và có khi sợ rồi mai một đi mất.
Nhưng, Tân học mà hay, tất là Tân học có một nền
tảng vững chắc. Nền tảng ấy tức là tinh hoa của
Cựu học. Cựu học nước nhà là một thứ học trải qua
bao nhiêu đời, đã làm cho ông cha ta phù thực được
cương thường, chấn chỉnh được phong hóa, bảo tồn
được quốc thể, duy trì được thế đạo nhân tâm, thật
không phải là một cái Học không có giá trị đáng
khinh rẻ hay quên bỏ được. Vả chăng: "Tri kim,
nhi bất tri cổ, vị chi manh cổ; tri cổ, nhi bất
tri kim, vị tri lục trầm" ta đã biết truyện
đời nay, ta lại cần phải học truyện đời xưa, ta
ôn lại việc đời xưa mà ta rõ được việc đời nay,
có như thế, thì cái Học của ta mới không đến nỗi
khiếm khuyết. Vì, tuy chia làm cổ, kim, nhưng chẳng
qua cũng chỉ là buổi sớm, buổi chiều trong một ngày
của trời đất, kẻ học giả mà câu nệ chấp nhất, chỉ
biết cổ không muốn biết kim, hay chỉ biết kim không
muốn biết cổ, thì sao gọi là "bác cổ thông
kim" được!
Cựu học của ta là gì? Cựu học của ta tức là Hán
học nghĩa là một cái Học chung cho cả mấy dân tộc
ở Á Đông đã chịu cái văn hóa của giống người Hán,
tức là người Trung Hoa. Cựu học không phải là chỉ
có Tứ Thư, Ngũ Kinh, xưa kia đa số quen dùng làm
cái học cử nghiệp mà thôi. Ngoại giả, còn Bác gia
chư tử thật là man mác rộng như bể, học thuyết đủ
mọi mặt, lý tưởng rất xâu xa, muốn học cho tới nơi,
phải mất bao nhiêu công phu, thời giờ mới được.
Nay, chúng tôi biên tập quyển sách nầy, không phải
là muốn chuyên tâm nghiên cứu riêng một phái nào
hay một nhà nào. Chúng tôi chỉ góp nhặt một đôi
chút lý tưởng trong Cổ học gọi là để cho người đọc
thiệp liệp qua được một ít tinh hoa của lối học
cũ mà thôi. Nên chúng tôi mới lạm dụng bốn chữ "Cổ
Học Tinh Hoa" làm nhan sách.
Chúng tôi có ý chọn những bài ngắn mà nghĩa lý
hàm súc dồi dào. Những bài ấy tuy là truyện từ đời
xưa bên Tàu, nhưng ứng dụng vào đời nào và ở đâu
cũng được. Vì truyện tuy cổ, nhưng cái chân lý thì
bao giờ cũng là một, mà bao giờ cũng như mới. Nào
hiếu đệ, nào trung tín, nào lễ nghĩa, nào liêm sĩ,
đến cả những việc kỳ quái, sinh tử; bài nầy chính
giọng huấn giáo, bài kia rõ thể ngụ ngôn, truyện
nầy nghiêm trang khắc khổ, truyện kia khôi hài lý
thú; đức Khổng nói "Nhân" hồn nhiên như
hóa công; ông Mạnh bàn "Nghĩa" chơm chởm
như núi đá, Tuân Tử nói "Lễ" thật là đường
bệ, Mặc Tử nói "Ái" thật là rộng rãi,
hình danh như Hàn phi tử thật là nghiêm nghị khiến
người mất bụng làm xằng, ngôn luận như Án Tử thật
là thâm thiết khiến người dễ đường tỉnh ngộ, đến
nói đạo đức như Lão Tử, bàn khoáng đạt như Trang
Tử thật lại biến hóa như rồng, phấp phới như mây...
các lý thuyết mỗi nhà một khác, có khi phản đối
hẳn nhau, nhưng thực khiến cho người đọc vừa được
vui, vừa phải đem tâm suy nghĩ.
Dịch những bài văn như thế, chúng tôi lấy làm rất
khó. Chẳng những chữ Hán dịch ra chữ Nam, lắm câu
không hết được nghĩa, nhiều bài, chính nguyên văn
cũng mỗi nơi chép một khác không lấy gì làm xác
định. Nên khi dịch, chúng tôi phải châm chước cân
nhắc từng bài, bài thì địch thẳng nguyên văn, bài
thì chỉ dịch lấy đại ý, hoặc có bài phải rút bớt,
hay thêm ra, hay đúc lại, cốt cho nó xuông tiếng
Nam mà không hại đến nghĩa bài thì thôi.
Dịch Hán văn ra quốc văn, tất phải dùng nhiều chữ
Hán. Song chữ nào bất đắc dĩ phải dùng, thì ở dưới
chúng tôi đã có "giải nghĩa" rõ ràng.
Nghĩa ấy thường chỉ là nghĩa riêng trong bài, chớ
không phải hết mọi nghĩa của từng chữ.
Những tên người, tên đất, muốn cho tinh tường,
đáng lẽ phải có một cái biểu liệt đủ tên những tác
giả cùng những người nói trong chuyện và một bức
địa đồ Trung Hoa trải qua các thời đại. Nhưng việc
ấy xin để nhường những nhà chuyên về Bắc sử sau
nầy, đây chúng tôi chỉ chua qua để cho độc giả đủ
biết cái đại cương mà thôi.
Đọc một bài văn hay, mà tư tưởng đã thấm thía vào
tâm não, thì tất không sao để yên ngòi bút mà không
phê bình được. Đó cũng là một cái thông bệnh của
những người hâm mộ văn chương hay có cái thú ngâm
nga và đưa ngòi bút khuyên liền, khuyên kín vậy.
Chúng tôi cũng không tránh khỏi cái bệnh ấy. Nên
dưới mỗi bài chúng tôi cũng góp "Lời Bàn",
cốt là để giải rõ các đại ý trong bài hoặc lạm bình
một, đôi câu ứng với cái thời buổi bây giờ.
Chúng tôi mạo muội biên dịch quyển sách nầy là
quyển đầu, có ý bảo tồn tinh hoa của cổ học và mong
các bạn thiếu niên ta nhớ đến nguồn gốc từ bao nghiêu
nghìn năm về trước, rõ các điển tích thường dẫn
trong văn chương nước nhà, thêm trước được ít tài
liệu có khi làm văn phải dùng đến, rộng được ít
tri thức tuy thuộc về Cổ học mà thật khác nào "như
thóc gạo, như vải lụa", thường cần đến hàng
ngày. Nếu quyển sách này, giúp được một phần trong
muôn phần ấy, thì chúng tôi lấy làm hoan hỷ lắm
vậy.
Q1/001 - Không quên được cái cũ
Đức Khổng-tử ra chơi ngoài đồng, thấy một người
đàn bà đứng khóc nỉ non ở chỗ bờ đầm. Đức Khổng-tử
lấy làm lạ, bảo học trò hỏi vì cớ gì mà khóc.
Người đàn bà nói: "Độ trước tôi cắt cỏ thi,
tôi đánh mất cái trâm cài đầu bằng cỏ thi, cho nên
tôi khóc."
- Đức Khổng-tử hỏi: Đi cắt cỏ thi, mà mất cái trâm
bằng cỏ thi, thì việc gì mà phải khóc?
- Người đàn bà nói: Không phải vì tôi đánh mất cái
trâm cỏ thi mà tôi khóc; tôi sở dĩ khóc, là tôi
thương tiếc một vật cũ, dùng đã lâu, mà ngày nay
không sao thấy được nữa.
Khổng Tử Tập Ngữ
GIẢI NGHĨA
- Đức : tiếng gọi có ý tôn trọng, hoặc còn có nghĩa
chỉ bậc đức hạnh cảm hóa được người ta.
- Cỏ thi : một thứ cỏ giống như cỏ le, thân tròn,
ruột vuông, lá nhỏ mà dài, cạnh sắc, hoa tựa như
hoa cúc, trắng hay đỏ phới, người ta hay dùng cuống
cỏ để bói dịch gọi là bóicỏ thi. Ở nước ta, núi
Quyền Sơn (Hà Nam) cũng có cỏ thi.
- Sở dĩ : tại sao, vì cớ gì.
Khổng Tử Tập Ngữ : sách chép những lời nói, những
truyện về đức Khổng Tử. - Khổng Tử tên là Khưa,
tên tự là Trọng Ni, người nước Lỗ, thời Xuân Thu
nhà Chu, học về Lễ, Nhạc, Văn chương đời cổ, đi
nhiều nước chư hầu không được dụng bỏ về làm kinh
Xuân Thu, san định các kinh Thi, Thư, Dịch, Lễ,
Nhạc và dạy học trò được ba nghìn người, có bảy
mươi hai người giỏi. Nước Tàu xưng làm Tổ đạo Nho.
Lời Bàn
- Cái gì đã là của mình, mình có bụng yêu, mà lỡ
khi mất, thì về sau dù có được cái khác giống như
thế, hay hơn thế, mình cũng không thể sao yêu cho
bằng. Thường, lại chỉ vì thấy cái mới mà hồi nhớ
đến cái cũ, sinh ra chạnh lòng, nên câu ta thán,
có khi ngậm ngùi thương khóc nỉ non. Tại sao vậy?
Tại đối với mình, cái của mất không chỉ có giá của
mà thôi, lại hình như còn có một phần tâm hồn mình
hay tâm hồn người để lại cho mình ngụ ở trong nữa.
Sự cảm động đầu tiên bao giờ cũng là sự cảm động
hay nhất, bền nhất. Ôi! Cáo chết ba năm quay đầu
về núi, con người ta, dù cho lông bông xiêu bạt
đến thế nào, còn có chút tâm tình cũng không sao
quên được gốc tích xứ sở mình. "Hồ mã tê bắc
phong, Việt điểu sào nam chi". Con ngựa rợ
Hồ (phía bắc nước Tàu) thấy gió bắc còn cất tiếng
kêu, con chim đất Việt (phía nam nước Tàu) chọn
cành nam mới chịu làm tổ, huống chi là người mà
lại quên được nguồn gốc ư.
Q1/002 – Lúc đi trắng, lúc về đen
Một hôm trời nắng Dương Bố đi chơi. Khi ở nhà ra,
thì mặc áo trắng, đi được nửa đường, gặp trời mưa,
quần áo ướt hết, mới vào ẩn mưa ở nhà bà con. Người
ấy thấy Dương Bố ướt cả cho mượn cái áo thâm.
Một lúc trời tạnh, Dương Bố mặc áo thâm về nhà.
Con chó trông thấy, vừa cắn vừa xua đuổi. Dương
Bố giận toan cầm gậy đánh.
Anh là Dương Chu chạy ra bảo:
"Đừng đánh nó làm gì! Nó đuổi như thế cũng
phải. Giả sử con chó trắng nhà ta, lúc đi, thì trắng,
lúc về thì đen, phỏng em có không lấy làm lạ mà
không ngờ được không?"
Liệt Tử.
Lời Bàn
Lúc đi mặc áo trắng, lúc về mặc áo thâm, chính mình
không biết mình thay đổi, con chó thấy khác thì
xua đuổi. Mình đánh nó chẳng hóa ra lầm lắm ru!
Lỗi tại mình thay đổi không tại con chó cắn xằng.
Vậy nên ở đời khi mình làm điều gì khác thường,
mà người ta không rõ, thì tất nhiên người ta bàn
trái bàn phải. Nếu mình không tự xét mình thay đổi
hay hay dở, chỉ biết trách người nghị luận nọ kia,
thì chẳng khác nào như Dương Bố đánh chó trong truyện
này.
--------------------------------------------------------------------------------
Hai bài trích của anh ĐH bỏ trong đây thật hay,
HQT đọc trong lúc ăn trưa thấy thật thích thú, anh
có thể bỏ tiếp những phần khác còn lại trong sách
không ạ?? HQT có nghe bố nói về Khổng Tử nhiều lần
nhưng chưa có dịp đọc sách triết lý của ông ta,
nay đọc được trong này thật lấy làm vui lắm ! Cám
ơn anh thật nhiều !
Q1/003 - Lợi Mê Lòng Người
Nước Tống có kẻ mất cái áo thâm. Anh ta ra đường
tìm. Thấy người đàn bà mặc áo thâm, níu lại đòi
rằng: "Tôi vừa mất cái áo thâm, chị phải đền
trả tôi cái nầy". Rồi cứ giữ chặt cái áo không
buông ra nữa. Người đàn bà cãi:
"Ông mất áo thâm, tôi biết đấy là đâu? Áo
tôi mặc đây là áo của tôi, chính tay tôi may ra".
Anh kia nói: "Chị cứ phải đền trả áo cho tôi.
Cái áo thâm tôi mất dầy, cái áo thâm chị mặc mỏng.
Lấy áo thâm mỏng của chị đền cho áo thâm dầy cho
tôi, còn phải nói gì lôi thôi nữa!
Tử Hoa Tử
GIẢI NGHĨA
- Nước Tống: một nước chư hầu thời Xuân Thu sau
phải nước Tề lấy mất, ở vào huyện Thượng Khưu tỉnh
Hà Nam bây giờ.
- Áo thâm : áo sắc đen
- Níu : Giằng giai giữ lại không cho đi
Lời Bàn
Mất áo trong nhà mà ra đường tìm, đã là chuyện bật
cười. Mất áo đàn ông mà đòi áo đàn bà lại là chuyện
bật cười. Mất áo thâm dầy bắt đền áo thâm mỏng mà
cho là phải, lại là chuyện bật cười nữa. Ôi cái
lợi nó làm cho lòng người mê muội, chỉ biết có mình
không biết có ai, chỉ vụ lợi cho mình mà quên cả
phải trái. Kẻ nào đã vụ lợi như thế, thì cái gì
mà chẳng dám làm, cái gì mà chả dám nói! Than ôi!
Cái đời kim tiền bây giờ biết bao nhiêu phường đòi
áo như người nói trong chuyện này.
Q1/004 - Lấy Của Ban Ngày
Nước Tấn có kẻ hiếu lợi một hôm ra chợ gặp cái
gì cũng lấy. Anh ta nói rằng: "Cái nầy tôi
ăn được, cái nầy tôi mặc được, cái nầy tôi tiêu
được, cái nầy tôi dùng được." Lấy rồi đem đi.
Người ta theo đòi tiền. Anh ta nói:
"Lửa tham nó bốc lên mờ cả hai con mắt. Bao
nhiêu hàng hóa trong chợ tôi cứ tưởng của tôi cả,
không còn trông thấy ai nữa. Thôi, các người cứ
cho tôi, sau nầy tôi giàu có, tôi sẽ đem tiền trả
lại".
Người coi chợ thấy càn dỡ, đánh cho mấy roi, bắt
của ai phải trả lại cho người ấy. Cả chợ cười ồ.
Anh ta mắng:
"Thế gian còn nhiều kẻ hiếu lợi hơn ta, thường
dụng thiên phương, bách kế ngấm ngầm lấy của của
người. Ta đây tuy thế, song lấy giữa ban ngày so
với những kẻ ấy thì lại chẳng hơn ư ? Các ngươi
cười ta là các người chưa nghĩ kỹ !"
Long Môn Tử
GIẢI NGHĨA
- Hiếu lợi: ham tiền của quên cả phải trái.
- Lửa tham: lòng tham muốn bốc lên làm ngốt người.
- Mờ cả hai con mắt: chỉ để cả vào của muốn lấy,
ngoài ra không trông thấy gì nữa.
- Thế gian: cõi đời người ta ở.
- Thiên phương bách kế: mưu nầy, chước khác xoay
đủ trăm nghìn cấp
- Ban ngày: lúc sáng sủa dễ trông thấy.
Long Môn Tử : tức là Tư Mã Thiên làm quan Thái
Sư nhà Hán là một nhà sử ký có danh.
Lời Bàn
- Đã là kẻ thấy của tối mắt, tham vàng bỏ nghĩa,
thì dù ít, dù nhiều cũng là đáng khinh cả, song
đem những kẻ mặt to, tai lớn, vì ham mê phú quý
mà lường thầy, phản bạn, hại ngầm đồng bào so với
những quân cắp đường, cắp chợ giữa ban ngày để nuôi
miệng thì tội đến nặng hơn biết bao nhiêu. Thế mà
trách đời chỉ biết chê cười những quân trộm cướp
vặt chớ không biết trừng trị những kẻ đại gian đại
ác.
Q1/005 - Khổ Thân Làm Việc Nghĩa
Mặc Tử ở nước Lỗ sang nước Tề, qua nhà người bạn
cũ, vào chơi. Người bạn nói chuyện với Mặc Tử rằng:
"Bây giờ thiên hạ ai còn thiết đến việc "nghĩa",
một mình ông tự khổ thân để làm việc nghĩa, thì
có thấm vào đâu! Chẳng thà thôi đi có hơn không?
- Mặc Tử nói: "Bây giờ có người ở đây, nhà
mười đứa con, một đứa cày, chín đứa ngồi ăn không,
thì đứa cày chẳng nên càng chăm cày hơn lên ư? Tại
sao thế? Tại đứa ăn không nhiều, đứa đi cày ít.
Bây giờ thiên hạ chẳng ai chịu làm việc nghĩa, thì
ông phải biết khuyên tôi càng làm lắm mới phải,
có đâu lại ngăn tôi như thế!"
Mặc Tử
GIẢI NGHĨA
- Lỗ : một nước chư hầu nhỏ, thời Xuân Thu Chiến
Quốc, ở vào địa phận tỉnh Sơn Đông bây giờ.
- Tề : một nước chư hầu lớn, thời Xuân Thu Chiến
Quốc, cũng ở vào địa phận tỉnh Sơn Đông bây giờ.
- Thiên hạ : đất dưới gầm trời, người Tàu xưa cho
nước Tàu và mấy nước chung quanh là thiên hạ.
- Nghĩa : việc phải, việc hay mà người ta nên làm.
- Tự khổ thân : tự mình làm cho mình khó nhọc vất
vả.
Mặc Tử : tên sách của Mặc Địch soạn, chủ nghĩa
là kiêm ái yêu người như yêu mình cũng gần giống
chủ nghĩa của đạo Cơ Đốc và đạo Thích Ca.
Lời Bàn
Trong khi nhân tâm thế đạo suy đồi, mình là người
còn đứng vững được, thì sao lại chịu suy đồi với
thiên hạ cho cùng trôi một loạt. Vì nếu ai cũng
như thế cả, thì còn đâu là người cảnh tỉnh được
kẻ u mê để duy trì lấy nhân tâm thế đạo nữa? Cho
nên những người thức thời, có chí, dù ở vào cái
đời biến loạn đến đâu, cũng không chịu đắm đuối
vào cái bất nghĩa, khác nào như: cây tòng, cây bách,
mùa đông sương tuyết, mà vẫn xanh, như con gà trống,
mưa gió tối tăm mà vẫn gáy. Những bậc ấy chẳng những
thế mà thôi, lại còn đem bao nhiêu tinh lực tâm
trí ra, cố gắng giữ lấy phong hóa mà dìu dắt, mà
đưa đường cho những kẻ u mê đắm đuối. Như Mặc Tử
đây, cho là đời là suy biến, coi sự làm việc "Nghĩa",
sự cổ động việc nghĩa như cái chức vụ của mình phải
làm, thực là người có công với loài người vậy.
Q1/006 - Cách Cư Xử Ở Đời
Thầy Nhan Uyên, hỏi Đức Khổng Tử: "Hồi nầy
muốn nghèo mà cũng được như giàu, hèn mà cũng được
như sang, không phải khoẻ mà có oai, chơi bời với
người ta suốt đời không lo sợ gì, muốn như vậy,
có nên không?"
Đức Khổng Tử nói:
"Người hỏi thể phải lắm. Nghèo, mà muốn cũng
như giàu, thế là biết bằng lòng số phận không ham
mê gì. Hèn, mà cũng muốn như sang, thế là biết nhún
nhường và có lễ độ. Không khỏe, mà muốn có oai,
thế là biết thận trọng, cung kính không lầm lỗi
gì. Chơi bời với mọi người mà muốn suốt đời không
lo sợ, thế là biết chọn lời rồi mới nói".
Khổng Tử Tập Ngữ
GIẢI NGHĨA
- Nhan Uyên : tên là Hồi, người nước Lỗ, thời Xuân
Thu, học trò giỏi nhất của Đức Khổng Tử.
- Hồi : theo lễ xưa, hầu chuyện những bậc trên,
như vua, cha, thầy học, thường hay xưng tên.
- Lễ độ : phép tắc mực thước.
- Thận trọng : cẩn thận, trọng hậu.
- Cung kính : quí trọng hiện ra mặt gọi là cung,
quí trọng tự trong bụng gọi là kính.
Khổng Tử Tập Ngữ : sách chép những lời nói, những
truyện về đức Khổng Tử. - Khổng Tử tên là Khưa,
tên tự là Trọng Ni, người nước Lỗ, thời Xuân Thu
nhà Chu, học về Lễ, Nhạc, Văn chương đời cổ, đi
nhiều nước chư hầu không được dụng bỏ về làm kinh
Xuân Thu, san định các kinh Thi, Thư, Dịch, Lễ,
Nhạc và dạy học trò được ba nghìn người, có bảy
mươi hai người giỏi. Nước Tàu xưng làm Tổ đạo Nho.
Lời Bàn
Không cần công danh phú quí thế là biết giữ thiên
tước hơn là nhân tước, không để ai khinh lờn được,
thế là biết trọng phẩm giá mình, không muốn đeo
cái lo vào mình, thế là biết giữ thân không phiền
lụy đến ai. Ở đời mà giữ trọn vẹn được mấy điều
như thế, tưởng thật là một cách vui thú rất cao
thượng vậy.
--------------------------------------------------------------------------------
Q1/007 - Tu Thân
Thấy người hay, thì phải cố mà bắt chước; thấy
người dở thì phải tự xét xem có dở như thế không
để mà sửa đổi.
Chính mình có điều hay, thì phải cố mà giữ lấy;
chính mình có điều dở, thì phải cố mà trừ đi.
Người chê ta, mà chê phải, tức là thầy ta; người
khen ta, mà khen phải, tức là bạn ta; còn người
nịnh hót ta lại là người cừu địch hại ta vậy.
Cho nên người quân tử trọng thầy, quí bạn và rất
ghét cừu địch, thích điều phải mà không chán, nghe
lời can mà biết răn... như thế dù muốn không hay
cũng không được.
Kẻ tiểu nhân thì không thế. Cực bậy, mà lại ghét
người chê mình; rất dở, mà lại thích người khen
mình; bụng dạ như hổ lang, ăn ở như cầm thú, mà
thấy người ta không phục, lại không bằng lòng; thân
với kẻ siểm nịnh, xa cách kẻ can ngăn, thấy người
chính trực thì cười, thấy người trung tín thì chê...
Như thế thì dù muốn không dở cũng không được.
Tuân Tử
GIẢI NGHĨA
- Quân tử : Người có tài đức hơn người.
- Tiểu nhân : Kẻ bất chính, gian ác, tự tư, tự lợi.
- Hổ lang : cọp và chó sói, hai giống thú tàn bạo
- Cầm thú : cầm: giống có hai chân và hai cánh;
thú: giống có bốn chân, hai chữ chỉ loài chim và
loài muông.
- Chính trực : ngay thẳng.
- Trung tín : hết lòng, thật bụng.
Tuân Tử : tên thật là Huống, tên tự là Khanh, người
nước Triệu, sinh ra sau Mạnh Tử độ 50 năm, thấy
đời bấy giờ cứ loạn luôn mãi và phong hóa suy đồi,
làm sách nói về lễ nghĩa, lễ nhạc, cốt ý để chỉnh
đức và hành đạo.
Lời Bàn
Cái đạo tu thân rút lại chỉ có biết theo điều hay,
biết tránh điều dở. Mà muốn tới cái mục đích ấy,
thì không những là tự mình phải xét mình lại còn
phải xét cái cách người ở với mình nữa. Đối với
người, cần phải biết hai điều: Ai khen chê phải,
khuyên răn hay, thì phục, thì bắt chước; ai chiều
lòng nịnh hót, thì tránh cho xa, coi như quân cừu
địch. "Nên ưa người ta khuyên mình hơn người
ta khen mình" có như thế, thì mới tu thân được.
--------------------------------------------------------------------------------
Q1/008 - Ôm Cây Đợi Thỏ
Một người nước Tống đang cày ruộng. Giữa ruộng
có một cây to. Có con thỏ đồng ở đâu chạy lại, đâm
vào gốc cây, đập đầu chết.
Người cày ruộng thấy thế, bỏ cày, vội chạy đi bắt
thỏ. Đoạn, cứ ngồi khư khư ôm gốc cây, mong lại
được thỏ nữa. Nhưng đợi mãi chẳng thấy thỏ đâu,
lại mất một buổi cày. Thiên hạ thấy vậy, ai cũng
chê cười.
Hàn Phi Tử
GIẢI NGHĨA
- Tống : một nước chư hầu thời Xuân Thu sau phải
nước Tề lấy mất, ở vào huyện Thượng Khưu tỉnh Hà
Nam bây giờ.
- Đoạn : nghĩa đen là đứt, việc nầy đứt đến việc
khác.
- Thiên hạ : đây là nói những người ngoài
Hàn Phi Tử : Công tử nước Hàn, học trò Tuân Tử
chuyên về bình danh pháp luật, nước Hàn không dùng,
sang ở nước Tần, được đại dụng, nhưng sau bị kẻ
gièm pha, rồi tự tử. Sách của Hàn Phi Tử có 50 thiên,
đặt tên Hàn Tử. Nhà Tống sau thêm chữ Phi để khỏi
lầm lẫn với Hàn Dũ.
Lời Bàn
Thấy mùi, quen mui làm mãi. Ở đời những kẻ ngẫu
nhiên gặp may, mà ước ao được gặp may luôn như thế
nữa, không biết sự may là tình cờ mới có, thì có
khác gì người nước Tống ôm cây đợi thỏ nầy. Anh
ôm cây đợi thỏ này lại còn là người cố chấp bất
thông, không hiểu thời thế, không thấu tình cảnh,
khư khư đười ươi giữ ống, cũng một phường với những
hạng chơi đàn gắn chặt phím, khắc mạn thuyền để
nhớ chỗ gươm rơi.
--------------------------------------------------------------------------------
Q1/009 - Đánh Dấu Thuyền Tìm Gươm
Có người nước Sở đi đò qua sông. Khi ngồi đò, vô
ý, đánh rơi thanh gươm xuống sông. Anh ta vội vàng
đánh dấu vào mạn thuyền, nói rằng: "Gươm ta
rơi ở chỗ nầy đây".Lúc thuyền đỗ vào bến, anh
ta cứ theo chỗ đánh dấu, lặn xuống nước tìm gươm.
Thuyền đã đi đến bến, chớ gươm rơi đâu thì vẫn ở
đấy, có theo thuyền mà đi đâu? Tìm gươm như thế,
chẳng khờ dại lắm ư!
Lã Thị Xuân Thu
GIẢI NGHĨA
- Sở : một nước lớn thời Xuân Thu ở vào vùng Hồ
Bắc, Hồ Nam bây giờ.
- Thanh gươm : tục xưa người ta đi đâu cũng hay
đeo gươm để thủ thân mà lại giữ lễ nữa.
Lã Thị Xuân Thu : Sách của Lã Bất Vi làm. Lã Bất
Vi người đời nhà Tần thời Chiến quốc, trước là lái
buôn to, sau làm tướng, chính là cha đẻ của Tần
Thủy Hoàng. Khi làm quyển Lã Thị Xuân Thu xong,
Bất Vi đem treo ở cửa Hàm Dương, nói rằng "Ai
bớt được, hay thêm được một chữ, thì thưởng cho
ngàn vàng".
Lời Bàn
Thanh gươm rơi xuống sông, thì ở ngay chỗ rơi. Nếu
muốn tìm thấy gươm, tất phải lặn ngay xuống chỗ
rơi mà tìm. Chớ sao lại đánh dấu vào thuyền, đợi
đến lúc thuyền đỗ vào bến, mới lặn xuống bến tìm?
Người tìm gươm nầy có khác nào như người đánh đàn
sắt đem gắn cả ngựa lại, tưởng ngựa không di dịch
được là các âm vận tự nhiên điều hòa được đúng!
Than ôi! người cố chấp bất thông, chỉ câu nệ biết
giữ chặt một cái đã nắm chặt trong tay, chớ không
hiểu nghĩa chờ "thời" là gì?
--------------------------------------------------------------------------------
Q1/010 - Ba Con Rận Kiện Nhau
Ba con rận hút máu một con lợn, tranh nhau ăn,
đem nhau đi kiện. Một con rận khác gặp, hỏi:
"Ba anh kiện nhau về việc gì thế?
- Ba con rận đáp: Chúng tôi kiện nhau, vì tranh
nhau một chỗ đất mầu mỡ.
- Con rận kia nói: Tôi tưởng các anh chẳng nên tranh
lẫn nhau thế làm gì. Các anh chỉ nên lo đến con
dao của người đồ tể giết lợn, ngọn lửa của bó rơm
thui lợn mà thôi."
Ba con rận nghe ra, biết là dại, thôi không đi
kiện nữa, cùng nhau quần tụ, làm ăn với nhau, dù
no, dù đói, cũng không bỏ nhau. Con lợn thành mỗi
ngày một gầy, người ta không làm thịt cứ để nuôi,
ba con rận nhờ thế mà no đủ mãi.
Hàn Phi Tử
GIẢI NGHĨA
- Đồ tể: người làm thịt các giống vật để bán.
- Quần tụ: quây quần ăn ở bao bọc lấy nhau.
Hàn Phi Tử : Công tử nước Hàn, học trò Tuân Tử
chuyên về bình danh pháp luật, nước Hàn không dùng,
sang ở nước Tần, được đại dụng, nhưng sau bị kẻ
gièm pha, rồi tự tử. Sách của Hàn Phi Tử có 50 thiên,
đặt tên Hàn Tử. Nhà Tống sau thêm chữ Phi để khỏi
lầm lẫn với Hàn Dũ.
Lời Bàn
Nhân dân một xứ mà cứ tranh giành lẫn nhau cái lợi
trước mắt, không nghĩ gì đến cái việc lâu dài cho
cả toàn thể, thì trí khôn thật không bằng mấy con
rận nói trong truyện nầy.
Tranh nhau, cãi nhau, đánh nhau, kiện nhau, thì
oan oan tương kết, lợi chẳng thấy đâu, chỉ thấy
hại, hại cho một mình lại hại cho cả đàn, cả lũ
nữa. Sao không biết: Sâu đục cây, cây đổ thì sâu
cũng chẳng còn: trùng hại vật, vật chết thì trùng
cũng hết kiếp.
--------------------------------------------------------------------------------
Q1/011 – Hai phải
Sông Vĩ nước lên to. Một nhà giàu không may có
người chết đuối. Có kẻ vớt được xác.Người nhà giàu
xin chuộc, kẻ ấy đòi nhiều tiền. Người nhà giàu
đem câu chuyện thưa với Đặng Tích. Đặng Tích bảo
:
"Cứ để yên. Nó còn bán cái xác cho ai được
mà sợ ? "
Kẻ vớt được xác, thấy nhà kia không hỏi nữa lấy
làm lo, cũng đem chuyện thưa với Đặng Tích. Đặng
Tích bảo :
"Cứ để yên. Nó còn mua cái xác ấy của ai được
mà sợ ? "
Lã Thị Xuân Thu
GIẢI NGHĨA
- Vĩ : tên sông, chảy ở địa phận Hà Nam.
- Đặng Tích : quan đại phu nước Trịnh thời Xuân
Thu là một nhà luật pháp giỏi.
Lã Thị Xuân Thu : Sách của Lã Bất Vi làm. Lã Bất
Vi người đời nhà Tần thời Chiến quốc, trước là lái
buôn to, sau làm tướng, chính là cha đẻ của Tần
Thủy Hoàng. Khi làm quyển Lã Thị Xuân Thu xong,
Bất Vi đem treo ở cửa Hàm Dương, nói rằng "Ai
bớt được, hay thêm được một chữ, thì thưởng cho
ngàn vàng".
Lời Bàn
Cứ như người giảng giải việc nói trong bài nầy cho
phải đạo lý, thì một bên, nên khuyên người nhà giàu
liệu trả kẻ vớt được xác thêm ít nhiều tiền, mà
lấy ngay cái xác về ; còn một bên, nên dụ kẻ vớt
được xác chớ coi sự chẳng may của người ta làm món
bổng, mà bắt bí ngườ ta. Giữ cái xác, không cho
chuộc, chẳng những không được tiền, lại còn phải
tội nữa. Nhưng khốn thay ! Lý sự là cái nguồn bắt
phải, bắt trái đều được cả. Cho nên Đặng Tích mới
có chốn xúi bày được cả đôi bên kiện tụng lẫn nhau
mà ngấm ngầm lấy lợi cho mình. thế tức là cái chủ
nghĩa : Hai phải ngụy biện rất hại cho dân gian
ngu dại mà lại hay kiện tụng. Biện bác mà không
đáng lý tức là giả dối, khôn ngoan mà không đáng
lý tức là gian trá, những kẻ ấy phải trừng phạt
thì mới yên dân, lợi nước được. Người trị dân tưởng
phải thấu cái tình, để xét cái lý, mới là người
trị dân sáng suốt vậy.
--------------------------------------------------------------------------------
Q1/012 – Tăng Sâm giết người
Ông Tăng Sâm ở đất Phi. Ở đấy có kẻ trùng danh với
ông giết chết người.
Một người hất hãi chạy đến báo mẹ ông Tăng Sâm
rằng : "Tăng Săm giết người ". Bà mẹ nói
: "Chẳng khi nào con ta lại giết người".
Rồi bà điềm nhiên ngồi dệt cửi.
Một lúc, lại có người đến bảo : "Tăng Săm
giết người ". Bà mẹ không nói gì, cứ điềm nhiên
ngồi dệt cửi.
Một lúc nữa lại có người đến bảo : "Tăng Săm
giết người ". Bà mẹ sợ cuống, quăng thoi, trèo
qua tường chạy trốn.
Quốc Sách
GIẢI NGHĨA
- Tăng Sâm : người thời Xuân Thu, tính chất chân
thật và rất có hiếu, học trò đức Khổng Tử và sau
truyền được đạo của ngài.
- Trùng danh : cùng giống tên nhau.
- Điềm nhiên : biết mà cứ im lặng như không.
Lời Bàn
Tăng Sâm vốn là người hiền hậu hiếu thảo, bà mẹ
vốn là người trung tín, một bụng tin con. Thốt nhiên
kẻ bảo : "Tăng Săm giết người ". Bà mẹ
không tin ; người thứ hai bảo, còn chưa tin ; đến
người thứ ba bảo, thì cuống cuồng chạy trốn. Như
thế mới hay cái dư luận của thiên hạ rất là mạnh.
Một việc, dù cho sai lầm đến mười mươi, nhiều người
đã cùng có một nghị luận đều như thế cả, thì cũng
dễ khiến cho ta nghi nghi hoặc hoặc rồi đem bụng
tin mà cho là phải, nom đỉa hóa ra rươi, trông con
chó thành ra con cừu. Đến như giữa chợ, làm gì có
cọp ! Thế mà một người, hai người, đến ba người
nói có cọp, thiên hạ cũng tin có cọp thật nữa là
! Những bậc ra được ngoài vòng dư luận, giữ vững
được bụng như cây giữa rừng, như kiềng ba chân rất
là hiếm, nhưng có thế được mới cao. Một chân lý
có chứng minh rõ ràng, mười phần chắc chắn, thì
mới nên công nhận.
XEM CO HOC TINH HOA
XEM CO HOC TINH HOA 1
XEM CO HOC TINH HOA 2

|