| LỊCH
SỬ VIỆT NAM

NƯỚC
VIỆT NAM- QUỐC HIỆU
VIỆT NAM-
THỜI DỰNG NƯỚC
NƯỚC VIỆT NAM THỜI KỲ ĐẦU CÔNG NGUYÊN ĐẾN CUỐI THẾ
KỶ THỨ X
CÁC
TRIỀU ĐẠI TỪ THẾ KỶ XI ĐẾN THỜI PHÁP THUỘC
CUỘC
ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CUẢ CÁC VỊ VUA QUA CÁC TRIỀU ĐẠI

Nhân
ngày mất của Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan ( 22-10-1117 )
Ỷ
Lan Phu Nhân
Hoàng
Thái Hậu Ỷ Lan 
Hoàng
Thái hậu Ỷ Lan
Ỷ Lan xuất thân từ gia đình nông dân làng Thổ Lỗi,
lộ Bắc Giang (nay là xã Dương Xá, huyện Gia Lâm
- Hà Nội). Tương truyền, Vua Lý Thánh Tông bắt gặp
bà đang dựa gốc lan, vì cảm mến sắc đẹp đã cho tuyển
vào cung lập làm phu nhân, đặt hiệu Ỷ Lan (dựa gốc
lan).
Vua đi đánh giặc phương Nam, bà đã thay chồng trị
nước, sau này bà lại giúp con (Vua Lý Nhân Tông)
cùng Lý Thường Kiệt đập tan cuộc xâm lược của nhà
Tống. Trong lúc nhiếp chính, bà chú trọng củng cố
chính trị, quân sự, chú trọng quyền lợi phụ nữ,v.v.
Nhớ ơn công đức của bà, dân chúng tôn bà là "Quan
Âm", hiện còn đền thờ bà ở Hải Dương.
Ỷ Lan - có thuyết cho rằng tên thật của bà là Lê
Thị Yến Loan - là một cô gái hái dâu, chăn tằm ở
ngoại thành Thăng Long thời Lý. Ỷ Lan ra đời ở làng
Thổ Lỗi (làng Sủi sau đổi là Siêu Loại, nay là xã
Dương Xá, huyện Gia Lâm - Hà Nội) - năm nào không
rõ, sử sách chỉ ghi lờ mờ: bà mất ở kinh thành Thăng
Long vào năm 1117 - trên dưới 70 tuổi - thời Lý
Nhân Tông. Sách Mộng khê bút đàm của Thẩm Hoạt có
chép "Nhật Tôn (tức Lý Thánh Tông) mất, Càn
Đức (Lý Nhân Tông) lên, dùng quan là Lý Thượng Cát
(Lý Thường Kiệt) và mẹ là thái phi Lê Thị Yến Loan
cùng coi việc nước".
Câu chuyện Yến Loan vào cung vua Lý, đó là một
giai thoại người người đều nghe, đều biết.
Thuở ấy vào năm Quý Mão (1063) Lý Thánh Tông đã
đến bốn mươi tuổi. Vua chưa có con trai để truyền
ngôi báu, đêm ngày triều thần lo ngại. Vua bèn thân
hành đi cầu tự khắp các chùa chiền, miếu mạo nhưng
không hiệu nghiệm, Lý Thánh Tông lo lắng cho triều
đình nhà Lý và xã tắc Đại Việt. Một sớm mùa xuân,
vua về viếng thăm chùa Dâu (tổng Dương quang phủ
Thuận Thành) dân làng mở hội nghênh giá. Thánh Tông
hoàng đế cùng hòa vào dân chúng trong hội làng đông
vui. Trai gái, già trẻ các làng đều ra rước vua.
Đoàn xa giá của vua đi đến đâu, các làng lân cận
nô nức, đổ xô về phía ấy. Duy chỉ cô thôn nữ xinh
đẹp của làng Sủi vẫn điềm nhiên hái dâu, xem việc
ngự giá của vua không có quan hệ gì đến mình. Cô
gái vẫn miệt mài bên bãi dâu, mặc cho đoàn ngự diễu
qua. Lý Thánh Tông lấy làm lạ, bèn cho đòi người
con gái có vẻ "kiêu căng" đang đứng bên
nương dâu kề gốc lan ấy đến trước kiệu rồng để hỏi.
Cô gái ung dung nhẹ nhàng tới quỳ tâu: Thiếp là
con nhà nghèo hèn, phải làm lụng đầu tắt mặt tối,
phụng dưỡng cha mẹ có đâu dám mong đi xem rước và
nhìn mặt rồng".
Vua thấy cô gái ăn mặc quê mùa, nhưng cử chỉ đoan
trang dịu dàng, lời lời phong nhã, đối đáp phân
minh, lễ nghĩa khác hẳn những người con gái mà vua
đã từng gặp. Vua yêu vì sắc, trọng vì nết, nên cho
cô gái theo long giá về kinh đô. Cô gái làng quê
được đón về cung vua ấy là Yến Cô Nương xinh đẹp,
nết na của làng Siêu-Loại (Sủi). Nhưng Lý Thánh
Tông là ông vua chăm việc nước, luôn luôn thân chinh
dẹp giặc. Vua ít nhàn rỗi để ngự tới cung Ỷ Lan.
Đương lúc cung Ỷ Lan vắng tiếng đàn, tiếng sáo,
thì bỗng một hôm sau khi Thánh Tông đi trảy hội
chùa Thổ Lỗi, cung Ỷ Lan lại nhộn nhịp hơn xưa.
Yến Cô Nương nhờ "thông minh vốn sẵn tư trời"
được học tập, trau dồi đã trở thành một cung phi
"nổi danh tài sắc một thời" kinh sử làu
thông, văn chương uyên bác. Lý Thánh Tông đem lòng
yêu mến, phong làm Ỷ Lan phu nhân, lấy tên cung
Ỷ Lan và cũng có ý kỷ niệm cô gái đứng tựa bên gốc
lan, khi tuân lệnh đến bệ kiến buổi đầu ở làng Sủi
(Siêu Loại).
Sau đó (1066), Ỷ Lan sinh hạ được một hoàng tử
lấy tên là Kiền Đức. Kiền Đức trán cao, tay dài
quá gối, thông minh, tuấn tú, vua càng yêu dấu hơn,
Yến Loan được tôn là Ỷ Lan nguyên phi - đứng đầu
các cung phi, sau thái hậu; con trai được lập làm
thái tử.
Năm Kỷ Dậu (1069), Lý Thánh Tông thân chinh đi
đánh giặc ngoại xâm. Trong khi vua cùng Lý Thường
Kiệt ở ngoài biên cương, Ỷ Lan nguyên phi đảm đang,
chăm lo quốc sự, trị nước điều khiển có kỷ cương
khiến thần dân thán phục, cõi nước được yên vui.
Lý Thánh Tông từ ngoài biên ải đánh trận lâu ngày
không thắng, chán nản rút quân quay về. Về chưa
đến nơi, nghe dân chúng Châu Cư Liên (Tiên Lữ, Hải
Hưng) ca ngợi nguyên phi Ỷ Lan ở nhà trị nước rất
giỏi, lòng dân cảm hóa, được suy tôn là bà Quan
Âm, vua Thánh Tông tự trách mình: "Nguyên phi
là đàn bà còn làm được như thế, ta là đàn ông há
thua sao! Vua lại tiếp tục trở ra đánh giặc, lần
này thắng trận. Năm đó, mùa hạ vua đem quân về ca
khúc khải hoàn, đại xá cho thiên hạ, giảm thuế khóa,
phát tiền lụa, thóc cho dân nghèo. Ỷ Lan rất nhân
từ dạy con ngoan, đào tạo con trở thành một nhà
vua anh minh sau này; lại lo cho dân giàu nước mạnh,
yêu thương nhân dân được mọi người kính phục.
Năm Nhâm Tý (1072) tháng giêng mùa xuân, Lý Thánh
Tông mất ở điện Hội Tiên. Hoàng thái tử Kiền Đức
lên ngôi vua, tức vua Lý Nhân Tông. Khi ấy vua mới
lên bảy, tôn mẹ là Ỷ Lan nguyên phi lên làm Linh
Nhân hoàng thái hậu. Ỷ Lan vừa giúp coi triều chính,
vừa làm nhiệm vụ bà mẹ dạy dỗ con. Trong khi vua
còn thơ ấu, Ỷ Lan điều khiển cả quốc gia, cùng tể
tướng Lý Thường Kiệt chủ trương đánh quân Tống xâm
lược. Hai lần quân Tống đến (1075, 1077) vua Lý
Nhân Tông chưa quá 10 tuổi, Ỷ Lan đã cùng Thái sư
Lý Đạo Thành lo việc binh lương chuyển ra tiền tuyến.
Trong lúc Tổ quốc lâm nguy Ỷ Lan đã cùng Lý Thường
Kiệt giữ vững giang sơn, xã tắc; công ấy đời sau
còn nhắc mãi.
Ỷ Lan xuất thân là một thôn nữ, nên hiểu thấu những
khổ đau của người phụ nữ nông dân vì nghèo khổ phải
đem thân gán nợ cho nhà giàu, bà cho xuất của trong
kho chuộc về, và xây dựng chồng con hạnh phúc cho
họ. Về việc này Ngô Sĩ Liên đã có lời bàn: "Con
gái nghèo đến nỗi phải đợ mình làm mướn, con trai
nghèo đến nỗi không vợ đó là cùng dân của thiên
hạ. Thái hậu (tức Ỷ Lan) đổi mệnh cho họ cũng là
việc nhân chính vậy!". Ỷ Lan không những sửa
sang việc quốc chính, tăng cường quân đội, bố phòng,
chăm lo việc mở mang dân trí, việc thi cử học hành
và còn ban hành nhiều điều ích quốc lợi dân. Ỷ Lan
còn khuyên vua làm điều thiện, trị điều ác. Bà hiểu
những gian nan của nông dân khi việc nông trang
cày bừa không có trâu cày. Ỷ Lan bảo vua phạt tội
nặng những kẻ trộm trâu và giết trâu bừa bãi; có
lần bà đã nói với vua: "Gần đây người kinh
thành và làng ấp đã có kẻ trốn đi chuyên nghề trộm
trâu. Nông dân cùng quẫn. Mấy nhà phải cày chung
một trâu. Trước đây, ta đã từng mách việc ấy, và
nhà nước đã ra lệnh cấm. Nhưng nay việc giết trâu
lại có nhiều hơn trước". Nhân Tông bèn ra lệnh
phạt rất nặng những người trộm và giết trâu, phạt
cả vợ con và hàng xóm vì tội không tố giác.
Sống trong lầu son, gác tía mà lúc nào Ỷ Lan cũng
không quên đến người nghèo, Ỷ Lan vẫn chăm sóc đến
đời sống cùng cực của nông dân lao động. Cũng như
Lý Thánh Tông, Ỷ Lan thường phát chẩn thóc lúa cho
kẻ nghèo. Bà sùng đạo Phật, ưa làm việc từ thiện
lập nhiều đình chùa.
Bà thường lui tới các đình chùa, trao đổi với các
tăng ni thuyết giáo đạo Phật. Năm 1096, bà bày cỗ
chay ở chùa Khai Quốc (tức sau là chùa Trấn Quốc
ở Thăng Long) thết các sư. Tiệc xong, bà ngồi kê
cứu đạo Phật với các vị sư già học rộng. Bà hỏi
về nguồn gốc đạo Phật ở các nước và ở ta. Bà có
óc phán đoán đòi hỏi các sư "nói có sách mách
có chứng". Chính nhờ câu chuyện giữa bà và
các vị sư thời Lý (sách Thiên uyển tập anh ngữ lục
đời Trần còn ghi lại tường tận chuyện này), mà đến
nay ta còn biết gốc tích sự truyền bá đạo Phật vào
nước ta. Có lần bà đến chùa Phổ Minh (Từ Liêm) tranh
luận với sư Thông Biến về những điều của Phật giáo.
Bà cũng có làm những bài kinh, có câu kệ còn truyền
lại đến ngày nay:
Sắc là không, không tức sắc
Không là sắc, sắc tức không
Sắc? Không? thôi mặc cả,
Mới thấu được chân tông
Là một nữ nông dân nghèo, được hưởng phú quý vinh
hoa, bà vẫn cho là điều "sắc sắc, không không",
đó là phù vân... Bà là một người phụ nữ vương giả,
ngọc ngà vàng son không làm vẩn đục tâm hồn bà,
cũng là một phụ nữ hiếm có trong lịch sử nghìn năm
trước.
Ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu, Hội tường đại khánh
năm thứ 8 (1117) đời Lý Nhân Tông, bà mất, được
hỏa táng, dâng thụy là Phù Thánh Linh Nhân Hoàng
thái hậu, mai táng ở Thọ Lăng phủ Thiên Đức. Hiện
nay còn miếu thờ bà ở hai xã Cẩm Đới và Cẩm Cầu
huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.
ĐOÀN MINH TUẤN

|