| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Hằng
Phương
Tên thật
là Lê Hằng Phương, sinh năm 1908 tại quê gốc làng
Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Mất ngày
2-2-1983 tại Hà Nội. Thuở nhỏ Hằng Phương học chữ
Hán rồi chữ Pháp. Từ 1929 đã có thơ đăng báo. Hằng
Phương được kể đến trong số ít ỏi các nhà thơ nữ
trước cách mạng. Trong cuốn Thi nhân Việt Nam, Hoài
Thanh đã có những dòng thân mến nhận xét thơ Hằng
Phương, ông coi thơ Hằng Phương như những bức tranh:
Những bức tranh nho nhỏ ấy đơn sơ mà xinh tươi làm
sao/Hồn thi nhân âu cũng thế.
Hằng Phương đến với thơ như đến với một thú chơi
tinh thần. Bà viết hồn nhiên, ít thấy dấu vết kỹ
thuật. Bà quan sát cảnh vật và lắng nghe lòng mình
bằng giác quan tinh trong của người con gái được
học hành. Giọng thơ êm đềm từ tốn, ý thơ bình đạm,
tình thơ chân phương, dễ hiểu, dễ nhớ. Một chút
ước lệ với rất nhiều nét thực tươi tắn, thơ Hằng
Phương thuở ấy luôn luôn trong trẻo. Bà tả cảnh
bình minh: Nách tường đôi lứa chim sâu/Nằm trong
tổ ấm thò đầu nhởn nhơ. Cảnh đêm Gió im cây đứng
bẽ bàng/ Mái tranh ủ dột bên giàn không hoa. Cảnh
đi đò suối chùa Hương Mây luồn đáy nước qua cầu/
Thuyền đi tưởng núi quay đầu trông theo. Cảnh rất
có hồn mà cũng rất hiện thực. Tình cảm quê hương
xa cách không ngờ thành tình cảm đòi đoạn gần suốt
đời nhà thơ. Hồi trẻ phận gái theo chồng Đường xa
ngoảnh lại ngẩn ngơ/ Trông theo mây trắng thẫn thờ
mắt xanh. Sau này là đất nước cắt chia, quê cũ Quảng
Nam nằm bên kia sông tuyến. Từ nhận xét trên của
Hoài Thanh năm 1941 đến khi mất (1983), Hằng Phương
còn có hơn bốn mươi năm làm thơ nữa. Cốt cách xưa
bà vẫn giữ, lời thơ vẫn êm đềm, tình thơ vẫn thành
thực nhưng trong cảm xúc bà rộng mở hơn, quan tâm
hơn những vấn đề của đất nước, của xã hội. Đằng
sau những tình cảm gia đình, tình mẹ con bà cháu
là tình dân nước nghĩa đồng bào. Vào kháng chiến
chống Pháp, Hằng Phương có mặt trong đội ngũ các
nhà thơ kháng chiến. Bà cùng chồng, nhà nghiên cứu
văn học Vũ Ngọc Phan, đưa cả gia đình đi kháng chiến,
khi Thanh Hóa, khi Việt Bắc... Bà không có điều
kiện như các nhà văn nam giới, tham gia chiến dịch,
viết văn viết báo. Hằng Phương phải chăm lo con
cái. Nhưng bà vẫn bắt kịp nhịp sống đánh giặc, thở
hơi thở cuộc chiến tranh cứu nước. Sau ngày Hà Nội
giải phóng, bà tham gia Hội Nhà văn Việt Nam ngay
khi Hội thành lập và trở thành nhà thơ chuyên nghiệp,
có điều kiện thâm nhập cuộc sống rộng hơn trước.
Cùng với Anh Thơ, Vân Đài... bà đóng góp những bài
thơ trữ tình khá đậm khía cạnh cá thể, giàu nữ tính
vào nền thơ hiện thực xã hội chủ nghĩa manh nha
thời ấy. Sức bút Hằng Phương không dồi dào, ứng
chiến như Anh Thơ, thơ bà nhỏ nhẹ, khoan thai tâm
sự những chuyện đời mình từng trải: cảnh giã từ
Việt Bắc về xuôi Non xanh lùi lại xa dần/ Cây đèo
ngơ ngác tần ngần trông theo; ngôi nhà xưa trên
đất Thái Hà bị giặc đốt Hòa bình trở lại nhà/ Đây
chỉ còn vạt đất/ Khô cháy cỏ chưa lên. Có quà Tết
cho con, thương nhớ mẹ xưa,
bài thơ Quà Tết, nhớ mẹ lưu lại kỷ niệm thơ ấu
sinh động, tinh tế:
Mẹ ơi nhớ Tết năm nào
Mẹ mua guốc mới ướm vào chân con
Con đi lếch thếch trên giường
Đợi ngày mồng một ra đường mới tinh
Phải đi trên giường để guốc khỏi lấm, để đúng Tết
mới khai trương guốc mới. Có lần đi trên đường Thanh
Niên do thanh niên Hà Nội mới đắp mở rộng đường
Cổ Ngư xưa, bà chạnh nhớ đứa con trai mất trong
thời kháng chiến vì thiếu thầy thiếu thuốc. Bài
thơ chất phác thành thực, người đọc cảm động thấy
thêm một khía cạnh hy sinh của người dân trong kháng
chiến. Lòng thương đứa con mười sáu tuổi con đau
không kịp thuốc ghìm nén trong chiến tranh, bây
giờ đất nước yên bình mới như được ào ra Tóc mẹ
bạc nửa đầu/ Nhớ con lòng đau xé. Hằng Phương không
có sở trường làm thơ xã hội theo kiểu chính luận
cổ động, bà chỉ viết những gì có dính đến cuộc đời
bà. Nhưng những vấn đề xã hội từ những đề tài cá
nhân cá thể ấy lại cho thấy rõ nhất, chân thật nhất,
con người tồn tại trong xã hội. Chào mừng luật hôn
nhân gia đình, Hằng Phương nhớ người chị họ bị gả
chồng ép buộc Sáng ra mở cửa hàng/ Tối trong quầy
đếm bạc/ Đời ngày càng héo hon/ Như lụa nhàu bạc
nát. Ký ức thành tấm phông thời gian cho những cảm
xúc thời sự của Hằng Phương: nhớ chiếc áo bông con
mặc, nhớ cảnh sống nhà văn thuở trước, nhớ nơi ở
thời kháng chiến Quần Tín...
Thơ nặng ân nghĩa. Tấm lòng người viết mộc mạc
chân tình. Những chuyến đi thâm nhập thực tế đời
sống mở rộng cảm xúc của bà: qua đèo Ngang, thăm
Hạ Long, thăm cầu Trường Giang Trung Quốc... bà
đều có thơ, và thơ thường lấy mạch từ ký ức, từ
bà Thanh Quan, từ cổ tích, từ thơ Đường Hoàng Hạc
Lâu... Thật cảm động khi đọc trong thơ bà những
địa danh xa xôi, những miền đất đạn bom ác liệt
trong chiến tranh. Người phụ nữ ở tuổi làm bà ấy
đã có những cố gắng để đi và đến thật lặng lẽ. Mảng
đề tài được Hằng Phương chăm chút nhất là mảng thơ
về tình cảm gia đình và chính ở đây Hằng Phương
trước và sau cách mạng không có ngăn cách như ở
hầu hết các nhà thơ khác. Bài thơ Lòng quê viết
năm 1940 tặng Vũ Ngọc Phan với bài viết dịp kỷ niệm
40 năm ngày cưới chung một hơi thơ, một mạch cảm
xúc. Nỗi nhớ mẹ, tình thương con
thương cháu trong lòng mẹ, lòng bà không có gì
thay đổi theo thời gian. Đến cả bút pháp thơ như
cũng không thay đổi. Hằng Phương có lẽ là nhà thơ
ít bị yếu tố nghề nghiệp chi phối. Bà lĩnh lương
ở Hội nhà văn, nhưng làm thơ, với bà, vẫn như một
việc riêng tư, đầy tính tài tử. Năng suất thơ không
cao và vắng mặt ở nhiều đề tài Hội kêu gọi. Nhưng
hóa ra bà có lý. Sức vậy thì viết vậy. Không thể
chạy theo thời thượng và cũng không nên đặt chỉ
tiêu cho ngòi bút. Bà cứ nhẩn nha, làm thơ như làm
việc riêng tư, và thơ như sản phẩm "nhà dùng",
không chịu sự thúc bách của báo chí. Tài thơ bà
có thể chưa cao, nhưng tình thơ đằm thắm. Hoài Thanh
trước cách mạng đã khen bà có giọng thơ thành thực.
Mấy chục năm sau Xuân Diệu lại khen bà một trái
tim yêu mến không tắt. Thành thực bộc lộ và thương
mến cuộc đời chính là phần đóng góp đáng quý của
Hằng Phương.

|