| VĂN
HỌC & NGHỆ THUẬT

Vì
lợi ích truyền đạt các kiến thức, các giá trị văn
học. Chúng tôi chân thành cảm ta những nguồn trích
dẫn. Chúng tôi rất tiếc không liên lạc để xin phép
đăng lại được. Xin lượng thứ. HNPĐ)

Nhân
ngày sinh của Công chúa, Thi sĩ Lê Ngọc Hân (25-5-1770
)
Danh
nhân Lê Ngọc Hân
Năm 1999 kỷ niệm 210 năm ngày chiến thắng Đống
Đa (1789-1999), đồng thời kỷ niệm 200 năm ngày mất
của Công chúa - Hoàng hậu Lê Ngọc Hân (1799-1999).
Nhân dịp này, chúng ta thành kính dâng lên Bà nén
tâm hương và cùng nhau ôn lại cuộc đời Bà với những
hiểu biết chân xác dưới lớp bụi thời gian.
Đọc lại những tư liệu ít ỏi trong sử cũ và tham
chiếu tộc phả họ Nguyễn Đ́nh ở Ninh Hiệp (Gia Lâm,
Hà Nội), chúng ta biết Lê Ngọc Hân là vợ yêu của
vua Quang Trung, cũng là một danh nhân văn hóa của
dân tộc. Ngọc Hân thuộc hàng công chúa cuối cùng
của nhà Lê, đi vào lịch sử bằng cuộc t́nh duyên
tuyệt đẹp với anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, đóng
góp cho văn học Việt Nam bài văn khóc chồng Tế vua
Quang Trung chân t́nh thống thiết; và đặc biệt là
bài Ai Tư Văn tha thiết làm rung động ḷng người
ở mọi thời đại. Nhắc đến sự nghiệp lừng lẫy của
vua Quang Trung, không thể không nhắc đến bà. Và
cũng chính bà, với hai tác phẩm văn học trên, đă
sớm nhất đánh giá vua Quang Trung súc tích mà ngắn
gọn, dễ nhớ nhất:
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước biết bao công tŕnh
Mà nay lượng cả ơn sâu,
Móc mưa tưới khắp chín châu đượm nhuần.
Nhưng con người đầy tài hoa và nồng thắm t́nh cảm
ấy phải chịu mệnh bạc, mà cả khi chết rồi vẫn phải
chịu nhiều tai ương và oan trái. Cho đến nay, mặc
dù đă được một số nhà nghiên cứu văn học và sử học
minh oan, chứng minh bà mất từ năm 1799 tức trước
khi triều Tây Sơn sụp đổ 3 năm, nhưng đây đó vẫn
lan truyền thông tin rằng, bà chịu bị Gia Long ép
lấy làm vợ; hoặc khi triều Tây Sơn đổ, bà phải lẩn
trốn nhưng vẫn bị vua Gia Long truy nă và bắt về
hành h́nh rùng rợn. Thực ra đó là những cách nghĩ
bị suy diễn từ sự việc dễ gợi mối liên tưởng: Gia
Long có ép Ngọc B́nh - em nuôi của bà và là vợ của
vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn - lấy y. Gia Long có
hành h́nh man rợ vua tôi Cảnh Thịnh và đối xử hèn
hạ với di hài vua Quang Trung - Nguyễn Huệ và Thái
Đức - Nguyễn Nhạc. Nhưng đối với bà Ngọc Hân, Gia
Long và cả Minh Mạng vẫn "lờ đi", chỉ
đến Thiệu Trị v́ có người tố giác mới theo "phép
nước" mới có những hành động độc địa.
Vậy sự thật về Lê Ngọc Hân như thế nào? Từ những
tư liệu văn học và sử học của thời Lê, thời Tây
Sơn và thời Nguyễn, từ tộc phả họ Nguyễn Đ́nh và
những truyền thuyết ở Ninh Hiệp - quê ngoại của
bà, bức màn bí mật được vén lên dần:
Vùng Cố Pháp - Đông Ngàn - Từ Sơn (nay thuộc huyện
Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh), chỉ với những tên gọi
nối nhau trong lịch sử đă gợi lên một vùng sông
nước, rừng cây, g̣ đồi. Trên những g̣ đồi ấy, tổ
tiên xa xưa đă tụ cư lập xóm dựng làng mà tên làng
khi Hán Việt hóa để đi vào địa bạ của chính quyền
đô hộ thời Bắc thuộc và của các nhà nước dân tộc
thời độc lập đều có chữ Phù ở đằng trước để chỉ
rơ g̣ nổi ở giữa đồng nước. Chỉ riêng phủ Từ Sơn
(Bắc Ninh) đến thời Nguyễn vẫn c̣n các xă Phù Đổng,
Phù Minh, Phù Lập (thượng và hạ), Phù Chẩn, Phù
Ninh, Phù Lộc, Phù Lưu, Phù Khê, Phù Cảo, Phù Yên,
Phù Lương, Phù Lăng... Giáo sư Trần Quốc Vượng đă
phục nguyên âm Phù là Bù - Pù - G̣ thông đạt rơ
ư tưởng người xưa. Đây là vùng đất thiêng, đă sản
sinh ra Thành Gióng - anh hùng cứu nước đầu tiên
đầy chất huyền thoại, và Lư Công Uẩn dựng nghiệp
Đế mở ra kỷ nguyên Đại Việt, những người dân "dốt
Đông Ngàn hơn ngoan thiên hạ"... Trong những
người dân Đông Ngàn ấy, ở đầu thế kỷ thứ XVIII có
cụ Nguyễn Đ́nh Giai ở Phù Ninh - tên nôm là làng
Nành được triều đ́nh nhà Lê phong là Vũ huân tướng
công thự Thần vũ tứ vệ quân vụ Tham đốc đặc tứ phong
tặng chiêu vũ tướng quân, Đô đốc phủ Đô đốc Đồng
Tri, Tuấn trung hầu. Cụ có 18 người con, gái trưởng
là bà Nguyễn Thị Huyền. Bà được ông bác ruột - đồng
thời cũng là cha nuôi đang làm tả thiếu giám (quan
hoạn) ở ty Lễ giám tiến cử làm cung tần cho vua
Lê Cảnh Hưng. Bài vị bà ở đền thờ tại Phù Ninh (nay
là làng Ninh - Gia Lâm - Hà Nội) ghi rơ: "Cố
Lê Chiêu Nghi Nguyễn Thị Húy Huyền, hiệu Thiện Trung
sinh giờ Dậu ngày mồng 3 tháng 10 năm Quư Dậu (28-10-1753),
mất giờ Hợi ngày mồng 1 tháng 8 năm Quư Mùi (1823),
thọ 71 tuổi. Bà Huyền sinh công chúa Lê Ngọc Hân
vào giờ Sửu ngày 27 tháng 4 năm Canh Dần (22-5-1770).
Năm 1786 Nguyễn huệ kéo quân ra Bắc diệt chúa Trịnh,
phù vua Lê, song trên thực tế đă thống nhất Đàng
Trong và Đàng Ngoài, được vua Lê Hiển Tông gả công
chúa Ngọc Hân đang ở độ tuổi 16. ít ngày sau vua
Lê Hiển Tông băng hà. Bà Nguyễn Thị Huyền góa bụa
ở tuổi 33, sau một thời gian chịu tang chồng đă
lui về quê lập dinh Thiết Lâm 100 gian ở xế cửa
chùa Pháp Vân để tiện sang chùa lễ Phật.
Ngọc Hân vào Phú Xuân sống hạnh phúc bên chồng.
Cuối năm 1788 được tin quân Thanh xâm lược đă chiếm
Thăng Long, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế để chính
danh tiến quân ra Bắc, phong Ngọc Hân làm Hoàng
hậu ố tộc phả họ Nguyễn Đ́nh ghi là Trinh Nhất Vũ
Hoàng hậu. Sau khi vua Quang Trung đại thắng quân
Thanh, vào đầu xuân Kỷ Dậu lại trở về Phú Xuân,
và Ngọc hân đă sinh với vua được con gái đầu ḷng
là công chúa Ngọc Bảo vào giờ Hợi ngày 20 tháng
4 năm Canh Tuất (4-6-1790), rồi hoàng tử Văn Đức
vào giờ Măo ngày 14 tháng
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp dân dựng nước xiết bao công tŕình...
Lê Ngọc Hân là con vua Lê Hiển Tông và bà Chiêu
Nghi Nguyễn Thị Huyền. Bà có nhan sắc, thông minh,
lại giỏi thơ văn.
Năm 1786, anh hùng "áo vải cờ đào" Nguyễn
Huệ ra Bắc với chiêu bài "phù Lê diệt Trịnh".
Ngọc Hân vâng mệnh vua cha kết duyên cùng Nguyễn
Huệ và theo ông về Thuận Hóa.
Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế trước khi
ra Bắc lần thứ ba để diệt quân Thanh, lấy niên hiệu
Quang Trung, phong Ngọc Hân làm Hữu Cung Hoàng Hậu.
Năm 1789, sau khi đại thắng quân Thanh, Nguyễn
Huệ lại phong bà làm Bắc Cung Hoàng Hậu.
Năm 1792, Quang Trung Hoàng Đế đột ngột băng hà.
Bà viết Tế Vua Quang Trung và Ai Tư Văn để bày tỏ
nỗi đau khổ cùng cực cũng như nỗi tiếc thương vô
hạn cho người chồng anh hùng vắn số.
Tác phẩm Ai Tư Văn chịu nhiều ảnh hưởng của bản
dịch Chinh Phụ Ngâm của Đoàn Thị Điểm, nhưng cũng
không hiếm những đoạn, những câu t́nh ư cảm động
tha thiết, làm rung động ḷng người.
Có nhiều giả thuyết về cái chết của Ngọc Hân Hoàng
Hậu, song thuyết đáng tin cậy nhất là bà mất vào
năm 1799 từ bài văn tế bà do Phan Huy Ích viết,
có chép trong Dụ Am Văn Tập.
Giêng năm Tân Hợi (27-2- 1791). Hạnh phúc đang
nồng th́ năm 1792 vua Quang Trung băng đột ngột,
Ngọc Hân ở tuổi 22 đă chịu cảnh góa bụa. Hai bài
văn khóc chồng Tế vua Quang Trung và Ai tư văn đă
nói lên nỗi đau đứt ruột xé ḷng của bà. Bà muốn
chết theo chồng, nhưng trong đám tang vua Quang
Trung thấy cảnh các con mới 1 - 2 tuổi ở trước linh
sàng cha:
Gót lân chỉ mấy hàng lẫm chẫm
Đầu mũ mao, ḿnh tấm áo gai
U ơ ra trước hường đài
Tưởng quang cảnh ấy chua cay ḷng nàymà bà tạm
sống để nuôi con, chờ con qua tuổi ấu thơ, chỉ sống
thể xác thôi:
Vậy nên nấn ná đôi khi
H́nh tuy c̣n ở phách th́ đă theo
Bà đưa con ra khỏi cung điện Phú Xuân, sống trong
chùa Kim Tiền (Dương Xuân ố Huế) cạnh điện Đan Dương
để thờ chồng nuôi con. Bà gượng sống đến ngày mồng
8 tháng 11 năm Kỷ Mùi (4-12-1799) th́ mất, lúc ấy
mới 29 tuổi. Khi đó Phan Huy ích đang là một trọng
thần của Tây Sơn, đă soạn giúp năm bài văn cho vua
Cảnh Thịnh, cho các công chúa, cho bà Nguyễn Thị
Huyền, cho các tôn thất nhà Lê và cho họ ngoại ở
làng Phù Ninh tế Ngọc Hân. Cả năm bài văn trên c̣n
chép trong sách Dụ Am văn tập.
Tiếp theo, triều đ́nh Cảnh Thịnh lục đục và suy
yếu, ngày càng bị tập đoàn Nguyễn ánh đe dọa. Hai
con bag phải đổi sang họ Trần, nhưng rồi với sự
sụp đổ của triều Tây Sơn, theo tộc phả họ Nguyễn
Đ́nh, ngày 18 tháng 11 năm Tân Dậu (23-12-1801)
hoàng tử Văn Đức mất khi mới 10 tuổi, rồi ngày 17
tháng 4 năm Nhâm Tuất (18-5-1802) công chúa Ngọc
Bảo cũng mất khi mới 12 tuổi. Không rơ có phải như
truyền thuyết là bị nhà Nguyễn giết hại trong khi
trốn tránh? Nhưng cũng có thể chết bệnh v́ mất vào
những thời điểm khác nhau, và không có tên trong
danh sách vua tôi nhà Tây Sơn bị Gia Long hành h́nh.
Hơn nữa bộ sách chính sử của nhà Nguyễn Đại Nam
Thực lục nhân năm 1842 phá hủy đền thờ Ngọc Hân
ở Phù Ninh có ghi: "Nguyên người xă ấy là Nguyễn
Thị Huyền làm cung nhân của vua Lê Hiển Tông, có
người con gái là Lê Ngọc Hân, sau gả cho ngụy (Nguyễn)
Huệ, sinh được 1 trai và 1 gái, Ngọc Hân chết, con
trai, con gái cũng chết non cả".
Phần "Biệt lục" của tộc phả Nguyễn Đ́inh
c̣n ghi thêm: Bà Nguyễn Thị Huyền thương con gái
và các cháu ngoại đều chết yểu nơi xa, năm 1804
thuê người vào Phú Xuân lấy hài cốt ba mẹ con Ngọc
hân, ngày 24 tháng 3 năm Giáp Tư (3-5-1804) xuồng
thuyền vượt biển, ngày 20 tháng 5 (28-6) về đến
bến ái Mộ (Gia lâm, Hà Nội), ngày mồng 4 tháng sau
(11-7-1804) đưa về bản dinh (tức dinh Thiết lâm
của bà Nguyễn Thị Huyền), ngày mồng 9 (16-7-1804)
đưa về làng, giờ Ngọ an táng hài cốt bà Ngọc hân,
phụ chôn hoàng tử ở bên trái và công chúa ở bên
phải. Nơi đó nay là Băi Cây Đại hay Băi Đầu Voi
ở đầu làng Nành. (ảnh: Tượng chân dung của Bà Nguyễn
Thị Huyền vợ Vua Lê, mẹ Công chúa Lê Ngọc Hân)
Sự việc này, bộ Đại Nam thực lục ghi tiếp ở năm
1842: "Khoảng năm đầu Gia Long, ngụy đô đốc
tên là Hài ngầm đem hài cốt mẹ con Ngọc Hân từ Phú
Xuân về táng trộm ở địa phận xă Phù Ninh. Thị Huyền
ngầm xây mộ, dựng đền, khắc bia giả, đổi lại họ
tên để làm mất dấu tích".
Bà Nguyễn Thị Huyền không có con trai, đă kư hậu
50 mẫu ruộng tốt với làng và chuyển dinh Thiết Lâm
làm đền thờ. Nam 1823 bà Huyền mất, thọ 70 tuổi,
dinh Thiết Lâm thờ bà và mẹ con Ngọc Hân. vẫn theo
tộc phả họ Nguyễn Đ́nh và kết hợp truyền thuyết
địa phương, th́ vào khoảng thời gian đời Minh Mạng
sang đời Thiệu Trị, có người trong làng tố giác
việc thờ cúng này, vua Thiệu Trị đă cho phá hủy
đền thờ ở dinh Thiết Lâm, quật mộ ba mẹ con Ngọc
Hân, đổ hài cốt xuống sông - nơi này sau dân lập
đền ghềnh thờ bà; chánh tổng bị lột da nhồi trấu,
tri phủ bị cách chức. Bộ sử Đại nam thực lục năm
1842 cũng xác nhận: "Tới đây, việc ấy phát
giác, vua sai hủy đền thờ, đào bỏ hài cốt kẻ ngụy".
Từ năm 1842 dinh Thiết Lâm bị phá, nền dinh bỏ
hoang thành đất công của làng, nhưng dân vẫn gọi
là "Vườn Dinh" và dựng lên đây Một "Miếu
cô hồn" kín đáo thờ Ngọc Hân. Măi gần trăm
năm sau, đến năm 1937 họ Nguyễn Đ́nh đổi đất với
làng lấy lại một phần nền dinh Thiết Lâm và lập
lại đền thờ bà Nguyễn Thị Huyền cùng với Ngọc Hân.
Đồng thời, tại băi cây Đại, cùng với việc sửa lại
mộ bà Nguyễn Thị Huyền, dân làng cũng đắp nấm mộ
tượng trưng của mẹ con Ngọc Hân, tương truyền là
chính chỗ mà năm 1842 bị Thiệu Trị quật phá.
Như vậy, tại Phù Ninh ( nay là xă Ninh Hiệp - Gia
Lâm Hà Nội) ngày trong khi Gia Long vừa lật đổ triều
Tây Sơn, hành quyết man rợ vua tôi Cảnh Thịnh, ra
sức truy lùng hành tích Tây Sơn, th́ nhân dân đă
đón nhận hài cốt mẹ con Ngọc Hân về, xây lăng mộ,
dựng đền thờ. (ảnh:Mộ Bà Huyền)
Từ năm 1842 không được thờ chính thức th́ nhân
dân bí mật thờ mẹ con Ngọc Hân dưới dạng "cô
hồn". Và từ 1937 Ngọc Hân cùng với mẹ và hai
con lại được thờ trong một nhà thờ nhánh của họ
Nguyễn Đ́nh. Trước sau vẫn ở trên một khu đất cũ
là nền dinh Thiết Lâm sư của nhà Nguyễn Thị Huyền.
Cùng với việc thờ cúng này, nhân dân địa phương
c̣n giữ trong chùa làng chiếc trống đồng lớn (cao
35 cm, rộng 55 cm) khắc rơ niên hiệu Cảnh Thịnh
năm thứ 8 (1801) với nhiều hoa văn đẹp để rồi giao
cho Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam quản lư và trưng
bày cho mọi người đều biết.
Mười năm trước, trong khuôn khổ chuẩn bị kỷ niệm
200 năm chiến thắng Đống Đa, cuối năm 1988, chính
quyền xă Ninh Hiệp đă tổ chức cuộc hội thảo khoa
học về danh nhân Lê Ngọc Hân nhân ngày giỗ bà và
làm lễ dâng hương trang trọng. Nhưng cho đến nay
di tích về bà vẫn c̣n bị thả nổi!
Cuộc đời Lê Ngọc Hân cả khi sống lẫn khi chết đă
chịu nhiều cay đắng, nhưng bà thực sự là một nhân
vật lịch sử ố một nữ danh nhân văn hóa đầy tài hoa,
từ khi gắn cuộc đời với vua Quang Trung đă trở thành
một tài năng sáng tạo lớn của đất nước. Sau kỷ niệm
210 năm chiến thắng Đống Đa của vua Quang Trung,
hy vọng vào dịp giỗ Ngọc Hân lần thứ 200 này (cuối
năm 1999) đền thờ và nấm mộ (dù là tượng trưng)
của Bà sẽ chính thức là di sản văn hóa quốc gia.
PGS Chu Quang Trứ

|