Trang chủ


Diễn đàn


Lưu bút


Thư Họa gia


Gallery Thư Họa


Trợ giúp

      
Trang chính  |  Giới thiệu  |  CLB Trí Đức  |  Chân dung  |  Tác phẩm của thành viên  |  Tàng Thư Các
  Chủ đề mớiChủ đề mới  Danh sách thành viênThành viên  Tìm trên diễn đànTìm kiếm  Trợ giúpTrợ giúp  Trợ giúpTác phẩm của thành viên
  Thư kýThư ký  Sự kiệnSự kiện  Đăng kýĐăng ký  Đăng nhậpĐăng nhập
Chữ Hán, văn tự Hán
 Thư Họa Việt Nam : Chữ Hán, văn tự Hán
Tiêu đề Chủ đề: Chữ Hán - văn tự Hán Trả lời bài viếtGửi bài viết mới
Tác giả
Nội dung << Chủ đề trước | Chủ đề kế tiếp >>
admin
Administrator
Administrator
Avatar
CLB Trí Đức Thư Pháp

Ngày gia nhập: 27/3/2003
Thành viên thứ.: 1
Giới tính:
Đến từ: Vietnam
Trạng thái:
Bài viết: 599 [0.36 bài viết mỗi ngày]
Kinh nghiệm: [7.53%]
Bạc thưởng: 1276$
Địa chỉ E-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Yahoo! IM
Sinh nhật: 09/6/1977
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 24/4/2006 lúc 12:53pm | IP Logged Trích dẫn admin

Chữ Trung Quốc

Chữ Trung Quốc hay còn gọi là chữ Hán (viết bằng chữ Trung Quốc: 汉字/漢字; âm Hán Việt: Hán tự) là một dạng chữ viết tượng hình của tiếng Trung Quốc. Có nguồn gốc từ Trung Quốc, sau đó được du nhập vào các nước khác trong vùng bao gồm Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Ở Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, chữ Hán được mượn để tạo nên chữ viết cho ngôn ngữ của dân bản địa ở từng nước.

Trích dẫn:
Mục lục

1 Sơ lược
2 Đặc điểm
2.1 Bất lợi
2.2 Lợi
3 Chữ Hán ở các nước
3.1 Trung Quốc
3.2 Triều Tiên
3.3 Chữ Hán ở Nhật
3.4 Chữ Hán ở Việt Nam
4 Cách cấu tạo thành của Chữ Hán - Lục Thư (六書)
5 Nghệ thuật thư pháp


Sơ lược

Ta phải bỏ những truyền thuyết cho rằng Hoàng Đế đặt ra văn tự Trung Hoa từ 4-5 ngàn năm trước, ngày nay không còn ai tin rằng Hoàng Đế là nhân vật có thực nữa. Cả thuyết Thương Hiệt mà các học giả thời Chiến Quốc đưa ra cũng không chấp nhận được vì không ai biết Thương Hiệt ở đời nào. Gần đây người ta đào được ở An Dương (Hà Nam) nhiều mu rùa, xương loài vật, và đồ đồng trên đó có khắc chữ, và các nhà khảo cổ đoán rằng Trung Hoa đã có chữ viết trễ nhất là đầu đời nhà Thương, khoảng một 1800 năm trước kỷ nguyên Tây lịch.

Cũng như Ai Cập và nhiều dân tộc văn minh thời thượng cổ, chữ viết Trung Hoa thời đó có tính cách tượng hình (idéogramme), nghĩa là vẽ phác vật mình muốn chỉ. Chẳng hạn:

  • Muốn chỉ mặt trời, Trung Hoa vẽ (Ai Cập cũng vậy), sau thành chữ ;
  • Muốn chỉ mặt trăng, Trung Hoa vẽ (Ai Cập vẽ ), sau thành chữ ;
  • Muốn chỉ dòng nước, Trung Hoa vẽ , sau thành chữ ;
  • Muốn chỉ khu ruộng, Trung Hoa vẽ , sau thành chữ ;
  • Muốn chỉ cây cối, Trung Hoa vẽ , sau thành chữ ;
  • Muốn chỉ cái miệng, Trung Hoa vẽ (Ai Cập cũng vẽ ), sau thành chữ .


Đó là giai đoạn đầu, qua giai đoạn nhì, cũng tượng hình mà thêm tính cách biểu ý như cả tiếng Trung Hoa lẫn tiếng cổ Ai Cập đều có nghĩa là ngày; tiếng Trung Hoa chỉ tháng nữa; tiếng Ai Cập cũng dùng cách đó để chỉ tháng: vẽ một mặt trăng, nhưng thêm một ngôi sao: .

Qua giai đoạn sau, mỗi hình ở Ai Cập chỉ một vần, như chỉ cái miệng, mà miệng người Ai Cập thời xưa đọc là ra (hay re), cho nên vần đó chỉ thêm vần ra (hay re).

Giai đoạn cuối, mỗi hình (gọi là dấu cũng được) chỉ một âm như hình không chỉ vần ra (hay re) nữa mà chỉ phụ âm r.

Từ đó, chữ viết cổ Ai Cập không còn là chữ tượng hình (écriture idéographique) mà thành ra chữ tượng thanh - cũng gọi là ký âm (écriture phonétique) - như các chữ của phương Tây: Hy Lạp, La Mã, ...

Chữ Trung Hoa trái lại, ngừng ở giai đoạn hai, không dùng hình để chỉ vần, ghi âm, mà dùng thêm nhiều cách khác để tạo chữ mới như hội ý, giả tá, chuyển chú ... Tóm lại, vẫn giữ tính cách tượng hình mà không thành tượng thanh, mặc dầu họ cũng có phép hài thanh: dùng thanh âm của một chữ để ghi thanh âm của một chữ khác. Ví dụ dùng chữ thành (成), là nên, để ghi âm chữ thành (城) là thành lũy và chữ thành (誠) là thành thực; như vậy hai chữ thành "sau", mỗi chữ gồm hai phần - một phần ghi âm (成), một phần ghi ý. Như chữ thành [size=16(城) bao gồm thổ (土) là đất (vì thành làm bằng đất) và ngôn (言) là lời (lời nói thành thật).


Đặc điểm

Bất lợi

  • Học khá mất công: hai ba năm mới nhớ được mặt chữ của ba bốn ngàn từ thường dùng; nếu dùng lối tượng thanh thì đỡ tốn công.
  • Viết cũng mất công: có những chữ trên hai mươi lăm nét.
  • In sách báo tốn công vì rất rắc rối, phải sắp non vạn chữ, chứ không thể dùng ba bốn chục tự mẫu và dấu như các chữ lối tượng thanh.
  • Không đánh tín hiệu được: phải dùng khoảng 8.000 dấu hiệu (code), mỗi dấu hiệu thay cho một chữ.


Lợi
Cái lợi của chữ Trung Hoa cũng hiển nhiên:

  • Nhớ mặt chữ của một từ thì ta ít khi quên được ý nghĩa của nó, chẳng hạn chữ an (安) gồm nữ ( đàn bà) ở dưới miên (mái nhà) nên có nghĩa là an (an ổn), hoặc chữ minh (明) gồm nhật ( mặt trời) và nguyệt ( mặt trăng) nên có nghĩa là sáng; như vậy mỗi từ của Trung Hoa có cái gì sống hơn từ của phương Tây; vì vậy đọc một bài thơ Trung Hoa viết bằng chữ Trung Hoa, ta thấy có ý nghĩa hơn, thích hơn khi đọc cũng bài thơ đó phiên âm ra chữ quốc ngữ. Cái thú còn tăng thêm gấp bội nếu ta thưởng thức được nét bút của người viết, và ai cũng nhận ra môn "thư" (viết chữ) của Trung Hoa là bước đầu của môn hoạ, người Trung Hoa nào viết chữ đẹp cũng thành một hoạ sĩ được.
  • Lợi lớn nhất cho dân tộc Trung Hoa là nhờ lối chữ tượng hình họ mau thống nhất được nước họ, dễ giữ được đế quốc của họ, vượt được hết những dị biệt của các thổ ngữ, những hàng rào ngôn ngữ. Họ có biết bao thổ ngữ, nếu dùng một thứ chữ tượng thanh, như tự mẫu La Tinh chẳng hạn, thì người Bắc Kinh không sao hiểu được người Vân Nam, người Tứ Xuyên không sao hiểu được người Sơn Đông..., mà nước của họ đã bị chia thành nhiều tiểu quốc, dân tộc rồi, như châu Âu có người Ý, Pháp, Đức, Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha...
  • Cũng nhờ lối chữ của họ mà bao nhiêu Hoa kiều ở khắp thế giới từ Đông Nam Á tới Âu Châu, Mỹ Châu, mặc dầu ở nước nào thì nói tiếng nước ấy mà vẫn giữ được nền văn hóa cổ, vẫn giữ được phong tục, truyền thống và dùng bút đàm mà hiểu được nhau.


Chữ Hán ở các nước

Trung Quốc

Chữ Hán bắt nguồn từ Trung Quốc từ thời xa xưa dựa trên việc quan sát đồ vật xung quanh và vẽ thành dạng chữ tượng hình, chữ mang ý nghĩa. Chữ Hán đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển. Cho tới hiện nay, chữ Hán cổ nhất được cho là loại chữ Giáp Cốt (Giáp Cốt Tự 甲骨字), chữ viết xuất hiện vào đời nhà Ân (殷) vào khoảng thời 1600-1020 trước Công Nguyên. Chữ Giáp Cốt là chữ Hán cổ viết trên các mảnh xương thú vật và có hình dạng rất gần với những vật thật quan sát được.

Chữ Giáp Cốt tiếp tục được phát triển qua các thời:

Nhà Chu (1021-256 TCN) có chữ Kim (Kim Văn 金文), là chữ viết trên các chuông bằng đồng và kim loại
Chiến Quốc 戦国 (403-221 TCN) và thời nhà Tần (221-206 TCN) có chữ Triện (Đại Triện và Tiểu Triện) và có chữ Lệ (Lệ Thư 隶書)
Nhà Hán (Tiền Hán 206 TCN-8 CN, Hậu Hán 25-220) có chữ Khải (Khải Thư 楷書)
Chữ Khải còn có thể được chia thành chữ Hành (Hành Thư 行書) và chữ Thảo (Thảo Thư 草書). Chữ Khải là loại chữ được dùng bút lông chấm mực tàu viết trên giấy và rất gần với hình dáng chữ Hán ngày nay vẫn còn được dùng ở Nhật, Đài Loan hay Hồng Kông. Chữ Thảo là loại chữ được viết bằng bút lông có lược bớt hoặc ghép một số nét lại. Sự phát triển chữ Hán trải qua các thời kỳ có thể được minh họa bằng một số chữ sau:

Chữ Giáp Cốt → Chữ Kim → Chữ Triện → Chữ Lệ → Chữ Khải → Chữ Thư

Ngày nay chữ Hán ở Trung Quốc đã có xu thế được giản lược đơn giản hơn và ở Trung Quốc còn sử dụng hai loại chữ: chữ Phồn Thể (繁体字) và chữ Giản Thể (簡体字).


Triều Tiên

Hán ngữ được du nhập vào bán đảo Triều Tiên khá lâu, khoảng thời kỳ đồ sắt. Đến thế kỷ thứ 4 trước công nguyên xuất hiện các văn bản viết tay của người Hàn. Các bản viết tay này được sử dụng chữ Hán. Tiếng Hán là thứ ngôn ngữ khó, dùng chữ Hán để viết tiếng Triều Tiên trở nên phức tạp, cho nên các học giả người Hàn đã tìm cách cải biến chữ Hán để phù hợp với âm đọc của tiếng Triều Tiên. Vào khoảng thế kỷ thứ 15, ở Triều Tiên xuất hiện chữ Hàn, được gọi là Hangul (한글), chữ này trải qua nhiều thế kỷ phát triển thăng trầm, cuối cùng chính thức được dùng thay thế cho chữ Hán cho tới ngày nay. Chữ Hàn ra đời, lúc ban đầu gồm 28 ký tự, sau đó còn 24 ký tự giống như bảng chữ cái La Tinh, và được dùng để ký âm tiếng Hàn. Tuy chữ Hàn ra đời nhưng chữ Hán vẫn còn được giảng dạy trong trường học. Năm 1972, Bộ Giáo dục Hàn Quốc đã quy định phải dạy 1800 chữ Hán cơ bản cho học sinh.


Chữ Hán ở Nhật

Chữ Hán du nhập vào Nhật Bản thông qua con đường Triều Tiên. Chữ Hán ở Nhật được gọi là Kanji, Hán Tự (漢字), và được du nhập vào Nhật theo con đường giao lưu buôn bán giữa Nhật và Triều Tiên vào khoảng thế kỷ thứ 4, 5. Tiếng Nhật cổ đại vốn không có chữ viết, nên khi chữ Hán du nhập vào Nhật, người Nhật dùng chữ Hán để viết tiếng nói của họ. Dạng chữ đầu tiên người Nhật sáng tạo từ chữ Hán để viết tiếng Nhật là chữ Man-yogana (Vạn Diệp Giả Danh 万葉仮名). Hệ thống chữ viết này dựa trên chữ Hán và khá phức tạp. Chữ Vạn Diệp Giả Danh được đơn giản hóa thành Hiragana ひらがな (Bình Giả Danh 平仮名), và Kagakana カタカナ (Phiến Giả Danh 片仮名). Cả hai loại chữ này trải qua nhiều lần chỉnh lý và hoàn thiện mới trở thành chữ viết ngày nay ở Nhật. Tiếng Nhật hiện đại được viết bằng bốn loại ký tự

  1. Chữ Hán (Kanji, 漢字)
  2. Hiragana (ひらがな)
  3. Katakana (カタカナ)
  4. Chữ La Tinh (Romaji, ローマ字).


Chữ Hán trong tiếng Nhật thường có ít nhất hai cách đọc, cách đọc theo âm Hán cổ, được gọi là On-yomi (Âm Độc 音読), và cách đọc theo âm tiếng Nhật được gọi là Kun-yomi (Huấn Độc 訓読). Trong quá trình phát triển chữ viết cho tiếng Nhật, người Nhật còn mượn chữ Hán để sáng tạo ra một số chữ (khoảng vài trăm chữ) và mỗi chữ này chỉ có cách đọc theo âm tiếng Nhật, và được gọi là Quốc Tự (Kokuji 国字), tiếng Nhật gọi là Quốc Tự Quốc Huấn (国字国訓), nghĩa là "chữ quốc ngữ âm quốc ngữ". Những chữ quốc ngữ này của người Nhật có cách hình thành khá giống chữ Nôm của Việt Nam (xin xem phần sau về chữ Nôm). Tháng 11 năm 1946, Bộ Giáo dục Nhật đề nghị đưa vào giảng dạy 1850 chữ Hán cơ bản trong trường học, và được Quốc hội Nhật thông qua năm 1947. Đến năm 1981 thì lượng chữ Hán thông dụng được điều chỉnh lại gồm khoảng 1945 chữ thường dùng, khoảng 300 chữ thông dụng khác dùng để viết tên người. Đến năm 2000, các chữ Hán dùng để viết tên người được điều chỉnh thêm, số lượng tăng lên trên 400 chữ. Các chữ Hán này được lập thành bảng gọi là Bảng chữ Hán thường dùng (Jyoyo Kanji Hyo hay Thường Dụng Hán Tự Biểu 常用漢字表) và Bảng chữ Hán dùng viết tên người (Jinmeiyo Kanji Hyo hay Nhân Danh Dụng Hán Tự Biểu 人名用漢字表).


Chữ Hán ở Việt Nam

Trước khi chữ Hán du nhập vào Việt Nam, người Việt chưa có chữ viết, mà chỉ có tiếng nói, tiếng Việt cổ đại là thứ ngôn ngữ thuộc họ Mường-Khmer, khác hẳn họ ngôn ngữ với tiếng Hán. Nhiều tác giả cho rằng chữ Hán du nhập vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ 1 trước công nguyên, ngay sau khi quân Hán phương bắc chiếm xong Việt Nam. Trong suốt một nghìn năm, từ thế kỳ 1 TCN. tới năm 938, tiếng Việt bị ảnh hưởng mạnh mẽ của tiếng Hán. Trong suốt thời gian bắc thuộc với chính sách Hán hóa của nhà Hán, tiếng Hán đã được giảng dạy ở Việt Nam, và người Việt Nam đã chấp nhận thứ ngôn ngữ mới đó song song với tiếng Việt, tiếng nói truyền miệng. Người Việt Nam tiếp thu tiếng Hán và chữ Hán, đồng thời đã Việt hóa nhiều từ của tiếng Hán thành từ tiếng Việt, gọi là từ Hán-Việt. Có rất nhiều từ Hán-Việt đã đi vào trong từ vựng của tiếng Việt. Sự phát triển của tiếng Hán ở Việt Nam trong thời kỳ bắc thuộc song song với sự phát triển của tiếng Hán ở chính Trung Quốc thời đó. Tuy nhiên, năm 938, bằng chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, Việt Nam đã độc lập và không còn lệ thuộc vào phương bắc nữa, nhưng ngôn ngữ vẫn còn bị ảnh hưởng nặng nề của tiếng Hán. Sau ngày dành được độc lập, mặc dù tiếng Hán là ngôn ngữ được sử dụng chính thức, nhưng đã phát triển theo hướng khác với sự phát triển tiếng Hán ở Trung Quốc. Tiếng Hán vẫn tiếp tục được dùng và phát triển nhưng cách phát âm các chữ Hán lại theo cách phát âm của người Việt, và chúng ta có âm Hán-Việt. Do nhu cầu phát triển của tiếng Việt, tiếng nói của dân tộc Việt, người Việt cổ đã sử dụng chữ Hán để tạo ra chữ viết cho họ, đó là chữ Nôm.


Cách cấu tạo thành của Chữ Hán - Lục Thư (六書)

Cũng như các chữ viết khác trên thế giới, chữ Hán được hình thành từ các nét vẽ mô tả các sự vật hiện tượng xung quanh con người. Nhưng khác ở đây là chữ Hán đã chọn một cách phát triển không giống các chữ viết khác trên thế giới. Với các chữ viết khác trên thế giới, khi xã hội phát triển, con người đã đơn giản các nét vẽ và dùng các nét đó để thể hiện cho một âm tiết nào đó trong tiếng nói của các dân tộc đó. Còn với chữ Hán, nó vẫn giữ lại ý nghĩa tượng hình ban đầu của chữ. Và dùng các phép tạo chữ khác để tạo nên các chữ có ý nghĩa trừu tượng (xem thêm ở dưới). Chính vì thế, chữ tượng hình mặc dù chiếm một phần không lớn trong chữ Hán, nhưng lại có tầm quan trọng rất lớn trong hệ thống chữ Hán.


Chữ Hán được hình thành theo các cách chính

  1. Chữ Tượng Hình (象形文字): "Tượng hình" có nghĩa là tạo nên hình cho chữ viết. Các chữ này rất dễ nhận biết và đơn giản.

  2. Chữ Chỉ Sự (指事文字) hay chữ Biểu Ý (表意文字): Cùng với sự phát triển của con người, chữ Hán đã được phát triển lên một bước cao hơn để đáp ứng đủ nhu cầu diễn tả những sự việc đó là chữ Chỉ Sự. Ví dụ, để tạo nên chữ Bản (本), diễn đạt nghĩa "gốc rễ của cây" (根), thì người ta dùng chữ Mộc (木) và thêm gạch ngang diễn tả ý nghĩa "ở đây là gốc rễ" và chữ Bản )(本) được hình thành.
    Chữ Thượng (上), chữ Hạ (下) và chữ Thiên (天) cũng là những chữ Chỉ Sự được hình thành theo cách tương tự. "Chỉ Sự" có nghĩa là chỉ định một sự vật và biểu diễn bằng chữ.

  3. Chữ Hội Ý (Hội Ý Văn Tự 会意文字): Để tăng thêm chữ Hán, cho đến nay người ta có nhiều phương pháp tạo nhiều chữ mới có ý nghĩa mới. Ví dụ, chữ Lâm (, rừng nơi có nhiều cây) có hai chữ Mộc (木) xếp hàng đứng cạnh nhau được làm bằng cách ghép hai chữ Mộc với nhau (Rừng thì có nhiều cây!!). Chữ Sâm (, rừng rậm nơi có rất nhiều cây) được tạo thành bằng cách ghép ba chữ Mộc. Còn chữ Minh (, kêu, hót) được hình thành bằng cách ghép chữ Điểu (, con chim) bên cạnh chữ Khẩu (, mồm); chữ Thủ (, cầm, nắm) được hình thành bằng cách chữ Nhĩ (, tai) của động vật với tay (chữ Thủ , chữ Hựu ). Những chữ được tạo thành theo phương pháp ghép như trên gọi là chữ Hội Ý (会意文字). "Hội Ý" có nghĩa là ghép ý nghĩa với nhau.

  4. Chữ Hình Thanh (形声文字): Cùng với những chữ Tượng Hình, Chỉ Sự và Hội Ý, có nhiều phương pháp tạo nên chữ Hán, nhưng có thể nói là đa số các chữ Hán được hình thành bằng phương pháp hình thanh, gọi là chữ Hình Thanh (形声文字). Chữ Hình Thanh chiếm tới 80% toàn bộ chữ Hán. Chữ Hình Thanh là những chữ bao gồm hai phần: phần hình (形) là phần biễu diễn ý nghĩa chính mà đã được dùng từ lâu đời, và phần thanh (声) là phần biểu diễn cách phát âm chính xác của từ đó. Ví dụ, chữ Khẩu (口) có hình biểu diễn việc ăn hoặc nói, và chữ Vị (未) có các phát âm giống chữ vị (trong khẩu vị) khi ghép hai chữ với nhau tạo nên chữ Vị (味) của khẩu vị. Bộ Thủy (氵) biểu diễn nghĩa dòng sông hoặc dòng nước chảy, khi ghép cùng với chữ Thanh (, màu xanh) tạo thành chữ Thanh (清) có nghĩa là "trong suốt" hoặc "trong xanh".

  5. Chữ Chuyển Chú (転注文字): Các chữ Hán được hình thành bằng bốn phương pháp kể trên, nhưng còn có những chữ có thêm những ý nghĩa khác biệt, và được sử dụng trong những nghĩa hoàn toàn khác biệt đó. Ví dụ, chữ Dược (薬), có nguồn gốc là từ chữ Nhạc (楽), âm nhạc làm cho lòng người cảm thấy sung sướng phấn khởi nên chữ Lạc (楽) cũng có nghĩa là vui vẻ. Chữ Dược (薬) được tạo thành bằng cách ghép thêm bộ Thảo (có nghĩa là cây cỏ) vào chữ Lạc (楽). Chữ được hình thành theo phương pháp này được gọi là chữ Chuyển Chú (転注文字).

  6. Chữ Giả Tá (仮借文字): Những chữ được hình thành theo phương pháp bằng cách mượn chữ có cùng cách phát âm được gọi là chữ Giả Tá ( 仮借文字).
    Ở trên giải thích về bốn cách tạo chữ và hai cách sử dụng chữ Hán. Bốn cách tạo chữ và hai cách sử dụng được gọi chung là Lục Thư (六書).

_________________
Hàn Mặc Nhân


__________________
Xuân Như - Vũ Thanh Tùng
Lên trên Xem admin's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của admin Ghé thăm admin's Trang chủ
 
hanmacnhan
Thư sinh
Thư sinh
Avatar
Bốn bể là nhà

Ngày gia nhập: 11/11/2005
Thành viên thứ.: 11
Giới tính:
Đến từ: Taiwan
Trạng thái:
Bài viết: 19 [0.03 bài viết mỗi ngày]
Kinh nghiệm: [0.24%]
Bạc thưởng: 38$
Địa chỉ E-mail: Không cho biết
Yahoo! IM: Không cho biết
Sinh nhật: 04/2/1979
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 24/4/2006 lúc 12:54pm | IP Logged Trích dẫn hanmacnhan

Nghe nói Bác Tiểu Hạng có món nghiên cứu về đề tài này hay lắm ( Luận văn tốt nghiệp ĐH) Bác cho bà con ngó tý thành quả của Bác đã nghiên cứu tý được khổng

 

Chưa Đăng Ký



__________________
Hàn Mặc Nhân
Lên trên Xem hanmacnhan's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của hanmacnhan Ghé thăm hanmacnhan's Trang chủ
 
hanmacnhan
Thư sinh
Thư sinh
Avatar
Bốn bể là nhà

Ngày gia nhập: 11/11/2005
Thành viên thứ.: 11
Giới tính:
Đến từ: Taiwan
Trạng thái:
Bài viết: 19 [0.03 bài viết mỗi ngày]
Kinh nghiệm: [0.24%]
Bạc thưởng: 38$
Địa chỉ E-mail: Không cho biết
Yahoo! IM: Không cho biết
Sinh nhật: 04/2/1979
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 24/4/2006 lúc 12:54pm | IP Logged Trích dẫn hanmacnhan

Hàn mặc nhân quả thật đã dụng công, Hoàng mỗ chỉ xin đính chính chút xíu, Hanmacnhan có viết :
------------------------------------------------------------ --------
---"Chữ Thủ (取, cầm, nắm) được hình thành bằng cách chữ Nhĩ (耳, tai) của động vật với tay (chữ Thủ 手, chữ Hựu 又)".
------------------------------------------------------------ --------
Như vậy không đúng . Tai ở đây không phải tai của động vật đâu, mà là tai người đấy .Xưa có tục binh sĩ mỗi khi xông pha trận mạc , giết được kẻ địch nào thì cắt luôn tai trái của kẻ đó để về tính công . Cho nên Thủ ( nghĩa là "lấy" ) mới viết vây.
------------------------------------------------------------ --------
---Chữ Dược (薬), có nguồn gốc là từ chữ Nhạc "
------------------------------------------------------------ --------
Cũng không đúng rồi, chuyển chú thì công nhận chữ 楽 có 2 âm là "lạc" và "nhạc" tương ứng trong tiếng Hán hiện đại là "lè" và " yùe". Còn anh Dược này là chữ Hình thanh, với Hình phù là "thảo tự đầu" còn Thanh phù là "nhạc" (âm : yao - yue . Cổ âm tương tự)
_________________
Hoàng hoa tu tác vô tình tử!!!

 

huanghua



__________________
Hàn Mặc Nhân
Lên trên Xem hanmacnhan's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của hanmacnhan Ghé thăm hanmacnhan's Trang chủ
 
admin
Administrator
Administrator
Avatar
CLB Trí Đức Thư Pháp

Ngày gia nhập: 27/3/2003
Thành viên thứ.: 1
Giới tính:
Đến từ: Vietnam
Trạng thái:
Bài viết: 599 [0.36 bài viết mỗi ngày]
Kinh nghiệm: [7.53%]
Bạc thưởng: 1276$
Địa chỉ E-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Yahoo! IM
Sinh nhật: 09/6/1977
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 24/4/2006 lúc 12:54pm | IP Logged Trích dẫn admin

Bổ sung thêm chút về anh "Giả tá " thế này .
"Tá" ở đây nghĩa là "mượn ", mượn từ đồng âm có sẵn để dùng cho nghĩa mới .
VD: chữ 新"Tân" là mới được viết bằng " 立lập, 木mộc và 斤cân". Chữ này vốn gốc nghĩa là " củi" (âm Hán việt là Tân ) nên mới viết một người đứng ( Lập ) dùng rìu ( Cân ) để mà chặt cây ( phạt Mộc ). Nhưng sau đó, khi muốn biểu đạt một từ "Tân " mang nghĩa là mới, thì để tạo ra chữ mới thì lằng nhằng phức tạp, nên cổ nhân liền lấy ngay chữ "Tân" là "củi "có sắn để dùng cho chữ "Tân" là mới, sau đó trên cơ sở chữ "Tân" được chuyển sang nghĩa là mới thì thêm bộ thảo đầu thành 薪nghĩa là củi .
Lại ví dụ chữ Kỳ 其là một hư từ, thì nghĩa gốc của chữ là tượng hình cái sọt đan bằng tre, ở Khải thư nhìn hơi khó ra nhưng ở Triện thư thì vẫn còn thấy rõ, sau đó để biểu đạt chữ gốc với nghĩa là sọt đan bằng tre, cổ nhân thêm cho chữ kỳ đó bộ trúc đâu箕.
..........
Tóm lại , loại chữ giả tá này không nhiều, nhưng cũng là 1 trong những cách tạo ra chữ Hán .Nay trong những giáo trình văn tự mới của Trung Quốc đã không thừa nhận cái gọi là "lục thư " nữa, họ chỉ công nhận 4 cách tạo chữ gồm: Tượng hình, chỉ sự, Hội ý và Hình thanh . Vì 2 cách cuối là CHuyển chú và giả tá chẳng qua chỉ là lấy chữ nọ dùng thay cho chữ kia, chuyển đổi ý nghĩa mà thôi, chứ không phải là tạo ra một chữ hoàn toàn mới .
Các bạn mới học tiếng TRung cần nên nắm rõ 4 cách tạo chữ ban đầu vì nên nhớ trên 90% chữ Hán là được tạo bởi theo cách Hình thanh tức một bên chỉ âm đọc và một bên chỉ ý nghĩa . Với loại này có một câu tục ngữ của Trung Quốc nói thế này :读字读半边,不会错上天(Độc tự độc bán biên, bất hội thác thượng thiên) nghĩa là " Đọc chữ thì đọc nửa bên, dẫu cho nhầm lẫn chẳng lên quá trời ".
_________________
Hoàng hoa tu tác vô tình tử!!!

 

huanghua



__________________
Xuân Như - Vũ Thanh Tùng
Lên trên Xem admin's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của admin Ghé thăm admin's Trang chủ
 
admin
Administrator
Administrator
Avatar
CLB Trí Đức Thư Pháp

Ngày gia nhập: 27/3/2003
Thành viên thứ.: 1
Giới tính:
Đến từ: Vietnam
Trạng thái:
Bài viết: 599 [0.36 bài viết mỗi ngày]
Kinh nghiệm: [7.53%]
Bạc thưởng: 1276$
Địa chỉ E-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Yahoo! IM
Sinh nhật: 09/6/1977
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 24/4/2006 lúc 12:54pm | IP Logged Trích dẫn admin

huanghua viết:

------------------------------------------------------------ --------
---"Chữ Thủ (取, cầm, nắm) được hình thành bằng cách chữ Nhĩ (耳, tai) của động vật với tay (chữ Thủ 手, chữ Hựu 又)".
------------------------------------------------------------ --------
Như vậy không đúng . Tai ở đây không phải tai của động vật đâu, mà là tai người đấy .Xưa có tục binh sĩ mỗi khi xông pha trận mạc , giết được kẻ địch nào thì cắt luôn tai trái của kẻ đó để về tính công . Cho nên Thủ ( nghĩa là "lấy" ) mới viết vây.

Theo các nhà ngôn ngữ học và nghiên cứu chữ Hán của Trung Quốc thì họ cũng có cách giải thích như vậy. Vả lại théo suy nghĩ của Hàn thì trong thời kỳ đầu để hình thành chữ Hán, cách giải thích này có thể chấp nhận được.
huanghua viết:

---Chữ Dược (薬), có nguồn gốc là từ chữ Nhạc "
------------------------------------------------------------ --------
Cũng không đúng rồi, chuyển chú thì công nhận chữ 楽 có 2 âm là "lạc" và "nhạc" tương ứng trong tiếng Hán hiện đại là "lè" và " yùe". Còn anh Dược này là chữ Hình thanh, với Hình phù là "thảo tự đầu" còn Thanh phù là "nhạc" (âm : yao - yue . Cổ âm tương tự)

Ý của Huanghua cũng có lý đấy, nhưng ta cũng nên xem lại xem. Bạn cũng có thể tham khảo thêm các tư liệu của TQ, tôi cũng đọc từ đó mà ra cả.
_________________
Hàn Mặc Nhân



__________________
Xuân Như - Vũ Thanh Tùng
Lên trên Xem admin's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của admin Ghé thăm admin's Trang chủ
 
admin
Administrator
Administrator
Avatar
CLB Trí Đức Thư Pháp

Ngày gia nhập: 27/3/2003
Thành viên thứ.: 1
Giới tính:
Đến từ: Vietnam
Trạng thái:
Bài viết: 599 [0.36 bài viết mỗi ngày]
Kinh nghiệm: [7.53%]
Bạc thưởng: 1276$
Địa chỉ E-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Yahoo! IM
Sinh nhật: 09/6/1977
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 24/4/2006 lúc 12:54pm | IP Logged Trích dẫn admin

huanghua viết:

................
Với loại này có một câu tục ngữ của Trung Quốc nói thế này :读字读半边,不会错上天(Độc tự độc bán biên, bất hội thác thượng thiên) nghĩa là " Đọc chữ thì đọc nửa bên, dẫu cho nhầm lẫn chẳng lên quá trời ".


Câu này quả rất có ý nghĩa, bạn Huanghua cũng dày công lắm rồi đây, cảm ơn nhiều nhiều

hình như chỉ có âm thố thôi thì phải ?
_________________
Hàn Mặc Nhân


__________________
Xuân Như - Vũ Thanh Tùng
Lên trên Xem admin's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của admin Ghé thăm admin's Trang chủ
 
admin
Administrator
Administrator
Avatar
CLB Trí Đức Thư Pháp

Ngày gia nhập: 27/3/2003
Thành viên thứ.: 1
Giới tính:
Đến từ: Vietnam
Trạng thái:
Bài viết: 599 [0.36 bài viết mỗi ngày]
Kinh nghiệm: [7.53%]
Bạc thưởng: 1276$
Địa chỉ E-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Yahoo! IM
Sinh nhật: 09/6/1977
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 24/4/2006 lúc 12:55pm | IP Logged Trích dẫn admin

hanmacnhan viết:
huanghua viết:

------------------------------------------------------------ --------
---"Chữ Thủ (, cầm, nắm) được hình thành bằng cách chữ Nhĩ (, tai) của động vật với tay (chữ Thủ , chữ Hựu )".
------------------------------------------------------------ --------
Như vậy không đúng . Tai ở đây không phải tai của động vật đâu, mà là tai người đấy .Xưa có tục binh sĩ mỗi khi xông pha trận mạc , giết được kẻ địch nào thì cắt luôn tai trái của kẻ đó để về tính công . Cho nên Thủ ( nghĩa là "lấy" ) mới viết vây.

Theo các nhà ngôn ngữ học và nghiên cứu chữ Hán của Trung Quốc thì họ cũng có cách giải thích như vậy. Vả lại théo suy nghĩ của Hàn thì trong thời kỳ đầu để hình thành chữ Hán, cách giải thích này có thể chấp nhận được.




Tai người là ngon đấy nhẩy ?Món cắt tai là dzin đấy !!

Nhân hỏi về chữ xin hỏi các cao nhân Anh chàng 晁错 thời Hán thì ta lấy âm nào ? và tốt bụng nữa thì các cao nhân cho thêm đôi dòng thông tin nữa thì quý quá !! Big Grin Big Grin

 

chưa đăng ký




__________________
Xuân Như - Vũ Thanh Tùng
Lên trên Xem admin's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của admin Ghé thăm admin's Trang chủ
 
admin
Administrator
Administrator
Avatar
CLB Trí Đức Thư Pháp

Ngày gia nhập: 27/3/2003
Thành viên thứ.: 1
Giới tính:
Đến từ: Vietnam
Trạng thái:
Bài viết: 599 [0.36 bài viết mỗi ngày]
Kinh nghiệm: [7.53%]
Bạc thưởng: 1276$
Địa chỉ E-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Yahoo! IM
Sinh nhật: 09/6/1977
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 24/4/2006 lúc 12:55pm | IP Logged Trích dẫn admin

Mấy hôm nay mạng mọt như đao ý, mãi không vào đươc.
Về khoản chữ " Dược " tôi vẫn kiên quyết theo ý kiến của mình . Tôi vẫn không hiểu ý của bạn, rốt cuộc theo ý bạn thì "Dược" có nguồn gốc từ " lạc, nhạc " là như thế nào ? Túm lại, bạn có thể cho biết "Dược" được xếp vào kiểu cấu tạo nào không ?
To chuadangky : Tôi không có font nên không biết bạn viết chữ nào, có thể tả cho tôi bằng cách nói các bộ hợp thành và kết cấu của nó .
_________________
Hoàng hoa tu tác vô tình tử!!!


__________________
Xuân Như - Vũ Thanh Tùng
Lên trên Xem admin's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của admin Ghé thăm admin's Trang chủ
 
admin
Administrator
Administrator
Avatar
CLB Trí Đức Thư Pháp

Ngày gia nhập: 27/3/2003
Thành viên thứ.: 1
Giới tính:
Đến từ: Vietnam
Trạng thái:
Bài viết: 599 [0.36 bài viết mỗi ngày]
Kinh nghiệm: [7.53%]
Bạc thưởng: 1276$
Địa chỉ E-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Yahoo! IM
Sinh nhật: 09/6/1977
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 24/4/2006 lúc 12:55pm | IP Logged Trích dẫn admin

À, mà theo sở học hạn hẹp của tôi, thì cái chữ "Kim tích" ấy ngoài âm THỐ còn có 1 âm khác là THÁC .Bạn giúp tôi kiểm tra lại nhé!
_________________
Hoàng hoa tu tác vô tình tử!!!



__________________
Xuân Như - Vũ Thanh Tùng
Lên trên Xem admin's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của admin Ghé thăm admin's Trang chủ
 
admin
Administrator
Administrator
Avatar
CLB Trí Đức Thư Pháp

Ngày gia nhập: 27/3/2003
Thành viên thứ.: 1
Giới tính:
Đến từ: Vietnam
Trạng thái:
Bài viết: 599 [0.36 bài viết mỗi ngày]
Kinh nghiệm: [7.53%]
Bạc thưởng: 1276$
Địa chỉ E-mail: Gửi mail
Yahoo! IM: Yahoo! IM
Sinh nhật: 09/6/1977
Cảnh cáo: (0%)
Minus 1 warningCurrent warnlevel: 0%Add 1 warning
Ngày gửi: 24/4/2006 lúc 12:55pm | IP Logged Trích dẫn admin

Nhân hỏi về chữ 错 xin hỏi các cao nhân Anh chàng 晁错 thời Hán thì ta lấy âm nào ? và tốt bụng nữa thì các cao nhân cho thêm đôi dòng thông tin nữa thì quý quá !
--------------------

- Vụ chữ Thủ cách giải thích của huanghua theo tôi là chuẩn . chữ này cấu tạo kiểu hội ý.

- Quả chữ Dược tôi cũng tán đồng với Huanghua . Chữ này Hình thanh .

- Quả Lục thư thì cái này vốn là khái niệm của Hứa Thận thời Hán . Lục thư tức là 6 phương pháp cấu tạo chữ , nhưng trên thực tế chỉ có 4 phương pháp là cấu tạo chữ còn hai anh còn lại thực chất chỉ là phương pháp sử dụng chữ chứ không tạo ra chữ mới nào . loại giả tá kiểu chữ Lai nghĩa là đến, lại vốn là tên một thứ lúa thời thượng cổ, giống này sau không còn, người ta dùng luôn chữ lai với nghĩa khác . Các hư từ trong chữ Hán phần nhều đều là anh Giả tá cả .

- Quả chữ 错, đọc hai Hán Việt đọc hai âm : Thố và Thác là chuẩn .

- Còn anh này 晁错 ở Việt Nam phiên là Triều Thố . Ông ta sinh -200, mất - 154 , người ở Dĩnh Châu , từng theo học cái học của anh Thân Bất Hại và anh Thương Ưởng với Trương Khôi . Nhà Nho nói nhiều đến ông này bởi ông có liên quan đến việc tranh luận của chư nho về Cổ văn Thượng thư và Kim văn Thượng thư bởi lẽ ông từng vâng lệnh theo một vị bác sĩ thời Tần trước đó là Phục Sinh để tiếp thu bộ Thượng thư (Tức Kinh Thư) . Ông là người tài năng , được gọi là "Trí nang" (túi khôn). Triều thố làm nhều chức quan . Sau do áp dụng một số đường hướng chính trị có hại cho một số bọn, chúng lấy danh nghĩa giết ông kéo quân làm loạn, ông bị gièm rồi bị giết . Thương thay Triều Thố , chết cũng hơi trẻ . Sad
_________________
Ý CẨM THƯỢNG QUÝNH!


__________________
Xuân Như - Vũ Thanh Tùng
Lên trên Xem admin's Thông tin cá nhân Tìm những bài viết khác của admin Ghé thăm admin's Trang chủ
 

Trang của 3 tiếp >>
  Trả lời bài viếtGửi bài viết mới
Xem trang in Xem trang in

Di chuyển nhanh
Bạn không thể tạo đề tài mới
Bạn không thể trả lời bài viết
Bạn không thể xoá bài viết bạn đã gưi
Bạn không thể sửa bài viết bạn đã gửi
Bạn không thể tạo bình chọn
Bạn không thể bình chọn



Trang này được tạo ra trong 0.3867 giây.

© Copyright 2005 - 2006 Mạng Thư Họa Việt Nam. All rights reserved. ® Ghi rõ nguồn khi bạn phát hành lại thông tin từ website này

© Sáng lập, xây dựng, quản trị bởi Vũ Thanh Tùng - CLB Trí Đức Thư Pháp Nam Định