|
1 Trường tương
tư
Lương Ý Nương 2 Trường tương
tư
Bạch Cư dị
3 Trường ương tư
Lâm
Bô 4 Trường tương
tư Lý
Bạch 5 Trường tương
tư Vương Duy
6 Thu Phong
thanh
Lý
Bạch 7 Tĩnh dạ tứ
Lý
Bạch 8 Phỏng đáy
Thiên sơn Đạo sĩ bất ngộ. Lý
Bạch 9 Thiếp Bạc mệnh
Lý
Bạch 10 Đường Đa lệnh
Liễu nhứ
Lâm Đại Ngọc 11 Chung sinh ngộ
Lâm Đại
Ngọc 12 Kim Lũ Y
Đỗ Thu
Nương 13 Hoàng Hạc Lâu
Thôi
Hiệu 14 Đông dạ văn trùng
Bạch Cư Dị 15 Nguyên nhựt
Vương
An Thạch 16 Lữ Túc
Đỗ
Mục 17 Chung nam biệt nghiệp Vương
Duy 18 Thu dạ khúc
Vương Duy
19 Vị thành khúc
Vương Duy 20 Xuất tái
Vương Xương Linh 21 Khuê oán
Vương Xương Linh 22 Tống Lý Đoan
Lư
Luân 23 Nguyệt dạ
Đỗ Phủ
Tương tư Lâm Ý Nương Hoa hoa diệp diệp lạc phân phân Chung nhật tư quân bất kiến quân Trường dục đoạn hề trường dục đoạn Lệ châu ngân thượng cảnh thiêm ngân Ngã hữu nhất thốn tâm Vô nhân cộng ngã thuyết Nguyên phong suy tán vân Tố dữ thiên biên nguyệt Huề cầm thượng cao lâu Lâu cao nguyệt hoa mãn Tương tư đàn vị chung Lệ trích cầm huyền đoạn Nhân đạo Tương giang thâm Vị đề tương tư bán Giang thâm chung hữu
để Tương tư vô giai ngạn Quân tại Tương giang đầu Thiếp tại Tương giang vĩ Tương tư bất tương kiến Đồng ẩm Tương giang thuỷ Mộng hồn phi bất đáo Sở khiếm duy nhất tử Nhập ngã tương tư môn Tri ngã tương tư khổ Trường tương tư hề trường tương tư Trường tương tư hề vô tận cực Tảo tri như thử quai nhân tâm Hồi bất đương sơ mạc tương thức Lương Ý Nương Tương tư Lá hoa rơi rựng tơi bời Nhớ người chẳng thấy dáng người đâu
đâu Lòng đau đoài đoạn lòng đau Lệ rơi lã chã dạt dào lệ rơi Biết tìm ai hỏi đôi lời Tấc lòng riêng chỉ một đời ta thôi Đuổi mây nhờ gió chuyển vời Cùng trăng bày tỏ đầy vơi chút tình Lầu cao trăng sáng lung linh Ôm đàn lên gởi âm thinh ngút ngàn Tương tư một khúc chưa tàn Lệ rơi xuống đứt dây đàn nửa cung Lời người : thăm thẵm sông Tương Tương tư nổi ấy khó lường nông sâu Lòng sông còn biết nơi đâu Tương tư nào biết bao lâu bến bờ Đầu sông chàng ở đợi chờ Cuối sông thiếp ở bơ phờ lòng đau Nhớ nhau chẳng thấy mặt nhau Nước sông cùng uống dạ sầu cùng chung Mộng lòng bay cõi mông lung Tơ vương đến chết vẫn cùng vương tơ Ai vào trong ngõ tương tư Mới hay bể khổ không từ một ai Tương tư mãi , tương tư dài Tương tư khôn xiết vẫn hoài tương tư Biết rằng dạ khổ ngẩn ngơ Khi xưa ta chớ đợi chờ gặp nhau Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Trường tương tư Biện thủy
lưu Tứ thủy lưu Lưu đáo Qua Châu cổ độ sầu Ngô sơn điểm điểm sầu Tư tư du Hận du du Hận đáo qui thời thượng thủy hưu Nguyệt minh nhân ỷ lâu Bạch Cư Dị [ 772-846] * Bạch Cư Dị : tự Lạc Thiên, quê Thái nguyên, Sơn
Tây,.Đỗ tiến sĩ năm 28 tuổi,chức Hiệu Lang, thăng Hàn lâm học sĩ, thăng Thái tử tán thiện
đại phu…Cuộc đời làm quan của ông thăng giáng nhiều lần…Sau về vui thú
điên viên , bạn cùng thơ rượu, hưởng nhàn
lạc. Trường tương tư Một dòng sông Biện chảy xuôi Đôi dòng sông Tứ nước trôi miệt mài Qua Châu bến cũ u hoài Đỉnh Ngô Sơn lóp lớp phai nổi sầu Niềm riêng cô đọng dài lâu Óan hờn biết gởi về đâu hởi chàng* Bao giờ trở lại gia trang Bên lầu trăng sáng thiếp mang mang chờ
* Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ] * Mượn ý Bạch Tiên
sinh Trường tương tư Ngô sơn thanh Việt sơn thanh Lưỡng ngạn thanh sơn tương tống nghinh Quân lệ doanh Thiếp lệ doanh La đới đồng tâm kết vị thanh Giang đầu triều dĩ binh Lâm Bô [ 967-1028 ] * Lâm Bô ; hiệu Tây Hồ Lâm Hòa Tỉnh , tự Quân Phục,
người Tiền Đường [ Hàng Châu ] Học giỏi nhưng không ra làm quan,ẩn cư trên
núi Cô Sơn,bạn cùnc him hạc , hoa mai Nỗi nhớ khôn nguôi Núi ngô xanh , núi Việt xanh Hai bên sông lạnh nghiêng mình đón đưa Cách ngăn biết tỏ sao vừa Chàng rưng rưng mắt , thiếp mưa lệ đầy Chử đồng chưa vẹn chia tay Nước trong sông cạn rồi đầy bao phen Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Trường tương tư Trường tương tư tại Trường An Lạc vĩ thu đề kim tỉnh lan Vi sương thê thê đạm sắc hàn Tô đăng bất minh tứ dục tuyệt Quyển duy vọng nguyệt không trường
than Mỹ nhân như hoa cách vân đoan Thượng hữu thanh minh chi cao thiên Hạ hữu lục thuỷ chi ba lãng Thiên trường lộ viễn hồn phi khổ Mộng hồn bất đáo quan san nan Trường tương tư tối tâm cang Lý Bạch [ 701-762 ] * Lý Bạch : tự Thái bạch ,hiệuThanh Liên cư sĩ,quê
Thanh Liên ,Tứ Xuyên ,học rất giỏi,thuộc nhiều kỳ thư nhưng không ra ứng
thí, hạ tri Chương tiến cử, chức Hàn Lâm Cung Phụng.Vua ưu đãi nhưng không
trọng dụng,ông bỏ quan đi ngao du .Nổi tiếng tửu tiên,thi tiên, thơ ông
khóang đạt ,phóng túng .Người cho là Tửu tiên ông trăng trên dòng sông
Thái Thạch ngủ nghìn thi ,dựng “ Tróc Nguuệt Đài “ kỷ niện Trích Tiên về
thượng giới , Trường tương tư Trường An nổi nhớ nhung dài Thu sang tiếng dế bi ai giếng vàng Sương khuya lạnh lẽo chiếu chăn Ngọn đèn mờ nhạt băn khoăn nổi niềm Cuộn rèm hỏi nguyệt cô miên Bóng hoa biền biệt mấy miền thâm sâu Trời cao xanh ngắt một mầu Nước trong ngọn sóng lao xao gió ngàn Đường xa trời rộng gian nan Quan san cách trở mộng tàn hồn ơi ! Nhớ thương thương nhớ tơi bời Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Tương tư Hồng đậu sinh Nam Quốc Xuân lai phát kỷ chi Nguyệt quân đa thái hiệt Thử vật tối tương tư Vương Duy [ 701-761 ] * Vương Duy : tự Ma Cật, quê Thái Nguyên, Sơn tây,
đậu Tiến sĩ, chức Hữu Thập di, thăng Thượng thư Hữu thừa . Ông thơ hay vẽ
giỏi, thấm nhuần triết lý đạo
Phật, Thiền phái Nam Tông đời Đường ,đương thời gọi ông là Thi Phật
. Tương tư Cây Hồng đậu xứ Lĩnh nam Đón mùa xuân đến trổ mầm xinh tươi Thật nhiều hái lấy chàng ơi Hái bao nhiêu lại suốt đời tương tư Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Thu phong thanh Thu phong thanh Thu nguyệt minh Lạc diệp tụ hoàn tán Hàn nha thê phục kinh Tương tư tương kiến
tri hà nhật Thử thì thử dạ nan vi tình Nhập ngã tương tư môn Tri ngã tương tư khổ Trường tương tư hề trường tương ức Đoản tương tư hề vô cùng cực Tảo tri như thử bán nhân tâm Hoàn như đương sơ bất tương thức Lý Bạch
Khúc gió trăng
thu Nhẹ nhàng cơn gió thu trong Trăng thu lồng lộng một vầng sáng soi Lá rơi phơ phất bên trời Kinh hoàng quạ vút cánh rời cành bay Nhớ nhau biết đến bao ngày Thương nhau biết ngõ cùng ai đêm nầy Bước vào lối ấy tình say Mới hay nổi đắng niềm cay ơi người Nhớ thương thương nhớ theo hoài Tương tư nổi ấy vắn dài nông sâu Xưa kia biết được lòng sầu Gặp nhau xin chớ tâm
đầu cùng nhau Võ thị Xuân Đào [ Diễn ]
Tĩnh dạ tứ Sàn tiền khán* nguyệt quang Nghi thị địa thượng sương Cử đầu vọng minh nguyệt Đê đầu tư cố hương Lý Bạch * Minh : Trong bản khác viết
Sàn tiền minh nguyệt
quang
Đêm yên nổi nhớ Bóng trăng soi sáng trước giừờng Tưởng như mặt đất trắng sương che mờ Ngẩng lên trăng tỏ trên trời Cúi đầu nhung nhớ xa vời cố hương Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Phỏng đái Thiên
Sơn Đạo sĩ bất
ngộ Khuyển phệ thủy thanh trung Đào hoa đới vũ nùng Thụ thâm thì kiến lộc Khê ngọ bất văn chung Dã trúc phân thanh ái Phi tuyền quải bích phong Vô nhân tri sở vãng Sấu ỷ lưỡng tam tùng Lý Bạch Thiên Sơn viếng bạn Thác rơi chó sủa mông lung Thắm tươi đào nở đón mừng mưa bay Rừng sâu thấp thoáng bóng nai Chuông trưa khe nước xa xôi không về Mây xanh rừng trúc lê thê Lửng lơ thác nước bốn bề núi cao Người đâu không thấy ra vào Ngẩn ngơ tùng bách rạt rào dăm ba Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Thiếp bạc mệnh Hán đế trọng A Kiều Trử chi hòang kim ốc Khái thóa lạc cửu thiên Tùy phong sinh châu ngọc Sủng cực ái hòan yết Đố thân tình khước sơ Trường môn nhất bộ địa Bất khẳng tạm hồi xa Vũ lạc bất thượng thiên Thủy phúc trùng nan thâu Quân tình dư thiếp ý Cách tự đông tây lưu Tích nhật Phù dung hoa Kim thành đoạn căn thảo Dĩ sắc tự tha nhân Lý bạch
Thiếp bạc mệnh Hán Vương yêu quí A Kiều Lầu son điện ngọc mỹ miều an cư Chín tầng êm ái oanh ca Bay trong gió nở ngọc ngà ngữ ngôn Đắm say đến lúc mõi mòn Lửa yêu dập tắt không còn tình xưa [
dây chùng phím loạn đôi đàn tình xưa]* Trương môn một bước chưa vừa Dấu xe ngựa cũng đợi chờ một mai Mưa ơi chẵng trở lên
trời Hốt sao đầy chén đã
rơi xuống trần Tính nầy ý ấy cùng Quân Đông tây đôi ngã không gần với nhau Phù dung tự thuở ban đầu Nay thân cỏ dại dãi dầu bơ vơ Lấy thân hương sắc nương nhờ Mấy khi được trọn duyên tơ với người Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ] *
TTD
Đường đa lệnh
Liễu
nhứ
Phấn đọa bách hoa châu Hương tàn yến tử lâu Nhất đoàn đoàn trục đối thành cầu Phiêu bạc diệc như nhân mệnh bạc Không khiển quyển thuyết phong lưu Thảo mộc dã tri sầu Thiều hoa cánh bạch
đầu Thán kim sinh thùy thập thùy thu Giá dữ đông phong xuân bất quản Bằng nhĩ khứ nhẫn yêm lưu Lâm Đại Ngọc * Nhân
vật trong tuyệt phẩm Hồng Lâu Mộng Phấn rơi trên bãi trăm hoa Trong lầu chim én phôi pha hương tàn Từng đoàn cầu đã bay sang Phất phơ phiêu bạc hoang mang phận
người Luyến lưu gì chuyện phong lưu Cỏ cây cũng vướng u sầu bấy lâu Xuân xanh đã nhuốm bạc đầu Than rằng được mất kiếp nầy đã thông Đón xuân cưỡi ngọn đông phong Một đi đi mãi cũng không nhớ gì Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Chung sinh ngộ Đô đạo thị kim ngọc lương duyên Yêm chỉ mộc thạch tiền minh Không đối trước Sơn trung cao sĩ tinh oánh tuyết Thán nhân gian Mỹ trung bất túc kim phương tin Tung nhiên thị đề mi cử án đáo để ý nan
tình Lâm Đại Ngọc Lỡ nhau suốt đời Người ca vàng ngọc duyên lành Ta nhìn cây đá thẹn mình thề xưa Vẫn như trước mặt ơ hờ Núi cao ẩn sĩ tinh mơ lặng nhìn Rằng quên hãy nhớ rằng quên Cánh rừng tịch mịch nàng tiên giữa
trần Thở than cùng với nhân gian Càng trông kiều mị càng bàng hoàng say Dù cho án đặt ngang mày Dù tình riêng vẫn
ngày rày chưa yên Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Kim Lũ Y Khuyến quân mạc tích Kim lũ y Khuyến quân tích thủ thiếu niên thì Hoa khai kham chiết trực tu chiết Mạc đãi vô hoa không chiết chi Đỗ Thu Nương * Đỗ Thu Nương : quê Kim lăng, ái thiếp của Tiết Độ
Sứ Trấn Hải Lý Kỳ , sắc đẹp, thơ
giỏi, hát hay ,viết khúc Kim Lũ Y chuốc chén mời chồng , bà vào
Cung dạy Hòang tử Chương Vương
đời Mục Tông, về hưu trí đời Văn
Tông. Áo vàng Tiếc chi chiếc áo thêu vàng Xin chàng hãy nhớ thuở hoàng kim xưa Hái tầm xuân lúc sương mơ Xin chàng yêu ái chớ chờ cành khô Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ] Hoàng Hạc Lâu Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản Bạch vân thiên tải không du du Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ Phương thảo thê thê Anh vũ châu Nhật mộ hương quan hà xứ thị Yên ba giang thựơng sử nhân sầu Thôi Hiệu [ 704-754 ] Thôi Hiệu : quê Biện Châu, thuộcHà Nam hiện nay.Đỗ
tiến sĩ ,chức Tư Huân Viên Ngọai Lang, tính mê rượu chè gái đẹp, trăng
hoa , thay vợ như thay áo. Bài thơ đề lầu Hòang Hạc đã làm cho thi tiên Lý
bạch phải than
“Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất
đắc
Thôi hiệu đề thi tại thượng lầu”
Kim Thánh Thán cũng ca ngợi : Bút pháp chuyển tuyệt
kỳ … Bên lầu Hoàng Hạc Người xưa cởi hạc về đâu Còn đây Hoàng Hạc dãi dầu nắng mưa Hạc vàng đã khuất từ xưa Nghìn năm mây trắng hững hờ bay bay Hán Dương cây nước u hoài Cỏ non Anh Vũ xanh dài nhớ thương Quê hương khuất nẻo chiều buông Đầu sông khói tỏa buồn vương vương
buồn Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Đông dạ văn trùng Trùng thanh đông tứ khổ ư thu Bất giải sầu nhân văn diệc sầu Ngã thị lão nhân thính bất uý Thiếu niên mạc thính bạch quân đầu Bạch Cư Dị Nghe tiếng côn trùng Côn trùng ai oán tiết đông Sầu thu chưa giải chất chồng thêm cao Lòng già nghe cũng nao nao Tuổi xanh nghe mãi bạc đầu như ai Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Nguyên nhựt Bộc trúc thanh trung nhất tuế trừ Xuân phong tống noãn nhập Đồ Tô Thiên môn vạn hộ đồng đồng nhựt Tổng bả tân đào hoán cựu phù Vương An Thạch Tết Nguyên đán Pháo đưa tiển bước năm tàn Gió xuân hâm nóng chén hàn Đồ Tô Nghìn nhà mở đón tinh mơ Gỡ nêu năm cũ đón Đào xuân tươi Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Lữ túc Lữ quán vô lương bạn Ngưng tình tự tiểu nhiên Hàn đăng tư cựu sự Đoạn nhạn cảnh sầu miên Viễn mộng qui xâm hiểu Gia thư đáo cánh niên Thương giang hảo yên nguyệt Môn đệ điếu ngư thuyền Đỗ Mục [ 803-853 ] * Đỗ Mục: tự Mục chi, hiệu Phàn Xuyên, quê Lâm
Đồng,Thiểm tây .Đỗ tiến sĩ, chức Giám Sát ngự sử, Oâng dâng vua nhiều bảng điều trần
giá trị. Tính phóng lãng, không lòn cúi, sau thiên ra Thứ sử Hàng Châu ,
Trì Châu rồi Hồ Châu … Quán trọ Cô đơn quán trọ dừng chân Nổi niềm riêng lại bâng khâng ngậm
ngùi Chông đèn chuyện cũ trầm tư Đau thương tiếng nhạn trong trời thê
lương Giấc mơ mơ giấc đêm trường Thư nhà năm trước vấn vương cõi lòng Trăng xanh soi bóng nước trong Thuyền câu đỗ bến bềnh bồng sóng trăng Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Chung nam biệt nghiệp Trung tuế pha hảo đạo Vãn gia Nam Sơn thùy Hứng lai mỗi độc vãng Thắng sự không tự tri Hành đáo thủy cùng xứ Tọa khán vân khởi thì Ngẫu nhiên trí lâm tẩu Đàm tiếu vô hoàn kỳ Vương Duy Ẩn Núi Chung Nam Nửa đời chọn đạo làm vui Nam Sơn bên núi cuối đời bình an Khi vui cất bước lang thang Ung dung tự tại bên mình an nhiên Nguồn cao cõi tận về miền Ngắm mây trắng thổi bình yên trong
trời Rừng sâu gặp gỡ một người Mãi mê đàm đạo quên nơi trở về Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Thu Dạ Khúc Quế phách sơ sinh thu lộ vi Khinh la dĩ bạc vị cánh y Ngân tranh dạ cữu ân cần lộng Tâm khiếp không phòng bất nhẫn qui Vương Duy Khúc hát đêm thu Sương thu bàng bạc trăng non Aùo mây lụa mỏng vẫn còn chưa thay Lặng nhìn đàn ấy đêm nay Sợ phòng đơn lạnh không quay trở về Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Vị thành khúc Vị thành triêu vũ ấp khinh trần Khách xá thanh thanh liễu sắc tân Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu Tây xuất dương quan vô cố nhân Vương Duy Khúc hát Vị thành Vị thành cát ẩm mưa rơi Bên ngoài quán trọ liễu phơi mượt mà Mời chàng chén tiển cùng ta Một mai Tây xuất ai là
cố nhân Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Xuất tái Tần thời minh Nguyệt hán thời quan Vạn lý trường chinh nhân vị hoàn Đản sử Long Thành phi tướng tại Bấi giao Hồ Mã độ âm sơn Vương Xương Linh [ 698-757 ] * Vương
Xương Linh: tự Thiếu bá, quê
Giang Ninh, Giang tô, đỗ tiến sĩ thêm khoa Bác học Hòanh từ, chức Hiệu Thư
Lang, thiên ra Hiệu úy Dĩ Thủy , rồi Hiệu úy Long tiêu.Oâng bị thứ sử Lư
Kha^u Hiếu sát hại, môn sinh Trượng cảo , Trấn Thủ Hà Nam bắt Lư đền tội
tế lễ Thầy . Xuất tái Trăng Tần trăng hán Nhạn quan Trường chinh quay gót dặm ngàn mấy ai Long Thành Phi tướng* còn đây Âm sơn Hồ mã không ngày vượt qua Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ] * Phi tướng : Ly’Quãng
Khuê oán Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu Hốt kiến mạch sầu dương liễu đắc Hối giao phu tế mịch phong hầu Vương Xương Linh
Khuê oán Phòng khuê thiếp chẳng biết sầu Ngưng tay trang điểm thúy lầu dạo chơi
Thóat nhìn liễu biếc xanh tươi Ngẩn ngơ tự hối chàng nơi công hầu Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Tống Lý Đoan Cố quan suy thảo biến Ly biệt chính kham
bi Lộ xuất hàn vân ngoại Nhân qui mộ tuyết thì Thiếu cô vi khách tảo Đa nạn thức quân trì Yểm khấp không tương hướng Phong trần hà sở kỳ Lư Luân [ 748-800 ] * Lư Luân : tự Dõan Ngôn quê Hà Trung, Bồ Châu. Được
tiến cử chức Bổ khuyềt hương úy,thăng Giám Sát ngự sử,, kiểm hiệu hộ bộ
lang trung, ông là một trong mười tài tử Đại Lịch
. Tống Lý Đoan Cỏ tàn quê cũ khắp nơi Chia tay nhau dạ tơi bời chẳng kham Tiển anh mây tạnh quan san Chiều sương tuyết phủ mênh mang lối về Tha phương từ thuở mồ côi Bao nhiêu hoạn hiểu thời quá lâu Quay lưng giấu giọt u sầu Anh vào gió bụi bao lâu tái hồi Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Nguyệt dạ Kim dạ Phu Châu nguyệt Khuê trung chỉ độc khan Dao lân tiểu nhi nữ Vị giải ức Trường An Hương vụ vân hoàn thấp Thanh huy ngọc túy hàn Hà thời ỷ hư hoảng Song chiếu lệ ngấn can Đỗ Phủ [ 712-770 ] * Đỗ Phủ : tự Tử Mỹ ,hiệu Thiếu Lăng,quê Trường An
Thiểm tây ,ngụ Tương Dương Hồ Bắc, người có thưc tài nhưng rất lận
đận, lang thang lưu lạc sang
Thục, Quí Cha^u Đàm Châu … Đêm trăng Ngày nầy trăng sáng Phu Châu Phòng khuê chiếc bóng u sầu hiền thê Thương con thơ dại trời quê Trường An con có nhớ về ta không Tóc mây nàng ướt hương sương Đôi tay ngà ngọc trăng trong buốt hàn Bao giờ cùng ngắm trăng vàng Dưới trăng chung bóng lệ tan ngấn sầu Võ Thị Xuân Đào [ Diễn ]
Khi lang thang
trong kỳ viên cổ thi , cảm tiền nhân lời hoa gấm, hậu sinh bút mực
đôi dòng, vẽ lại tranh xưa, tình ý lai láng , xin chân thành
… Võ Thị Xuân Đào |
Copy right © 2003 . Du Ca Viet Nam . All Rights Reserved