
LỜI
BAN BIÊN TẬP HẢI NGOẠI PHIẾM ĐÀM.
Khi nhận được bản dịch “ THIỀN NHÌN DƯỚI KHIÁ CẠNH
KHOA HỌC” Chúng tôi rất trân trọng, bởi lẽ, nội
dung tài liệu tuy xưa cũ như trái đất, nhưng tác
dụng cuả Thiền thì mới mẻ như những ánh sáng óng
ánh cuả muà xuân, đang chiếu rọi vào cuộc sống tâm
thức, ảnh hưởng không nhỏ đến Thân vàTâm
trong cuộc sống đầy bụi bậm cuả chốn hồng
trần này.
Điều tâm đắc hơn nưả, nội dung cuả Joel Stein. lại
được truyền tải đến chúng ta qua bản dịch rất thông
minh và uyên bác cuả một người rất am tường về Thiền.
Khi thấy tên người dịch viết tắt, chúng tôi biết
không thể "đụng" đến lòng khiêm tốn cuả
ông, nhưng cũng đã gặp nhiều khó khăn khi dịch những
tài liệu khoa học từ tiếng Trung quốc. Chúng tôi
không khỏi khâm phục và thích thú.
Mong sao bản dịch “ THIỀN DƯỚI CÁI NHÌN KHOA HỌC
chỉ là bài mở đầu trong hàng loạt những bản dịch,
những kinh nghiệm quý báu từ những chiêm nghiệm
và những bước chân cuả Dịch giả trên con đường đi
đến. . .Cõi Thiền. . ( LÊ-VŨ)
Tài liệu tham khảo:
Thiền nhìn dưới khía cạnh khoa học.
Lời
người dịch :
Trong số xuất
bản ngày 4 tháng 8 năm 2003, tuần báo Time có bài
viết rất công phu với những dẫn chứng rất đày đủ
về Thiền (1) . Tựa đề của bài viết là “Tính chất
khoa học của Thiền “ (số chủ đề), trong đó tác giả
đã chứng minh Thiền là một khoa học và con người
càng ngày càng tìm đến Thiền như một đáp số cho
các vấn đề nan giải , giúp cho Thân và Tâm được
hài hòa.(Xin xem hình bên) Ngay trang bia`, Ban
biên tập đã nêu câu hỏi : “ Thòi đại mới
vô nghĩa ?”. Câu trả lời của họ : “Điều
này không đúng với hàng triệu người Mỹ thực hành
Thiền để được cuộc đời khỏe mạnh và hạnh phúc….Bài
sau đây sẽ cho thấyThien vận hành như thế nào”
Bài này liên
quan nhiều đến Y học – nhất là phần về não bộ –
và Thiền, do đó nên được một người thông hiểu về
cả hai ngành trên dịch.Chúng tôi rất tiếc lại không
hiểu nhiều về các ngành này – nhất là Y học,và mọi
việc làm mạo hiểm này phát sinh do thiện chí. Nếu
có sai lầm, xin lượng thứ.
Ng.Tr.
Kh.
(Dịch và chú
thích.)
Chỉ
cần nói OM. (2)
Bài
của Joel Stein.
Các nhà
Khoa học nghiên cứu về nó. Các Bác sĩ đề nghị nên
theo.Hàng triệu người Mỹ – trong đó có có nhiều
người không tin dị đoan (3)-thực hành mỗi ngày.
Tại sao ?. Vì Thiền thực sự mang lại kết quả.
Có
một ý nghĩ mà tôi không xua đuổi được, cứ luẩn quẩn
giữa tôi và một niềm vui không bờ bến, đó là điều
này : tôi đã để phí thời giờ (4). Tôi đang ngồi
toạ thiền trên một chiếc gối màu tím, mắt nhắm nghiền
tại sàn tập Yoga trong một trung tâm thể dục với
khoảng 40 người khác, phần lớn là những phụ nữ đẹp,
nhưng rồi tôi chẳng nghĩ tới họ nữa,có thể vi` ít
thì giờ.Tôi đã chú ý tới những âm thanh bên ngoài,rồi
theo dõi hơi thở và sau đó trở về với thực tại là
bàn chân phải của tôi máu đã bắt đầu thiếu luân
lưu.Nhưng tôi đã bỏ qua được, rồi tôi cũng quên
luôn những phụ nữ đẹp ngồi gần,cả tương lai lẫn
quá khứ,quên luôn cả nỗi ưu tư là làm sao để viết
bài này cho hay và rồi trong khoảnh khắc,tôi đã
đụng nó (5).
Tôi cảm thấy một
khoảng không gian mênh mông dày đặc bóng tối , thân
thể như tách rời khỏi tôi và có cảm giác như vừa
tới lúc buồn ngủ,nhưng lại hoàn toàn tỉnh táo. Đây
là một cảm giác tuyệt vời. Ngay sau đó,tôi chợt
có ảo giác:Có lẽ tôi đã coi truyền hình.
Sau hai mươi phút,chúng tôi
nghỉ đôi chút,điều này khiến tôi ngạc nhiên vì tôi
nghĩ rằng ngồi trên chiếc gối thì còn cần nghỉ gì
nữa.Trước khi bắt đầu lại,giảng viên của chúng tôi
là Sharon Salzberg ,một trong những sáng lập viên
của Insign Meditation Society ở Barre thuoc Tiểu
Bang Massachuset và cũng là tác giả cuốn Faith:
Trusting Your Own Deepest Experience (Niềm tin :
Hãy tin vào kinh nghiệm xâu xa nhất cua bạn),hỏi
xem có ai thắc mắc hay nhận xét gì không.Có bốn
câu liên quan đến vấn đề thở.Một bà than rằng “đối
với tôi,tập trung hơi thở quá rắc rối,ý tôi muốn
nói thở có lẽ là điều khó nhất”.
Tôi quyết định đứng chờ ở
ngoài và học lóm được khá nhiều điều.
Tuy nhiên, trong lúc chờ đợi
để có thể học lóm được các người này thì theo các
tài liệu mới nhất về khoa học cho biết là họ đã
đạt được đôi điều
– theo sự phán đoán
của riêng tôi.Điều trước nhất là họ có thể sống
lâu hơn tôi vài năm.Không những là các cuộc nghiên
cứu về Thiền chứng tỏ rằng Thiền tăng cường các
khả năng của các cơ quan miễn nhiễm,nhưng những
hình chụp về não bộ cũng đưa giả thuyết rằng Thiền
cũng củng sắp xếp lại hệ thần kinh não bộ để giảm
độ uất cảm nữa. Trong khi đó, những người còn nghi
ngờ về lợi ích của Thiền càng ngày càng trở nên
thiểu số. Ngày nay, hàng chục triệu những người
Mỹ trưởng thành đã cho biết là họ thực
(
Hình 1 ) hành Thiền dưới một hình thức nào
đó thường xuyên, gấp đôi con số cách đây một thập
niên. Các lớp dạy Thiền đầy những người Mỹ truyền
thống,không tin nhảm, không mua tạp chí New Age
( Đòi Mới) (6) và ngay cả khộng cư ngụ tại Los Angeles
(7). Đối với những chuyên viên có óc cầu tiến, họ
cho rằng cuộc sống của họ bị nhiều uất cảm hơn là
của các thế hệ trước,của những người nuôi bò sữa,làm
xà bông ,làm bơ,thì Thiền là nơi trú thân thông
minh nhất.
Hinh2
:Thòi Giác Ngộ Maharishi T.B Iowa,ngày bắt đầu
Vói Thiền
Ngày
nay, họ không cần vào rừng để tìm những đạo sĩ râu
tóc xồm xoàm để học Thiền nữa. Thực tế là càng ngày
càng khó mà không phải tìm đến Thiền.Các trường
học,bệnh viện,tổ hợp luật sư,các cơ quan chính phủ,văn
phòng và các nhà tù đều có những lớp dạy Thiền.Tại
các phi trường,phòng nguyện hoặc các trạm Internet
có những phòng đánh dấu riêng để Thiền.
Thiền được ghi vào
chương trình của trường võ bị West Point 8), Harvard
Law Review số mùa Xuân năm 2002 và rất nhiều bài
giảng của huấn luyện viên Phil Jackson (9) của đội
bóng rổ Laker (10).Tại Đaị Học Maharishi ở Fairfield
thuộc Tiểu Bang Iowa,các sinh viên, học sinh trung
và tiểu học cùng toàn thể học sinh mẫu giáo ngồiThiền
hai lần mỗi ngày.
Hình
3 : Các luật sư thuộc Ủy BanThương Mại Quốc
Gia đang tĩnh tâm phía ngoài VP
Trung
tâm Shambhala Mountain thuộc về ColoradoRockies
là một doanh trại màu như mạ vàng nằm rảirác không
ngăn nắp trông giống như các sòng bài củaông vua
cờ bạc Steve Wynn’s thuê các người Tây Tạng,số du
khách đã tăng từ 1,342 vào năm 1998 tới con sốphỏng
chừng là 15,000 vào năm nay. Những khách sạnCatskills
ở Nữu Ước đang được biến đổi thành các Trung tâm
Thiền nhanh đến nỗi tên Borscht Belt (VòngĐai Borscht)
Được đổi tên thành Buddhist Belt (VòngĐai Phật ).
Đối với những người Mỹ danh tiếng đang có khuynh
hướng tìm đến Thiền như trong bài chủ đề của TIME
này, nhiều người trong số này rất nổi tiếng Washington..
Thử nêu một vài người : Goldie Hawn,Heather Graham,Richard
Gere (11) và Al Gore (12), nếu ông này vẫn còn được
coi là nổi tiếng.
Nhưng lợi ích chính của Thiền
là về phương diện văn hóa cũng như về y học. Càng
ngày càng nhiều, Thiền đã được các Bac-Sĩ đề nghị
dùng để phòng ngừa,làm chậm lại hoặc ít nhất là
kiểm soát sự đau đớn của các bệnh nan y như bệnh
tim mạch,bệnh AIDS, ung thư hay hiếm muộn. Thiền
cũng được dùng để hồi phục lại những sự cân bằng
trên nét mặt như trong bệnh bị nhiễu loạn tâm lý
hoặc uất cảm, lãng trí (13).
Trong sự giao thoa
giữa đạo học tâm linh Đông Phương va`Khoa học Tây
phương, các Bác sĩ đã chọn Thiền không phải vì Thiền
mới lạ hoặc vô hại, nhưng chính là vì các sự nghiên
cứu về khoa học đã chứng tỏ Thiền thực sự hữu hiệu
,nhất là những bệnh liên quan tới uất cảm.Daniel
Coleman, sau cuộc nói chuyện với Đức Đạt Lai Lạt
Ma và là tác giả cuốn Destructive Emotions ( Sự
tàn phá của cảm xúc) đã cho biết : “trong suốt ba
mươi năm,các nhà khảo cứu về Thiền đã cho ta biết
rằng Thiền hữu hiệu tuyệt vời và là cách tốt nhất
để chống lại bệnh uất cảm. Nhưng điều thú vị là
các cuộc nghiên mới đã cho thấy Thiền đã có thể
huấn luyện tâm và tổ chức lạilại bộ óc của chúng
ta.”. Những cuộc thí nghiệm dùng những dụng
cụ khoa học tối tân nhất giả thiết rằng Thiền có
thể điều chỉnh não bộ, giải tỏa những các “ điểm
ứ đọng xe cộ “ (14) đã làm máu tăng nhiệt độ. Ngoài
ra,so với giải phẫu thì ngồi trên chiếc gối rẻ hơn
nhiều.
Vì Thiền trở thành giản dị
và chính thống, phương pháp Thiền cũng trở thành
dễ dàng.Ngày nay,nhang được đốt ít hơn , nhưng triết
lý và giáo lý quý hóa của Phật Giáo vẫn còn đó :
chỉ cần ngồi yên lặng trong khoảng từ 10 tới 40
phút một ngày,tập chú vào hơi thở,một hình ảnh hay
một chữ nào đó (15)và bạn có thể tự huấn luyện mình
quán chiếu vào những điều hiện tại hơn là chuyện
quá khứ hay tương lai (16),theo sát thực tế và hoàn
toàn chấp nhận điều này.
Việc làm Mỹ hóa và
mới nhất là từ bỏ những hình thức tụng niệm và những
câu thần chú khó hiểu trong đó phải nhớ những chữ
hoặc câu thần bí ; thay vào đó,chỉ cần tập chú vào
một âm thanh hoặc hơi thở của mình.Đó cũng là cách
thông dụng trong phần lớn các tôn giáo khác. Có
hàng chục cách thực hành để bạn chọn lựa,từ những
cách giản dị như thư dãn đến cách khó như cách Tây
Tạng gọi là Gtum-mo trong đó các
Thiền sư
phải
ngồi khoảng 8 giờ để đem thân nhiệt hầu có thể chống
lại với cái lạnh khi phải đi qua các đèo hẹp- hoặc
lạnh hơn nữa- và có thể khô những chổ ướt trên lưng
áo khi ở nhiệt độ đông đá trên dãy Hy Mã Lạp Sơn.
Hình 4 : Các tù nhân tại SanQuantin dang học
về Thiền Tuệ Trí,giúp họ có khả năng để lựa chọn
lối sống.

( 1 ) Thiền: (Jhãna : tieng
Pali) hay (Dhyãna : Tiếng Phan) đều dùng để chỉ
sự ngồi quán tưởng, giúp người thực hành đạt được
Định. Chữ Meditation hay Zen nghĩa là ngồi trầm
ngâm, quán tưỡng được người Tây phương dùng để chỉ
Thiên` trước đây, nhưng ngày nay những chữ Zen Buddhism
hoac Buddhist Zen thông dụng vì gần với Jhãna hay
Dhyãna hơn ( ngoai` ngồi trầm ngâm quán tưởng ra,
người thực hành Thiền cần đạt được Định hay Tâm
thuần nhất mới đạt được giải thoát tối hậu ).
Nội dung bài này chính là
nói về Thiền Phật Giáo, mặc dầu tác giả có tóm lược
qua về những tiến triển của Thiền với các tôn giáo
khác như Thiên Chúa Giáo , Hồi Giáo….va` cũng có
lẽ vì vậy, chữ Meditation đả được tác giả xử dụng
. Ngoài ra, cách chỉ dẫn va` ngay câu mở đầu của
bài, chữ “ OM “ đã được dùng như một tiền đề cho
bài viết (xin xem chú thích kế).
( 2 ) OM : tieng Tây Tạng.
Tiếng này nay đã trở thành tiếng quốc tế chỉ về
sự thư dãn, khi đọc âm thanh ngân dài ra như tiếng
chuông : “ …..o…….O ..O.. O…..M….M….m…m…m….”. Co’
lẽ người đầu tiên đem ly’ thuyết về Thiền sang Tây
phương la` Daisetz Teitaro Suzuki (1870-1966), một
Đại Sư Nhật, nhưng ngày nay, Tây Tạng là nước được
Tây phương biết đến về thực hành Thiên` và tiêu
biểu là Đức Đạt Lai Lạt Ma .
Chữ OM trong câu chú Tây Tang
rất khó dịch, nhưng nói về sự cầu xin, như trong
câu chu’ : “ Om mani padme hum “ ( Dịch âm Hán Việt
: Án mani bát di hồng) là để kêu goi lòng từ bi
của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát – Theo Eric Baard trong
Village Voice.
(3) Tin dị đoan : dịch chữ
Crystal (pha lê ) . Ngày nay nhiều người Mỹ vẫn
còn tin rằng đeo những hình kim tự tháp hay hình
tam giác bằng pha lê hay thủy tinh sẽ đem lại nhiều
sức khỏe và may mắn. Cũng giống như nhiều người
Việt đeo nanh heo rừng hay móng cọp.
(4) Câu này nên hiểu thoát
nghĩa. Y’ tac’ giả vui vì từ nay thời gian sẽ được
dùng thích hợp hơn, còn trước kia đã được sử dụng
một cách uổng phí .
(5) Ở đây, co’ lẽ
tác giả có lẽ đã vào được tình trạng sơ định.Những
cảm giác lâng lâng nhẹ nhàng như ngồi trên mây,
hoặc “ không gian bàng bạc như sáng trăng mà không
có mặt trăng “ (Philip Kapleau – The Three Pillars
of Zen ) thường có được trong lúc Định. (xin xem
hình 1)
(6) Một tap. chi’ noi’ về những dự đoán mang nhiều
tính cách ảo tưởng trong tương lai.
(7) Los Angeles : mộtÏ thành
phố thuuộc T.B California “tập hợp” của nhiều vấn
đề , nguyên du đãng có súng không cũng vượt quá
con số 100 ngan` !.
(8) West Point : Trường Võ
Bị Liên Quân Mỹ.
(9) và (10) : Phil Jackson
la` Huấn luyện viên bóng rổ nổi tiếng. Ông la` một
Thiền sư (Zen Master),đã 7 lần hướng dẫn các đội
đoạt chức vô địch thế giới ( nhiều nhất nước Mỹ).
Ông hiện
là HLV cho đội Laker, một
đội cũng đã nhiều lần vô địch.
(11) Tên các nghệ sĩ và tài
tử nổi danh Mỹ. Riêng Heather Graham là tài tử có
hình chụp ngoài bìa số chủ đề TIME kỳ này.
(12) Al Gore : cựu Phó Tổng
Thống Mỹ nhiệm kỳ Bill Clinton (1992-2000), người
đã thắng phiếu phổ thông Tổng Thống George W. Bush
nhưng thua sát nút về phiếu cử tri đoàn.
(13) ADD = Attention Deficit
Disorder.
(14) Y’ tác giả muốn nói là
suy nghĩ nhiều quá.
(15) Dĩ nhiên đây chỉ là những
động tác rất sơ đẳng những bước đầu tiên đi vào
cửa Thiền. Trong cuộc sống hàng ngày,điều dễ gây
nên uất cảm ( Stress ) là suy nghĩ nhiều việc cùng
một lúc hoặc phải giải quyết nhiều việc trong 1
thời gian ngắn. Cách đếm hơi thở ( sổ tức quán)
,hoặc ăn biết ăn,đi biết đi …..(ăn trong chánh niệm,
đi thiền hành…) chỉ là bước đầu giúp ta chỉ còn
1 suy nghĩ cho mỗi một động tác. Con đường đi tới
và đạt được cái tâm KHÔNG vẫn còn dài lắm.
(16) Những sự suy
nghĩ vô ích hay tạp niệm chỉ làm hại con người.
Trong Kinh “ Nhất dạ hiền giả “ (Bạn hiền một đêm
), Đức Phật đã khuyên : “ Quá khứ đã đoạn tận.Tương
lai lại chưa tới. Ở đây và bây giờ …”, ý Ngài muốn
khuyên nên vui với cai’ ĐANG LÀ , Ở ĐÂY và BÂY GIỜ
(The Here and The Now).

Làm thế nào để Thiền?:

Hình 5 : xin
xem chú thích (15)
Chỉ trong
vài phút,bạn có thể tự huấn luyện mình bằng
cách theo những bước đơn giản sau đây.
LÀM THẾ NÀO ĐỂ THIỀN?
Chỉ trong vài phút, bạn có thể tự huấn luyện mình
bằng cách theo những bước đơn giản sau đây:
1. TÌM NƠI YÊN LẶNG.
.Nếu có thể tắt đèn, càng ít để ý càng dễ tập trung
ý nghĩ
2. NHẮM MẮT LẠI :
Mục đích là ngăn cách với thế giới bên ngoài để
óc đừng phân tích những tín hiệu qua những giác
quan
3. CHỌN MỘT CHỮ BẤT
CỨ CHỮ GÌ: Hãy tìm một chữ hay một câu
một ý nghiã đối với bạn mà, âm hoặc vận nghe êm
dịu khi lập lại.
4. HÃY NHẮC ĐI NHẮC
LẠI: Hãy cố nói chữ hoặc câu với bạn trong
mỗi hơi thở ra. Câu không thay đổi dễ giúp bạn tập
chú.
Óc
con người, cũng như thân thể thay đổi một cách rất
tinh tế khi thiền một cách nghiêm mật. Những cuộc
nghiên cứu khoa học đầu tiên vào những thập niên
60 và 70 đã cho thấy kết quảhết sức khích lệ về
các thiền giả. Tại Ấn Độ,một nhà khảo cứu tên là
B.K. Anand đã tìm ra rằng các đạo sĩ Yoga đã đạt
đến mức độ họ đã không có phản ứng gì khi những
ống nghiệm nóng được ấn vào cánh tay họ. Tại Nhật
,một khoa học gia tên là T. Hirai đã cho thấy rằng
các Thiền gia Phật Giáo đã tập chú đến độ họ không
còn để ý đến tiếng tích tắc của tiếng đồng hồ gõ
nhịp nữa ( nhiều người đã ngăn để khỏi phải nghe
những tiếng này, nhưng những thiền gia thì còn nghe
trong nhiều giờ nữa). Một cuộc nghiên cứu khác cho
thấy rằng các thiền sư, khác với các nhà thiện xạ
, không giật thót mình lại trước tiếng súng nổ.
Điều đáng ngạc nhiên là những cuộc trình diễn ở
Las Vegas không thấy những màn này.
Vào năm 1967,Bac si Hebert
Benson là giáo sư Đại Học Y Khoa tại ĐH Harvard
(17),sợ rằng các cuộc thử nghiệm sẽ bị sai lạc nên
đợi đến nửa đêm mới đưa 36 thiền gia vào trong phòng
thí nghiệm để đo nhịp tim,áp huyết,thân nhiệt, nhiệt
độ nơi trực tràng. Ông đã tìm ra rằng khi thiền,những
người này đã xử dụng dưỡng khí ít hơn 17%, nhịp
tim chậm lại 3 nhịp trong 1 phút và độ sóng não
theta tăng(18) – loại sóng não thường xuất hiện
trước khi đi vào giấc ngủ – mà không phải là thực
sự ngủ. Trong cuốn sách bán chạy nhất,tựa đề là
The Relaxation Response (Những phản ứng về thư dãn),
Benson cũng là ngưới sáng lập ra Mind/Body Institude
(Thân / Tâm Học viện ) đã lập luận rằng các thiền
giả đã đối lại được với những độ uất cảm cao độ
và đạt được tình trạng ít sóng gió và hạnh phúc
hơn. Ông nói : “ tất cả những việc làm của tôi chỉ
là dùng những cách thức và dẫn chứng sinh học mà
con người đã làm từ hàng ngàn năm nay “.
Ít năm sau,Bác sĩ
Gregg Jacobs một Giáo sư tâm lý học thuộc Đ.H y
khoa Harvard ,người đã làm việc cùng với Benson
đã đo điện não đồ (18) cho 2 nhóm : 1 nhóm được
học thiền và nhóm khác được nghe băng đọc sách để
giảm căng thẳng. Khoảng vài tháng sau,các người
thuộcnhóm thiền đạt được nhiều sóng theta hơn là
nhóm nghe sách, nhất là phần não vùng tiền trán
của bán cầu não trái là nơi thu nhận những ký hiệu
và thông tin đã giảm hoạt động. Tại vùng sau bán
cầu não phải, nơi cho ta biết về những ý niệm không
gian và thời gian, những hoạt động tại vùng này
đã được chặn lại. Đóng vùng này lại,ta có thể mất
đi cái cảm quan đâu là biên giới của vạn vật, nhưng
ta lại cảm thấy như “ trực diện “ với thế giới bên
ngoài (19), có lẽ điều đó đỡ buồn hơn là khi ta
cố gắng diễn tả lại cho bạn mình hiểu lại điều này

(17) Harvard : Đai hoc hiện đứng đầu về Y Khoa của
Mỹ.
(18)Sóng não theta : Để có
thể biết tường tận về những phần sắp tới, điều quan
trọng là phải biết về các loại sóng não (brainwaves).
Não bộ, dù nghỉ ngơi hay đang suy nghĩ, đều phát
ra xung lực điện thường trực gọi là sóng não. Sóng
não được đo bằng tần số (frequency) và biên độ (amptitude).
Qua điện não đo à(EEG = Electroencephalogram), các
khoa học gia về thần kinh và não bộ đã ghi nhận
được những loại điện thế từ bên trong tế bào não
( neurons) phát ra và truyền đi qua trụ thần kinh
não bộ (axon). Dạng điện thế này gọi là sóng não.
Cường độ sóng não được do bằng Hertz ( Heirich Hertz
:tên của nhà vật lý học người Đức 1857-1894 là người
đầu tiên khám phá ra sóng radio). Ký hiệu Hz - (Hertz)
để chỉ đơn vị tần số tương đương với chu kỳ 1 giây
đồng hồ. Có 4 loại sóng não : beta,alpha,theta và
delta .
a/ Sóng beta : đây là loại
sóng có tần số cao nhất 14 – 30 Hz trong mỗi giây,
chỉ tình trạng hoạt động tối đa của não ,như ngay
sau 1 cuộc tranh luận hay suy nghĩ nhiều.
b/ Sóng alpha : Sóng alpha
có tần số từ 9 – 12 Hz trong mỗi giây. Đây là dạng
sóng não có khi đang suy nghĩ viển vông, như hồi
tưởng chuyện quá khứ hay mơ tưởng chuyện tương lai.
Tóm lại đây là dạng não của 1 người bình thường
( không phải của những thiền giả).
c/ Sóng theta : tần số khoảng
4 – 8 Hz trong mỗi giây. Đây là trạng thái tâm tĩnh
lặng hay thư dãn sâu. Đây là trạng thái “ Sơ Thiền
“.
d/ Sóng delta :
có tần số khoảng 3 – 4 Hz hay thấp hơn trong mỗi
giây. Đây là trạng thái người đã đạt mức độ Định
sâu, tâm và ngôn đã hoàn toàn lắng dịu, một trạng
thái mà những người hành thiền mong đạt tới.
LÀM DỊU THẦN KINH
Thiền là một
môn học đã có từ xưa. Nhưng chỉ gần đây các khoa
học gia mới phát triển những dụng cụ tối tân để
nhìn vào óc bạn khi bạn làm việc.

Sóng
não thay đổi |
Phía trong não của người thiền |
Huấn luyện thiền
(wave
change)
| (Inside the Meditating
Brain) | (Meditation
Training)
SÓNG
NÃO THAY ĐỔI ( WAVE CHANGE): Ngay cả những
người mới thiền lần đầu cũng ghi nhận được độ sóng
beta giảm, một dấu hiệu chứng tỏ rằng phần viền
não đã không phân tích những dữ kiện thông tin như
thường lệ. Sau 20 phút đầu cuả thời gian thiền,
hình não cuả các bệnh nhân đã cho thấy sự giảm sóng
não beta như thấy trong phần sáng cuả mình ( Hình
trước khi thiền)
· Vùng tiền trán ( frontal Lobe)
· Vùng thùy đỉnh ( Parietal Lobe)
· Vùng ót ( Occipital Lobe)
Hình sau khi thiền
· Vùng tiền trán
· Vùng thuỳ đỉnh
· Vùng sau ót
PHIÁ TRONG NÃO CUẢ
NGƯỜI THIỀN (
INSIDE THE MEDITATING BRAIN)
Vùng tiền trán ( Frontal Lobe) Đây là phần não bộ
liên hệ đến nhiều hoạt động nhất cuả não bộ, giữ
nhiệm vụ phân tích, kế hoạch, cảm xúc và nhận thức.
Trong thời gian thiền vùng này có khuynh hướng không
hoạt động.
- Vùng thuỳ chẩm ( Pariental Lobe)
Phần này cuả não bộ giữ nhiệm vụ thâu nhận và chọn
lọc những tin tức từ bên ngoài, giúp ta nhận thức
về thời gian và không gian. Trong thời gian thiền,
những hoạt động cuả vùng này giảm
- Thanlamus ( Khu đồi thị): Có nhiệm vụ “ gác cổng”
cho những giác quan. Bộ phận này chuyển những dữ
kiện bắt được xuống sâu vào trong não bộ và ngăn
cản những tín hiệu khác nhận được. Khi thiền, phần
này giảm thiểu những tín hiệu đang tới đến độ “
nhỏ giọt”
- Reticular formation ( Cơ cấu mạng lưới) Đây là
hệ thống phòng bị cuả não bộ. Cơ quan này nhận được
những cảm quan và báo động cho não biết để sẵn sàng
đối phó. Khi thiền óc trả ngược lại những tín hiệu
mạnh
- Hypothalamus ( Khu dưới đồi)
- Pituitary gland ( Tuyến yên)
- Temporal Lobe ( Thuỳ chẩm)
- Spinal chord ( Cột tuỷ sống)
- Corebellum ( Tiểu não)
HUẤN LUYỆN THIỀN (
MEDITATION TRAINING)
Sau khi được huấn luyện thiền
trong 8 tuần, những chi tiết ghi nhận được là độ
sóng não thay đổi chuyenå từ dạng sóng alpha sang
dạng sóng theta đã ảnh hưởng tới não bộ trong thời
gian thư giãn
- Độ thư giãn tăng: Cường độ cuả sóng theta trong
tổng số điện sóng sóng não
- Nhóm thiền ( meditation group)
- Bán cầu não trái ( Left side of brain)
- Bán cầu não phải ( Right side of brain)
- Nhóm đối chiếu ( Control group)
- Thời khoá ( Sessions)
Khi
các máy móc về óc được phát minh,các cuộc nghiên
cứu về bộ óc của các thiền giả đã được nghiên cứu
tường tận hơn. Cũng có thể không nữa . Vào năm 1997,một
chuyên gia về não tại Đ.H Pensylvania là Andrew
Newberg thực hiện một cuộc thử nghiệm với 1 ngóm
thiền giả Phật giáo bằng cách vô nước biển nhuộm
màu để hy vọng có thể thấy được máu lưu thông trong
não bộ ra sao bằng cách làm cho những vùng hoạt
động nhiều được sáng lên hơn những phần khác. Nhưng
cách duy nhất mà ông có thể biết được là phải chụp
được ngay lúc các thiền gia này đạt trạng thái Định,
lúc đó hình chụp mới có thể kết luận được, vì vậy
ông ngồi ở phòng kế bên,cột một sợi dây quanh tay
ông và đầu kia luồn dưới cánh cửa và ở gần phía
các thiền gia. Khi họ đạt được trạng thái Định rồi,
ông kéo dây để thả dung dịch vào. Kết quả đã cho
thấy rằng óc không nghỉ hẳn trong lúc thiền nhưng
thay vào đó đã ngưng nhận những tín hiệu qua bán
cầu não phải.Trong khi đó, Benson đem 1 số đạo sĩ
Silk mà những người này có thể thiền trong lúc máy
M.R.I (20) gây tiếng động kế bên và ông đo độ luân
chuyển của máu trong não. Nói một cách tổng quát
thì lưu lượng máu giảm, nhưng tại một vài nơi, bao
gồm trung khukiểm
soát sự xúc cảm,nhịp tim đập,cơ quan hô hấp, tiêu
hóa thì lưu lượng máu lại tăng.
Tai. Đ.H Wiscosin ở Madison,
Richard Davidson đã dùng những hình não để chứng
tỏ rằngthiền đã chuyển những hoạt động vùng tiền
não (ngay dưới trán) từ vùng bên phải sang bên trái.
Những cuộc nghiên cứu của Davidson đã đặt giả thuyết
rằng nếu thực hành thiền thường xuyên, não bộ sẽ
được đổi hướng từ trạng thái nay uất cảm phải “
chống đỡ hay bỏ chạy “ tới mức độ có thể chấp nhận
được, một sự thay đổi làm tăng sự mãn nguyện. Những
người thiếu lạc quan thường bị ảnh hưởng của tiền
bán cầu não phải; ngược lại tiền bán cầu não trái
có khuynh hướng nhiệt tâm,thích thú,an nhàn,yêu
đời và an phận hơn.
Vào tháng 3 năm 2000, những
sự nghiên cứu về thiền bước qua một kỷ nguyên mới
khi Đức Đạt Lai Lạt Ma gặp các nhà tâm lý và não
học được Tây phương huấn luyện tại Dharamsala ở
Ấn Độ và khuyến khích Học viện Mind and Life ( Tâm
thần và Đời sống) tổ chức các cuộc nghiên cứu về
các Thiền sư ,xử dụng những kỹ thuật tân tiến nhất,
những kết quả của các cuộc nghiên cứu này sẽ được
đưa ra thảo luận tại các cuộc hội thảo ở M.I.T (21)
vào tháng 9 ( hội nghị cũng bàn về giai đoạn nghiên
cứu tới). Các cuộc nghiên cứu này không những cho
ta biết những chi tiết rõ hơn về vận hành của não
bộ do ảnh hưởng của thiền như thế nào, nhưng cũng
cho ta biết được nhiều điều về các nhà sư trầm lặng
qua những sợi dây điện tử
. Từ những cuộc nghiên
cứu này,những điều mà các khoa học gia đang khám
phá ra rằng nếu thực hành đúng mức,thần kinh não
bộ sẽ tự hội nhập để hướng dẫn hoạt động ở vùng
tiền trán là vùng tập trung và hướng dẫn của não
bộ. Điều này các hiệp sĩ và các phi công thần phong
của Nhật đã được huấn luyện va` cũng là điều Phil
Jackson (10) thường khuyên nhủ : phải học để phòng
bị . Robert Thurman, giám đốc của Tibet House(và
cũng là thân phụ của nữ nghệ sĩ Uma Thurman) đã
nói “ thiền cũng giống như nhiên liệu . Ở Á Châu,thiền
là dụng cụ mà mọi người đều có thể xử dụng. Ta nên
tách rời thiền để khỏi nghĩ rằng thiền là dành riêng
cho Phật tử.”.
Thực tế là thiền
càng ngày càng được tách rời khỏi đạo Phật. Cùng
với những kỹ thuật thiền không được rõ ràng như
toạ thiền hàng giờ mà đối với tôi trông hết sức
là khổ sơ và các người ngồi thiền đòi hỏi được đánh
bằng roi khi buồn ngủ (22), người Mỹ đang thử học
về thiền quán ( bắt đầu bằng quán chiếu hơi thở
),thiền hành (trước hết đi rất chậm rồi để ý kỹ
đến từng bước chân),thiền siêu việt (23),thiền Dzogchen
(tập luyện tỉnh thức biết )và ngay ca ûnhững động
tác nhảy “ mộng du “ (bịt mắt,nhảy vòng quanh khoảng
1 giờ theo tiếng nhạc). Trong cuốn sách sẽ xuất
bản vào đầu năm tới của Victor Davich tựa đề là
Eight Minutes That Will Change Your Life (Tám Phút
Sẽ Thay Đổi Đời Bạn), ông cổ động 1 hình thức thiền
theo đời sống Mỹ : mỗi ngày chỉ cần 8 phút để thiền.
Khoảng thời gian ngắn ngủi này là điều mà các xã
hội văn minh nhắm tới, vì vừa vặn bằng thời gian
quảng cáo trên truyền hình.
Hình
7 : Tại Phòng Thí nghiệm Keck một Nhà sư Tây Tạng
dưới máy M.R.I (20)
John
Baran,trong cuốn sách sẽ xuất bản tựa đề Nirvana
Here and Now ( Luân Hồi Xưa và Nay) nói rằng khi
óc ông không chú mục vào việc gì – giống như giở
5 trang sách mà không đọc 1 dòng nào – đã làm cho
ông cảm thấy bồn chồn. Một giáo sư về tâm lý,triết
học và khảo cổ tại Đ.H Irvine ở California là Roger
Walsh đã nhiên cứu về điều về điều mà các thiền
giả có thể có thể kiểm soát về trạng thái tâm lý
của họ. Ông nói “ chỉ ít năm trở lại đây,các nhà
phân tâm học mới nhận ra bệnh lãng trí,nhưng những
thiền gia đã quan tâm đến từ hàng ngàn năm nay là
tất cả chúng ta đều bị thống khổ dưới một hình thức
nào đó mà không hay.”. Đây là những điểm thiếu sót
căn bản như khó đọc lấy một câu nếu không chấm dứt
một cách khôi hài.
Các nhà tâm lý học
đang cố gắng dể khám phá xem thiền có thể tái tạo
thần kinh đối với những tội phạm về xã hội hay không.
Một cuộc nghiên cứu tại Trung Tâm Phục Hồi ỏ phía
bắc Quận Kings ,một nhà tù gần Seattle (24) đề nghị
các tù nhân bị bắt về các tội danh như nghịện hút
hoặc uống rượu học thiền trong 10 ngày, 11giờ mỗi
ngày,chương trình gồm tọa thiền và thiền hành. Họ
được chọn lựa khắt khe về nhu cầu cải tạo và cũng
vì thực tế là chẳng có ai muốn ngồi 11 giờ cho mỗi
lần học. Trong vòng 2 năm,có khoảng 56 phần trăm
những người đã dự lớp này bị bắt lại so với 75 phần
trăm đối với những người không tham dự khóa. Những
người bị bắt lại cũng dùng thuốc và uống rượu ít
hơn và ít bị lo lắng thái quá hơn. Tại Đ.H Cambridge,John
Teasdale tìm ra rằng người có chánh niệm đã giúp
ích cho các bênh nhân bị uất cảm định kỳ, đã làm
giảm chu kỳ xuống còn một nửa.Wendy Weisel là con
gái có cha mẹ là những người sống sót của trại tập
trung Do Thái đã phải dùng thuốc an thần trong hầu
hết cuộc đời cho đến khi tập thiền cách đây 2 năm.
Bà noi’ :” thật là khác biệt đến độ không ngờ.Bạn
không cần dùng thuốc cho bệnh uất cảm hay căng thẳng.Lần
đầu tiên trong cuộc đời, tôi không phải dùng bất
cứ thuốc gì. “.
Sống hài lòng và
an bình trong nội tâm rất tốt,nhưng thử nghĩ rằng
có mấy người Mỹ sẽ bắt đầu tập thiền nếu bạn thuyết
phục họ,nói với họ rằng họ có thể sống lâu hơn mà
không cần phải tập thể dục chạy bộ hoặc phải ăn
bắp cải xanh.
Hình
8 : Chụp hình não. Abhay Bhaskar (23 ) Đang
thiền trong khi các B.S chụp hình não bộ.
Cánh
đây hơn 1 thập niên, BS Dean Ornish cho biết rằng
thiền nếu phối hợp với ăn kiêng và Yoga,sẽ đảo ngược
sự làm vít mạch máu. Tháng tư vừa qua,trong 1 phiên
họp của Hội Nướu Đạo Mỹ(American Urological Association),ông
cho biết rằng thiền làm chậm lại mức ung thư nhiếp
hộ tuyến. Trong khi kết quả này rất thú vị, điều
quan trọng cần ghi nhận là các bệnh nhân này cũng
ăn kiêng và tập Yoga. Jon Kabat-Zinn,người đã nghiên
cứu về Phật giáo vào những năm 60 và thành lập Bệnh
Viện Giảm Uất Cảm ( Stress Reduction Clinic) tại
Trung Tâm Y Khoa Umas ( The Umas Medical Center)
vào năm 1979, ông đã cố gắng để tìm những dữ kiện
khoa học hơn về sức trị liệu của thiền. Trong nhiều
năm sau đó,ông đã giúp hơn 14,000 người để kiểm
soát sự đau đớn mà không phải dùng thuốc bằng cách
hướng dẫn họ tập chú vào những sự cảm thấy về đau
đớn này như thế nào hơn là chống lại nó. Ông nói
: “ những người này bị những bệnh ung thư,AIDS,đau
đớn định kỳ. Nếu chúng ta nghĩ rằng có thể làm gì
cho họ thì chúng ta đã phạm vào sai lầm lớn. Nhưng
nếu ta đảo ngược tiến trình và cho họ biết rằng
họ có thể làm gì cho chính họ bằng cách cung cấp
cho họ những dụng cụ rất mạnh cho họ sử dụng, mọi
việc sẽ thay đổi rất lớn.”
Sau đó, Kabat-Zinn
nghiên cứu một số bệnh nhân bị phồng ngứa ,một bệnh
da khó trị chỉ có thể trị liệu được bằng cách đem
bệnh nhân vào nhà thương,cho đeo kính an toàn ,không
mặc quần áo dưới sức nóng của những tia hồng ngoại.
Điều nhận biết là nhiều người cảm thấy đầy uất cảm.
Vì vậy,không theo xác suất ,Kabat-Zinn lựa ra nửa
số bệnh nhân và dạy họ thiền ngõ hầu giúp họ giảm
độ uất cảm khi ở trong phòng hồng ngoại. Trong 2
cuộc thí nghiệm,da của những người có học thiền
hết những vết phồng ngứa biến đi bốn lần nhanh hơn
những người không học thiền. Trong 1 cuộc nghiên
cứu khác,được thực hiện với Richard Davidson ở Wiscosin,
Kabat-Zinn chích ngừa cúm cho nhóm mới học thiền
và một nhóm không sau đó đo độ kháng thể trong máu
họ.Các người nghiên cứu cũng đo các hoạt động của
não bộ để xem những
hoạt động trong não những người thiền thay đổi hoạt
động từ vùng bán cầu não phải sang trái như thế
nào. Trong khoảng thời gian từ 4 đến 8 tuần sau
khi chích ngừa,không những các người thiền có nhiều
kháng thể hơn, nhưng những người có hoạt động chuyển
đổi này nhiều nhất lại đạt được nhiều kháng thể
hơn cả. Kabat-Zinn đã giả thiết rằng kỹ thuật thiền
càng cao, những cơ quan tạo kháng thể càng tốt

(19) Một trong những mục đích
– và là mục đích chính của thiền – là không để trí
năng, sự suy nghĩ hoạt động và đánh thức vùng tánh
giác (vùng Wirnicke) thay thế. Wirnicke là tên 1
nhà bác học Đức hồi đầu thế kỷ trước đã khám phá
ra vùng này. Đây là phần nằm dưới bán cầu não trái
kiến
giải tức khắc các sự kiện
( giống như biết bằng trực giác). Người không biết
về thiền thường biết sự việc qua trí năng để phân
tích phải trái,tốt xấu …(danh từ thiền gọi là cái
nhìn nhị nguyên) cho nên thường mang nhiều võ đoán
,sai lầm và làm mệt thân. Trái lại thiền dùng tánh
giác để kiến giải nên hiểu sự việc tức thời và đồng
bộ. Tóm lại người thường nhìn sự vật từ ngoài nhìn
vào, thiền nhìn sự vật từ trong nhìn ra.
Chúng tôi hy vọng sẽ đề cập
đến đề tài này vào một dịp khác.
(20) M.R.I = Magnetic Resonance
Imaging = máy chup hình não bộ hoặc những phần ở
sâu trong thân thể.
(21)M.I.T = The Massachuset
Institute of Technology la` Học Viện về khoa học
đứng đầu tại Hoa Kỳ.
(22) Đây là Thiền Công Án,
một ngành thiền rất phổ thông đời nhà Tống bên Trung
Hoa và ngày nay tại Nhật vẫn còn nhiều thiền viện
áp dụng. Trong lối tu tập này, các thiền sư (thường
phải là những ông thày giỏi và nhiều kinh nghiệm)
giao cho đệ tử 1 đề tài (goị là công án) để nghiên
cứu
(có cà thảy hơn 700 công án
– theo 1 nhà sưu tầm). Những công án thường là những
đề tài khó, đôi khi vô lý, trò nghĩ ngợi rất nhiều
nhưng nhiều khi cũng không tìm được lời giải đáp.
Rồi đột nhiên vì 1 yếu tố xúc tác ngoại lai như
1 tiếng hét, 1 cú đánh nhẹ của ông thày, trò chợt
“ ngộ “ và tìm ra chân lý.
Đây cũng giống như trường
hợp của Newton tìm ra Luât rơi không khi thấy trái
táo rơi ( trước đó đã suy nghĩ nhiều nhưng không
hiểu,trái táo rơi đã là vật xúc tác),hoặc Archimède
khi đang tắm tìm ra luật về sức đẩy của nước, mừng
quá đã kêu lên “ ra rồi ! ra rồi…”, những lời kêu
này chứng tỏ trước đó ông đã suy nghĩ nhiều.
Rất đồng ý với tác giả là
lối tập thiền này khó, vì ngày nay có rất ít bậc
thày đủ kinh nghiệm hướng dẫn trò, và thày phải
theo sát trò từng bước, nhưng cho rằng “ người ngồi
thiền đòi hỏi được đánh bằng roi khi buồn ngủ “
thì e rằng hơi võ đoán chăng. Hơn nữa lối thiền
này rất hiệu quả, chỉ khổ nỗi không có thày đủ kinh
nghiệm và rất tốn kém (một thày chỉ dạy vài ba học
trò).
Philip Kapleau là số rất ít
người Mỹ đã được thiền viện Nhật cấp giấy chứng
nhận đã đạt được NGỘ (satori) theo lối thiền này.
Ông là tác giả cuốn sách rất hay về thiền : The
Three Pillars Of Zen. (bản dịch tiếng Việt : Ba
Trụ Thiền – Đỗ Đình Đồng dịch).
(23) Thiền siêu việt :dịch
chữ Transcendental Meditation ( hay TM) là lối thiền
do Maharish iMahesh Yogi lập ra năm 1967. Ông này
được ban nhạc The Beatles theo và có ảnh hưởng lớn
đối với thế giới Tây phương. (xin xem hình 9 – thiền
qua các niên đại).
(24) Thuộc TB Washington.

Qua các | Thời
tiền sử |
2000-3000 | 588
trước CN|Thế
k 2 sauCN
QUA CÁC NIÊN ĐẠI:
Thiền hầu như có từ khi nhân loại phát sinh và luôn
luôn là một phần cuả tôn giáo phương Đông. Giờ đây
phương Tây đang khám phá lại Thiền cuả chính mình
khi xưa
THỜI TIỀN SỬ:
Truyền thuyết Shamanistic ( 25) Không có ai biết
đích xác Thiền bắt đầu khi nào nhưng các chuyên
viên nghĩ rằng đã được các nhóm thợ săn thực tập
trong nhiều ngàn năm trước. Cũng giống như sinh
hoạt thần bí khác, có thể thiền đã được dành cho
những thày mo, được họ tin liên lạc thẳng với thế
giới thần linh vô hình
2000-3000 TRUYỀN THUYẾT
VEDIC ( 26): Thiền được mô tả trong
kinh cổ Hindu, đây là một phần cuả tín đồ Hindu
và được chia thành nhiều chi nhánh từ đó
588 TRƯỚC CÔNG NGUYÊN
Phật Thích Ca sau khi ngồi thiền
dưới cây bồ đề. Thái tử Tất Nạt Đa đã giác ngộ,
Phật giáo các ngành đều tin vào giải thoát tối hậu.
THẾ KỶ 2 SAU CÔNG
NGUYÊN_ Thiên Chuá Giáo: Một nhóm
giáo sĩ được biết đến với cái tên Những Cha Đào
Thoát đã xa lánh thế giới để sống giản dị. Họ xử
dụng thiền để được gần Chuá hơn. Và, sau suốt 1000
năm sau đó, thiền đã trở thành một thành phần quan
trọng cuả sự thực hành cuả Thiên Chuá giáo

( Hình số 9 )
Khoang 1000 |
1000 | Đầu
1500 |
1550 | 1967
|
Thiền
Do- Thái | Thiền
Hồi Giáo | Martin
Luther |
Thánh Theresa | Maharashi M. Yogi
|
KHOẢNG
1000: THIỀN DO THÁI: Những người
tin rằng tập tục huyền bí đã có từ xưa nhưng mới
được giải mã tại Âu Châu chỉ khoảng 1000 năm. Thiền
là một hình thức Do Thái Giáo Thông Tri với Thượng
đế.
1000 THIỀN
HỒI GIÁO: Cùng các người Do Thái giáo còn tin vào
sự huyền bí. Một số người Hồi giáo cũng tin như
vậy. Một ngành thiền gọi là Sufis ( Mang tên này
vì họ mặc đồ lót bằng bông gọi là suf ) đã phối
hợp thiền với sự thờ phượng
ĐẦU 1500: Martin Luther không chấp nhận về huyền
bí và chủ trương hiểu Tân Ước và Cưụ Ước đơn giản
hơn là đọc những câu huyền bí khó hiểu. Để đối lại
với những cải cách này, Giáo hội đã đàn áp ảnh hưởng
cuả các giáo sĩ dạy Thiền
1550:
Thánh Theresa, dầu ảnh hưởng cuả Luther đang lan
rộng, nữ tu người Tây Ban Nha này đã vượt lên được
và thực hành Thiền cũng như các cách thực hành huyền
bí khác. Đây là đổ vỡ chót cuả Thiên thiên Công
giáo trong nhiều thế kỷ tới.
1967 Maharashi
M. Yogi: Lập ngành thiền riêng ông Đạo này được
ban nhạc The Beatles theo và bắt đầu đưa Thiền vào
thế giới phương Tây và ảnh hưởng mạnh cho tới ngày
nay
Trong
khi đó, những chứng cớ từ những nhà nghiên cứu về
thiền đem tới càng ngày càng nhiều. Thí dụ trong
1 cuộc nghiên cứu cho biết rằng phụ nữ tập thiền
và dùng những hình ảnh có hướng dẫn đạt được mức
độ tế bào miễn nhiễm dùng để chống với các bướu
ung thư vú cao hơn. Điều này được ghi nhận tiếp
theo những cuộc nghiên cứu khác cho biết rằng thiền
có thể làm giảm độ áp huyết cao một cách không ngờ.
Nếu ghi nhận là 60% các cuộc khám bác sĩ liên quan
đến độ uất cảm, thì kết quả này không làm ai ngạc
nhiên. Cũng chẳng đáng ngạc nhiên nữa nếu có lúc
nào đó ,thiền được dùng để thay thế thuốc Viagra.(27)
Nhưng thiền có thể
làm hơn được là để giải trừ uất cảm,đem đến sự hài
hòa và làm tăng sự chú tâm. Vào năm 1968 ,khi ban
The Beatles trình diễn , họ có thăm Maharishi Mahesh
Yogi tại nhà
tĩnh tâm Himalayan của ông ( trước đó họ đã gặp
ông ở Luân Đôn năm 1967), thì .thiền cũng cho bạn
sức nặng hết sức cần thiết. Nữ nghệ sĩ Heather Graham
bắt đầu thiền từ 12 năm
nay theo sự đề nghị của dạo diễn David Lynch, một
đệ tử khác của Maharishi khi diễn xuất bộ phim Twin
Peaks . Graham đã cho biết :” con người rất dễ bỏ
nhiều thời gian để buồn
rầu và phiền nhiễu. Nhưng thiền mang tới cho tôi
một niềm vui vô bờ. Cuối một ngày, tất cả những
sự như diễn xuất không đem lại nghịa lý gì cả.Thiền
đã gợi lại những gì ta cảm thấy bên trong mới thực
sự là quan trọng.” Cô thường thiền 20 phút khi thức
dạy và sau đó thiền lần nữa vào buổi chiều . Lynch,
cũng là đạo diễn phim Eraserhead và Blue Velvet
đã ngồi thiền 90 phút mỗi lần và 2 lần trong một
ngày kể từ năm 1973, ông cho biết :” tôi thâu nhận
được ý thức mỗi ngày một sâu ,và những ý thức này
càng lúc càng rõ và mạnh hơn.”.Thử tưởng tượng nếu
ông thiền 4 giờ mỗi ngày thì tình trạng luộm thuộm
nào sẽ mang đến cho Lynch.
Goldie Hawn,người đã cho
biết bà ngồi thiền từ 31 năm nay,đã dành riêng 1
phòng trang trí đầy những món đồ bà ưa thích như
pha lê,hoa,hương đốt,ø hình của Đạt Lai Lạt Ma và
Mẹ Theresa. Bà thiền 2 lần mỗi ngày với ít nhất
30 phút mỗi lần.Bà đặt câu hỏi :” Bạn làm thế nào
để làm chứng cho sự tàn phá về cảm xúc?”. “ Bạn
chỉ có thể thực hiện được nếu bạn có thể ngồi xuống
một trong yên lặng và giữ cho tinh thần được thanh
lặng.”.Gần đây,nhiều người nhiệt tâm hoàn toàn không
thuộc thành phần tin dị đoan. Eileen Harrington
là người điều khiển nhóm Những Người Tiêu Thụ Thực
Tế thuộc Ủy Ban Thương Mại Quốc Gia tại Washington
,đã mời một diễn giả về thiền thuyết trình sau vụ
9/11(28) . Vào khoảng một nửa Ban Chấp Hành của
bà vẫn còn làm tại đây. Bill Ford ,Chủ tịch công
ty Ford thực hành thiền,cũng như giám đốc cơ quan
tối mật MI-5 của Anh. Hilary Clinton (29)đề cập
đến thiền, vợ chồng ông Gore đã theo thiền. “ Cả
hai chúng tôi đều tin vào những cầu nguyện thường
xuyên,và chúng tôi vẫn thường cầu nguyện với nhau.
Nhưng đối với thiền – phải phân biệt với cầu nguyện
– tôi hết sức mong được giới thiệu (đến mọi người).”
. Đây là những lời của 1 người chút xíu nữa đã trở
thành Tổng Thống của chúng ta. Gore đã quên đọc
câu chú, như là lời đồn đại, Florida.(30).
Mặc dầu tôi không
thực hành thiền như 1 tôn giáo,nhưng tôi thấy quan
điểm của Gore. Không coi video và nhạc ướt át để
khám phá những gì ở thực tại cũng là sự đền bù xứng
đáng . Và tôi thấy một cách khác biệt rõ ràng là
sau khi thiền, tôi đi xuống phố và để ý tới tất
cả mọi việc chung quanh, như thể là có năng lực
của một siêu anh hùng. Ngay cả tôi cũng chẳng cần
vào phòng tắm nếu tôi chú tâm vào nơi bàng quang
và chấp nhận nó đầy,mặc dù tôi chẳng biết có lợi
cho sức khỏe không. Nhưng nếu tôi không phải là
một trong vài người mà tôi biết cần phải năng động
và bớt vẻ lạnh lùng đi – tôi có thề sử dụng bài
học về huấn luyện khi tức giận – tôi phải thiền
hơn nữa. Và nếu tôi không bao giờ phải trực diện
với tai nạn hoặc bệnh tật, tôi nghĩ là tôi sẽ theo
đuổi về thiền. Đó cũng là điều Phật giáo mang ý
nghĩa này, và sau hết ,vì tôi tin rằng đời là bể
khổ. Tôi chỉ thắc mắc là quan niệm này đã có từ
trước khi có vô tuyến truyền hình.
Bảng
hướng dẫn để tìm hiểu thiền Nếu bạn thấy thích theo
đuổi thiền một cáchTích cực hơn,thì có cả thế giới
về tạp chí,sáchTích cực hơn,thì có cả thế giới về
tạp chí,sách vở ,các trang Webs trong máy vi tính
để khám phá. Ngay cách thực hành cũng có nhiều lối,
từ hoàn toàn tinh thần hoặc thể chất, và hiện đang
được giảng dạy trên khắp nướcMỹ .
(Bài viết của David
Bjerkle,Alic Park và David Van Bleme / New York.
Karen Ann Cullotta/ Iowa và Jeane MCDonwell / Los
Angeles.)

(25) Shamannism : một thứ
tôn giáo cổ ở Bắc Á , tin rằng những giá trị tuyệt
đối của thần linh chỉ được thi hành bởi các shamans
( như phù thủy…).
(26) Vedic : Một loại ngôn
ngữ thuộc về Vedas, gần với tiếng Sanscrit, xưa
kia thường được người Hindu sử dụng .
(27) Viagra : thuốc trị bệnh
bất lực về sinh lý của đàn ông. Đa số tình trạng
bất lực này gây ra là do uất cảm (stress)quá độ.
Đây là điều tác giả muốn nói.
(28) Vụ khủng bố có tầm tác
hại lớn nhất tại Mỹ: ngày 11 tháng 9 năm 2001, những
tên khủng bố đã cướp 4 phi cơ thương mại và đánh
sập Trung Tâm Thương Mại Thế Giới ,làm khoảng 3000
người thiệt mạng.
(29) Hilary Clinton : vợ của
nguyên Tổng thống Bill Clinton (1992-2000), hiện
là Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Nữu Ước.
(30) Al Gore thắng
Tổng Thống George W. Bush về phiếu phổ thông, nhung
thua phiếu cử tri đoàn tại T.B Georgia. (Thống Đốc
TB này là Jebb Bush – em ruột của George W. Bush).
Chúng tôi xin lỗi Dịch giả
và bạn đọc, vì lý do kỹ thuật, lối trình bầy này
xem ra không thoả đáng lắm. Chúng tôi xin đón nhận
những ý kiến cuả quý vị ( HNPĐ)

|