Contact  

 


LỜI BAN BIÊN TẬP HẢI NGOẠI PHIẾM ĐÀM.
Khi nhận được bản dịch “ THIỀN NHÌN DƯỚI KHIÁ CẠNH KHOA HỌC” Chúng tôi rất trân trọng, bởi lẽ, nội dung tài liệu tuy xưa cũ như trái đất, nhưng tác dụng cuả Thiền thì mới mẻ như những ánh sáng óng ánh cuả muà xuân, đang chiếu rọi vào cuộc sống tâm thức, ảnh hưởng không nhỏ đến Thân vàTâm trong cuộc sống đầy bụi bậm cuả chốn hồng trần này.
Điều tâm đắc hơn nưả, nội dung cuả Joel Stein. lại được truyền tải đến chúng ta qua bản dịch rất thông minh và uyên bác cuả một người rất am tường về Thiền.
Khi thấy tên người dịch viết tắt, chúng tôi biết không thể "đụng" đến lòng khiêm tốn cuả ông, nhưng cũng đã gặp nhiều khó khăn khi dịch những tài liệu khoa học từ tiếng Trung quốc. Chúng tôi không khỏi khâm phục và thích thú.
Mong sao bản dịch “ THIỀN DƯỚI CÁI NHÌN KHOA HỌC chỉ là bài mở đầu trong hàng loạt những bản dịch, những kinh nghiệm quý báu từ những chiêm nghiệm và những bước chân cuả Dịch giả trên con đường đi đến. . .Cõi Thiền. . ( LÊ-VŨ)


Tài liệu tham khảo: Thiền nhìn dưới khía cạnh khoa học.

Lời người dịch :

Trong số xuất bản ngày 4 tháng 8 năm 2003, tuần báo Time có bài viết rất công phu với những dẫn chứng rất đày đủ về Thiền (1) . Tựa đề của bài viết là “Tính chất khoa học của Thiền “ (số chủ đề), trong đó tác giả đã chứng minh Thiền là một khoa học và con người càng ngày càng tìm đến Thiền như một đáp số cho các vấn đề nan giải , giúp cho Thân và Tâm được hài hòa.(Xin xem hình bên) Ngay trang bia`, Ban biên tập đã nêu câu hỏi : “ Thòi đại mới vô nghĩa ?”. Câu trả lời của họ : “Điều này không đúng với hàng triệu người Mỹ thực hành Thiền để được cuộc đời khỏe mạnh và hạnh phúc….Bài sau đây sẽ cho thấyThien vận hành như thế nào

Bài này liên quan nhiều đến Y học – nhất là phần về não bộ – và Thiền, do đó nên được một người thông hiểu về cả hai ngành trên dịch.Chúng tôi rất tiếc lại không hiểu nhiều về các ngành này – nhất là Y học,và mọi việc làm mạo hiểm này phát sinh do thiện chí. Nếu có sai lầm, xin lượng thứ.

Ng.Tr. Kh.

(Dịch và chú thích.)

Chỉ cần nói OM. (2)

Bài của Joel Stein.

Các nhà Khoa học nghiên cứu về nó. Các Bác sĩ đề nghị nên theo.Hàng triệu người Mỹ – trong đó có có nhiều người không tin dị đoan (3)-thực hành mỗi ngày. Tại sao ?. Vì Thiền thực sự mang lại kết quả.

Có một ý nghĩ mà tôi không xua đuổi được, cứ luẩn quẩn giữa tôi và một niềm vui không bờ bến, đó là điều này : tôi đã để phí thời giờ (4). Tôi đang ngồi toạ thiền trên một chiếc gối màu tím, mắt nhắm nghiền tại sàn tập Yoga trong một trung tâm thể dục với khoảng 40 người khác, phần lớn là những phụ nữ đẹp, nhưng rồi tôi chẳng nghĩ tới họ nữa,có thể vi` ít thì giờ.Tôi đã chú ý tới những âm thanh bên ngoài,rồi theo dõi hơi thở và sau đó trở về với thực tại là bàn chân phải của tôi máu đã bắt đầu thiếu luân lưu.Nhưng tôi đã bỏ qua được, rồi tôi cũng quên luôn những phụ nữ đẹp ngồi gần,cả tương lai lẫn quá khứ,quên luôn cả nỗi ưu tư là làm sao để viết bài này cho hay và rồi trong khoảnh khắc,tôi đã đụng nó (5).

Tôi cảm thấy một khoảng không gian mênh mông dày đặc bóng tối , thân thể như tách rời khỏi tôi và có cảm giác như vừa tới lúc buồn ngủ,nhưng lại hoàn toàn tỉnh táo. Đây là một cảm giác tuyệt vời. Ngay sau đó,tôi chợt có ảo giác:Có lẽ tôi đã coi truyền hình.

Sau hai mươi phút,chúng tôi nghỉ đôi chút,điều này khiến tôi ngạc nhiên vì tôi nghĩ rằng ngồi trên chiếc gối thì còn cần nghỉ gì nữa.Trước khi bắt đầu lại,giảng viên của chúng tôi là Sharon Salzberg ,một trong những sáng lập viên của Insign Meditation Society ở Barre thuoc Tiểu Bang Massachuset và cũng là tác giả cuốn Faith: Trusting Your Own Deepest Experience (Niềm tin : Hãy tin vào kinh nghiệm xâu xa nhất cua bạn),hỏi xem có ai thắc mắc hay nhận xét gì không.Có bốn câu liên quan đến vấn đề thở.Một bà than rằng “đối với tôi,tập trung hơi thở quá rắc rối,ý tôi muốn nói thở có lẽ là điều khó nhất”.

Tôi quyết định đứng chờ ở ngoài và học lóm được khá nhiều điều.

Tuy nhiên, trong lúc chờ đợi để có thể học lóm được các người này thì theo các tài liệu mới nhất về khoa học cho biết là họ đã đạt được đôi điều

– theo sự phán đoán của riêng tôi.Điều trước nhất là họ có thể sống lâu hơn tôi vài năm.Không những là các cuộc nghiên cứu về Thiền chứng tỏ rằng Thiền tăng cường các khả năng của các cơ quan miễn nhiễm,nhưng những hình chụp về não bộ cũng đưa giả thuyết rằng Thiền cũng củng sắp xếp lại hệ thần kinh não bộ để giảm độ uất cảm nữa. Trong khi đó, những người còn nghi ngờ về lợi ích của Thiền càng ngày càng trở nên thiểu số. Ngày nay, hàng chục triệu những người Mỹ trưởng thành đã cho biết là họ thực

( Hình 1 ) hành Thiền dưới một hình thức nào đó thường xuyên, gấp đôi con số cách đây một thập niên. Các lớp dạy Thiền đầy những người Mỹ truyền thống,không tin nhảm, không mua tạp chí New Age ( Đòi Mới) (6) và ngay cả khộng cư ngụ tại Los Angeles (7). Đối với những chuyên viên có óc cầu tiến, họ cho rằng cuộc sống của họ bị nhiều uất cảm hơn là của các thế hệ trước,của những người nuôi bò sữa,làm xà bông ,làm bơ,thì Thiền là nơi trú thân thông minh nhất.

Hinh2 :Thòi Giác Ngộ Maharishi T.B Iowa,ngày bắt đầu Vói Thiền

Ngày nay, họ không cần vào rừng để tìm những đạo sĩ râu tóc xồm xoàm để học Thiền nữa. Thực tế là càng ngày càng khó mà không phải tìm đến Thiền.Các trường học,bệnh viện,tổ hợp luật sư,các cơ quan chính phủ,văn phòng và các nhà tù đều có những lớp dạy Thiền.Tại các phi trường,phòng nguyện hoặc các trạm Internet có những phòng đánh dấu riêng để Thiền.

Thiền được ghi vào chương trình của trường võ bị West Point 8), Harvard Law Review số mùa Xuân năm 2002 và rất nhiều bài giảng của huấn luyện viên Phil Jackson (9) của đội bóng rổ Laker (10).Tại Đaị Học Maharishi ở Fairfield thuộc Tiểu Bang Iowa,các sinh viên, học sinh trung và tiểu học cùng toàn thể học sinh mẫu giáo ngồiThiền hai lần mỗi ngày.

Hình 3 : Các luật sư thuộc Ủy BanThương Mại Quốc Gia đang tĩnh tâm phía ngoài VP

Trung tâm Shambhala Mountain thuộc về ColoradoRockies là một doanh trại màu như mạ vàng nằm rảirác không ngăn nắp trông giống như các sòng bài củaông vua cờ bạc Steve Wynn’s thuê các người Tây Tạng,số du khách đã tăng từ 1,342 vào năm 1998 tới con sốphỏng chừng là 15,000 vào năm nay. Những khách sạnCatskills ở Nữu Ước đang được biến đổi thành các Trung tâm Thiền nhanh đến nỗi tên Borscht Belt (VòngĐai Borscht) Được đổi tên thành Buddhist Belt (VòngĐai Phật ). Đối với những người Mỹ danh tiếng đang có khuynh hướng tìm đến Thiền như trong bài chủ đề của TIME này, nhiều người trong số này rất nổi tiếng Washington.. Thử nêu một vài người : Goldie Hawn,Heather Graham,Richard Gere (11) và Al Gore (12), nếu ông này vẫn còn được coi là nổi tiếng.

Nhưng lợi ích chính của Thiền là về phương diện văn hóa cũng như về y học. Càng ngày càng nhiều, Thiền đã được các Bac-Sĩ đề nghị dùng để phòng ngừa,làm chậm lại hoặc ít nhất là kiểm soát sự đau đớn của các bệnh nan y như bệnh tim mạch,bệnh AIDS, ung thư hay hiếm muộn. Thiền cũng được dùng để hồi phục lại những sự cân bằng trên nét mặt như trong bệnh bị nhiễu loạn tâm lý hoặc uất cảm, lãng trí (13).

Trong sự giao thoa giữa đạo học tâm linh Đông Phương va`Khoa học Tây phương, các Bác sĩ đã chọn Thiền không phải vì Thiền mới lạ hoặc vô hại, nhưng chính là vì các sự nghiên cứu về khoa học đã chứng tỏ Thiền thực sự hữu hiệu ,nhất là những bệnh liên quan tới uất cảm.Daniel Coleman, sau cuộc nói chuyện với Đức Đạt Lai Lạt Ma và là tác giả cuốn Destructive Emotions ( Sự tàn phá của cảm xúc) đã cho biết : “trong suốt ba mươi năm,các nhà khảo cứu về Thiền đã cho ta biết rằng Thiền hữu hiệu tuyệt vời và là cách tốt nhất để chống lại bệnh uất cảm. Nhưng điều thú vị là các cuộc nghiên mới đã cho thấy Thiền đã có thể huấn luyện tâm và tổ chức lạilại bộ óc của chúng ta.”. Những cuộc thí nghiệm dùng những dụng cụ khoa học tối tân nhất giả thiết rằng Thiền có thể điều chỉnh não bộ, giải tỏa những các “ điểm ứ đọng xe cộ “ (14) đã làm máu tăng nhiệt độ. Ngoài ra,so với giải phẫu thì ngồi trên chiếc gối rẻ hơn nhiều.

Vì Thiền trở thành giản dị và chính thống, phương pháp Thiền cũng trở thành dễ dàng.Ngày nay,nhang được đốt ít hơn , nhưng triết lý và giáo lý quý hóa của Phật Giáo vẫn còn đó : chỉ cần ngồi yên lặng trong khoảng từ 10 tới 40 phút một ngày,tập chú vào hơi thở,một hình ảnh hay một chữ nào đó (15)và bạn có thể tự huấn luyện mình quán chiếu vào những điều hiện tại hơn là chuyện quá khứ hay tương lai (16),theo sát thực tế và hoàn toàn chấp nhận điều này.

Việc làm Mỹ hóa và mới nhất là từ bỏ những hình thức tụng niệm và những câu thần chú khó hiểu trong đó phải nhớ những chữ hoặc câu thần bí ; thay vào đó,chỉ cần tập chú vào một âm thanh hoặc hơi thở của mình.Đó cũng là cách thông dụng trong phần lớn các tôn giáo khác. Có hàng chục cách thực hành để bạn chọn lựa,từ những cách giản dị như thư dãn đến cách khó như cách Tây Tạng gọi là Gtum-mo trong đó các Thiền sư

phải ngồi khoảng 8 giờ để đem thân nhiệt hầu có thể chống lại với cái lạnh khi phải đi qua các đèo hẹp- hoặc lạnh hơn nữa- và có thể khô những chổ ướt trên lưng áo khi ở nhiệt độ đông đá trên dãy Hy Mã Lạp Sơn. Hình 4 : Các tù nhân tại SanQuantin dang học về Thiền Tuệ Trí,giúp họ có khả năng để lựa chọn lối sống.

( 1 ) Thiền: (Jhãna : tieng Pali) hay (Dhyãna : Tiếng Phan) đều dùng để chỉ sự ngồi quán tưởng, giúp người thực hành đạt được Định. Chữ Meditation hay Zen nghĩa là ngồi trầm ngâm, quán tưỡng được người Tây phương dùng để chỉ Thiên` trước đây, nhưng ngày nay những chữ Zen Buddhism hoac Buddhist Zen thông dụng vì gần với Jhãna hay Dhyãna hơn ( ngoai` ngồi trầm ngâm quán tưởng ra, người thực hành Thiền cần đạt được Định hay Tâm thuần nhất mới đạt được giải thoát tối hậu ).

Nội dung bài này chính là nói về Thiền Phật Giáo, mặc dầu tác giả có tóm lược qua về những tiến triển của Thiền với các tôn giáo khác như Thiên Chúa Giáo , Hồi Giáo….va` cũng có lẽ vì vậy, chữ Meditation đả được tác giả xử dụng . Ngoài ra, cách chỉ dẫn va` ngay câu mở đầu của bài, chữ “ OM “ đã được dùng như một tiền đề cho bài viết (xin xem chú thích kế).

( 2 ) OM : tieng Tây Tạng. Tiếng này nay đã trở thành tiếng quốc tế chỉ về sự thư dãn, khi đọc âm thanh ngân dài ra như tiếng chuông : “ …..o…….O ..O.. O…..M….M….m…m…m….”. Co’ lẽ người đầu tiên đem ly’ thuyết về Thiền sang Tây phương la` Daisetz Teitaro Suzuki (1870-1966), một Đại Sư Nhật, nhưng ngày nay, Tây Tạng là nước được Tây phương biết đến về thực hành Thiên` và tiêu biểu là Đức Đạt Lai Lạt Ma .

Chữ OM trong câu chú Tây Tang rất khó dịch, nhưng nói về sự cầu xin, như trong câu chu’ : “ Om mani padme hum “ ( Dịch âm Hán Việt : Án mani bát di hồng) là để kêu goi lòng từ bi của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát – Theo Eric Baard trong Village Voice.

(3) Tin dị đoan : dịch chữ Crystal (pha lê ) . Ngày nay nhiều người Mỹ vẫn còn tin rằng đeo những hình kim tự tháp hay hình tam giác bằng pha lê hay thủy tinh sẽ đem lại nhiều sức khỏe và may mắn. Cũng giống như nhiều người Việt đeo nanh heo rừng hay móng cọp.

(4) Câu này nên hiểu thoát nghĩa. Y’ tac’ giả vui vì từ nay thời gian sẽ được dùng thích hợp hơn, còn trước kia đã được sử dụng một cách uổng phí .

(5) Ở đây, co’ lẽ tác giả có lẽ đã vào được tình trạng sơ định.Những cảm giác lâng lâng nhẹ nhàng như ngồi trên mây, hoặc “ không gian bàng bạc như sáng trăng mà không có mặt trăng “ (Philip Kapleau – The Three Pillars of Zen ) thường có được trong lúc Định. (xin xem hình 1)
(6) Một tap. chi’ noi’ về những dự đoán mang nhiều tính cách ảo tưởng trong tương lai.

(7) Los Angeles : mộtÏ thành phố thuuộc T.B California “tập hợp” của nhiều vấn đề , nguyên du đãng có súng không cũng vượt quá con số 100 ngan` !.

(8) West Point : Trường Võ Bị Liên Quân Mỹ.

(9) và (10) : Phil Jackson la` Huấn luyện viên bóng rổ nổi tiếng. Ông la` một Thiền sư (Zen Master),đã 7 lần hướng dẫn các đội đoạt chức vô địch thế giới ( nhiều nhất nước Mỹ). Ông hiện

là HLV cho đội Laker, một đội cũng đã nhiều lần vô địch.

(11) Tên các nghệ sĩ và tài tử nổi danh Mỹ. Riêng Heather Graham là tài tử có hình chụp ngoài bìa số chủ đề TIME kỳ này.

(12) Al Gore : cựu Phó Tổng Thống Mỹ nhiệm kỳ Bill Clinton (1992-2000), người đã thắng phiếu phổ thông Tổng Thống George W. Bush nhưng thua sát nút về phiếu cử tri đoàn.

(13) ADD = Attention Deficit Disorder.

(14) Y’ tác giả muốn nói là suy nghĩ nhiều quá.

(15) Dĩ nhiên đây chỉ là những động tác rất sơ đẳng những bước đầu tiên đi vào cửa Thiền. Trong cuộc sống hàng ngày,điều dễ gây nên uất cảm ( Stress ) là suy nghĩ nhiều việc cùng một lúc hoặc phải giải quyết nhiều việc trong 1 thời gian ngắn. Cách đếm hơi thở ( sổ tức quán) ,hoặc ăn biết ăn,đi biết đi …..(ăn trong chánh niệm, đi thiền hành…) chỉ là bước đầu giúp ta chỉ còn 1 suy nghĩ cho mỗi một động tác. Con đường đi tới và đạt được cái tâm KHÔNG vẫn còn dài lắm.

(16) Những sự suy nghĩ vô ích hay tạp niệm chỉ làm hại con người. Trong Kinh “ Nhất dạ hiền giả “ (Bạn hiền một đêm ), Đức Phật đã khuyên : “ Quá khứ đã đoạn tận.Tương lai lại chưa tới. Ở đây và bây giờ …”, ý Ngài muốn khuyên nên vui với cai’ ĐANG LÀ , Ở ĐÂY và BÂY GIỜ (The Here and The Now).

Làm thế nào để Thiền?:

Hình 5 : xin xem chú thích (15)

Chỉ trong vài phút,bạn có thể tự huấn luyện mình bằng cách theo những bước đơn giản sau đây.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ THIỀN?
Chỉ trong vài phút, bạn có thể tự huấn luyện mình bằng cách theo những bước đơn giản sau đây:
1. TÌM NƠI YÊN LẶNG. .Nếu có thể tắt đèn, càng ít để ý càng dễ tập trung ý nghĩ
2. NHẮM MẮT LẠI : Mục đích là ngăn cách với thế giới bên ngoài để óc đừng phân tích những tín hiệu qua những giác quan
3. CHỌN MỘT CHỮ BẤT CỨ CHỮ GÌ: Hãy tìm một chữ hay một câu một ý nghiã đối với bạn mà, âm hoặc vận nghe êm dịu khi lập lại.
4. HÃY NHẮC ĐI NHẮC LẠI: Hãy cố nói chữ hoặc câu với bạn trong mỗi hơi thở ra. Câu không thay đổi dễ giúp bạn tập chú.

Óc con người, cũng như thân thể thay đổi một cách rất tinh tế khi thiền một cách nghiêm mật. Những cuộc nghiên cứu khoa học đầu tiên vào những thập niên 60 và 70 đã cho thấy kết quảhết sức khích lệ về các thiền giả. Tại Ấn Độ,một nhà khảo cứu tên là B.K. Anand đã tìm ra rằng các đạo sĩ Yoga đã đạt đến mức độ họ đã không có phản ứng gì khi những ống nghiệm nóng được ấn vào cánh tay họ. Tại Nhật ,một khoa học gia tên là T. Hirai đã cho thấy rằng các Thiền gia Phật Giáo đã tập chú đến độ họ không còn để ý đến tiếng tích tắc của tiếng đồng hồ gõ nhịp nữa ( nhiều người đã ngăn để khỏi phải nghe những tiếng này, nhưng những thiền gia thì còn nghe trong nhiều giờ nữa). Một cuộc nghiên cứu khác cho thấy rằng các thiền sư, khác với các nhà thiện xạ , không giật thót mình lại trước tiếng súng nổ. Điều đáng ngạc nhiên là những cuộc trình diễn ở Las Vegas không thấy những màn này.

Vào năm 1967,Bac si Hebert Benson là giáo sư Đại Học Y Khoa tại ĐH Harvard (17),sợ rằng các cuộc thử nghiệm sẽ bị sai lạc nên đợi đến nửa đêm mới đưa 36 thiền gia vào trong phòng thí nghiệm để đo nhịp tim,áp huyết,thân nhiệt, nhiệt độ nơi trực tràng. Ông đã tìm ra rằng khi thiền,những người này đã xử dụng dưỡng khí ít hơn 17%, nhịp tim chậm lại 3 nhịp trong 1 phút và độ sóng não theta tăng(18) – loại sóng não thường xuất hiện trước khi đi vào giấc ngủ – mà không phải là thực sự ngủ. Trong cuốn sách bán chạy nhất,tựa đề là The Relaxation Response (Những phản ứng về thư dãn), Benson cũng là ngưới sáng lập ra Mind/Body Institude (Thân / Tâm Học viện ) đã lập luận rằng các thiền giả đã đối lại được với những độ uất cảm cao độ và đạt được tình trạng ít sóng gió và hạnh phúc hơn. Ông nói : “ tất cả những việc làm của tôi chỉ là dùng những cách thức và dẫn chứng sinh học mà con người đã làm từ hàng ngàn năm nay “.

Ít năm sau,Bác sĩ Gregg Jacobs một Giáo sư tâm lý học thuộc Đ.H y khoa Harvard ,người đã làm việc cùng với Benson đã đo điện não đồ (18) cho 2 nhóm : 1 nhóm được học thiền và nhóm khác được nghe băng đọc sách để giảm căng thẳng. Khoảng vài tháng sau,các người thuộcnhóm thiền đạt được nhiều sóng theta hơn là nhóm nghe sách, nhất là phần não vùng tiền trán của bán cầu não trái là nơi thu nhận những ký hiệu và thông tin đã giảm hoạt động. Tại vùng sau bán cầu não phải, nơi cho ta biết về những ý niệm không gian và thời gian, những hoạt động tại vùng này đã được chặn lại. Đóng vùng này lại,ta có thể mất đi cái cảm quan đâu là biên giới của vạn vật, nhưng ta lại cảm thấy như “ trực diện “ với thế giới bên ngoài (19), có lẽ điều đó đỡ buồn hơn là khi ta cố gắng diễn tả lại cho bạn mình hiểu lại điều này


(17) Harvard : Đai hoc hiện đứng đầu về Y Khoa của Mỹ.

(18)Sóng não theta : Để có thể biết tường tận về những phần sắp tới, điều quan trọng là phải biết về các loại sóng não (brainwaves). Não bộ, dù nghỉ ngơi hay đang suy nghĩ, đều phát ra xung lực điện thường trực gọi là sóng não. Sóng não được đo bằng tần số (frequency) và biên độ (amptitude). Qua điện não đo à(EEG = Electroencephalogram), các khoa học gia về thần kinh và não bộ đã ghi nhận được những loại điện thế từ bên trong tế bào não ( neurons) phát ra và truyền đi qua trụ thần kinh não bộ (axon). Dạng điện thế này gọi là sóng não. Cường độ sóng não được do bằng Hertz ( Heirich Hertz :tên của nhà vật lý học người Đức 1857-1894 là người đầu tiên khám phá ra sóng radio). Ký hiệu Hz - (Hertz) để chỉ đơn vị tần số tương đương với chu kỳ 1 giây đồng hồ. Có 4 loại sóng não : beta,alpha,theta và delta .

a/ Sóng beta : đây là loại sóng có tần số cao nhất 14 – 30 Hz trong mỗi giây, chỉ tình trạng hoạt động tối đa của não ,như ngay sau 1 cuộc tranh luận hay suy nghĩ nhiều.

b/ Sóng alpha : Sóng alpha có tần số từ 9 – 12 Hz trong mỗi giây. Đây là dạng sóng não có khi đang suy nghĩ viển vông, như hồi tưởng chuyện quá khứ hay mơ tưởng chuyện tương lai. Tóm lại đây là dạng não của 1 người bình thường ( không phải của những thiền giả).

c/ Sóng theta : tần số khoảng 4 – 8 Hz trong mỗi giây. Đây là trạng thái tâm tĩnh lặng hay thư dãn sâu. Đây là trạng thái “ Sơ Thiền “.

d/ Sóng delta : có tần số khoảng 3 – 4 Hz hay thấp hơn trong mỗi giây. Đây là trạng thái người đã đạt mức độ Định sâu, tâm và ngôn đã hoàn toàn lắng dịu, một trạng thái mà những người hành thiền mong đạt tới.

LÀM DỊU THẦN KINH

Thiền là một môn học đã có từ xưa. Nhưng chỉ gần đây các khoa học gia mới phát triển những dụng cụ tối tân để nhìn vào óc bạn khi bạn làm việc.

Sóng não thay đổi | Phía trong não của người thiền | Huấn luyện thiền

(wave change) | (Inside the Meditating Brain) | (Meditation Training)

SÓNG NÃO THAY ĐỔI ( WAVE CHANGE): Ngay cả những người mới thiền lần đầu cũng ghi nhận được độ sóng beta giảm, một dấu hiệu chứng tỏ rằng phần viền não đã không phân tích những dữ kiện thông tin như thường lệ. Sau 20 phút đầu cuả thời gian thiền, hình não cuả các bệnh nhân đã cho thấy sự giảm sóng não beta như thấy trong phần sáng cuả mình ( Hình trước khi thiền)
· Vùng tiền trán ( frontal Lobe)
· Vùng thùy đỉnh ( Parietal Lobe)
· Vùng ót ( Occipital Lobe)
Hình sau khi thiền
· Vùng tiền trán
· Vùng thuỳ đỉnh
· Vùng sau ót

PHIÁ TRONG NÃO CUẢ NGƯỜI THIỀN ( INSIDE THE MEDITATING BRAIN)
Vùng tiền trán ( Frontal Lobe) Đây là phần não bộ liên hệ đến nhiều hoạt động nhất cuả não bộ, giữ nhiệm vụ phân tích, kế hoạch, cảm xúc và nhận thức. Trong thời gian thiền vùng này có khuynh hướng không hoạt động.
- Vùng thuỳ chẩm ( Pariental Lobe)
Phần này cuả não bộ giữ nhiệm vụ thâu nhận và chọn lọc những tin tức từ bên ngoài, giúp ta nhận thức về thời gian và không gian. Trong thời gian thiền, những hoạt động cuả vùng này giảm
- Thanlamus ( Khu đồi thị): Có nhiệm vụ “ gác cổng” cho những giác quan. Bộ phận này chuyển những dữ kiện bắt được xuống sâu vào trong não bộ và ngăn cản những tín hiệu khác nhận được. Khi thiền, phần này giảm thiểu những tín hiệu đang tới đến độ “ nhỏ giọt”
- Reticular formation ( Cơ cấu mạng lưới) Đây là hệ thống phòng bị cuả não bộ. Cơ quan này nhận được những cảm quan và báo động cho não biết để sẵn sàng đối phó. Khi thiền óc trả ngược lại những tín hiệu mạnh
- Hypothalamus ( Khu dưới đồi)
- Pituitary gland ( Tuyến yên)
- Temporal Lobe ( Thuỳ chẩm)
- Spinal chord ( Cột tuỷ sống)
- Corebellum ( Tiểu não)

HUẤN LUYỆN THIỀN ( MEDITATION TRAINING)
Sau khi được huấn luyện thiền trong 8 tuần, những chi tiết ghi nhận được là độ sóng não thay đổi chuyenå từ dạng sóng alpha sang dạng sóng theta đã ảnh hưởng tới não bộ trong thời gian thư giãn
- Độ thư giãn tăng: Cường độ cuả sóng theta trong tổng số điện sóng sóng não
- Nhóm thiền ( meditation group)
- Bán cầu não trái ( Left side of brain)
- Bán cầu não phải ( Right side of brain)
- Nhóm đối chiếu ( Control group)
- Thời khoá ( Sessions)

Khi các máy móc về óc được phát minh,các cuộc nghiên cứu về bộ óc của các thiền giả đã được nghiên cứu tường tận hơn. Cũng có thể không nữa . Vào năm 1997,một chuyên gia về não tại Đ.H Pensylvania là Andrew Newberg thực hiện một cuộc thử nghiệm với 1 ngóm thiền giả Phật giáo bằng cách vô nước biển nhuộm màu để hy vọng có thể thấy được máu lưu thông trong não bộ ra sao bằng cách làm cho những vùng hoạt động nhiều được sáng lên hơn những phần khác. Nhưng cách duy nhất mà ông có thể biết được là phải chụp được ngay lúc các thiền gia này đạt trạng thái Định, lúc đó hình chụp mới có thể kết luận được, vì vậy ông ngồi ở phòng kế bên,cột một sợi dây quanh tay ông và đầu kia luồn dưới cánh cửa và ở gần phía các thiền gia. Khi họ đạt được trạng thái Định rồi, ông kéo dây để thả dung dịch vào. Kết quả đã cho thấy rằng óc không nghỉ hẳn trong lúc thiền nhưng thay vào đó đã ngưng nhận những tín hiệu qua bán cầu não phải.Trong khi đó, Benson đem 1 số đạo sĩ Silk mà những người này có thể thiền trong lúc máy M.R.I (20) gây tiếng động kế bên và ông đo độ luân chuyển của máu trong não. Nói một cách tổng quát thì lưu lượng máu giảm, nhưng tại một vài nơi, bao gồm trung khukiểm soát sự xúc cảm,nhịp tim đập,cơ quan hô hấp, tiêu hóa thì lưu lượng máu lại tăng.

Tai. Đ.H Wiscosin ở Madison, Richard Davidson đã dùng những hình não để chứng tỏ rằngthiền đã chuyển những hoạt động vùng tiền não (ngay dưới trán) từ vùng bên phải sang bên trái. Những cuộc nghiên cứu của Davidson đã đặt giả thuyết rằng nếu thực hành thiền thường xuyên, não bộ sẽ được đổi hướng từ trạng thái nay uất cảm phải “ chống đỡ hay bỏ chạy “ tới mức độ có thể chấp nhận được, một sự thay đổi làm tăng sự mãn nguyện. Những người thiếu lạc quan thường bị ảnh hưởng của tiền bán cầu não phải; ngược lại tiền bán cầu não trái có khuynh hướng nhiệt tâm,thích thú,an nhàn,yêu đời và an phận hơn.

Vào tháng 3 năm 2000, những sự nghiên cứu về thiền bước qua một kỷ nguyên mới khi Đức Đạt Lai Lạt Ma gặp các nhà tâm lý và não học được Tây phương huấn luyện tại Dharamsala ở Ấn Độ và khuyến khích Học viện Mind and Life ( Tâm thần và Đời sống) tổ chức các cuộc nghiên cứu về các Thiền sư ,xử dụng những kỹ thuật tân tiến nhất, những kết quả của các cuộc nghiên cứu này sẽ được đưa ra thảo luận tại các cuộc hội thảo ở M.I.T (21) vào tháng 9 ( hội nghị cũng bàn về giai đoạn nghiên cứu tới). Các cuộc nghiên cứu này không những cho ta biết những chi tiết rõ hơn về vận hành của não bộ do ảnh hưởng của thiền như thế nào, nhưng cũng cho ta biết được nhiều điều về các nhà sư trầm lặng qua những sợi dây điện tử

. Từ những cuộc nghiên cứu này,những điều mà các khoa học gia đang khám phá ra rằng nếu thực hành đúng mức,thần kinh não bộ sẽ tự hội nhập để hướng dẫn hoạt động ở vùng tiền trán là vùng tập trung và hướng dẫn của não bộ. Điều này các hiệp sĩ và các phi công thần phong của Nhật đã được huấn luyện va` cũng là điều Phil Jackson (10) thường khuyên nhủ : phải học để phòng bị . Robert Thurman, giám đốc của Tibet House(và cũng là thân phụ của nữ nghệ sĩ Uma Thurman) đã nói “ thiền cũng giống như nhiên liệu . Ở Á Châu,thiền là dụng cụ mà mọi người đều có thể xử dụng. Ta nên tách rời thiền để khỏi nghĩ rằng thiền là dành riêng cho Phật tử.”.

Thực tế là thiền càng ngày càng được tách rời khỏi đạo Phật. Cùng với những kỹ thuật thiền không được rõ ràng như toạ thiền hàng giờ mà đối với tôi trông hết sức là khổ sơ và các người ngồi thiền đòi hỏi được đánh bằng roi khi buồn ngủ (22), người Mỹ đang thử học về thiền quán ( bắt đầu bằng quán chiếu hơi thở ),thiền hành (trước hết đi rất chậm rồi để ý kỹ đến từng bước chân),thiền siêu việt (23),thiền Dzogchen (tập luyện tỉnh thức biết )và ngay ca ûnhững động tác nhảy “ mộng du “ (bịt mắt,nhảy vòng quanh khoảng 1 giờ theo tiếng nhạc). Trong cuốn sách sẽ xuất bản vào đầu năm tới của Victor Davich tựa đề là Eight Minutes That Will Change Your Life (Tám Phút Sẽ Thay Đổi Đời Bạn), ông cổ động 1 hình thức thiền theo đời sống Mỹ : mỗi ngày chỉ cần 8 phút để thiền. Khoảng thời gian ngắn ngủi này là điều mà các xã hội văn minh nhắm tới, vì vừa vặn bằng thời gian quảng cáo trên truyền hình.

Hình 7 : Tại Phòng Thí nghiệm Keck một Nhà sư Tây Tạng dưới máy M.R.I (20)

John Baran,trong cuốn sách sẽ xuất bản tựa đề Nirvana Here and Now ( Luân Hồi Xưa và Nay) nói rằng khi óc ông không chú mục vào việc gì – giống như giở 5 trang sách mà không đọc 1 dòng nào – đã làm cho ông cảm thấy bồn chồn. Một giáo sư về tâm lý,triết học và khảo cổ tại Đ.H Irvine ở California là Roger Walsh đã nhiên cứu về điều về điều mà các thiền giả có thể có thể kiểm soát về trạng thái tâm lý của họ. Ông nói “ chỉ ít năm trở lại đây,các nhà phân tâm học mới nhận ra bệnh lãng trí,nhưng những thiền gia đã quan tâm đến từ hàng ngàn năm nay là tất cả chúng ta đều bị thống khổ dưới một hình thức nào đó mà không hay.”. Đây là những điểm thiếu sót căn bản như khó đọc lấy một câu nếu không chấm dứt một cách khôi hài.

Các nhà tâm lý học đang cố gắng dể khám phá xem thiền có thể tái tạo thần kinh đối với những tội phạm về xã hội hay không. Một cuộc nghiên cứu tại Trung Tâm Phục Hồi ỏ phía bắc Quận Kings ,một nhà tù gần Seattle (24) đề nghị các tù nhân bị bắt về các tội danh như nghịện hút hoặc uống rượu học thiền trong 10 ngày, 11giờ mỗi ngày,chương trình gồm tọa thiền và thiền hành. Họ được chọn lựa khắt khe về nhu cầu cải tạo và cũng vì thực tế là chẳng có ai muốn ngồi 11 giờ cho mỗi lần học. Trong vòng 2 năm,có khoảng 56 phần trăm những người đã dự lớp này bị bắt lại so với 75 phần trăm đối với những người không tham dự khóa. Những người bị bắt lại cũng dùng thuốc và uống rượu ít hơn và ít bị lo lắng thái quá hơn. Tại Đ.H Cambridge,John Teasdale tìm ra rằng người có chánh niệm đã giúp ích cho các bênh nhân bị uất cảm định kỳ, đã làm giảm chu kỳ xuống còn một nửa.Wendy Weisel là con gái có cha mẹ là những người sống sót của trại tập trung Do Thái đã phải dùng thuốc an thần trong hầu hết cuộc đời cho đến khi tập thiền cách đây 2 năm. Bà noi’ :” thật là khác biệt đến độ không ngờ.Bạn không cần dùng thuốc cho bệnh uất cảm hay căng thẳng.Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi không phải dùng bất cứ thuốc gì. “.

Sống hài lòng và an bình trong nội tâm rất tốt,nhưng thử nghĩ rằng có mấy người Mỹ sẽ bắt đầu tập thiền nếu bạn thuyết phục họ,nói với họ rằng họ có thể sống lâu hơn mà không cần phải tập thể dục chạy bộ hoặc phải ăn bắp cải xanh.

Hình 8 : Chụp hình não. Abhay Bhaskar (23 ) Đang thiền trong khi các B.S chụp hình não bộ.

Cánh đây hơn 1 thập niên, BS Dean Ornish cho biết rằng thiền nếu phối hợp với ăn kiêng và Yoga,sẽ đảo ngược sự làm vít mạch máu. Tháng tư vừa qua,trong 1 phiên họp của Hội Nướu Đạo Mỹ(American Urological Association),ông cho biết rằng thiền làm chậm lại mức ung thư nhiếp hộ tuyến. Trong khi kết quả này rất thú vị, điều quan trọng cần ghi nhận là các bệnh nhân này cũng ăn kiêng và tập Yoga. Jon Kabat-Zinn,người đã nghiên cứu về Phật giáo vào những năm 60 và thành lập Bệnh Viện Giảm Uất Cảm ( Stress Reduction Clinic) tại Trung Tâm Y Khoa Umas ( The Umas Medical Center) vào năm 1979, ông đã cố gắng để tìm những dữ kiện khoa học hơn về sức trị liệu của thiền. Trong nhiều năm sau đó,ông đã giúp hơn 14,000 người để kiểm soát sự đau đớn mà không phải dùng thuốc bằng cách hướng dẫn họ tập chú vào những sự cảm thấy về đau đớn này như thế nào hơn là chống lại nó. Ông nói : “ những người này bị những bệnh ung thư,AIDS,đau đớn định kỳ. Nếu chúng ta nghĩ rằng có thể làm gì cho họ thì chúng ta đã phạm vào sai lầm lớn. Nhưng nếu ta đảo ngược tiến trình và cho họ biết rằng họ có thể làm gì cho chính họ bằng cách cung cấp cho họ những dụng cụ rất mạnh cho họ sử dụng, mọi việc sẽ thay đổi rất lớn.”

Sau đó, Kabat-Zinn nghiên cứu một số bệnh nhân bị phồng ngứa ,một bệnh da khó trị chỉ có thể trị liệu được bằng cách đem bệnh nhân vào nhà thương,cho đeo kính an toàn ,không mặc quần áo dưới sức nóng của những tia hồng ngoại. Điều nhận biết là nhiều người cảm thấy đầy uất cảm. Vì vậy,không theo xác suất ,Kabat-Zinn lựa ra nửa số bệnh nhân và dạy họ thiền ngõ hầu giúp họ giảm độ uất cảm khi ở trong phòng hồng ngoại. Trong 2 cuộc thí nghiệm,da của những người có học thiền hết những vết phồng ngứa biến đi bốn lần nhanh hơn những người không học thiền. Trong 1 cuộc nghiên cứu khác,được thực hiện với Richard Davidson ở Wiscosin, Kabat-Zinn chích ngừa cúm cho nhóm mới học thiền và một nhóm không sau đó đo độ kháng thể trong máu họ.Các người nghiên cứu cũng đo các hoạt động của não bộ để xem những hoạt động trong não những người thiền thay đổi hoạt động từ vùng bán cầu não phải sang trái như thế nào. Trong khoảng thời gian từ 4 đến 8 tuần sau khi chích ngừa,không những các người thiền có nhiều kháng thể hơn, nhưng những người có hoạt động chuyển đổi này nhiều nhất lại đạt được nhiều kháng thể hơn cả. Kabat-Zinn đã giả thiết rằng kỹ thuật thiền càng cao, những cơ quan tạo kháng thể càng tốt

(19) Một trong những mục đích – và là mục đích chính của thiền – là không để trí năng, sự suy nghĩ hoạt động và đánh thức vùng tánh giác (vùng Wirnicke) thay thế. Wirnicke là tên 1 nhà bác học Đức hồi đầu thế kỷ trước đã khám phá ra vùng này. Đây là phần nằm dưới bán cầu não trái kiến

giải tức khắc các sự kiện ( giống như biết bằng trực giác). Người không biết về thiền thường biết sự việc qua trí năng để phân tích phải trái,tốt xấu …(danh từ thiền gọi là cái nhìn nhị nguyên) cho nên thường mang nhiều võ đoán ,sai lầm và làm mệt thân. Trái lại thiền dùng tánh giác để kiến giải nên hiểu sự việc tức thời và đồng bộ. Tóm lại người thường nhìn sự vật từ ngoài nhìn vào, thiền nhìn sự vật từ trong nhìn ra.

Chúng tôi hy vọng sẽ đề cập đến đề tài này vào một dịp khác.

(20) M.R.I = Magnetic Resonance Imaging = máy chup hình não bộ hoặc những phần ở sâu trong thân thể.

(21)M.I.T = The Massachuset Institute of Technology la` Học Viện về khoa học đứng đầu tại Hoa Kỳ.

(22) Đây là Thiền Công Án, một ngành thiền rất phổ thông đời nhà Tống bên Trung Hoa và ngày nay tại Nhật vẫn còn nhiều thiền viện áp dụng. Trong lối tu tập này, các thiền sư (thường phải là những ông thày giỏi và nhiều kinh nghiệm) giao cho đệ tử 1 đề tài (goị là công án) để nghiên cứu

(có cà thảy hơn 700 công án – theo 1 nhà sưu tầm). Những công án thường là những đề tài khó, đôi khi vô lý, trò nghĩ ngợi rất nhiều nhưng nhiều khi cũng không tìm được lời giải đáp. Rồi đột nhiên vì 1 yếu tố xúc tác ngoại lai như 1 tiếng hét, 1 cú đánh nhẹ của ông thày, trò chợt “ ngộ “ và tìm ra chân lý.

Đây cũng giống như trường hợp của Newton tìm ra Luât rơi không khi thấy trái táo rơi ( trước đó đã suy nghĩ nhiều nhưng không hiểu,trái táo rơi đã là vật xúc tác),hoặc Archimède khi đang tắm tìm ra luật về sức đẩy của nước, mừng quá đã kêu lên “ ra rồi ! ra rồi…”, những lời kêu này chứng tỏ trước đó ông đã suy nghĩ nhiều.

Rất đồng ý với tác giả là lối tập thiền này khó, vì ngày nay có rất ít bậc thày đủ kinh nghiệm hướng dẫn trò, và thày phải theo sát trò từng bước, nhưng cho rằng “ người ngồi thiền đòi hỏi được đánh bằng roi khi buồn ngủ “ thì e rằng hơi võ đoán chăng. Hơn nữa lối thiền này rất hiệu quả, chỉ khổ nỗi không có thày đủ kinh nghiệm và rất tốn kém (một thày chỉ dạy vài ba học trò).

Philip Kapleau là số rất ít người Mỹ đã được thiền viện Nhật cấp giấy chứng nhận đã đạt được NGỘ (satori) theo lối thiền này. Ông là tác giả cuốn sách rất hay về thiền : The Three Pillars Of Zen. (bản dịch tiếng Việt : Ba Trụ Thiền – Đỗ Đình Đồng dịch).

(23) Thiền siêu việt :dịch chữ Transcendental Meditation ( hay TM) là lối thiền do Maharish iMahesh Yogi lập ra năm 1967. Ông này được ban nhạc The Beatles theo và có ảnh hưởng lớn đối với thế giới Tây phương. (xin xem hình 9 – thiền qua các niên đại).

(24) Thuộc TB Washington.

Qua các | Thời tiền sử | 2000-3000 | 588 trước CN|Thế k 2 sauCN

QUA CÁC NIÊN ĐẠI: Thiền hầu như có từ khi nhân loại phát sinh và luôn luôn là một phần cuả tôn giáo phương Đông. Giờ đây phương Tây đang khám phá lại Thiền cuả chính mình khi xưa
THỜI TIỀN SỬ: Truyền thuyết Shamanistic ( 25) Không có ai biết đích xác Thiền bắt đầu khi nào nhưng các chuyên viên nghĩ rằng đã được các nhóm thợ săn thực tập trong nhiều ngàn năm trước. Cũng giống như sinh hoạt thần bí khác, có thể thiền đã được dành cho những thày mo, được họ tin liên lạc thẳng với thế giới thần linh vô hình
2000-3000 TRUYỀN THUYẾT VEDIC ( 26): Thiền được mô tả trong kinh cổ Hindu, đây là một phần cuả tín đồ Hindu và được chia thành nhiều chi nhánh từ đó
588 TRƯỚC CÔNG NGUYÊN Phật Thích Ca sau khi ngồi thiền dưới cây bồ đề. Thái tử Tất Nạt Đa đã giác ngộ, Phật giáo các ngành đều tin vào giải thoát tối hậu.
THẾ KỶ 2 SAU CÔNG NGUYÊN_ Thiên Chuá Giáo: Một nhóm giáo sĩ được biết đến với cái tên Những Cha Đào Thoát đã xa lánh thế giới để sống giản dị. Họ xử dụng thiền để được gần Chuá hơn. Và, sau suốt 1000 năm sau đó, thiền đã trở thành một thành phần quan trọng cuả sự thực hành cuả Thiên Chuá giáo

( Hình số 9 )

Khoang 1000 | 1000 | Đầu 1500 | 1550 | 1967 |

Thiền Do- Thái | Thiền Hồi Giáo | Martin Luther | Thánh Theresa | Maharashi M. Yogi |

KHOẢNG 1000: THIỀN DO THÁI: Những người tin rằng tập tục huyền bí đã có từ xưa nhưng mới được giải mã tại Âu Châu chỉ khoảng 1000 năm. Thiền là một hình thức Do Thái Giáo Thông Tri với Thượng đế.
1000 THIỀN HỒI GIÁO: Cùng các người Do Thái giáo còn tin vào sự huyền bí. Một số người Hồi giáo cũng tin như vậy. Một ngành thiền gọi là Sufis ( Mang tên này vì họ mặc đồ lót bằng bông gọi là suf ) đã phối hợp thiền với sự thờ phượng
ĐẦU 1500: Martin Luther không chấp nhận về huyền bí và chủ trương hiểu Tân Ước và Cưụ Ước đơn giản hơn là đọc những câu huyền bí khó hiểu. Để đối lại với những cải cách này, Giáo hội đã đàn áp ảnh hưởng cuả các giáo sĩ dạy Thiền
1550: Thánh Theresa, dầu ảnh hưởng cuả Luther đang lan rộng, nữ tu người Tây Ban Nha này đã vượt lên được và thực hành Thiền cũng như các cách thực hành huyền bí khác. Đây là đổ vỡ chót cuả Thiên thiên Công giáo trong nhiều thế kỷ tới.
1967 Maharashi M. Yogi: Lập ngành thiền riêng ông Đạo này được ban nhạc The Beatles theo và bắt đầu đưa Thiền vào thế giới phương Tây và ảnh hưởng mạnh cho tới ngày nay

Trong khi đó, những chứng cớ từ những nhà nghiên cứu về thiền đem tới càng ngày càng nhiều. Thí dụ trong 1 cuộc nghiên cứu cho biết rằng phụ nữ tập thiền và dùng những hình ảnh có hướng dẫn đạt được mức độ tế bào miễn nhiễm dùng để chống với các bướu ung thư vú cao hơn. Điều này được ghi nhận tiếp theo những cuộc nghiên cứu khác cho biết rằng thiền có thể làm giảm độ áp huyết cao một cách không ngờ. Nếu ghi nhận là 60% các cuộc khám bác sĩ liên quan đến độ uất cảm, thì kết quả này không làm ai ngạc nhiên. Cũng chẳng đáng ngạc nhiên nữa nếu có lúc nào đó ,thiền được dùng để thay thế thuốc Viagra.(27)

Nhưng thiền có thể làm hơn được là để giải trừ uất cảm,đem đến sự hài hòa và làm tăng sự chú tâm. Vào năm 1968 ,khi ban The Beatles trình diễn , họ có thăm Maharishi Mahesh Yogi tại nhà tĩnh tâm Himalayan của ông ( trước đó họ đã gặp ông ở Luân Đôn năm 1967), thì .thiền cũng cho bạn sức nặng hết sức cần thiết. Nữ nghệ sĩ Heather Graham bắt đầu thiền từ 12 năm nay theo sự đề nghị của dạo diễn David Lynch, một đệ tử khác của Maharishi khi diễn xuất bộ phim Twin Peaks . Graham đã cho biết :” con người rất dễ bỏ nhiều thời gian để buồn rầu và phiền nhiễu. Nhưng thiền mang tới cho tôi một niềm vui vô bờ. Cuối một ngày, tất cả những sự như diễn xuất không đem lại nghịa lý gì cả.Thiền đã gợi lại những gì ta cảm thấy bên trong mới thực sự là quan trọng.” Cô thường thiền 20 phút khi thức dạy và sau đó thiền lần nữa vào buổi chiều . Lynch, cũng là đạo diễn phim Eraserhead và Blue Velvet đã ngồi thiền 90 phút mỗi lần và 2 lần trong một ngày kể từ năm 1973, ông cho biết :” tôi thâu nhận được ý thức mỗi ngày một sâu ,và những ý thức này càng lúc càng rõ và mạnh hơn.”.Thử tưởng tượng nếu ông thiền 4 giờ mỗi ngày thì tình trạng luộm thuộm nào sẽ mang đến cho Lynch.

Goldie Hawn,người đã cho biết bà ngồi thiền từ 31 năm nay,đã dành riêng 1 phòng trang trí đầy những món đồ bà ưa thích như pha lê,hoa,hương đốt,ø hình của Đạt Lai Lạt Ma và Mẹ Theresa. Bà thiền 2 lần mỗi ngày với ít nhất 30 phút mỗi lần.Bà đặt câu hỏi :” Bạn làm thế nào để làm chứng cho sự tàn phá về cảm xúc?”. “ Bạn chỉ có thể thực hiện được nếu bạn có thể ngồi xuống một trong yên lặng và giữ cho tinh thần được thanh lặng.”.Gần đây,nhiều người nhiệt tâm hoàn toàn không thuộc thành phần tin dị đoan. Eileen Harrington là người điều khiển nhóm Những Người Tiêu Thụ Thực Tế thuộc Ủy Ban Thương Mại Quốc Gia tại Washington ,đã mời một diễn giả về thiền thuyết trình sau vụ 9/11(28) . Vào khoảng một nửa Ban Chấp Hành của bà vẫn còn làm tại đây. Bill Ford ,Chủ tịch công ty Ford thực hành thiền,cũng như giám đốc cơ quan tối mật MI-5 của Anh. Hilary Clinton (29)đề cập đến thiền, vợ chồng ông Gore đã theo thiền. “ Cả hai chúng tôi đều tin vào những cầu nguyện thường xuyên,và chúng tôi vẫn thường cầu nguyện với nhau. Nhưng đối với thiền – phải phân biệt với cầu nguyện – tôi hết sức mong được giới thiệu (đến mọi người).” . Đây là những lời của 1 người chút xíu nữa đã trở thành Tổng Thống của chúng ta. Gore đã quên đọc câu chú, như là lời đồn đại, Florida.(30).

Mặc dầu tôi không thực hành thiền như 1 tôn giáo,nhưng tôi thấy quan điểm của Gore. Không coi video và nhạc ướt át để khám phá những gì ở thực tại cũng là sự đền bù xứng đáng . Và tôi thấy một cách khác biệt rõ ràng là sau khi thiền, tôi đi xuống phố và để ý tới tất cả mọi việc chung quanh, như thể là có năng lực của một siêu anh hùng. Ngay cả tôi cũng chẳng cần vào phòng tắm nếu tôi chú tâm vào nơi bàng quang và chấp nhận nó đầy,mặc dù tôi chẳng biết có lợi cho sức khỏe không. Nhưng nếu tôi không phải là một trong vài người mà tôi biết cần phải năng động và bớt vẻ lạnh lùng đi – tôi có thề sử dụng bài học về huấn luyện khi tức giận – tôi phải thiền hơn nữa. Và nếu tôi không bao giờ phải trực diện với tai nạn hoặc bệnh tật, tôi nghĩ là tôi sẽ theo đuổi về thiền. Đó cũng là điều Phật giáo mang ý nghĩa này, và sau hết ,vì tôi tin rằng đời là bể khổ. Tôi chỉ thắc mắc là quan niệm này đã có từ trước khi có vô tuyến truyền hình.

Bảng hướng dẫn để tìm hiểu thiền Nếu bạn thấy thích theo đuổi thiền một cáchTích cực hơn,thì có cả thế giới về tạp chí,sáchTích cực hơn,thì có cả thế giới về tạp chí,sách vở ,các trang Webs trong máy vi tính để khám phá. Ngay cách thực hành cũng có nhiều lối, từ hoàn toàn tinh thần hoặc thể chất, và hiện đang được giảng dạy trên khắp nướcMỹ .

(Bài viết của David Bjerkle,Alic Park và David Van Bleme / New York. Karen Ann Cullotta/ Iowa và Jeane MCDonwell / Los Angeles.)

(25) Shamannism : một thứ tôn giáo cổ ở Bắc Á , tin rằng những giá trị tuyệt đối của thần linh chỉ được thi hành bởi các shamans ( như phù thủy…).

(26) Vedic : Một loại ngôn ngữ thuộc về Vedas, gần với tiếng Sanscrit, xưa kia thường được người Hindu sử dụng .

(27) Viagra : thuốc trị bệnh bất lực về sinh lý của đàn ông. Đa số tình trạng bất lực này gây ra là do uất cảm (stress)quá độ. Đây là điều tác giả muốn nói.

(28) Vụ khủng bố có tầm tác hại lớn nhất tại Mỹ: ngày 11 tháng 9 năm 2001, những tên khủng bố đã cướp 4 phi cơ thương mại và đánh sập Trung Tâm Thương Mại Thế Giới ,làm khoảng 3000 người thiệt mạng.

(29) Hilary Clinton : vợ của nguyên Tổng thống Bill Clinton (1992-2000), hiện là Thượng Nghị Sĩ Tiểu Bang Nữu Ước.

(30) Al Gore thắng Tổng Thống George W. Bush về phiếu phổ thông, nhung thua phiếu cử tri đoàn tại T.B Georgia. (Thống Đốc TB này là Jebb Bush – em ruột của George W. Bush).

Chúng tôi xin lỗi Dịch giả và bạn đọc, vì lý do kỹ thuật, lối trình bầy này xem ra không thoả đáng lắm. Chúng tôi xin đón nhận những ý kiến cuả quý vị ( HNPĐ)


 

 

 

 

Tìm kiếm tin đã đưa
Liên kết website

 

 


 

Trang chủ | Lượm lặt | Hình kì cục|Điển tích| Ẩm thực |Hỏi&Đáp| Tham khảo|Tiểu phẩm| Vườn hồng |TRÁI TIM HỒNG|CHĂN GỐI | sức khỏe Truyện ngắn|MÁY TÍNH LÀM THƠ
Copyright © 2003 - PhiemDam.com _  All right reservice

ĐIẠ CHỈ: WWW.HAINGOAIPHIEMDAM.COM. EMAIL: HAINGOAIPHIEMDAM@YAHOO.COM