| 
KHẮC
TRỊ NHỮNG BỆNH TẬT ĐỂ TU
Buổi
sinh hoạt đạo lý này, chúng tôi nói về những trở
ngại trên bước đường tu tập của chúng ta. Trong
công phu tu, dĩ nhiên không khi nào ta được như
ý trăm phần. Chỗ này nếu người nào chưa nhận định
được chính xác có thể dễ nản lòng, thoái tâm Bồ-đề.
Vì vậy hôm nay chúng tôi sẽ đưa ra những cách Khắc
phục bệnh tật để tiến tu.
Nhiều
vị có thời gian học đạo, tu đạo lâu dài nhưng rồi
cũng bị thoái tâm. Vì quá trình thực hiện công phu
đòi hỏi nhiều công sức, nhiều quyết tâm và nhất
là phải có trí tuệ sáng suốt đi đúng đường. Có trí
tuệ mới thấy rõ các bệnh tật làm ngăn trở bước tiến
đạo của mình, từ đó ta khắc phục loại trừ nó. Trong
huynh đệ chúng ta chưa ai dám đảm bảo mình tu một
năm, hai năm hay năm mười năm thành đạo cả. Tại
sao? Vì trong công phu ai cũng nếm trải quá nhiều
điều bất như ý, những cay đắng không ngờ trước được.
Cho nên nhiều người đã tủi lòng khóc than trước
Phật, Bồ-tát hoặc thầy mình, với những lời bộc bạch
tức tưởi vì nghiệp chướng chưa chịu buông tha. Thật
là khổ.
Khi
nghe những lời trình bạch ấy, các bậc thầy lại cười.
Vì sao? Vì không phải nghiệp chướng chưa chịu buông
tha mình, mà là tại mình chưa chịu buông nghiệp
chướng. Trong trường hợp như thế, các Ngài cũng
không làm sao hơn. Bởi vì Phật, Bồ-tát còn chẳng
thể đưa chúng ta lên Niết-bàn, huống là các bậc
thầy. Thầy cũng không có pháp thuật nào đảm bảo
cho quá trình tu tập của chúng ta được an toàn.
Chúng
ta có thầy bạn, có pháp, chuẩn bị đầy đủ tiện nghi
rồi mà những ưu tư phiền não không buông được là
lỗi tại mình thôi. Nhiều người than rằng, không
biết phiền não là cái gì mà nó hiện đủ thứ hình
ảnh quấy rầy tôi. Thì hôm nay chúng ta sẽ điểm mặt
một vài tên phiền não ấy, xem thử nó là gì?
Đã
nhiều lần tôi nói “Phiền” giống như một loại lửa
nóng bức, thiêu đốt trên đầu chúng ta. Phiền làm
cho mình không yên, buồn dàu dàu hoặc cay cú khó
chịu, không bình thường. Quí vị thử tưởng tượng
cái đầu bị lửa đốt, làm sao chịu được. Huống là
lửa này đốt ở trong tim, trong gan, trong phổi của
mình, không bất an bất ổn sao được! “Não” là gì?
Là bồn chồn xốn xang, khó chịu. Hôm nào ta la lên
“tôi bực bội quá”, đó là hiện thân của não. Người
biết tu không ai dại gì nuôi chứa phiền não. Nhưng
khắc phục nó thì ta chưa khắc phục được, nên rồi
cứ phiền não. Nói nghe như lẩn quẩn, song đó là
những vấn đề hiện thực trong sinh hoạt tu tập hằng
ngày của chúng ta.
Phiền
não có hai loại: căn bản phiền não và tùy phiền
não. Nói căn bản tức là gốc gác, gốc gác này có
là do chúng ta không tỉnh sáng. Thế nên khi nào
ta sống không tỉnh, không sáng là đã làm sai lời
Phật dạy, nên chuốc phiền não. Hiểu như vậy, chúng
ta mới thấy quả thực phiền não là do tự mình thôi.
Thế nên muốn trị phiền não chúng ta phải tỉnh, phải
sáng, phải tích cực phấn đấu loại trừ nó. Một trong
những cách phá tan phiền não là sự xả bỏ, buông
hết, tha thứ hết thì phiền não sẽ không còn. Lẽ
thật như vậy.
Chúng
ta để ý xem thái độ của người đang phiền não ngộ
lắm, hễ buồn là cúi gầm mặt xuống. Như mình đang
giận ai đó, gặp họ không muốn ngó, thành ra ta ngó
xuống. Phải chi khi buồn ta ngó lên cười, mở con
mắt to ra, mở rộng lòng tha thứ thì nhẹ nhàng biết
mấy. Việc tu như thế đâu có khó khăn gì! Đằng này
ta buồn là cúi xuống, rút lại, đóng cửa rào, khóa
cửa phòng, rồi nằm thui thủi một mình, thế là buồn
lại thêm buồn. Rõ ràng tự mình thôi, chớ có ai làm
gì mình đâu?
Bao
giờ chúng ta còn vui buồn, tức giận khi đụng chạm
những cảnh bên ngoài là biết mình chưa tỉnh, nhất
định căn bản phiền não sẽ nổi lên. Căn bản phiền
não là gì? Là tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến.
Bọn này trồi lên một lúc thì chúng ta hoàn toàn
thất thế, giống như tướng lãnh ra trận không có
quân lính vậy. Bấy giờ chỉ còn nước nạp mình cho
nó muốn làm gì thì làm. Vì vậy khi tham sân tật
đố kéo đến, hiện hình của mình bấy giờ là ma quái.
Mặt đỏ, môi run, tay chân quơ quào, miệng há hốc
la lối… Còn đâu là hình bóng từ bi, trí tuệ, giác
ngộ, giải thoát? Chúng ta vẫn biết khi phiền não
nổi lên thì dở lắm, nhưng vẫn không đủ sức mạnh
thắng nó, nên rồi cuối cùng cũng hiện hình theo
nó.
Có
thể nói phương pháp hữu hiệu nhất để thắng phiền
não là “phải tỉnh”. Trong công phu tu thiền, tỉnh
giác luôn được xem là tướng tiên phong của thiền
sinh. Chữ “Tỉnh” là tự tỉnh, chữ “Giác” là sáng
suốt. Tự mình tỉnh táo, sáng suốt. Tất cả sáng suốt
từ ngoài đem vô, do người khác chỉ vẽ chưa phải
là sự sáng suốt của mình, nên ta không thể đương
đầu với hiện cảnh trước mắt. Học hỏi kinh nghiệm
từ những bậc trưởng lão đi trước là điều cần thiết,
nhưng cuối cùng người quyết định vẫn là mình. Được
hay không, nên hay hư, tốt hay xấu, thành công hay
thất bại đều do chúng ta hết, chớ không phải ở người
khác. Như mình tu không được là tại mình, không
thể đổ thừa tại Phật, tại Bồ-tát, tại ông thầy…
Rõ ràng như vậy.
Có
tỉnh giác mới được an ổn. Tỉnh thường đi chung với
định mới đúng. An ổn ở đây là làm chủ được mình,
khắc phục, loại bỏ những lăng xăng không cần thiết.
Cho nên người xuất gia, đệ tử Phật nên có thời gian
nhập thất, để tránh bớt duyên, tránh tiếp xúc mới
dễ lặng tâm lăng xăng của mình được. Người thế gian
thấy như thế là tiêu cực, trốn đời nhưng thật ra
không phải. Đây là những người can đảm, dám ngồi
nhìn lại thật rõ những lăng xăng điên đảo của mình.
Để từ đó quật ngã nó bằng sự tỉnh giác, bằng trí
tuệ của chính mình.
Tóm
lại, muốn trị được phiền não trước phải tỉnh giác,
muốn không bị vọng tưởng kéo lôi phải có sức định.
Vì vậy người xưa nói có định mới có tuệ. Quả thật
nếu tâm chúng ta yên tĩnh, trí tuệ mới sáng suốt.
Như khi đang ở chỗ đông người ồn náo, mình nghĩ
điều gì cũng khó thông suốt, bấy giờ ta tìm nơi
vắng lặng, ngồi yên định tâm sẽ bừng sáng ra vấn
đề. Đó là gì? Là từ sự yên lặng, tâm được định nên
trí tuệ phát sáng. Thiếu thiền định, thiếu sự yên
lắng, là không có nền tảng để phát huy trí tuệ sáng
suốt. Bởi vì sự sáng suốt này không phải từ ngoài
đem vô được, mà từ bên trong của chúng ta phát ra.
Lắng được, yên được, tỉnh được, buông bỏ được thì
tự nhiên mình sáng suốt. Điều này rõ ràng như vậy.
Khi
ta ngồi thiền, tiếp khách, ăn cơm, tụng kinh, làm
những công việc bình thường mà lòng yên lắng thì
việc làm rất sâu sắc, khéo léo, tinh nhuệ. Bởi vì
lúc đó ta làm với một tâm định tỉnh, có trí tuệ
ngự trị thì phiền não không phá rối, nhiễu loạn
được. Giống như sáng với tối, hễ có ánh sáng thì
bóng tối phải lui; còn đầy bóng tối thì biết không
có ánh sáng.
Ai
tu mà không muốn tỉnh sáng, ai tu mà không ngán
phiền não, cho nên nhiều người đã cất cốc riêng
để khỏi phiền não. Nhưng càng trốn tránh phiền não
chừng nào nó càng bám sát chừng ấy. Vì phiền não
không phải do cảnh bên ngoài, mà nó nằm trong tâm
ta. Không dám nhìn thẳng nó, không dám ruồng tận
hang ổ của nó thì dù ta có chui xuống đất hay bay
lên trời, nó vẫn rượt theo như thường. Quan trọng
là biết nhận diện phiền não và biết cách khắc phục
nó. Chỉ có tỉnh sáng là phương pháp thẳng tắt nhất
để trị liệu phiền não mà thôi.
Khi
thấy mình còn phiền não thì cố gắng tỉnh, chớ không
thể khóc lóc cầu Phật, Bồ-tát dẹp phiền não giùm
mình được. Nó nằm trong ta, làm sao các Ngài vào
đó dẹp được? Cho nên chúng ta có an lạc, có sáng
suốt hay không là từ công phu, từ sự thể nghiệm
của mình, chớ không từ đâu cả. Không thể mỗi ngày
chỉ ngồi thiền hai tiếng đồng hồ là thấy ta tu ngon
rồi, xả thiền xong đi vòng vòng nổ lốp bốp. Tu kiểu
đó không thể nào sáng được việc của mình, không
thể nào thành Phật được. Điều này huynh đệ chúng
ta cần phải ý thức rõ, để có con đường thoát. Miễn
sao trong công phu không có phiền não, không có
sở đắc là được an lạc.
Như
chúng tôi đã nói, ngoài căn bản phiền não còn có
tùy phiền não nữa. Đám tùy phiền não này mới rắc
rối. Tuy nó không quan trọng như căn bản phiền não,
nhưng nó xúi giục, hỗ trợ cho căn bản phiền não
dấy loạn. Một khi căn bản phiền não dấy khởi thì
đám phụ thuộc này hùa theo, nên thế lực chúng rất
mạnh, nhiễu loạn ta đủ cách. Nếu mình không khắc
phục được cội gốc phiền não thì ngọn ngành cũng
chịu thua. Trong cuộc sống hằng ngày những ngọn
ngành đó biết bao nhiêu mà kể. Ra ngoài chợ mua
đồ không vừa ý cũng bực bội ... Ngọn ngành này cộng
với căn bản phiền não thì sanh chuyện lớn.
Đám
tùy phiền não này ở đâu ta không biết, nhưng nó
âm ỉ thầm thầm bên trong, xúi bảo rất hay. Như buổi
chiều mình định đi bách bộ một chút rồi tụng kinh,
tọa thiền. Nhưng khi gặp người bạn tâm đầu ý hợp,
họ đề nghị gì đó ta ưa thích. Thế là giờ tụng kinh
cho qua, vuột mất cổng thứ nhất. Đến giờ tọa thiền,
con ma vọng tưởng, ma tùy phiền não vẫn len lén
rủ rê nữa, vậy là qua luôn cổng thứ hai. Có khi
ta chạy theo nó tới nửa đêm, công phu đã hụt hẫng
mà còn mỏi mệt luôn cả trong giấc ngủ. Từ những
hình thành nhỏ như thế, lâu ngày tồn đọng thành
lớn, rất trở ngại cho việc tu hành của chúng ta.
Người
xưa khi hạ thủ công phu rất sợ những thứ tạp nham
này, mới nhìn nó không ra gì, nhưng lần lần thành
vấn đề không hay. Huynh đệ chúng ta cần phải lưu
ý điều này. Thành ra, đối với phiền não gốc như
tham sân tật đố, dĩ nhiên chúng ta phải đề cao cảnh
giác, việc đó đã đành rồi. Nhưng đối với những thứ
phụ thuộc, những anh trợ lý của căn bản phiền não,
chúng ta cũng phải dè dặt, không thể xem thường.
Nhìn
chung, đối với căn bản phiền não hay tùy phiền não,
lúc nào ta cũng cảnh giác, tỉnh táo thì mới đủ sức
đương đầu với nó. Bằng không thì thôi, buông trôi.
Đã buông trôi thì công phu bao nhiêu năm cũng không
thể sáng được việc của mình. Chúng ta tu hành có
một điều rất tủi hổ, tại sao người xưa khi nhận
ra được lý đạo rồi, thời gian sáng đạo, thành tựu
đạo của các Ngài rất mau. Còn chúng ta lại mênh
mang không biết chừng nào, không biết bao giờ, vô
định. Đó là điều tôi thấy rất xấu hổ.
Cũng
con người, cũng có tất cả phiền não, cũng biết tu
hành như nhau, nhưng tại sao người xưa tu được,
tới mình lại không tu được? Chúng ta có thể đặt
ra vấn đề này để tự khắc tỉnh, chỉnh đốn lại công
phu của mình. Đó là tôi nói về hai thứ, căn bản
và tùy phiền não.
Bây
giờ còn một loại nữa là nội trước phiền não và ngoại
trước phiền não. Chữ “Nội” là bên trong, chữ “Trước”
là dính mắc, nắm chặt. Nội trước phiền não là những
thứ chấp, những thứ dính mắc trong lòng mình. Dính
mắc cái gì? Hình như cái gì ta cũng dính mắc được
cả. Chúng như những chất keo, khởi lên cái gì mình
dính cái ấy, làm cho ta hoàn toàn mất hết chủ lực.
Trong cuộc sống này, nhà cửa, bạn bè, ăn uống, ngủ
nghỉ, cây cảnh… cái gì mình cũng dính được hết.
Chính vì thế mà chúng ta không giải thoát được.
Giải
thoát là mở ra, mà nội trước là trói lại, trói chặt
lại ở bên trong. Giống như cái còng, càng cục kịch
càng nhúc nhích nó càng siết mình lại. Ta có thể
hình dung nội trước phiền não tương tợ như vậy.
Những chấp thủ của chúng ta nhiều quá đi, không
biết bao nhiêu mà kể. Ví dụ mình nhớ lại, hồi năm
sáu tuổi còn đi học tiểu học, dần dần lên trung
học, rồi đại học. Thế là không hiểu ai bảo mà tự
nhiên mình thấy ta là người có văn hóa, văn minh,
ta khôn hơn thiên hạ, ta có địa vị, danh vọng, quyền
lực v.v… thế là những thứ chấp trước lòi ra. Ngộ
vậy!
Có
lần tôi nói chuyện với một huynh đệ, gần như ông
khẳng định trong gia đình mình, tất cả mấy anh chị
em đều có mái tóc đẹp. Đó là mái tóc đen, tóc dày,
tóc to v.v… tóc sao đó tôi cũng không biết nữa.
Nhưng ông bảo người được mái tóc như thế là người
thông minh. Chẳng những nó đẹp mà còn biểu trưng
cho một sức khỏe tốt, một trí óc thông minh, nhớ
dai, học giỏi, giàu sang… Do khẳng định như vậy
nên nói chuyện với huynh đệ khác một hồi là có gây
cấn. Bởi thấy gia đình mình được như vậy, những
gia đình khác ít được, nên ông rất tự hào về mái
tóc nhiều đạm tố của mình. Nhiều người nghe thế,
họ nói thiếu chi kẻ trán trợt lớt, tóc đâu mất hết
trơn mà vẫn thông minh học giỏi hơn người, thì sao?
Cho nên lý lẽ của ông bị lung lay, bị chỏi lại.
Nhưng ông cứ khẳng định như vậy. Tôi nói đó là một
loại nội trước hay còn gọi là định kiến. Con người
dễ sanh sự bởi những cố chấp lạ như vậy. Có những
vấn đề thông thường như đồ chơi, nhưng nếu ta không
tỉnh giác, nó sẽ trở thành cái nôi phát sinh phiền
não. Giống như ổ vi trùng ban đầu rất nhỏ, nhưng
khi nó sinh trưởng rồi thì trở thành bệnh nặng khó
có thể trị được.
Nội
trước phiền não tuy độc hại như vậy, nhưng nhà thiền
nói nó không thật. Với người có tu tỉnh, có công
phu liên tục thì không sợ nội trước phiền não. Ở
đây tôi nhấn mạnh công phu chớ không nói thời khóa
tu tập thông thường. Công phu là sức nội hàm, nội
tỉnh của từng người, cái này mới trị được nội trước
phiền não. Nếu chúng ta không lo trị loại phiền
não này, nó sẽ trói buộc siết chặt mình, không làm
sao giải thoát được. Ngay bây giờ không giải thoát
thì đến lúc chết làm sao giải thoát được?
Khi
gần chết sợ nhất là cận tử nghiệp, tức những năng
lực dồn lại trong cả đời của chúng ta. Năng lực
đó sẽ quấy động, làm cho mình không buông được thân
hư giả, cảnh hư giả, tâm hư giả này. Bà con, quyến
thuộc, tài sản, địa vị… đều buông không được. Nếu
nặng phần nào thì theo phần ấy mà thọ sanh, tiếp
tục chịu khổ đau nữa. Tôi nhớ câu chuyện thế này.
Hoàng
Đình Kiên là một ông quan Thái sử ở Sơn Cốc. Tuy
làm quan nhưng ông không bị danh vị, tiền tài khống
chế, thường lui tới với các Thiền sư, các bậc tôn
túc để học đạo. Nhưng vì văn hay chữ tốt, tuy học
thiền mà văn chương lúc nào cũng trào dâng. Ông
bị vướng vào cái vòng ấy. Ông đến với một Thiền
sư lỗi lạc đương thời. Biết bệnh của ông, nên Thiền
sư quở: “Ông tu thiền học đạo mà cứ mê văn chương,
dùng văn chương ma mị người ta, làm sao sáng đạo,
làm sao giác ngộ giải thoát được?”
Thiền
sư liền dẫn chuyện Lý Bá vẽ ngựa để khuyên nhắc
Hoàng Đình Kiên. Lý Bá có tài vẽ ngựa siêu lắm,
người xem có cảm tưởng như thấy ngựa thật. Nhưng
do đam mê vẽ đến nỗi nhập tâm, cuối cùng Lý Bá bị
sanh vào trong bào thai ngựa. Hoàng Đình Kiên nghe
thế nói: “Chẳng lẽ Ngài lại đem tôi để trong bụng
ngựa sao?” Thiền sư bảo: “Tôi nói thế để nhắc ông.
Nếu dùng văn chương trau chuốt, ủy mị làm động lòng
dâm của người trong thiên hạ, chẳng những bị sanh
trong bụng ngựa mà còn rớt vào trong điạ ngục, chịu
khổ vô lượng nữa kìa”. Hoàng Đình Kiên nghe lời
cảnh cáo này đâm hoảng mới xin sám hối. Từ đó giảm
bớt việc văn chương, chuyên tâm học đạo, sống khổ
hạnh cầu giác ngộ giải thoát.
Trên
con đường tu hành, nếu chúng ta gặp được các vị
thầy sáng như thế, luôn dìu dẫn nhắc nhở, nói thẳng
cho ta biết những bệnh tật của mình để thức tỉnh
sửa đổi, đó là cơ hội rất tốt, rất quí. Cho nên
người học đạo chân chính không sợ bị chỉ lỗi, mà
còn cần cầu được thầy bạn nhắc nhở để ta biết bệnh
của mình mà trị liệu. Có thế việc học đạo, tu đạo
mới đi đến kết quả tốt đẹp.
Tôi
xin nhắc lại, định kiến tức là sự cố chấp, bám víu
của chúng ta, nếu vin vào đó, kẹt trong đó thì nhất
định phải chuốc quả khổ trong tương lai. Như một
họa sĩ tài danh chuyên vẽ ngựa và chấp vào tài năng
của mình, để cuối cùng nhận lấy kết quả sanh vào
trong bụng ngựa, thật đáng sợ! Từ những đắm trước,
những vướng mắc không giải thoát được nên chúng
ta phải chuốc quả khổ. Nghiệm lại bản thân dường
như cái gì chúng ta cũng đắm trước được. Như thiên
hạ chửi mình một câu thô tục gì đó, nó có đáng để
ta đắm trước đâu, nhưng mình vẫn cứ đắm trước, bỏ
không được. Người ta chửi mình, mình liền chửi lại.
Rõ ràng chúng ta mắc míu, không có giải thoát tí
nào cả.
Nếu
là người có đời sống nội tỉnh vững vàng, chúng ta
sẽ không như thế. Nghe, biết đây là những lời thô
tục, có đáng gì đâu liền bỏ, tự nhiên mình yên.
Còn đằng này, nghe lời chửi thô xấu chừng nào, mình
càng đắm trước, càng móc moi những lời chửi độc
hại hơn để trả lại. Ta tự đặt mình thành đối tượng,
giống như cái trống để cho người đánh, mỗi khi đưa
dùi vô là nghe thình thình. Ít có ai dám tỉnh táo,
xem thường những lời chửi mắng lắm. Nếu ta đừng
đặt đối tượng nào cả, như không có trống thì người
ta đánh chỉ như đánh vào hư không, đâu có vấn đề
gì.
Nói
thế nhưng chỗ này rất khó, không phải đơn giản.
Nội trước phiền não rất khó trừ. Vì nó thuộc về
thói quen, chủng tử, tập khí của chúng ta. Có người
cho rằng đắm trước về văn chương, văn hóa có tội
lỗi gì đâu. Dĩ nhiên chúng ta phải học, phải nhớ,
phải có đời sống văn hóa. Đồng ý là như thế, nhưng
người học cho biết, cho có cuộc sống tốt đẹp khác
với người đắm trước. Cho nên đắm trước là có sự
trói buộc, mà trói buộc là mất tự do, là đau khổ,
dù là đắm trước một thể loại, một hình thức nào.
Khi nó đã thành vết hằn thì gây trở ngại trên bước
đường thực hiện đạo lý giải thoát của chúng ta.
Ở
đây đứng trên lập trường giải thoát mà nói, thì
tất cả mọi sự đắm trước đều không hay. Bởi không
hay nên Phật dạy người tu phải buông bỏ tất cả chủng
tử thiện cũng như ác. Buông để chi? Buông để được
giải thoát, buông nhiều thì giải thoát nhiều, buông
sạch sẽ hết thì giải thoát hoàn toàn.
Sau
này Hoàng Đình Kiên đến học đạo với ngài Hối Đường,
cũng là một vị Thiền sư nổi tiếng đương thời. Ông
thỉnh cầu: “Xin Hòa thượng chỉ cho con con đường
thẳng tắt”. Ngài Hối Đường dẫn lời Khổng Tử nói
với học trò: “Ta có giấu giếm gì các ngươi đâu!”.
Khi đã nắm được đạo lý rồi, không còn nghĩ ngợi
gì nữa, bây giờ ông chỉ muốn có một đường thẳng
tắt để sáng được việc lớn thôi. Thiền sư dẫn lời
Khổng Tử nói tức là đã chỉ thẳng. Bởi chỗ ấy nằm
ngay trong tất cả động dụng hằng ngày của chúng
ta, đâu có giấu giếm bao giờ.
Một
hôm ngài Hối Đường lên núi, Hoàng Đình Kiên được
đi theo. Thấy hoa quế rụng đầy dưới đất, thơm ngào
ngạt, Ngài hỏi: “Ông có nghe mùi thơm hoa quế chăng?”.
Ông thưa: “Dạ nghe”. Ngài Hối Đường bảo: “Ta không
giấu giếm gì ông cả!” Bấy giờ Hoàng Đình Kiên có
chỗ tỉnh liền sụp xuống lạy: “Hòa thượng đối với
con thật là tâm lão bà tha thiết”. Thiền sư cười
nói: “Chỉ cần ông về đến nhà thôi”.
Chỗ
này thật hay, nhưng nếu không khéo chúng ta sẽ không
nhận ra được. Như bây giờ có loại hoa nào rơi rụng
đầy trước mắt chúng ta, mùi thơm của nó, ai cũng
thưởng thức được hết. Người ngồi trên cao cũng thưởng
thức được, kẻ ngồi dưới thấp cũng thưởng thức được,
vì tất cả chúng ta đều có lỗ mũi, đều có khả năng
ngửi được các mùi. Lại nữa mùi hương kia đâu có
nói dành riêng cho ai. Cho nên Thiền sư nói “Ta
không giấu giếm gì cả”. Phật, Tổ và chúng ta không
khác nhau cái đó.
Nếu
chúng ta nhận lại và sống được với nó thì không
còn bị ràng buộc, không còn cố chấp vào định kiến
riêng tư của mình. Như vậy là giải thoát rồi. Chỉ
khi nào ta không nhận như vậy, không sống như vậy
thì mới bị cột trói, bị nội trước nên không thể
đi trên con đường thẳng tắt. Như vừa nghe mùi thơm,
ta liền suy nghĩ phân biệt đây là mùi thơm gì, đáng
thích hay không đáng thích, mùi thơm này của ai
v.v… Cứ lao theo một chuỗi phân biệt hư giả như
thế, nên ta đánh mất đi cái hiện tại, tức là cái
đang ngửi mùi thơm đây.
Có
một vị tăng suốt đời đi học đạo khắp nơi nhưng vẫn
không được gì. Khi lớn tuổi, sức khỏe mỏi mòn kiệt
quệ, bệnh hoạn sắp chết, vị tăng này hết sức buồn
khổ, than khóc suốt ngày. Chúng tăng thấy thế đưa
vào nhà Niết-bàn, tức bệnh xá để chữa trị. Đứng
trước tình cảnh đó, chư tăng trình lên Hòa thượng
đường đầu. Hòa thượng nói: “Ngày mai tôi sẽ xuống
thăm”. Khi tới nhà Niết-bàn, Hòa thượng nói: “Ta
nghe ngươi bệnh hoạn nặng, trong lòng buồn khổ lắm
phải không?”. Nghe tới đó, vị tăng kia mũi lòng
khóc thôi là khóc: “Con cả đời tu hành trôi suông,
chẳng ra làm sao. Giờ này sắp chết, đạo lý không
sáng, không biết nghiệp sẽ dẫn đi đâu?” Để vị tăng
giải bày hết nỗi lòng của mình xong, Hòa thượng
chỉ cái lồng đèn hỏi: “Ngươi thấy không?” Tăng thưa:
“Bạch thầy, thấy”. Hòa thượng bảo: “Cái thấy đó
của ngươi, của ta, của Phật không khác”. Ngay đó
vị tăng ngộ đạo, liền xuất mồ hôi hạn, hết bệnh.
Các
Thiền sư bao giờ cũng chỉ thẳng cái bất sanh bất
diệt của mình. Nó nằm ngay nơi sáu căn của chúng
ta, chớ đâu phải ở đâu xa xôi. Cái đó nhà thiền
gọi là bản lai diện mục, là ông chủ v.v… rất nhiều
tên, nhưng đều để chỉ cho cái sẵn có nơi mỗi chúng
ta. Như vị Hòa thượng đã nói: “Cái thấy của ngươi,
của ta, của Phật không khác”, vị tăng kia nghe xong
liền ngộ đạo. Chúng ta cũng thấy chứ, như cái quạt
đang quay ở đây, tôi thấy, quí vị thấy, có ai không
thấy đâu. Nhưng mình thấy mà chạy theo nó, chớ không
nhận lại tánh thấy hằng hữu của ta. Vừa thấy cái
quạt liền khởi nghĩ cái quạt này sản xuất tại Đồng
Nai hay ở Thành phố, quạt nội địa hay ngoại nhập,
tốt hay xấu, bền hay không bền v.v… Bởi nghĩ như
thế nên lao lự, mắc míu cái quạt, thành ra không
thấy đạo.
Mỗi
chúng ta đều có tánh giác. Khi căn tiếp xúc với
trần, ta không ngược xuôi dong ruổi theo các trần
cảnh bên ngoài, mà quay về nhận lại, sống lại với
tánh giác của mình. Sống lại với cái biết, cái nghe
của mình, đó là liễu liễu thường tri. Sống như vậy
mới không bị trần cảnh bên ngoài cũng như vọng tưởng
điên đảo bên trong quấy rầy, gây phiền não cho chúng
ta. Đó là ta đã chiến thắng được phiền não nội trước.
Đến
loại thứ hai là phiền não ngoại trước. Ngoại trước
tức là kẹt đắm bên ngoài. Vừa thấy sắc liền dấy
khởi nghĩ, vừa nghe tiếng liền dấy khởi nghĩ… Ví
dụ chúng ta nghe người bạn nói đến một người thân
của mình gặp nạn hay quê nhà bây giờ tao loạn, bà
con tứ tán hết, ta buồn ngay. Người nói cũng bên
ngoài, người thân gặp nạn cũng bên ngoài, cảnh quê
cũng bên ngoài nhưng ta lại thấy đau buồn, tức là
kẹt nơi ngoại trước. Một loại phiền não do chạy
theo các cảnh duyên bên ngoài mà ra.
Đối
với người thế gian, chuyện đau buồn do tức cảnh
sanh tình như thế không có gì quan trọng, nhưng
với người tu hành thì khác. Vì buồn là phiền não,
mà phiền não loại nào cũng làm chướng đạo. Một chúng
sanh còn phiền não là không thể nói đến chuyện ngộ
đạo, không thể nói đến chuyện giải thoát được. Phiền
não gốc cũng không được, mà phiền não ngọn cũng
không được, nhánh lá ngọn ngành gì của phiền não
cũng cột trói cả. Phải dẹp sạch sẽ phiền não mới
sống được với cái liễu liễu thường tri. Sống được
với cái thường thấy thường biết không phân biệt,
không chạy theo ngoại cảnh thì mới hết khổ, hết
phiền não.
Kế
đến là tùy miên phiền não và hiện hành phiền não.
Tùy miên tức là ngủ ngầm, hiện hành tức là hiện
ra. Tùy miên phiền não là phiền não ngủ ngầm bên
trong chúng ta, nó không thể hiện ra ngoài. Hiện
hành phiền não thể hiện ra ngoài rất rõ khi các
giác quan chúng ta tiếp xúc với trần cảnh hoặc thuận
hoặc nghịch. Thuận thì vui vẻ ưa thích, nghịch thì
bực bội khó chịu.
Trong
kinh kể lại thời đức Phật còn tại thế, một hôm Thế
Tôn cùng các vị đại đệ tử lên cõi trời. Bấy giờ
các thiên nữ, thiên tử trỗi các âm nhạc vi diệu
nhất để cúng dường đức Phật và hội chúng. Trong
số các đại đệ tử có Tôn giả Ca Diếp, Ngài nghe nhạc
trời tấu lên thì thân liền uyển chuyển nhịp nhàng
theo các nốt nhạc. Các vị đại đệ tử kia thấy lạ,
vì bình thường Tôn giả Ca Diếp tu hành rất nghiêm
chỉnh, khổ hạnh, có uy đức nhất trong hàng đệ tử
của Thế Tôn, không hiểu tại sao hôm nay lại lạ lùng
như vậy. Thế nên các Trưởng lão thưa hỏi nguyên
do trên với đức Thế Tôn. Phật bảo đó là chủng tử
ngủ ngầm từ thuở trước của Ca Diếp. Thuở quá khứ,
Ngài là một nhạc công nổi tiếng, nên bây giờ gặp
duyên chủng tử ấy khởi dậy.
Nhà
Phật gọi đó là “tùy miên”, nó thuộc về tập khí ngủ
ngầm sâu bên trong. Khi gặp duyên trúng tần số nó
hiện ra, nhưng trúng loại thường nó không hiện ra
đâu, phải loại đặc biệt mới được. Ví dụ người giỏi
về thơ, gặp người biết làm thơ nhưng là thơ thẩn
thì không ăn thua gì, họ chê toàn là thơ tào lao.
Nhưng nếu gặp đại thi hào, nói câu nào xuất thần
nhập thánh câu đó, tự nhiên động tới hồn thơ họ,
bấy giờ nó mới trào tuôn lai láng. Cho nên phiền
não ngủ ngầm bên trong quan trọng ghê lắm!
Đối
với phiền não tùy miên, phải có năng lực công phu,
trí tuệ tròn đầy mới làm chủ nổi nó. Bởi nó ngủ
ngầm sâu bên trong, gặp đúng duyên nó mới xuất hiện
nên ta khó khám phá, khó diệt trừ. Về loại phiền
não này, không ai giống ai hết. Nên có những cảnh,
những sự việc hay hình ảnh nào, ta không chút khởi
niệm, nhưng người khác bị kích động.
Có
lần, tôi cùng một số huynh đệ thời học tăng đón
xe lam đi đâu đó. Trên đường cũng có người đón xe
như chúng tôi, trông họ có vẻ lam lũ nghèo khổ.
Khi thấy mấy thầy, chủ xe mời lên, nhưng ông lại
không rước số bà con nghèo khổ kia. Tôi lên xe cũng
không để ý gì, nhưng đến tối về tới chùa mới hay
trong số mấy anh em, có một thầy bất bình chuyện
hồi sáng. Suốt đêm anh không ngủ, làm hàng chục
bài thơ thán oán, trách móc cuộc đời đen bạc, xã
hội bất công, vì anh thương các bà con nghèo khổ
kia đón xe không được. Tôi thật không ngờ anh đã
cảm xúc tới như vậy.
Thật
ra thầy này rất dễ cảm xúc. Có lần thầy kể cho chúng
tôi nghe. Hồi trước một vị Phật tử gần nhà thường
hay cúng dường tiền cho thầy đi học. Lúc đầu thầy
cũng vui vẻ nhận. Nhưng một hôm thầy bỗng gặp người
Phật tử đó đang bươi bọc nilon trong những đống
rác lớn của thành phố để kiếm tiền sinh sống. Thấy
thế rồi, thầy về khóc suốt đêm, cũng làm hàng chục
bài thơ. Sau này anh trở thành thi sĩ, chớ không
phải tu sĩ nữa. Một người hay xúc động như thế làm
sao tu được! Hiện tượng đó là do có chủng tử ngủ
ngầm bên trong.
Với
người tu chúng ta đối trị phiền não tùy miên như
thế nào? Có thể nói nếu đạo lực không có, trí tuệ
không hoàn bị, công phu tu hành không chuẩn, thì
khó trị được tùy miên phiền não. Cho nên phải có
đạo lực, có trí tuệ, công phu miên mật mới trị được
phiền não này. Nó làm chúng ta hơi buồn, hơi lo,
lòng không yên, ăn không ngon, ngủ không được, xanh
xanh mét mét, rồi đau bao tử. Đi đứng nằm ngồi đều
không yên, làm sao tu được. Người nào vướng phải
loại phiền não thì công phu rất khó tiến.
Tuy
nhiên, chúng ta cũng đừng quên phiền não gây chướng
ngại bước tu đạo, mà cũng chính ngay nơi phiền não,
chúng ta thành tựu quả vị giác ngộ giải thoát. Trong
nhà thiền có câu chuyện của Thiền sư Huệ Nam. Trước
kia Ngài là một thiền tăng rất lanh lợi, từng đi
tham vấn nhiều nơi, nhưng chưa triệt ngộ. Một hôm
Ngài đến hội của Thiền sư Từ Minh. Từ Minh nghe
danh Ngài nên hỏi thử vài câu, Ngài trả lời không
thông, Từ Minh bảo: “Tưởng ta không thể làm thầy
ông, nhưng bây giờ thì ta đủ tư cách làm thầy ông
rồi. Hãy đảnh lễ đi”. Ngài đảnh lễ cầu pháp với
Từ Minh.
Một
hôm Ngài y áo lên thưa hỏi đạo lý bị Từ Minh mắng
cho một trận. Buồn tủi quá, Ngài khóc sướt mướt
và cuối cùng thưa với Thiền sư Từ Minh: “Chính vì
chưa hiểu nên con mới thưa hỏi Hòa thượng cầu quyết
nghi. Mắng chửi đâu phải là quy củ thí pháp, sao
Hòa thượng lại mất lòng từ bi đối với kẻ hậu sinh
như vậy?” Ngài Từ Minh trợn mắt nói: “Những lời
ấy là mắng chửi sao?” Ngay đó Huệ Nam ngộ đạo đảnh
lễ ngài Từ Minh, thưa: “Tới bây giờ con mới nhận
ra được yếu chỉ của Thầy”. Sau khi ngộ đạo rồi Ngài
thay đổi hẳn, trở nên thâm trầm, sâu sắc, không
bồn chồn lanh lợi như thời trước nữa.
Đó
là từ phiền não mà thành tựu đạo nghiệp. Cho nên
ta cũng không nên buồn nếu có phiền não, nhưng phải
biết cách sử dụng, phiền não mới trở thành Bồ-đề,
Niết-bàn. Ngược lại nếu không biết cách sử dụng
thì phiền não sẽ phá tan tành đạo nghiệp của chúng
ta. Cho nên người tu quan trọng nhất là phải biết
khắc trị phiền não, tức khắc trị các chứng tâm bệnh.
Ngay nơi phiền não gắng gổ phấn đấu chiến thắng
nó, đừng để nó nhiễu loạn lôi kéo làm chướng ngại
việc tu hành của mình. Được vậy hy vọng tất cả chúng
ta sẽ thành công trên con đường tu hành.
NHẬT
QUANG (THIỀN TÔNG VIỆT NAM )

|