VÔ
NGÃ, VÔ ƯU
Ni Sư Ayya Khema; Dịch Việt: Diệu Ðạo
Nguyên Tác: "Being Nobody, Going Nowhere"
Wisdom Publications, 1987
CHƯƠNG VIII: BỐN
LOẠI HỶ LẠC
Tất
cả chúng ta đều kiếm tìm hạnh phúc, nhưng rất ít
người bắt được. Hai điều trong Tứ Diệu Ðế của đức
Phật đã nói rằng hạnh phúc thế gian là ảo tưởng,
vậy mà ta chẳng bao giờ từ bỏ hy vọng tìm thấy nó.
Tuy nhiên điều đó cũng không hoàn toàn xấu, vì nếu
không có lòng mưu cầu hạnh phúc, ta sẽ trở nên thối
chí, nản lòng khi không thể tìm được hạnh phúc hoàn
toàn.
1. Hỷ Lạc Qua Các Cảm Thọ
Ðức Phật nói về bốn loại, bốn cấp bực của hạnh phúc.
Thứ nhất là dục giới, do sự xúc chạm của các giác
quan mang đến. Ðức Phật ví đó giống như một con
bò chỉ có da, trong khi bọn ruồi đậu thì cố tìm
thịt sống, nên luôn tạo ra sự đau khổ. Ðó là một
cái nhìn sâu sắc về ngũ dục. Ðức Phật cũng nói về
ngũ dục là phương tiện đầu tiên đem lại cho ta hạnh
phúc. Và phần đông chúng sanh trụ ở cấp bậc này.
Nhưng không phải lúc nào ta cũng nắm bắt được dục
lạc ta tìm kiếm, ngay như ta có tìm được, thì nó
cũng đến rồi đi, do đó không thể có hạnh phúc trường
cửu qua sự tiếp xúc của sáu căn với sáu trần. Khi
sự xúc chạm đem lại cảm giác dễ chịu ta thấy hạnh
phúc. Nhưng cũng có những sự xúc chạm, đem lại khó
chịu, khi cơ thể ta không được thoải mái hay khi
ta không được nghe những lời mát lòng mà ta muốn
được nghe, không được nếm những mùi vị ta ưa thích,
hay ngửi phải mùi hôi thối, hay nhìn thấy những
cảnh ta không thích. Không ai thoát khỏi những cảnh
này. Không ai có thể sống mà không kinh qua những
xúc chạm gây khó chịu.
Nhưng cũng không có ai đi qua cuộc đời mà không
kinh qua những cảm xúc dễ chịu. Nếu có nghiệp thiện
ta có 50-50 cơ hội. Phân nửa thời gian ta được những
xúc chạm dễ chịu, phân nửa không. Phần đông chúng
ta tìm cách để tăng thời gian của xúc chạm dễ chịu
lên, và muốn chúng xảy ra 100% lần, là điều không
thể có. Không thể nào có chuyện đó, nhưng người
ta vẫn theo đuổi chúng. Và lại trách cho hoàn cảnh
bên ngoài khi cảm xúc khó chịu hay cảm giác đau
đớn dấy khởi làm cho ta đau khổ. Lý do thật sự,
dĩ nhiên nằm bên trong chúng ta, vì chúng ta phản
ứng lại với các cảm xúc.
Người càng trong sạch càng có nhiều lạc thọ. Một
tâm hồn trong sáng sẽ tìm thấy niềm vui ở nhiều
điều nhỏ nhặt nhất. Một ngày đẹp trời, thảm cỏ xanh,
một cuộc đàm thoại thú vị.
Người không trong sạch có lẽ chẳng để ý đến thứ
này. Có thể họ chẳng bao giờ biết ngắm bầu trời
đẹp hay một thảm cỏ xanh. Có lẽ họ đi tìm cảm xúc
ở những thứ tầm thường hơn. Rượu, thuốc phiện, đồ
ăn ngon, gái đẹp, có lẽ là những thứ mang đến cho
lạc thú hơn.
Nếu các cảm xúc thanh tao, vô hại thì đâu có gì
là xấu. Tuy nhiên Ðức Phật cho rằng chúng nguy hiểm
vì ta dễ biến chúng thành mục đích của đời sống,
con đường ta phải theo đuổi, ta cố gắng tìm thêm,
tìm thêm, và chúng lại bên ta mãi mãi. Ðó chính
là sai lầm của ta, vì điều đó không thể thực hiện
được. Không có cảm thọ nào vĩnh viễn cả. Thật ra
nếu chúng vĩnh viễn thì chưa chắc chúng còn cho
ta những cảm giác thích thú. Hơn nữa cũng không
thể chắc là ta có thể tìm được các khoái cảm. Việc
tìm kiếm làm chúng ta mất thì giờ, sức lực, ta sẽ
không còn thì giờ để làm những việc có ý nghĩa hơn.
Thân có các giác quan. Ðiều đó hiển nhiên. Tuy
nhiên, nếu có chánh niệm, ta có thể thấy rằng các
cảm giác dễ chịu do sáu căn mang lại đều là của
báu của người ngu. Chúng lấp lánh, nhưng chẳng có
giá. Ta có thể nhìn ngắm vẻ hào nhoáng đó, nhưng
chớ bám víu vào chúng. Vậy mà chúng sinh vẫn cứ
luôn đau khổ vì không thể có được những gì do sáu
căn đem lại.
2. Hỷ Lạc Của Chư Thiên
Hạnh phúc thứ hai là hạnh phúc như cõi Trời. Nói
thế không có nghĩa ta phải là thành thánh, hay phải
chết trước đã, mới được vào cõi Trời Dục Giới. Ðiều
đó xa vời, không liên quan gì đến đời sống hiện
tại của ta. Nhưng thật ra, người đã vun trồng được
bốn đặc tính cao quý (tứ vô lượng tâm ): Từ, Bi,
Hỉ và Xả sẽ được hưởng niềm vui của cõi Trời Dục
Giới. Thứ hạnh phúc đó được so sánh sống trong thiên
đàng ở cõi giới. Thứ hạnh phúc đó không tùy thuộc
vào ngũ dục mà chỉ tuỳ thuộc vào tâm ta. Ðiều kiện
duy nhất là phải thanh tịnh hoá tâm ta để có thể
chứa đựng được từ, bi. Cả từ và bi là hai đặc tính
của trái tim, cũng như thông minh là đặc tính của
trí tuệ, chúng có thể được vun trồng, nuôi dưỡng.
Khi ta đạt được những điều đó, thì hạnh phúc, an
lạc sẽ ở tại tâm. Tha nhân cũng sẽ được nhờ, nhưng
ta là người được hưởng quả an lạc trước tiên, vì
lúc đó tâm ta hoàn toàn không phụ thuộc vào những
gì xảy ra quanh ta. Người khác nói gì, làm gì, chuyện
gì xảy ra hay không xảy ra trên thế giới này, đều
không ảnh hưởng đến ta. Khi tim ta được ươm trồng
thanh tịnh với từ, bi thì không có gì có thể đụng
chạm đến nó. Có một sự an lạc, hài hòa, dễ chịu,
một cảm giác an toàn luôn ngự trị trong tâm trí
ta.
Niềm vui này thanh cao hơn so với niềm vui do ngũ
dục mang đến. Tự nó không dẫn đến sự giải thoát,
nhưng chắc chắn nó là hành trang cần thiết trên
đường đến giải thoát.
Từ và Bi, tự chúng không sinh ra cái thấy bên trong.
Chúng chỉ làm lắng dịu những ngọn sóng tình cảm.
Khi những làn sóng của đau khổ, buồn phiền, lo âu,
sợ hãi, ganh ghét, tiềm, hối hận, cuối cùng lắng
xuống thì mặt nước sẽ trong xanh, không gợn sóng
giống như một tấm gương, tấm gương của tâm. Tấm
gương đó giúp ta thấy mọi việc rõ ràng. Không có
sự vun trồng những tình cảm tốt đẹp đó, ta không
thể phát triển hơn. Ta có thể hiểu Pháp, nói Pháp
nhưng ta không thể đoạn trừ đau khổ. Những ngọn
sóng tình cảm là vực chắn. Chúng không chỉ ngăn
trở cái nhìn của ta được dễ dàng, mà còn che khuất
chính con đường ta phải đi. Khi còn u mê, mờ mịt
ta sẽ không biết mình đang đi đâu. Thậm chí có thể
quên rằng mình đang dự vào cuộc hành trình nào đó.
An lạc ở cõi Trời Dục Giới không tùy thuộc vào
luân hồi, sinh tử. Nó có thể xảy ra ngay ở đời sống
hiện tại. Ðó là sự tu tâm và ai cũng có thể tu được.
Không cần phải khóa thiền nào, hay phải là người
đặc biệt gì, ai cũng có thể làm được. Ðây là một
niềm vui có thể tìm thấy do chính sự tu tập không
cầụn phải tìm kiếm đâu xa.
3. Hỷ Lạc Trong Ðịnh Tâm
Niềm vui thứ ba đến từ sự nhiếp tâm trong thiền
định. Niềm vui này cũng chỉ có được khi ta thanh
tịnh há hành động của mình, đã có được sự độ lượng,
lòng từ ái trong tâm hồn. Nó cũng không đòi hỏi
ta phải là người hoàn toàn, chỉ có bậc A la hán
mới được như thế. Nó chỉ đòi hỏi chút khoáng đạt
trong tâm.
Ngừơi tu thiền thường tìm được niềm vui như thế.
Nhưng ta cần phải huân tập sự chú tâm, thường xuyên
thực hành tọa thiền để đạt được sự lắng sâu trong
thiền định. Có rất nhiều mức độ của niềm vui, thanh
thoát, dễ chịu khi thiền định. Chúng giúp cho tâm
được an lạc ngay cả sau khi đã xả thiền.
Người mà có thể lắng tâm trong thiền định và tìm
được hỷ lạc trong đó là người có thể tìm thấy niềm
vui ngay cả trong những hoàn cảnh bất như ý. Người
đó biết rằng bất cứ lúc nào mình cũng có thể được
sự an lạc của trong thiền định. Biết được như thế,
tạo cho họ cảm giác dễ chịu trong tâm vì không có
gì còn là quan trọng với họ nữa. Khi một người có
thể nhập định lúc nào họ muốn, trong bao lâu tùy
họ, thì đó là thực tại của họ, không phải những
tranh giành, cãi cọ, chiến tranh, tương lai, quá
khứ làm họ bận tâm như bao nhiêu người khác. Những
thứ đó không còn quan trọng đối với họ. Thực tại
trụ ở trong niềm vui của thiền định.
Nhiếp tâm hay chánh niệm cũng sửa soạn cho tâm.
Nó mang đến cho tâm không những chỉ khả năng hạnh
phúc, mà cả khả năng duy trì niềm vui đó. Tâm có
thể ổn định theo ý mình, là tâm kiên cố. Tâm chúng
sinh khó ổn định. Nó luôn dao động mà không cần
một động lực nào tác khởi, vì đó là bản thể của
nó. Nó không đủ sức mạnh để xuyên qua bức tường
ảo tưởng. Trước bất cứ trở ngại nhỏ bé, hoặc một
lời chê bai nhẹ nhàng, hay hơi khó chịu của cơ thể,
tâm yếu đuối như bún lập tức tan thành mảnh vụn.
Nó còn làm đựơc gì khác hơn chứ?
Tâm kiên cố cứng như đá tảng, không thể lay chuyển.
Một tảng đá kiên cố chắc chắn là một dụng cụ tốt
hơn cọng bún để đập bể bức tường. Tâm kiên cố sẽ
không lay chuyển trước những khó khăn nào. nó có
đủ sức mạnh để xuyên qua thực tại của cuộc sống,
tiến đến một thực tại tuyệt đối hơn.
Có tám mức độ của sự nhiếp tâm trong thiền định,
giống như tám căn phòng trong một ngôi nhà. Nếu
cuối cùng ta có thể tìm được đúng chìa khóa để mở
căn phòng thứ nhất ở cửa ngoài, thì không có lý
do gì ta cũng không thể đi vào những căn phòng khác.
Không có gì khó để tìm ra chìa khoá và căn phòng
đầu tiên. Chìa khóa là sự chủ tâm và hơi thở, và
cánh cửa phòng ngoài được mở khi ta tiếp tục hành
thiền với lòng kiên trì và quyết tâm. Ta sẽ không
bỏ nửa chừng "Ồ, đủ rồi chân ta đã đau rồi",
hay "Có ích gì?" hay "Cho kiếp sau
à?" hay "Khó quá cho tôi", hay bất
cứ lý do nào khác.
Ðức Phật dạy: - Kẻ ngu thường nói: "Sớm quá,
trễ quá. Nóng quá, lạnh quá. No quá, đói quá".
Cánh cửa đằng trước mặt chỉ chờ ta mở ra. Ta lại
có chìa khoá. Và ta chỉ cần tra chìa khoá vào ổ
khoá. Khi cửa mở ta sẽ thấy các phòng đều hoành
tráng. Sự hoành tráng ở ngay trong tâm trí ta nhưng
hiện giờ nó còn bị khóa. Ta sẽ không thể mở khoá
nếu như ta không biết tu thiền. Nhiều người không
bao giờ có thể mở được khóa vì họ không biết chìa
khoá là gì hoặc không biết có một cửa vào như thế.
Chúng ta rất may mắn được biết lối vào, và có thể
cửa đã hé mở cho ánh sáng tràn vào.
Khi sự nhiếp tâm đã được kiên định một thời gian,
tâm sẽ trở nên trong sáng, và thân thanh tịnh. Mỗi
giây phút nhiếp tâm là mỗi giây phút thanh tịnh.
Những ô trược mà ta thường đắm chìm, mang lại cho
ta bao đau khổ, phiền não được gạt sang một bên
trong thiền định. Càng có cơ hội để gạt chúng sang
một bên, chúng càng khó thể trở thành thói quen
của ta. Ta càng thường có thể nhiếp tâm, ta càng
dễ lãng quên chúng. Lúc đó việc đạt được một tâm
trong sạch, xán lạn chỉ là việc dễ dàng thôi.
Sự nhiếp tâm bắt đầu bằng những cảm giác dễ chịu.
Những cảm giác này dấy khởi vì tâm ở trong trạng
thái đó không bị quấy nhiễu. Ðiều này chứng tỏ cho
chúng ta thấy là nếu ta không phiền não, và giữ
được tâm luôn trong sáng, thanh tịnh thì ta luôn
có những cảm giác thoải mái dễ chịu.
Ở đây ta biết về những thành quả ta có thể đạt
được, điều đó làm ta muốn được ở trong trạng thái
đó lâu dài. Niềm mong ước lành mạnh, lợi ích dần
dần đưa ta đến trạng thái không còn mong cầu, do
đó không còn đau khổ thất vọng.
Sự nhiếp tâm bắt đầu bằng cảm giác dễ chịu, rồi
dần dần đưa ta đến trạng thái an lạc, hạnh phúc.
Ðiều này chứng tỏ một lần nữa là tâm thanh tịnh
chỉ biết có an lạc. Khi có phiền não thì có ô trược.
Hai thứ này đi với nhau như hình với bóng. Người
an lạc không mong đạt được hạnh phúc qua các căn
trần vì họ biết chúng rất ngắn ngủi. Người hạnh
phúc thật sự là người luôn an lạc mà không phụ thuộc
vào ngoại cảnh. Người như thế sẽ dễ dàng nhiếp tâm
thiền định, để tìm cho tâm mình một chỗ an trú thanh
tịnh, không còn phiền não dấy khởi. còn phiền não
là do tâm ta còn chưa thanh tịnh. Khi có phiền não
dấy khởi, nếu ta nghiệm xét sẽ thấy rằng do có sự
ô trược ngầm ẩn chứa trong tâm. Nếu không tìm ra
được điều đó, thì do ta chưa thật sự soi xét lại
mình.
Khi ở trong thiền định, tâm không còn bị năm chướng
ngại quấy nhiễu. Khi các cảm giác dễ chịu, an lạc
dấy khởi thì tâm hỉ, xả cũng theo sau. Xả bỏ đưa
đến cảm giác không còn ham muốn điều gì. Có người
còn có cảm giác mình hoàn toàn không còn tham ái
dục nữa nhưng đó chỉ là ảo giác. Dầu gì, ít ra trong
những giây phút đó, lòng ham muốn bị cũng bị hoại
diệt.
Ðó là một kinh nghiệm qúy báu khi đạt đến trạng
thái không còn tham dục. Ðó là một niềm hạnh phúc
tuyệt đối. Một hạnh phúc đáng kiếm tìm. Khi đã kinh
qua kinh nghiệm đó, ta sẽ biết được mình phải theo
đuổi điều gì. Không phải là theo đuổi để được việc
gì. Mà theo đuổi để cởi bỏ hết mọi thứ. Ðây là điều
nhiều người đã lầm tưởng một cách khá buồn cười.
Khi mới bắt đầu tọa thiền, ta mong tìm được an bình,
vui vẻ, hạnh phúc tuyệt vời, là những điều ta chỉ
có thể có được khi ta đã buông bỏ những thứ khác.
Như Chấp ngã và Tham dục.
Khi ta đã được nếm - dầu chỉ trong giây phút -
niềm hạnh phúc tuyệt vời của lòng không tham dục,
ta biết mình phải làm gì. Không phải để đuổi theo
sự hỷ lạc, mà cái ta cần ươm trồng chính là sự cởi
bỏ, buông xả. Không có sự buông xả, đời sống là
một chuỗi dài của ham muốn. Sự buông xả là câu trả
lời cho mọi chứng bịnh đạt thành tích; dầu trong
thế gian hay trong đời sống tu hành. Cố gắng để
đạt được cái gì đó trong đời sống tu hành thì cũng
mê muội như cố gắng đạt được điều gì trong đời sống
thế gian. Không có gì cần đạt được. Chỉ cần tập
buông xả. Càng cởi bỏ nhiều ràng buộc với chấp ngã,
lòng ham muốn và những thứ tương tự, thì hạnh phúc
tuyệt vời càng dễ đến hơn.
Niềm an lạc do thiền định mang đến dựa vào sự thanh
tịnh. Cũng vậy, trong đời thường, nếu ta biết gieo
trồng thanh tịnh, thì ta cũng sẽ được an vui. Tuy
các cảm giác dễ chịu, an lạc, xả bỏ trong thiền
định thâm sâu hơn các lạc thọ thế gian, nhưng trước
hết ta phải thanh tịnh trong đời thường, rồi ta
mới có thể tìm được sự thanh tịnh trong thiền định.
Chúng đi đôi với nhau. Ta càng khó tìm được cảm
giác dễ chịu khi tham thiền, thì ta càng phải nỗ
lực thực tập thanh tịnh hoá thân tâm hơn.
Niềm vui trong thiền định được coi là thành quả
tối ưu mà ta có thể đạt đựơc. Ðó là một sai lầm
vì niềm vui đó cũng chỉ tạm thời, mà không hoàn
toàn độc lập, hay vô điều kiện. Có nhiều điều kiện
kèm theo như là: phải có nơi yên tịnh, thân thế
phải khỏe mạnh để có thể ngồi yên, và có khả năng
nhiếp tâm. Dầu niềm vui này không phụ thuộc căn
trần bên ngoài, nó vẫn còn phải tùy thuộc vào các
điều kiện của thân, tâm. Niềm vui đó chưa phải là
tuyệt đối.
4. Hỷ Lạc Qua Tuệ Minh
Niềm hạnh phúc thứ tư ở cấp bậc cao nhất, là niềm
vui của nội quán, tuệ minh. Tuệ minh trong ngôn
từ Phật học, được dùng khi nói đến sự hiểu biết
về Vô thường, Phiền não và Vô ngã. Nếu ta có thể
thấy rõ được bản tánh của một trong ba đặc tính
này, thì ta biết tất cả, vì chúng liên hệ nhau.
Niềm hạnh phúc tuyệt vời của kiến tánh có nghĩa
là ta đã dẹp bỏ được chấp ngã. Khi ta có thể buông
bỏ cái tôi, thì ta sẽ nhẹ nhàng giải thoát xiết
bao.
Ramana Maharshi, một hiền triết ở miền Nam Ấn Ðộ,
so sánh những vọng tưởng về Ngã chấp giống như một
người hành khách trên tàu hỏa. Ðã bước vào toa rồi,
người ấy cứ ôm chặt các hành lý trong tay, thay
vì bỏ các hành lý vào chỗ để hành lý. Cũng thế,
dầu không cần thiết, ta luôn mang mớ hành lý nặng
nề của Ngã chấp theo bên mình. Những vọng tưởng
về Ngã chấp làm ta thấy mọi việc có vẻ đe dọa, tấn
công ta, họa hoằn lắm thì bảo vệ ta, nhưng khó đối
trị, như ngọn núi ta phải vượt qua. Nó làm cho cuộc
đời thêm khó khăn.
Các món phiền não, ô trược là lòng ham muốn, sân
hận, yếu đuối, lo âu, càn bướng, bám víu và quan
điểm riêng của mình. "Khi ta hoàn toàn buông
bỏ các quan điểm, ý kiến của mình, ta có thể nhìn
thấy bản vẽ của mọi vật rõ ràng hơn", đó là
đức tính của bậc A la hán. Với chúng ta các quan
điểm, ý kiến chính là sự thất bại của ta. Khi ta
bắt đầu bảo vệ quan điểm, ý kiến của mình, thì thực
ra ta đang bảo vệ cho cái tôi của mình. Sự tranh
cãi về một quan điểm cho ta thấy rằng quan điểm
đó không được thiết lập dựa trên kinh nghiệm. Vì
người ta không cần bào chữa cho kinh nghiệm. Giáo
lý của Ðức Phật dựa trên kinh nghiệm mà có. Trong
khi các quan kiến thì lại dựa vào Ngã chấp. Các
quan kiến nầy đều không phải là sự thật tuyệt đối.
Nhìn thấy rõ ràng tất cả những thăng trầm, biến
đổi của vạn vật, trong đó có bản thân chúng ta,
giúp ta thấy rằng không có gì trong cõi đời này
đáng gìn giữ, bám víu. Nhờ có kiến tánh, ta không
chống báng quan điểm của ngừơi khác, tránh nẩy sinh
ra bao nhiêu phiền phức trong cuộc đời. Mỗi người
có quan điểm riêng của mình. Không có gì tốt hơn
là chúc phúc cho họ thay vì tranh cãi. Sự bám viú
vào quan điểm của mình cho thấy là ta vẫn chưa hiểu
rõ tính cách vô thường của sự vật. Nếu hiểu rõ đượĩc
sự vô thường, ta sẽ không nói "Tôi thế này,
tôi thế nọ" để có thể xem xét sự việc cẩn trọng
hơn. Tôi là ai? Tôi có phải là ngừơi sáng hôm qua
được thiền định? Hay là người sáng nay tọa thiền
mà cứ lo ra? Là kẻ có tâm nghi hoặc hay người hết
lòng tin tưởng vào Phật Pháp? Người nào là Tôi?
Hay Tôi là tất cả những người ấy? Nếu thế, Tôi thật
là hỗn tạp. Tôi phải là thiên hạ, chứ không phải
một người. Vậy thì ta phải chọn lựa: Tôi là Tất
cả hay là Không? Nếu không nhận là Không thì phải
là Tất cả. Thử tưởng tượng cả trăm ngàn con người
khác nhau trong một con người. Nói thế không phải
là khuếch đại đâu, trong suốt cuộc đời ta đã có
hằng triệu tư tưởng, ý nghĩ, cảm giác, quan điểm,
phản ứng khác nhau, đó là chỉ một cuộc đời. Nếu
ta chọn làm tất cả thì cuộc đời ta sẽ phức tạp,
đau khổ hơn nếu ta không là ai trong họ cả. Vậy
thì tại sao không chọn cái Không?
Tuệ Minh không dung chứa Ngã chấp. Tại sao? Vì
"cái Tôi" muốn hiện hữu. Muốn được là
gì đó. Là gì? Là ai? Ở đâu? Ðể làm gì? Tất cả chỉ
là các quan điểm, được điều kiện hoá qua quá trình
tư duy của ta. Khi ta không chấp vào bất cứ điều
gì, an lạc sẽ đến với ta. Ta hạnh phúc trong sự
biết chấp nhận. Không có gì cần được hoàn thành,
tạo tác hay thay đổi. Tất cả đều như tự thể của
chúng.
-ooOoo-
Bốn mức độ của niềm vui khởi đi từ ngũ dục đến
tuệ minh sát là một quá trình thanh tịnh hoá liên
tục. Tất cả chỉ có thể chứng nghiệm bằng kinh nghiệm
của bản thân. Vì lẽ đó sự tu tập của đời sống nội
tâm phải được ưu tiên. Ta không thể lơ là, chễnh
mãng dù đang ở đâu, làm gì: ở bãi biển, trong thiền
viện, đang lái xe, hay ở trên máy bay. Không được
nghỉ ngơi. Ðể thoát ra khỏi ngũ dục, ta cần nghĩ
đến việc phục vụ cho người khác trước tiên. Nghĩa
là tu tập Từ bi. Phục vụ cho người khác nghĩa là
tập quên mình. Phục vụ người khác có thể bằng nhiều
hình thức. Giúp người rửa tay chân hay giúp người
tu thiền, cũng là phục vụ, không có gì khác nhau.
Phục vụ là lòng từ, từ tâm là phục vụ. Tâm định
có đựơc là nhờ lòng Từ. Một trong mười một điều
lợi ích khi có Từ tâm là tâm ta sẽ vào Ðịnh dễ dàng.
Không nên coi Ðịnh như là một mục đích, cứu cánh
của ta. Ðó chỉ là phương tiện. Phương tiện nuôi
dưỡng tâm để quán xét thực tại. Có hai loại thực
tại: tương đối và tuyệt đối. Ai cũng biết thực tại
tương đối. Trong đó có đàn ông, đàn bà, trẻ già,
giàu, nghèo, ngu, khôn. Có thú vật, cây cỏ, bông
hoa, trăng sao, thiên đàng và tất cả những thứ mà
ta nghĩ sẽ ban cho ta hạnh phúc. Trong thực tại
tuyệt đối, không có gì giống như thế. Chỉ có các
bản thể vật chất của những thứ taọ ra bởi tâm. Tất
cả chỉ có thế. Không có cái gọi là "tôi",
là "anh". Không có gì chỉ có bản thể sự
vật luôn biến đổi. Ngay đến vũ trụ quanh ta cũng
thay đổi. Và chúng ta cũng thế.
Tâm định, an lạc, hạnh phúc là tâm có thể chấp
nhận được thế giới luôn biến đổi này và sử dụng
nó như thế nào để có ích. Tâm không ổn định sẽ không
thể chấp nhận những việc bất như ý, họ nói: "Nhưng
tôi muốn được hạnh phúc, sung sướng". Ðó là
tâm của đa số chúng sanh. Tâm luôn an lạc và không
phụ thuộc vào ngoại giới, là tâm có thể nói: "Ðây
là sự giải thoát ra khỏi những khổ đau. đây là hạnh
phúc thực sự". Tâm đó sẽ nhìn rõ thực tại tuyệt
đối của tất cả những gì đang xảy ra trên thế giới,
không phải bám víu, nương tựa vào bất cứ điều gì,
không phải trở thành gì, hay là gì đó trong đời.
Tâm chỉ làm những gì cần thiết phải làm ở một thời
điểm nào đó, rồi buông xả.
Niềm vui trong Tuệ Minh không phải là sự lâng lâng,
oà vỡ. Ðó là thứ hạnh phúc chứa đựng an bình, không
phải có được do tham cầu, mong ước. Khi không còn
vọng tưởng, tâm chân thật sẽ nhận biết được điều
đó.
-ooOoo-


Về
trang chủ
XEM
TIẾP
|