| 
Mặt
hồ tĩnh lặng

"A still forest
pool -The insight meditation of Ajahn Chah",
compiled and edited by Jack Kornfield and Paul
Breiter
Nguyên tác: Thiền sư Ajahn
Chah
Tỳ kheo Khánh-Hỷ chuyển dịch
Lời giới thiệu
Quyển 1
Quyển 2
Quyển 3
Lời
giới thiệu:

Giả sử bạn
đến Á Châu vào khoảng thập niên 80 để tìm hiểu những
lời dạy sống thực của Đức Phật, để khám phá xem
hiện nay còn có những nhà sư, những ni cô sống cuộc
đời đơn giản trong rừng sâu, hàng ngày mang bát
xin ăn và chuyên tâm hành thiền không? Dĩ nhiên
bạn từng xem kinh sách và biết rằng chính Đức Phật
và hàng môn đệ đã du hành khắp miền thôn dã và những
khu rừng rậm Ấn Độ kêu gọi mọi người hãy cùng Ngài
trau giồi trí tuệ, mở rộng tình thương, sống đời
giản dị của một khất sĩ, hi sinh tất cả cho sự bình
an tỉnh thức.
Bạn có thể tìm thấy những hình ảnh đẹp đẽ ấy sau
hơn hai mươi lăm thế kỷ biến đổi chăng? Những lời
dạy xa xưa ấy có còn được áp dụng và thích hợp với
xã hội mới mẻ và bộ óc tân tiến của chúng ta không?
Bạn có thể đáp máy bay xuống một phi trường hiện
đại gần Bangkok, Colombo hay Rangoon. Bạn có thể
ngồi taxi dạo qua các đường phố Á Châu tấp nập,
ngắm những vỉa hè đầy trái cây miền nhiệt đới hay
nhìn những chiếc xe buýt đầy ắp người tới lui không
ngớt. Qua vài góc phố bạn lại thấy những ngôi chùa
nóc vàng đồ sộ, những ngọn tháp cao vút tân kỳ.
Đó là nơi những nhà sư, những ni cô lưu trú để học
hỏi kinh điển cổ xưa. Họ thường tụng kinh hàng ngày
và giảng dạy giáo pháp cho mọi người. Nhưng đó không
phải là nơi bạn có thể tìm thấy những gì bạn muốn.
Nếu bạn muốn thấy nếp sống giản dị trong rừng, muốn
tìm những người hành thiền với chiếc y vàng khiêm
nhường và chiếc bát đơn giản như Đức Phật, bạn phải
rời phố thị náo nhiệt, bỏ lại sau lưng những ngôi
chùa đồ sộ, những ngọn tháp cao vút ấy. Nếu xứ bạn
đến là Thái Lan, một xứ có nhiều chùa và nhà sư
nhất, bạn phải đáp xe lửa ở gần nhà ga Hualampang
đông đúc, đón chuyến xe sớm nhất đi lên miền cực
Bắc rừng nuí âm u hay xuống tận miền Nam đất bằng
hoang dã.
Chỉ vài giờ sau bạn đã ra khỏi phố thị ồn ào, xa
rời những khu thương mại sầm uất và không còn nhìn
thấy những căn nhà lụp xụp nằm dài hai bên đường
xe lửa. Bạn đi xuyên qua những cánh đồng lúa hình
bàn cờ được phân chia một cách đều đặn và nhịp nhàng
bằng những bờ ruộng, những con lạch và những đường
dẫn nước nhỏ. Ở tận chân trời của biển lúa ấy, cứ
vài ba dặm bạn lại thấy những hòn đảo nổi, đó là
khóm kè hay khóm chuối rậm rạp. Nếu xe hỏa đến gần
hơn một trong những hòn đảo nổi ấy, bạn sẽ thấy
ẩn hiện trong khóm cây um tùm một mái chùa màu cam
và những ngôi nhà gỗ đơn sơ. Đó là hình ảnh những
ngôi làng Đông Nam Á.
Mỗi ngôi làng chừng năm trăm đến hai ngàn dân là
đã có ít nhất một ngôi chùa. Chùa là nơi cầu nguyện,
lễ bái, hội họp, đồng thời cũng là ngôi trường làng.
Đây là nơi phần lớn thanh niên trai tráng đến tuổi
hai mươi vào xuất gia trong khoảng thời gian một
năm hay ba tháng, học hỏi Đạo Pháp hầu trở nên một
thành viên trưởng thành của xã hội. Chùa được điều
hành bởi một vài nhà sư lớn tuổi, giản dị và thiện
chí. Những nhà sư này học hỏi một số kinh sách cổ,
hiểu biết nghi lễ và giáo lý căn bản để đảm nhận
vai trò như một giáo sĩ của làng. Chùa là một thành
phần cũng là một đơn vị tô điểm thêm cho nét đẹp
của làng. Nhưng đấy không phải là nơi mà bạn phải
tìm.
Xe hỏa của bạn phải đi thẳng mãi lên miền Bắc,
đến kinh đô cũ của xứ Auddhaya, với di tích những
ngôi đền lộng lẫy đã bị sụp đổ và những lâu đài
cổ kính hoang tàn vì bị cướp phá hàng thế kỷ trước
đây trong trận chiến tranh với vương quốc lân cận.
Lưu lại trong đám hoang tàn đổ nát ấy là những ngôi
tượng Phật khổng lồ, điềm nhiên qua sương gió của
thời gian.
Bây giờ xe lửa của bạn rẽ về hướng Đông đến tận
biên giới Lào, xuyên qua cao nguyên Korat. Bạn phải
mất vài giờ nữa để băng qua bình nguyên với ruộng
lúa và làng mạc, nhưng dần dần ruộng đồng và làng
mạc trở nên thưa thớt và nghèo nàn hơn. Ở đây bạn
không còn thấy những rạch nước và những ngôi vườn
cây trái sum sê của miền Trung Thái. Cảnh vật trở
nên hoang dã, nhà cửa có vẻ nhỏ nhắn và đơn sơ hơn.
Những ngôi chùa làng vẫn còn lấp ló, nhưng cũng
nhỏ bé và đơn giản hơn. Ở đây lối sống cổ xưa tự
túc được duy trì. Bạn có thể nhìn thấy những phụ
nữ khóac mình bằng chiếc khăn dệt tay, nép bên ngưỡng
cửa e thẹn nhìn khách lạ, những nông dân đang chăm
chỉ làm việc ngoài đồng dưới ánh nắng thiêu đốt
và bọn trẻ con chăn trâu trong những con mương nước
đục ngầu dọc theo đường xe lửa.
Vùng thôn dã ít phát triển này là nơi còn duy trì
được truyền thống của các sơn tăng. Đây là vùng
giữ được vẻ thiên nhiên của rừng rậm, nuí đồi và
những vùng đất hoang chưa bị bàn tay con người sửa
đổi. Nhiều thế kỷ qua chốn quê mùa này đã hỗ trợ
tích cực cho các tu viện với những nhà sư sống bình
lặng, đơn giản trong rừng. Là một khu hoang sơ ít
người biết đến, nhưng nơi đây đã đóng góp lớn lao
vào việc duy trì và thể hiện sự giác ngộ, giải thoát
của Đức Phật. Phần lớn những nhà sư ở đây không
đóng vài trò của một giáo sĩ làng, không dạy học
cũng không học hỏi, nghiên cứu, duy trì kinh điển
cổ xưa như những nơi khác. Chủ đích của họ là sống
trọn vẹn và thực hành việc quán xét và bình lặng
tâm hồn bằng chính con tim và khối óc của mình;
đó là thực hiện những lời giáo huấn của chư Phật.
Nếu bạn rời xe lửa, dùng xe buýt hay thuê một chiếc
xe riêng, rẽ sang một con đường đất để đến một tu
viện như thế, bạn sẽ tìm thấy được gì? Những lời
dạy của Đức Phật và phương pháp hành thiền có còn
thích hợp với thời đại này nữa không? Thiền Minh
Sát và tỉnh thức có cần thiết cho những người sống
trong một xã hội tân tiến và phức tạp không?
Đến nơi, bạn sẽ lấy làm ngạc nhiên khi biết đã
có nhiều người Tây phương tìm đến đây trước bạn.
Từ năm 1965 đã có hàng trăm người Âu Mỹ như bạn
đến thăm viếng và học hỏi trong những khu rừng hoang
dã này. Một số đến học hỏi một thời gian ngắn rồi
trở về, đem những gì mình đã học hỏi áp dụng vào
đời sống hàng ngày. Một số khác đến ở lâu hơn, hoặc
xuất gia tu một vài năm đến năm bẩy năm, rồi trở
về. Một số khác nữa, nhận thấy đời sống trong rừng
phong phú và cần thiết nên quyết định ở lại luôn
cho đến bây giờ.
Mỗi nhóm đều nhận được những lời dạy trực tiếp
qua con tim và khối óc của mình và được cung ứng
một lối sống ý thức và sáng suốt.
Mới đầu phương pháp có vẻ dễ dàng và giản dị; nhưng
sau một thời gian cố gắng thực hành lối sống của
Đức Phật, họ sẽ thấy đây không phải là việc giản
dị dễ dàng. Mặc dầu ở đây đòi hỏi một sự cố gắng
không ngừng nghỉ, nhưng sau một thời gian thực hành,
họ sẽ tìm được những gì mà họ muốn tìm. Họ sẽ cảm
thấy rằng trên thế gian này không có gì quí báu
hơn việc tìm ra được Pháp bảo hay chân lý trong
chính cuộc sống của họ.
Ngay từ lúc bước chân đến chốn thiền lâm như chùa
Wat Pah Pong này, bạn sẽ thấy tinh hoa của pháp
hành nằm ở đây. Ngoài tiếng reo của lá rừng, bạn
không còn nghe được một âm thanh nào khác nữa. Những
nhà sư làm việc hay kinh hành trong yên lặng và
tỉnh thức. Thiền Viện Wat Pah Pong chiếm một diện
tích hơn trăm mẫu tây, chia làm hai khu tăng ni
riêng biệt. Những mái lều thô sơ đạm bạc dựng lên
một cách khiêm nhường trong rừng cây xanh tươi và
lối mòn yên tĩnh. Trung tâm của tu viện là một thiền
đường lớn, trai đường và chánh điện. Toàn thể cơ
sở trong rừng tạo nên một khung cảnh giản đơn, thoát
tục khiến người đến viếng có cảm tưởng như mình
đã đến nơi giải thoát.
Những nhà sư tụ tập ở những tu viện như thế này
thường nép mình trong khuôn khổ kỷ luật và tri túc
gọi là "hạnh đầu đà." Thực hành hạnh đầu
đà là truyền thống của những nhà sư sống trong rừng.
Họ tự nguyện sống khắc khổ như thời kỳ Đức Phật,
thọ trì mười ba pháp đầu đà: tiết chế trong việc
thọ nhận thức ăn, y phục, thuốc men và chỗ ở. Điều
chính yếu của pháp hành này là hạn chế tư hữu, chú
tâm vào việc hành thiền, mỗi ngày đi khất thực một
lần. Lối tu hành thanh cao này còn được giữ gìn
trong những khu rừng sâu Miến Điện, Thái Lan và
Lào. Đây là những khu đất hoang có nhiều hang động,
là chốn lý tưởng cho những người tích cực hành thiền.
Những nhà sư tu hạnh đầu đà có truyền thống là những
vị du tăng, sống đơn độc hay từng nhóm nhỏ, thường
di chuyển đây đó, không ở hẳn một chỗ nào. Nơi tạm
trú của họ là những chiếc "lều dù" đơn
sơ.
Trong cuốn sách này chúng tôi sưu tập và phiên
dịch những lời dạy về Pháp Hành của Ngài Ajahn Chah,
Tăng trưởng Thiền viện Wat Pah Pong, một trong những
thiền viện trong rừng.
Ajahn Chah và thầy của Ngài là Thiền sư Ajahn Tong
Rath và Ajahn Mun đã bỏ ra nhiều năm kinh hành và
ngồi thiền trong rừng sâu. Những lối dạy trực tiếp
và đầy hiệu năng đã được các ngài và những vị sơn
tăng khác giảng dạy không phải nhằm vào những người
muốn tìm hiểu, học hỏi Phật giáo để thỏa mãn tri
thức hay thực hành Phật giáo bằng nghi thức thờ
cúng, mà nhằm cho những ai muốn thanh lọc tâm ý
và quan kiến sai lầm của mình bằng cách thực sự
áp dụng những lời dạy của Đức Phật vào đời sống.
Những vị thiền sư nổi tiếng sống trong rừng thường
được thiện tín tìm kiếm và mời ra dạy dỗ. Để đáp
lại lòng nhiệt thành của những người ham học hỏi
đạo giải thoát, những vị thiền sư phải ngưng du
hành, trú lại một khu rừng nào đó và sau đấy những
thiền viện hành hạnh đầu đà được xây dựng. Với đà
gia tăng dân số trong vòng một thế kỷ trở lại đây,
thật khó mà tìm thấy những khu rừng dành cho các
du sĩ; do đó, những thiền viện trong rừng dành cho
các thiền sư trước cũng như hiện nay trở thành nơi
trú ngụ của các du sĩ hay của những nhà sư thích
hành thiền.
Sau một thời gian du hành đây đó để hành thiền,
Ngài Ajahn Chah trở về định cư trong một khu rừng
rậm gần nơi sinh quán của mình và thiền viện Wat
Pah Pong được xây dựng nên. Đây là một khu rừng
hoang vắng, được xem là nơi đầy rắn độc, cọp beo
và ma quỷ, nhưng là một nơi rất lý tưởng cho những
sơn tăng. Từ ngày Ngài Ajahn Chah đến trú ngụ ở
khu rừng này, nhiều thiền viện đã mọc lên quanh
đó.
Từ những chòi tranh đơn sơ trong rừng, Wat Pah
Pong đã phát triển nhanh chóng và trở thành một
trong những trung tâm thiền hoàn chỉnh ở Thái Lan.
Nhờ tài năng và tiếng tăm của Ngài Ajahn Chah, du
khách và những người mộ đạo đến với thiền viện ngày
một đông. Để đáp ứng nhu cầu tu học của mọi người,
hơn năm mươi chi nhánh đã được mở ra khắp xứ Thái
Lan do những thiền sư tu học từ thiền viện Wat Pah
Pong đảm nhiệm việc giảng dạy, kể cả một chi nhánh
gần Wat Pah Pong dành riêng cho những thiền sinh
Tây phương muốn đến học thiền với Ngài Ajahn Chah.
Trong những năm gần đây một số chi nhánh đã được
mở ra ở các nước Tây phương. Một trong những chi
nhánh nổi tiếng là một thiền lâm lớn lao, qui mô,
đó là Thiền viện Chithurst ở Anh quốc do Thiền sư
Ajahn Sumedho, một trong những học trò đầu đàn người
Tây phương của Ngày Ajahn Chah, điều hành.
Những lời giảng dạy của Ngài Ajahn Chah bao gồm
những gì gọi là "Cốt tủy của Thiền Phật Giáo",
phương pháp thực hành đơn giản và trực tiếp để an
tâm và mở mang trí tuệ, đạt đến sự sáng suốt thực
sự. Phương pháp hành thiền tỉnh thức hay minh sát
này là một lối thực tập thiền quán của Phật Giáo
được bành trướng nhanh chóng ở Tây phương. Những
lời chỉ dẫn của các vị sư hay các cư sĩ đã từng
tu học trong những thiền viện trong rừng hay tại
những trung tâm thiền tích cực, cung ứng cho chúng
ta một phương pháp phổ thông và trực tiếp để huấn
luyện thân tâm. Thiền Phật Giáo dạy cho chúng ta
làm thế nào để đối trị với tham lam, sợ hãi, lo
âu, đồng thời cũng dạy chúng ta làm thế nào để học
được kiên nhẫn, trí tuệ và vị tha. Cuốn sách này
nhằm mục đích cung ứng những lời hướng dẫn và ý
kiến cho những ai muốn thực tập thiền.
Ngài Ajahn Chah bắt đầu hành thiền từ lúc còn thơ
ấu. Ngài đã đi nhiều nơi và ẩn cư nhiều năm trong
rừng để hành thiền dưới sự hướng dẫn của những vị
sơn tăng đắc đạo. Ngài vui cười mà kể lại rằng,
lúc còn nhỏ khi chơi trò chơi với chúng bạn, Ngài
thích làm sư trong khi các trẻ khác thích chơi nhà
cửa. Ngài đóng trò ôm bình bát đi khất thực và bảo
lũ trẻ bỏ bánh kẹo cho mình. Ngài đã hành thiền
rất tích cực và kỷ luật, nhờ thế Ngài đã thành công.
Do đó Ngài đòi hỏi học trò của Ngài phải có đức
tính kiên nhẫn và chịu đựng. Lúc còn là một vị sư
trẻ, một ấn tượng sâu xa đã ảnh hưởng và hỗ trợ
rất nhiều cho việc tu học của Ngài. Đó là lúc cha
Ngài sắp mất, Ngài có dịp ngồi bên giường bệnh của
cha nhiều ngày trực tiếp đối diện với sự suy tàn
và sự chết. Ngài Ajahn Chah thường nói: "Khi
chúng ta không hiểu rõ sự chết thì đời sống thật
nhiều rối rắm và lầm lẫn."
Kinh nghiệm này là một động cơ mạnh mẽ giúp Ngài
nỗ lực hành thiền để tìm cho ra nguyên nhân sự đau
khổ của mọi người và nguồn cội của sự an lạc giải
thoát mà Đức Phật đã chỉ dạy. Thế là Ngài rũ bỏ
tất cả cho sự tìm kiếm chân lý. Ngài đã gặp rất
nhiều khó khăn và đau khổ, kể cả việc Ngài đâm ra
hoài nghi mọi chuyện và cơ thể bệnh hoạn. Nhưng
Ngài vẫn kiên nhẫn ngồi, ngồi và theo dõi, mặc dầu
có nhiều ngày Ngài chỉ có khóc mà chẳng làm được
gì cả. Ngài gọi đó là sự thách thức hay liều lĩnh
với việc hành thiền của Ngài. Cuối cùng sự đương
đầu đó đã đem lại trí tuệ, khóai hoạt tinh thần
và khả năng kỳ diệu để giúp đỡ người khác.
Ngài Ajahn Chah giảng dạy bằng hai ngôn ngữ Thái
và Lào. Những lời dạy trong cuốn sách này phản ảnh
một tinh thần vui vẻ trong việc hành thiền. Đây
là những lời dạy nhằm vào những người đã từ bỏ đời
sống thế tục theo tu trong rừng với Ngài Ajahn Chah.
Tuy thế, tinh thần giáo pháp diễn đạt ở đây có tính
cách trực tiếp và phổ thông, thích hợp cho mọi chúng
ta. Ngài nhấn mạnh đến những vấn đề căn bản của
con người: tham lam, sợ hãi, sân hận, và si mê.
Ngài nhắc đi nhắc lại là chúng ta phải luôn luôn
tỉnh thức trước những trạng thái phiền não này,
luôn luôn tỉnh thức trước những đau khổ mà chúng
ta đã gây ra trong đời sống và trong thế giới chúng
ta. Những lời dạy này là Tứ Diệu Đế, bài pháp đầu
tiên Đức Phật giảng dạy về: Khổ, nguyên nhân khổ
và con đường đi đến diệt khổ. "Phải nhìn thấy
tại sao ái dục gây ra đau khổ," đó cũng là
câu mà Ngài Ajahn Chah thường xuyên nhắc nhở. "Hãy
học hỏi nơi kinh nghiệm của chính bạn. Hãy nhìn
thấy sự thay đổi bản chất liên tục của hình sắc,
âm thanh, mùi vị, cảm giác và tư tưởng. Hãy ý thức
bản chất vô thường, bất toại nguyện và vô ngã của
đời sống. Chỉ khi nào chúng ta thấy và thừa nhận
ba đặc tính ấy, chúng ta mới có thể sống trong an
bình." Truyền thống tu thiền trong rừng thích
hợp và tác động trực tiếp trên sự hiểu biết và sự
đối kháng của chúng ta về ba chân lý trên; truyền
thống này cũng có hiệu năng trực tiếp trên nỗi sợ
hãi, sân hận và ham muốn của chúng ta. Ngài dạy
chúng ta phải đối diện với những phiền não của chúng
ta và dùng pháp từ bỏ, kiên nhẫn, tỉnh thức để chế
ngự chúng. Ngài khẩn nài chúng ta cố gắng thực hành
để đừng rơi vào chỗ buồn rầu, lo lắng; hãy tự huấn
luyện để thấy rõ ràng và trực tiếp bản chất thật
sự của tâm và của vạn hữu. Chúng ta sẽ cảm thấy
sảng khóai, thích thú trước sự trong sáng, vui vẻ
về phương pháp thực hành trực tiếp tại sơn lâm của
Ngài Ajahn Chah. Bao quanh Ngài là sự tỉnh thức
trong tinh thần tìm hiểu, vui vẻ, ngạc nhiên, hiểu
biết và bình an nội tại sâu xa. Mong rằng những
lời giới thiệu và những câu chuyện trong rừng thiền
ghi lại nơi đây phản ảnh được phần nào tinh thần
ấy và khiến bạn có cảm hứng trong việc hành thiền.
Hãy thận trọng lắng nghe Ngài Ajahn Chah và ghi
khắc vào tâm những lời dạy của Ngài, bởi vì Ngài
dạy thực hành chứ không lý thuyết, và những điều
Ngài dạy liên hệ đến hạnh phúc và tự do của con
người. Trong những năm đầu tiên khi Wat Pah Pong
bắt đầu hấp dẫn nhiều du khách đến viếng, một loạt
khẩu hiệu được gắn dọc lối đi: "Bạn đang ở
đây, đến để thăm viếng" và "Xin giữ yên
lặng, chúng tôi đang hành thiền." Một câu khác
ghi, "Thực hành Pháp và thấy rõ chân lý là
điều giá trị nhất trong đời sống. Không phải đã
đến lúc chúng ta bắt đầu sao?" Tinh thần của
câu này Ngài Ajahn Chah nói trực tiếp với chúng
ta, mời gọi chúng ta hãy giữ tâm an tịnh để khám
phá chân lý trong đời sống. Không phải đã đến lúc
chúng ta bắt đầu sao?
Quyển 1

-------------------------------------------------------------------
Đạo giản dị
Theo truyền thống, Bát Chánh Đạo nói đến tám chi
đạo như: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, v.
v. Nhưng chân Bát Chánh Đạo ở trong chúng ta là:
Hai mắt, hai tai, hai muĩ, một lưỡi và một thân.
Tám cửa này là toàn thể Đạo (Con Đường); tâm con
người đi trên con đường ấy. Biết những cửa này và
quan sát chúng thì tất cả giáo pháp sẽ hiện khởi.
Cốt tủy của Đạo rất đơn giản, chẳng cần phải giải
thích dông dài: Vất bỏ yêu ghét, thản nhiên trước
mọi chuyện xẩy ra. Đó là mục tiêu chính của việc
hành thiền.
Đừng cố gắng trở thành cái gì. Đừng nhẩy vào bất
cứ chuyện gì. Cũng đừng là một thiền sinh. Đừng
mong giác ngộ. Lúc ngồi thì hãy ngồi. Khi đi thì
hãy đi. Chẳng nắm giữ gì mà cũng không chống đối
gì cả. Dĩ nhiên có hàng chục cách Thiền Định và
nhiều phương pháp Thiền Minh Sát. Nhưng tất cả đều
trở về chỗ: Hãy để mọi sự tự nhiên. Thoát ra ngoài
chiến trường, đặt chân đến nơi an lành mát mẻ.
Tại sao không thử xem? Bạn dám không?
Trung Đạo
Đức Phật không muốn chúng ta đi con đường đôi.
Một bên là tham ái, chìm đắm, và bên kia là sợ hãi,
ghen ghét. Ngài dạy chúng ta hãy tỉnh thức trước
mọi lạc thú. Sân hận, sợ hãi, bất mãn không phải
là lối đi của thiền sinh. Đó là lối đi của người
thế tục. Người an tịnh đi trên Trung Đạo, vất tham
ái sang bên trái, và bỏ sợ hãi, ghen ghét sang bên
phải. Người nào muốn thực hành, phải theo Trung
Đạo: không nghiêng về lạc thú hay đau khổ mà chỉ
đặt chúng xuống. Nhưng dĩ nhiên, thoạt đầu hơi khó.
Chúng ta bị đá sang hai bên: lúc sang trái, lúc
sang phải như quả lắc đồng hồ.
Khi Đức Phật thuyết bài pháp đầu tiên, Ngài đề
cập đến hai thái cực, vì đó là nơi cư ngụ của tham
ái. Ái dục, hạnh phúc đá sang bên này, đau khổ và
bất toại nguyện đá sang bên kia. Cả hai luôn luôn
gây phiền lụy và đau khổ. Nhưng khi đi trên Trung
Đạo, bạn đặt cả hai xuống.
Nếu bạn theo hai thái cực này, bạn sẽ mất hết kiên
nhẫn chịu đựng và sẽ bị hất ra ngoài khi luyến ái
hay sân hận lôi cuốn bạn. Bạn còn mắc bẫy như vậy
bao lâu? Hãy xét xem: Nếu bạn thích một thứ gì đó,
bạn sẽ theo sau chúng khi yêu thích phát sinh và
dĩ nhiên nó chỉ lôi kéo bạn đi tìm sự đau khổ thôi.
Tâm luyến ái thật khôn ngoan và khéo léo. Rồi nó
sẽ kéo bạn đi đâu nữa đây?
Đức Phật dạy chúng ta hãy vất bỏ mọi thái cực.
Đó là con đường thực hành chân chính, dẫn đến nơi
thoát khỏi sanh tử. Không có khóai lạc và đau khổ
trên đường này, cũng không có thiện và ác, tốt và
xấu. Than ôi! Con người đầy ái dục, chỉ muốn tìm
khóai lạc, không chịu đi trên con đường của Đấng
Đại Giác, con đuờng dành cho người đi tìm chân lý.
Dính mắc vào hạnh phúc và đau khổ, tốt và xấu thì
không thể đi trên Trung Đạo, không thể trở thành
người trí, không thể giải thoát.
Con đường của chúng ta rất thẳng, tĩnh lặng và
chánh niệm; dù phiền muộn hay phấn khởi nẩy sinh,
nó vẫn an tịnh. Nếu tâm bạn được như thế, bạn chẳng
cần nhờ ai hướng dẫn.
Bạn sẽ thấy rằng, khi tâm không luyến ái, nó sẽ
nằm ở trạng thái bình thường. Khi nó bị khuấy động
bởi tư tưởng và cảm giác, tiến trình cấu tạo nên
tư tưởng sẽ diễn ra và ảo giác thành hình. Hãy học
cách nhìn tiến trình này. Khi tâm bị khuấy động,
không còn ở trạng thái bình thường, nó sẽ ra khỏi
sự thực hành đúng đắn để tiến đến một trong những
thái cực của đam mê và ghen ghét, từ đó nó lại càng
tạo ra nhiều ảo giác, nhiều tư tưởng hơn nữa. Nếu
bạn tiếp tục quan sát tâm, suốt đời chỉ làm vậy
thôi, tôi bảo đảm rằng bạn chẳng bao giờ buồn chán.
Chấm dứt hoài nghi
Nhiều người có trình độ đại học, có bằng cấp tốt
nghiệp và thành công trên đường đời, nhưng vẫn cảm
thấy cuộc sống của họ thiếu thốn. Dầu có tư tưởng
cao xa hay thông minh hoạt bát đến đâu đi nữa, tâm
của họ cũng chứa đầy những thứ vô dụng và hoài nghi.
Chim kên kên bay cao đấy, nhưng nó ăn những thứ
gì?
Chân lý là sự hiểu biết vượt ra ngoài tính cách
điều kiện, tổng hợp và giới hạn của khoa học thế
gian. Dĩ nhiên trí tuệ thế gian có thể dùng vào
những mục tiêu tốt đẹp. Nhưng trí tuệ của thế gian
có thể đi ngược lại với tôn giáo và giáo dục. Cái
hay cái đẹp của trí tuệ siêu thế là có thể sử dụng
kỹ thuật của trí tuệ thế gian mà không bị dính mắc
vào chúng.
Phải học phần căn bản trước. Đó là căn bản đạo
đức, giới luật, thấy được sự giả tạm của cuộc sống,
thấy được hiện tượng già và chết. Đó là nơi chúng
ta bắt đầu. Cũng như trước khi biết đi, bạn phải
biết lật, biết bò, rồi biết... lái xe, và sau đó,
có thể lái máy bay du hành quanh trái đất.
Nghiên cứu sách vở không quan trọng lắm. Dĩ nhiên
kinh điển là đúng, nhưng không diễn đạt hết chân
lý. Kinh điển chỉ là ngôn từ, chữ viết, mà ngôn
từ và chữ viết chỉ có khả năng diễn đạt giới hạn.
Chẳng hạn như danh từ "sân hận" không
thể diễn tả được trạng thái nóng nảy, giận hờn,
cũng như nghe nêu tên một người nào đó, khác với
gặp người ấy. Chỉ có kinh nghiệm của chính bạn mới
đem lại đức tin thật sự.
Có hai loại đức tin. Loại thứ nhất là tin tưởng
một cách mù quáng vào Phật, Pháp và vị thầy -- thông
thường là người đầu tiên hướng dẫn mình hành thiền
hay cho mình xuất gia. Loại thứ hai là Chánh Tín
-- đức tin chắc chắn, không lay chuyển, phát sinh
từ sự hiểu biết của chính mình. Mặc dầu vẫn còn
những phiền não khác cần vượt qua, người thấy một
cách rõ ràng sự vật bên trong chính mình, có thể
dứt được hoài nghi, đạt được đức tin trong việc
thực hành.
Bỏ hết ngôn từ sách vở, và tự mình nhận thức
Việc thực hành của tôi không đặt nặng ở học hỏi
hay nghiên cứu. Tôi lấy những lời dạy của Đức Phật
làm căn bản và bắt đầu nghiên cứu tâm mình một cách
tự nhiên. Khi thực hành, bạn hãy tự quan sát mình,
cứ thế dần dần trí tuệ và tri kiến sẽ tự phát sinh.
Nếu bạn ngồi thiền mà muốn được thế này, thế kia
thì tốt hơn nên dẹp đi đừng ngồi thiền nữa. Đừng
kỳ vọng hay mang thêm một ý tưởng gì vào việc thực
hành của bạn. Hãy xếp vào kho mọi ý niệm hay tư
kiến của mình.
Khi thực hành bạn dẹp bỏ tất cả ngôn từ, biểu tượng,
dự định, kế hoạch, v.v. Có thế bạn mới tự mình thấy
được chân lý, vì chân lý không ở đâu xa, nó khởi
sinh ngay tại đây. Tôi đã học giáo pháp qua kinh
điển trong những năm đầu tiên. Lúc ấy, khi có thì
giờ tôi thường đến nghe những học giả, những bậc
thầy thuyết giảng, cho đến khi sự học hỏi này biến
thành chướng ngại nhiều hơn là hỗ trợ, tôi mới ngưng
học. Thực ra tôi đã không biết cách nghe giáo pháp,
vì tôi không nhìn vào bên trong.
Các bậc thiền sư này đã nói đến chân lý bên trong
chính mình. Khi thực hành tôi bắt đầu hiểu rõ là
nó nằm ngay trong chính tôi. Một thời gian sau,
tôi thấy rằng các thiền sư này đã thực sự thấy rõ
chân lý, và nếu tôi đi theo con đường của các ngài,
tôi sẽ gặp những gì mà các ngài đã nói đến; và lúc
đó tôi sẽ có thể nói, "Vâng, các ngài nói đúng.
Còn gì nữa đâu?" Khi tôi kiên trì thực hành,
tôi thấy quả đúng như vậy.
Nếu bạn thích ở trong Giáo Pháp thì hãy xả bỏ,
hãy để mọi chuyện diễn biến tự nhiên theo nó. Chỉ
thuần học lý thuyết mà không thực hành thì chẳng
khác nào "bỏ hình bắt bóng." Không cần
học hỏi nghiên cứu nhiều. Nếu bạn dựa vào những
điều căn bản và thực hành theo, bạn sẽ tự mình thấy
giáo pháp.
Tâm lý học Phật Giáo
Một hôm có một nữ giảng sư về môn Siêu Hình Phật
Giáo đến thăm Ngài Ajahn Chah. Bà giảng sư này dạy
định kỳ ở Bangkok về Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) và
Tâm Lý Học Phật Giáo. Trong lúc nói chuyện với Ngài
Ajahn Chah, bà giải thích cặn kẽ tầm quan trọng
của sự hiểu biết Tâm Lý Học Phật Giáo đối với mọi
người. Bà cũng cho biết là những học sinh của bà
đã gặt hái được nhiều lợi ích khi học hỏi với bà.
Bà hỏi Ngài Ajahn Chah có đồng ý với bà về tầm quan
trọng của một kiến thức như thế không?
Ngài Ajahn Chah gật đầu đồng ý:
-- Vâng, rất quan trọng.
Hết sức hân hoan, bà hỏi tiếp là Ngài có chịu để
cho học trò của Ngài học Vi Diệu Pháp không?
-- Vâng, dĩ nhiên.
Bà lại hỏi là Ngài muốn học trò Ngài học ở đâu
và cuốn sách nào tốt nhất.
Ajahn Chah đưa tay chỉ vào quả tim mình, nói:
-- Ở đây. Chỉ chỗ này thôi.
Học hỏi và kinh nghiệm
Chúng ta hãy nói đến sự khác biệt giữa việc Nghiên
Cứu Giáo Pháp và Áp Dụng Giáo Pháp Vào Thực Hành.
Chân Giáo Pháp phải học hỏi là: Tìm một con đường
để thoát khỏi sự bất xứng ý của đời sống và đạt
được hạnh phúc, bình an cho chính mình cùng tất
cả chúng sinh.
Khi tâm an tịnh tức là nó đang ở trong điều kiện
bình thường. Khi tâm di động thì tư tưởng hình thành.
Hạnh phúc hay đau khổ là một phần của tâm hoạt động
này. Bất an và tham ái cũng được hình thành như
thế. Nếu bạn không hiểu rõ chuyển động này, bạn
sẽ săn đuổi đàng sau tư tưởng hình thành mãi, và
trở thành nạn nhân của nó.
Thế nên Đức Phật dạy chúng ta hãy quan sát hoạt
động của tâm. Theo dõi tâm di chuyển, chúng ta có
thể thấy được những đặc tính căn bản của nó. Đó
là vô thường, bất toại nguyện và vô ngã. Bạn nên
tỉnh thức và quan sát những hiện tượng tâm lý này.
Bằng cách này bạn có thể học được tiến trình của
nhân duyên. Đức Phật dạy rằng: Vô minh là nhân phát
sinh ra hành nghiệp và mọi hiện tượng. Hành nghiệp
hay sự "chủ ý" này phát sinh ra Thức và
Thức lại là nhân của Thân và Tâm. Đó là tiến trình
của Nhân duyên.
Khi bắt đầu nghiên cứu Phật Giáo, chúng ta thấy
lối dạy theo truyền thống kinh điển đem lại nhiều
lợi ích cho chúng ta. Nhưng khi tiến trình đã diễn
ra bên trong chúng ta, chúng ta mới thấy rõ tầm
quan trọng của sự thực hành. Những kẻ chỉ học pháp
học mà không thực hành không thể nào theo kịp sự
mau lẹ của tiến trình này.
Dĩ nhiên tiến trình của tâm được kinh điển hệ thống
hóa và mô tả rõ ràng, nhưng kinh nghiệm vượt ra
ngoài sách vở học hỏi. Sách vở không thể cho bạn
biết "đây" là kinh nghiệm của si mê phát
sinh, "đây" là những cảm giác phát sinh
từ tác ý, "đây" là một loại tâm đặc biệt,
"đây" là những cảm giác về sự khác biệt
của thân và tâm. Cũng như khi bạn trèo cây và bị
rơi xuống đất. Bạn không thể nào biết được là bạn
đã rơi bao nhiêu thước, bao nhiêu tấc. Bạn chỉ biết
bạn rơi xuống đất và thấy đau mà thôi. Không sách
vở nào mô tả điều này.
Sách vở nghiên cứu Giáo Pháp được hệ thống hóa
và làm cho rõ ràng, nhưng thực tế không chỉ đi theo
một lối đi đơn giản. Bởi thế, chúng ta phải dùng
trí tuệ sâu xa của chúng ta để nghiệm xem cái gì
đã khởi sinh trong tâm kẻ giác ngộ. Kẻ giác ngộ
hiểu biết qua kinh nghiệm của họ rằng tâm không
phải là Ta, của Ta, không phải là Tự Ngã của ta.
Khi nói cho chúng ta biết tên của các loại Tâm và
Tâm Sở, Đức Phật không muốn chúng ta dính mắc vào
ngôn từ. Ngài chỉ muốn chúng ta thấy tất cả đều
vô thường, khổ và vô ngã. Ngài dạy hãy buông bỏ
tất cả. Khi các pháp phát sinh ra hãy chánh niệm,
biết chúng. Tâm thực hiện được sự ghi nhận, giác
tỉnh này mới là tâm được huấn luyện đúng cách.
Khi Tâm bị khuấy động thì nhiều loại tâm, tâm sở:
tư tưởng, phản ứng, v.v., được hình thành và nẩy
nở liên tục. Chỉ để chúng thế, tốt cũng như xấu.
Đức Phật chỉ dạy đơn giản: "Vất bỏ hết."
Nhưng đối với chúng ta thì cần phải nghiên cứu tâm
mình để biết làm thế nào để có thể vất bỏ chúng.
Nếu nhìn những yếu tố của tâm, chúng ta sẽ thấy
tâm đi theo một tiến trình nhân quả tự nhiên: tâm
sở như vậy, tâm sinh và diệt như vậy, v.v. Chúng
ta có thể thấy ngay trong sự thực hành của chúng
ta: Khi chúng ta có Chánh Kiến và Chánh Niệm thì
Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng,
theo sau. Người Giác Ngộ thấy rõ từng yếu tố của
Tâm. Người Giác Ngộ chẳng khác nào một ngọn đèn.
Nếu có Chánh Kiến, tức là có sự hiểu biết đúng thì
tư tưởng và những yếu tố khác cũng đúng, chẳng khác
nào khi thắp đèn thì ánh sáng sẽ phát sinh. Nhờ
nhìn sự vật với Chánh Niệm, Chánh Kiến sẽ phát triển.
Khi quan sát cái mà ta gọi là Tâm, chúng ta chỉ
thấy sự kết hợp của các yếu tố tâm khác nhau mà
không có Tự Ngã. Vậy thì ta ở đâu? Cảm giác, ký
ức, tất cả năm uẩn của Thân và Tâm đang dời chỗ
như lá cuốn theo cơn gió... Chúng ta sẽ khám phá
ra điều này khi chúng ta hành thiền.
Thiền chẳng khác nào một khúc gỗ: Minh sát và suy
xét ở một đầu, an tịnh và định tâm ở đầu kia. Nhặt
khúc gỗ lên cả hai đầu đều lên cùng một lúc. Đầu
nào là Thiền Minh Sát (Thiền quán)? Đầu nào là Thiền
Định (Thiền chỉ)? Chỉ có tâm mà thôi!
Bạn không thể nào tách rời Định Tâm và Minh Sát.
Chúng chẳng khác nào một trái xoài, lúc còn xanh
thì chua, rồi chín thì ngọt, nhưng vẫn là trái xoài.
Cái này sinh trong cái kia. Không có cái đầu tiên
thì không có cái thứ hai. Những từ ngữ như vậy chỉ
là sự chế định để thông đạt. Chúng ta đừng dính
mắc vào danh từ. Nguồn gốc của chân trí tuệ là thấy
những gì ở bên trong chúng ta. Chỉ có loại học hỏi
này có điểm cuối và là loại học hỏi về chân giá
trị.
Sự an tịnh ở giai đoạn đầu tiên của Định Tâm phát
sinh từ sự thực hành "Nhất Tâm." Nhưng
khi sự an tịnh ra đi, chúng ta lại đau khổ, vì chúng
ta đã dính mắc vào nó. Đạt được sự định tâm không
phải là điểm cuối vì pháp hành cấu tạo và đau khổ
vẫn còn hiện hữu.
Thế nên, Đức Phật lấy sự Định Tâm, sự an tịnh này
để quán xét thêm nữa. Ngài đi tìm sự thật của vấn
đề cho đến khi không còn dính mắc vào sự an tịnh
nữa. An tịnh chỉ là một trong vô số những hình thành
của tâm, nó chỉ là một chặng trên con đường. Còn
dính mắc vào sự an tịnh tức là còn dính mắc vào
sự sinh thành và hiện hữu. Bởi vì khi an tịnh chấm
dứt, dao động lại bắt đầu khởi lên và bạn sẽ bị
dính mắc nhiều hơn nữa.
Đức Phật tiếp tục xem xét sự sinh thành và hiện
hữu để tìm ra nơi chúng phát sinh. Khi chưa tìm
ra được sự thật của vấn đề, Ngài dùng tâm mình quán
xét thêm, xem xét mọi yếu tố của tâm, tìm xem chúng
đã phát khởi như thế nào. Dầu có an tịnh hay không,
Ngài vẫn tiếp tục xem xét cho đến khi Ngài hiểu
rõ rằng: tất cả những gì Ngài thấy, tất cả năm uẩn
của Thân và Tâm, giống như một thỏi sắt nóng đỏ.
Khi thỏi sắt còn đang nóng đỏ, bạn có thể tìm được
điểm nguội nào trên đó để sờ tay vào chăng? Năm
uẩn cũng như vậy -- nắm chỗ nào cũng bị phỏng cả.
Bởi thế, không nên dính mắc, dù đó là sự an tịnh
hay định tâm đi nữa. Không nên nói rằng sự bình
an tĩnh lặng là "Tôi" hay "Của Tôi".
Nghĩ rằng "Tôi" hay "Của Tôi"
sẽ phát sinh ảo tưởng đau thương về Tự Ngã -- thế
giới của Tham Ái và Si Mê, tức là một miếng sắt
nóng đỏ khác. Trong lúc thực hành chúng ta thường
có khuynh hướng nắm giữ (chấp thủ), coi những kinh
nghiệm đạt được là "Tôi" hay "Của
Tôi." Và bạn nghĩ "Tôi an tịnh" hay
"Tôi dao động", "Tôi tốt" hay
"Tôi xấu", "Tôi hạnh phúc" hay
"Tôi đau khổ". Sự dính mắc này là nguyên
nhân của "Sinh thành" và "Hiện hữu".
Khi hạnh phúc chấm dứt, đau khổ xuất hiện. Khi đau
khổ chấm dứt, hạnh phúc xuất hiện. Bạn sẽ thấy chính
mình không ngừng phân vân giữa thiên đàng và địa
ngục. Đức Phật thấy rõ điều kiện của Tâm là vậy,
và Ngài hiểu đó là nguyên nhân sinh thành và hiện
hữu. Tâm ở trong điều kiện đó nên sự giải thoát
không hoàn thành được. Ngài bèn lấy những kinh nghiệm
đó và quán xét chân tướng của chúng: Do có nắm giữ
(chấp thủ) nên có Sanh và Tử. Trở nên hân hoan là
sanh; trở nên thóai chí là tử. Có chết nên có sống.
Sinh và Tử từ thời điểm này đến thời điểm kia, kế
tục nhau không dứt, như một guồng bánh xe kéo chỉ
quay không ngừng.
Đức Phật thấy rõ cái gì do tâm sinh ra cũng đều
tạm bợ, là những hiện tượng có nhân duyên, thực
sự trống rỗng. Khi ánh sáng trí tuệ này phát sinh,
Ngài xả bỏ tất cả, không nắm giữ gì nữa và chấm
dứt đau khổ. Bạn cũng vậy, phải hiểu những vấn đề
này đúng theo chân lý. Khi hiểu rõ sự vật đúng theo
chân tướng của nó, bạn sẽ thấy rằng những yếu tố
tạo thành tâm thường đánh lừa bạn. Tâm chẳng có
gì cả, không sinh ra cũng không chết đi. Nó tự do,
chiếu sáng, chói lọi, rực rỡ, và không gì làm bận
rộn nó cả. Tâm trở thành bận rộn chỉ vì nó hiểu
sai và bị mê mờ bởi những hiện tượng có điều kiện
này -- đó là ý tưởng sai lầm về Tự Ngã. Thế nên,
Đức Phật muốn chúng ta nhìn vào tâm mình xem thử
lúc đầu có cái gì. Thật ra chẳng có gì cả. Sự trống
rỗng này không sinh và diệt theo hiện tượng. Khi
chứa đựng điều tốt, nó không trở nên tốt. Khi tiếp
xúc việc xấu nó cũng không trở nên xấu. Tâm trong
sạch biết những đối tượng này một cách rõ ràng--biết
rằng chúng không có bản chất.
Khi tâm của thiền sinh an trụ như vậy, sẽ không
có hoài nghi nữa: Có trở thành không? Có sinh không?
Khỏi cần hỏi ai! Quan sát những yếu tố của Tâm,
Đức Phật để chúng tự nhiên và trở thành người tỉnh
thức trước chúng. Ngài chỉ nhìn với tâm xả. Những
điều kiện dẫn đến Sinh không còn hiện hữu ở Ngài.
Với trí tuệ hoàn toàn của Ngài, Ngài gọi chúng là
Vô thường, Khổ và Vô ngã. Bởi thế nên Ngài trở thành
người hiểu biết chắc chắn. Người hiểu biết chắc
chắn hay giác ngộ thấy sự vật theo chân lý, không
hạnh phúc hay đau khổ theo những đổi thay của điều
kiện. Đó là chân bình an, vô sinh, vô lão, vô bệnh,
vô tử, không tùy thuộc vào nhân quả hay điều kiện,
vượt ra ngoài hạnh phúc và khổ đau, thiện và ác.
Không còn cái gì để nói đến, không còn điều kiện
nào để cải thiện nữa.
Do đó, hãy phát triển tâm định, an tịnh và minh
sát, hãy học cách làm cho nó khởi dậy trong tâm
bạn và thật sự dùng nó. Nếu không, bạn chỉ biết
Phật giáo qua ngôn ngữ, danh từ. Mặc dầu khi hiểu
rành pháp học, bạn có thể đi khắp nơi giảng giải
cho mọi người biết giáo pháp, những đặc tính của
cuộc đời; bạn có thể thông thái, hoạt bát, nhưng
khi sự vật hiện khởi trong tâm, bạn có theo được
chúng không? Khi tiếp xúc với vật ưa thích, bạn
có tức khắc dính mắc vào nó không? Khi gặp chuyện
bực mình, người giác ngộ có giữ sự bực mình trong
tâm hay họ để nó ra đi? Nếu bạn thấy những điều
bạn không thích mà vẫn nắm giữ hay kết án nó thì
bạn nên suy tư như sau: Như vậy không đúng đâu,
không cao thượng đâu. Nếu bạn quan sát tâm như vậy,
bạn sẽ thật sự hiểu chính mình.
Tôi không dùng từ ngữ trong kinh điển để thực hành.
Tôi chỉ nhìn vào kẻ giác ngộ. Nếu tôi ghét người
nào, tôi hỏi tại sao? Nếu tôi không thương một người
nào, tôi hỏi tại sao? Những gì khởi sinh hãy dò
đến tận cội nguồn của nó thì bạn có thể giải quyết
được vấn đề yêu ghét và khiến chúng để bạn ở yên
một mình. Tất cả đều trở về và khởi sinh trong kẻ
giác ngộ. Nhưng không phải chỉ nghe suông là đủ
đâu, phải liên tục và quyết liệt thực hành mới được.
Gà hay trứng?
Giáo pháp dạy chúng ta hãy buông bỏ, nhưng thoạt
đầu chúng ta tự nhiên bị dính mắc vào phần lý thuyết
của giáo pháp. Người trí biết sử dụng lý thuyết
làm công cụ để khám phá phần tinh hoa của cuộc sống.
Suốt thời gian viếng thăm Anh quốc lần đầu tiên,
Ngài Ajahn Chah đã đến giảng dạy cho nhiều nhóm
Phật tử. Một buổi tối nọ, sau phần thuyết giảng,
Ngài nhận được một câu hỏi từ một mệnh phụ. Bà là
người đã nhiều năm nghiên cứu sự phức tạp của tâm
theo Vi Diệu Pháp. Bà hỏi ý Ngài có thuận giải thích
cho bà một vài điểm khó khăn trong môn học này để
bà có thể tiếp tục nghiên cứu một cách dễ dàng hơn
không.
Thấy bà bị dính mắc vào sự hiểu biết lý thuyết
và ngôn từ chế định mà không nhận ra được lợi ích
của sự thực hành nơi chính tâm mình, nên Ngài Ajahn
Chah trả lời bà một cách trực tiếp và mạnh bạo:
-- Bà chẳng khác nào người nuôi gà trong sân, thay
vì nhặt trứng bà lại đi quanh sân để nhặt phân gà.
Những tên trộm trong tâm bạn
Mục đích của thiền là nắm sự vật lên và đưa vào
phòng thử nghiệm để rõ thực chất của chúng. Chẳng
hạn, khi nhìn hình dáng của một vật, ta thấy nó
xinh đẹp, trong khi đó Đức Phật dạy chúng ta: nó
là bất tịnh, vô thường, và chất chứa đau khổ. Vậy
quan niệm nào đúng theo chân lý?
Chúng ta như du khách đến viếng một xứ lạ. Không
hiểu ngôn ngữ bản xứ nên chúng ta chẳng thấy thú
vị. Nhưng một khi đã học nói, học nghe ta có thể
cười và nói đùa với người bản xứ.
Quan điểm thông thường cho rằng những yếu tố của
đời sống chúng ta, bắt đầu từ cơ thể, là ổn cố.
Một đứa bé chơi bong bóng. Quả bóng vướng phải gai
hay một vật nhọn, nổ tung; cậu bé khóc lóc tiếc
nuối. Một cậu bé khác, khôn ngoan hơn, biết rằng
bong bóng rất dễ vỡ nên không buồn rầu khi bong
bóng vỡ. Con người đi vào cuộc sống như kẻ mù. Họ
quên cái chết như người tham ăn, ngốn vào bụng thật
nhiều thức ăn khóai khẩu mà chẳng nghĩ rằng mình
phải bài tiết. Đến khi đau bụng, vì không dự liệu
trước, nên chẳng biết phải chạy đi đâu.
Thế gian đầy hiểm nguy, hiểm nguy từ những yếu
tố của cuộc sống, hiểm nguy từ những tên trộm. Trong
chùa chiền cũng có những mối hiểm nguy như vậy.
Đức Phật dạy chúng ta truy tầm những mối hiểm nguy
này và đặt tên "Bhikkhu" cho người xuất
gia. Bhikkhu có hai nghĩa: người đi xin, và người
thấy được hiểm nguy tham ái trong luân hồi. Chúng
sanh đầy tham lam, sân hận, si mê. Bị ba loại phiền
não này chế ngự nên họ phải nhận lấy quả, gia tăng
thói xấu, tạo thêm nghiệp, và lại bị ngã quỵ trước
phiền não.
Tại sao không thể loại bỏ tham, sân, si ? Nếu bạn
có tư tưởng xấu, bạn sẽ đau khổ. Nếu bạn có sự hiểu
biết đúng, bạn có thể chấm dứt đau khổ.
Phải biết hiệu lực và sự tác động của nghiệp, của
nhân và quả. Dính mắc vào khóai lạc sẽ nhận lấy
quả khổ. Ăn quá độ thức ăn ngon thì dạ dày và ruột
sẽ phản ứng và bạn sẽ nhận lấy hậu quả sau đó. Bạn
vui mừng khi lấy trộm của ai vật gì; nhưng sau đó
cảnh sát sẽ còng tay bạn. Khi quan sát theo dõi,
bạn sẽ biết cách hành động, sẽ biết cách chấm dứt
sự nắm giữ và phiền muộn. Đức Phật thấy được điều
này nên cương quyết thoát khỏi mọi hiểm nguy thực
sự của thế gian.
Muốn thoát khỏi mối nguy hiểm của thế gian này,
phải chế ngự những mối hiểm nguy bên trong chúng
ta. Hiểm nguy bên ngoài không đáng sợ bằng hiểm
nguy bên trong. Những hiểm nguy bên trong gồm: Gió,
Lửa, Nước, và Những Tên Trộm.
Gió: Gió đến từ giác quan của chúng ta, thúc ép
tham lam, sân hận và si mê khởi dậy, hủy diệt phần
bên trong tốt đẹp của chúng ta. Thông thường chúng
ta chỉ thấy gió khi gió thổi lá cây, không thấy
được gió của giác quan. Gió giác quan này nếu không
được theo dõi sẽ gây ra bão tố tham muốn.
Lửa: Chùa chúng ta có thể chẳng bao giờ bị hỏa
hoạn. Nhưng tham lam, sân hận, si mê đốt cháy chúng
ta luôn khi. Tham ái và sân hận khiến chúng ta có
ngôn ngữ sai lầm. Si mê khiến chúng ta thấy thiện
ra ác, ác ra thiện, xấu thành tốt, không có giá
trị thành có giá trị. Những người không hành thiền
thì không thấy được nên bị lửa đốt cháy.
Nước: Mối hiểm nguy ở đây là lũ lụt phiền não trong
tâm chúng ta, nhận chìm bản tính thực sự của chúng
ta.
Trộm: Những tên trộm chính tông không ở ngoài chúng
ta. Chùa chúng ta trong vòng hai mươi năm nay chỉ
bị trộm một lần. Nhưng năm nhóm đạo chích của tham
ái, ngũ uẩn, đã luôn luôn trộm cắp, đánh đập ta,
hành hạ ta đủ điều.
Năm uẩn này gồm: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức.
1. Sắc: (hay Thân) là mồi của bệnh hoạn và đau
nhức. Khi nó không hợp với ý muốn của chúng ta,
chúng ta sẽ sân hận và phiền muộn. Không hiểu được
bản chất già và bản chất suy tàn của cơ thể nên
chúng ta bị đau khổ. Chúng ta cảm thấy bị lôi cuốn
bởi cơ thể kẻ khác hay có ác cảm với cơ thể của
họ là ta đã bị cướp mất sự an lạc thật sự.
2. Thọ: (hay Cảm giác) Khi đau nhức hay thích thú
phát sinh, chúng ta quên rằng chúng là vô thường,
khổ và vô ngã. Chúng ta đồng hóa mình với những
xúc động của mình và như vậy là chúng ta bị hành
hạ bởi sự hiểu biết sai lầm của chúng ta.
3. Tưởng: (hay Trí nhớ, tri giác) Đồng hóa mình
với những gì mình ý thức và nhớ tưởng đến chuyện
đã qua khiến tham, sân, si phát sinh. Sự hiểu biết
sai lầm của chúng ta trở thành thói quen chất chứa
tiềm thức chúng ta.
4. Hành: (tác ý, chú ý và những yếu tố khác của
tâm) Không hiểu rõ bản chất của các trạng thái tâm
(tâm, sở), chúng ta phản ứng, suy nghĩ và cảm giác,
yêu ghét, hạnh phúc và phiền muộn phát sinh. Quên
rằng chúng là vô thường, khổ và vô ngã nên chúng
ta mắc vào chúng.
5. Thức: Chúng ta chấp giữ các hiểu biết về bốn
uẩn kia. Chúng ta nghĩ rằng: "Tôi biết, tôi
là, tôi cảm thấy" và bị giới hạn bởi ảo tưởng
về tự ngã, về sự phân ly giữa năm uẩn cho rằng Thức
chính là Tự Ngã.
Tất cả những tên trộm ấy -- sự hiểu biết sai lầm
-- đưa ta đến hành động sai lầm. Đức Phật không
có ham muốn điều này. Ngài thấy không thể tìm được
chân hạnh phúc ở đây. Thế nên Ngài đã ban danh từ
"Bhikkhu" cho những ai thấy được mối hiểm
nguy và tìm đường tránh thoát.
Đức Phật dạy chư tăng bản chất của năm uẩn và cách
buông bỏ chúng. Không dính mắc vào chúng, không
xem chúng là ta hay của ta. Khi hiểu bản chất của
chúng, chúng ta sẽ thấy chúng có tiềm năng làm hại
lớn lao, có giá trị lớn lao. Chúng không biến mất,
nhưng chúng ta không còn nắm giữ chúng như của riêng
của mình nữa. Sau khi thành đạo, Đức Phật vẫn còn
có thân, bệnh, có cảm giác đau khổ hay khóai lạc,
có trí nhớ, có suy nghĩ, có tâm. Nhưng Ngài không
dính mắc vào chúng, không xem chúng là tự ngã, là
ta, là của ta. Ngài biết, Ngài hiểu chúng theo đúng
bản chất của chúng. Cái hiểu biết đó cũng không
phải là ta, là tự ngã.
Tách rời ngũ uẩn khỏi phiền não và tham ái chẳng
khác nào phát quang những buị cây nhỏ trong rừng
mà không làm hại đến cây lớn. Chỉ có sự sinh và
diệt tồn tại, phiền não không còn chỗ đứng. Chúng
ta sinh ra và chết đi với ngũ uẩn. Ngũ uẩn đến và
đi theo bản chất tự nhiên của chúng.
Khi có ai nguyền rủa ta, và nếu ta không có cảm
giác về tự ngã, thì chuyện xẩy ra chấm dứt theo
với lời nói và ta không đau khổ. Nếu cảm giác không
vừa lòng phát sinh, hãy chấm dứt chúng ngay tại
chỗ và hiểu rằng cảm giác không phải là chúng ta.
"Nó hại tôi, nó quấy rầy tôi, nó là kẻ thù
của tôi," một vị tỳ khưu không nghĩ như thế.
Vị tỳ khưu cũng không nắm giữ sự kiêu căng hay ngã
mạn. Nếu chúng ta không đứng trong tầm đạn, chúng
ta sẽ không bị bắn. Nếu thư không có người nhận
thì sẽ được trả lại người gởi. Thong thả đi vào
cuộc đời không bị dính mắc vào việc đánh giá các
việc xẩy ra, thầy tỳ khưu an nhiên tự tại. Đó là
con đường Niết Bàn, trống rỗng và giải thoát.
Theo dõi năm uẩn và làm sạch khu rừng, bạn sẽ là
một người khác hẳn trước đây. Rất ít người hiểu
được sự trống rỗng và thực hành theo, nhưng ai làm
được điều này sẽ có niềm vui lớn lao. Tại sao không
thử xem? Bạn có thể trừ khử những tên trộm trong
tâm và xếp đặt mọi chuyện hoàn hảo mà!
Chánh kiến
Người phát triển chánh kiến bằng cách nhìn mọi
vật dưới ánh sáng vô thường, khổ và vô ngã, sẽ chấm
dứt được luyến ái và mê lầm. Không luyến ái không
có nghĩa là ghét bỏ. Ghét bỏ thứ gì mà bạn đã có
và ưa thích trước đây thì chỉ là sự ghét bỏ tạm
thời, vì sự luyến ái sẽ trở về với bạn.
Không phải chúng ta đi tìm một cuộc sống khóai
lạc, nhưng đi tìm sự bình an. Bình an nằm ngay trong
chúng ta, được tìm thấy cùng chỗ với dao động và
đau khổ. Không thể tìm thấy bình an trong rừng sâu
hay trên đồi cao. Bình an cũng không thể được ban
phát bởi một vị thầy quyền uy tối thượng. Chỗ bạn
bị đau khổ, bạn có thể tìm ra con đường để thoát
khỏi khổ đau. Cố gắng trốn chạy đau khổ, thấy nguyên
nhân của nó và chấm dứt nó ngay bây giờ tốt hơn
là chỉ đương đầu với kết quả của nó.
Bỏ đói phiền não
Những người mới bắt đầu hành thiền thường phân
vân không biết hành thiền là gì. Hành thiền là cố
gắng đối diện với phiền não, không nuôi dưỡng thói
quen cũ. Nơi nào bất hòa và khó khăn, nơi đó là
chỗ để hành thiền.
Khi hái nấm về ăn, không phải đụng thứ nấm nào
bạn cũng hái. Phải hiểu loại nào ăn được, loại nào
là nấm độc. Việc hành thiền cũng vậy, chúng ta phải
biết mối nguy hiểm phải đương đầu khi hành thiền
là phiền não. Phiền não chẳng khác nào rắn độc,
phải biết nó để tránh nó.
Phiền não -- tham, sân, si -- nằm ở gốc rễ của
sự đau khổ và tâm ích kỷ. Chúng ta phải học cách
chế ngự chúng, chiến thắng và thoát khỏi sự kiểm
soát và điều khiển của chúng, để làm chủ tâm mình.
Dĩ nhiên cuộc chiến đấu này thật khó khăn. Khó khăn
như phải xa rời người bạn thân đã sống với nhau
từ thời thơ ấu.
Phiền não chẳng khác nào một con mèo. Nếu cho nó
ăn, nó sẽ quanh quẩn bên ta. Đừng cho nó ăn, nó
sẽ không quấy rầy nữa.
Lúc mới bắt đầu hành thiền không thể nào tránh
khỏi nóng nực và buồn chán. Nhưng hãy nhớ rằng chỉ
có phiền não nóng. Nhiều người nghĩ: "Tôi chưa
bao giờ gặp phải sự khó khăn như vầy trước đây.
Chắc có cái gì xẩy ra đây?" Chuyện này chẳng
có gì lạ, vì trước đây khi nuôi dưỡng phiền não,
bạn đã đối xử nhẹ nhàng với chúng, vuốt ve, nuông
chiều chúng. Như người bị thương bên trong mà chỉ
đắp thuốc bên ngoài nên chẳng có cảm giác gì. Bây
giờ mổ ra để trị tận gốc thì chắc chắn không tránh
khỏi đau đớn.
Muốn đề kháng lại phiền não thì bạn đừng cho chúng
ăn, ngủ theo ý muốn của chúng. Nhiều người cho làm
như thế là tự hành hạ mình thái quá. Nhưng đó là
điều cần thiết để có sức mạnh bên trong. Bạn phải
tự mình ý thức về mình. Luôn luôn theo dõi tâm,
bạn có thể nghĩ rằng bạn chỉ nhìn vào kết quả mà
không biết đến nguyên nhân. Giả sử cha mẹ có một
đứa con, lớn lên nó không biết kính trọng cha mẹ.
Cha mẹ rất đau buồn và tự hỏi, "Không biết
thằng này từ đâu đến đây?" Thực ra, đau khổ
của chúng ta đến từ sự hiểu biết sai lầm, từ sự
dính mắc vào những hoạt động của tâm. Chúng ta phải
huấn luyện tâm như huấn luyện một con trâu. Trâu
là tư tưởng của chúng ta, và người chăn trâu là
thiền sinh. Nuôi trâu và huấn luyện trâu là hành
thiền. Với một con trâu được huấn luyện thuần thục,
chúng ta có thể thấy chân lý, chúng ta có thể hiểu
nguyên nhân của "tự ngã" của chúng ta
và chỗ chấm dứt của nó, chỗ chấm dứt mọi sầu muộn.
Nó không phức tạp đâu!
Mọi người đều có phiền não trong lúc hành thiền.
Chúng ta phải hiểu chúng. Chiến đấu với chúng khi
chúng hiện khởi. Đây không phải là chuyện suy nghĩ
mà là chuyện thực hành. Cần phải có nhiều kiên nhẫn.
Dần dần chúng ta sẽ thay đổi lối suy nghĩ và cảm
giác theo thói quen của chúng ta. Chúng ta sẽ thấy
biết bao đau khổ sinh ra khi chúng ta nghĩ đến danh
từ Ta và Của Ta. Lúc ấy chúng ta sẽ không còn chấp
nữa.
Hạnh phúc và Đau khổ
Một thanh niên Tây phương vừa mới đến một trong
những tu viện trong rừng của Ngài Ajahn Chah xin
ở lại hành thiền.
Câu trả lời đầu tiên của Ngài là:
-- Tôi hy vọng anh không sợ đau khổ.
Hơi bất ngờ và sửng sốt một chút trước câu nói,
chàng thanh niên giải thích rằng anh ta không phải
đến đây để đau khổ mà muốn đến đây để học thiền
và sống trong yên tĩnh trong rừng.
Ajahn Chah giải thích:
-- Có hai loại đau khổ: đau khổ dẫn đến đau khổ
hơn, và đau khổ dẫn đến chấm dứt đau khổ. Nếu anh
không muốn gặp loại đau khổ thứ hai thì anh chắc
chắn sẽ gặp loại đau khổ đầu tiên.
Lối dạy của Ajahn Chah thường thẳng thắn và trực
tiếp. Khi gặp các vị sư học trò của Ngài trong khuôn
viên thiền viện, Ngài thường hỏi, "Hôm nay
sư có đau khổ nhiều không?" Nếu có vị sư nào
trả lời "Có," Ngài sẽ nói, "Tốt lắm,
sư phải mừng và mong muốn được như ngày hôm nay"
và Ngài cười với nhà sư về chuyện này.
Bạn đã từng có hạnh phúc chưa? Bạn đã từng gặp
đau khổ chưa? Bạn có từng xét xem hai loại trên,
loại nào thực sự có giá trị hơn chưa? Nếu đúng là
hạnh phúc thì nó sẽ không bao giờ mất. Có thể như
vậy được không? Bạn phải nghiên cứu điểm này để
thấy sự chân xác và thực tế. Sự nghiên cứu này,
sự hành thiền này dẫn đến Chánh Kiến.
Tâm phân biệt
Nghĩa rốt ráo của Chánh Kiến là không phân biệt.
Thấy mọi người như nhau, không tốt cũng không xấu,
không thông minh cũng không ngu dốt. Đừng nghĩ rằng
mật ong ngọt và tốt, còn một số thực phẩm khác thì
đắng và xấu. Mặc dầu bạn có thể ăn nhiều loại thực
phẩm khác nhau, nhưng khi cơ thể hấp thụ và bài
tiết ra ngoài chúng đều giống nhau. Một cái ly được
xem là lớn khi so sánh với một cái chén nhỏ. Nhưng
khi đặt cạnh cái bình thì ly không còn lớn nữa.
Tâm phân biệt phát xuất từ tham muốn và si mê,
nó nhuộm màu mọi vật bằng lối này. Đó là thế giới
do chính chúng ta tạo ra. Như vậy cái ly vốn không
lớn không nhỏ. Cảm thấy lớn hay nhỏ do tâm phân
biệt của chúng ta. Chúng ta dùng tham ái và si mê
để so sánh với cái khác nên có sự phân biệt lớn
nhỏ.
Luôn luôn có sự bất đồng trên thế giới này. Xem
xét sự bất đồng của chúng, đồng thời tìm hiểu luôn
sự tương đồng nữa. Những người đến đây khác biệt
nhau về văn hóa và ngôn ngữ. Nhưng đừng nghĩ rằng:
"Đây là người Thái, đây là người Lào, đây là
người Tây phương." Hãy có sự hiểu biết hỗ tương
và tôn trọng lối sống của nhau. Học thấy những điểm
tương đồng bên trong mọi vật, tất cả đều thật sự
tương đồng, đều trống rỗng. Khi đã học được, biết
được sự tương đồng bên trong mọi vật, lúc bấy giờ
bạn sẽ biết cách cư xử và đối diện với những bất
đồng bên ngoài một cách khôn ngoan và hiểu biết.
Nhưng cũng đừng dính mắc với sự tương đồng nữa.
Tại sao đường thì ngọt mà nước lã thì chẳng có
vị gì cả? Bởi vì bản chất của chúng là vậy. Suy
nghĩ hay tĩnh lặng, đau khổ hay khoái lạc cũng thế
-- muốn đừng suy nghĩ nữa là một chuyện sai lầm.
Đôi lúc suy nghĩ, đôi lúc yên tịnh. Chúng ta phải
thấy cả hai đều có cùng bản chất vô thường, bất
toại nguyện và đều không đem lại hạnh phúc vĩnh
cửu. Nhưng nếu chúng ta băn khoăn lo lắng và suy
nghĩ xa hơn: "Tôi đau khổ, tôi muốn không suy
nghĩ," thì chúng ta đã làm mọi chuyện trở nên
phức tạp bởi quan kiến sai lầm của mình.
Vào lúc chúng ta cảm thấy suy nghĩ là đau khổ,
chẳng khác nào chúng ta đang bị cướp. Chúng ta phải
làm thế nào để chấm dứt sự suy nghĩ đây? Ban ngày,
trời sáng. Ban đêm, trời tối. Phải chăng đau khổ
nằm trong sự sáng hay tối này? Chỉ khi chúng ta
so sánh sự vật hiện tại với những gì mà ta đã gặp
trước đây, hoặc chúng ta mong mỏi chúng xẩy ra trong
chiều hướng mà chúng ta mong đợi, chúng ta mới đau
khổ. Một cách rốt ráo thì sự vật là như vậy, như
vậy -- chỉ vì chúng ta so sánh nên mới nhận lấy
đau khổ.
Khi thấy Tâm làm việc, bạn có xem nó là chính bạn
hay là cái của bạn không? Bạn sẽ trả lời: "Tôi
không biết nó có phải là tôi hay của tôi không,
nhưng chắc chắn là tôi không kiểm soát được nó."
Nó như một con khỉ nhẩy nhót vô ý thức. Nó chạy
lên lầu, thấy chán nó lại chạy xuống lầu; mệt mỏi,
đi xem chớp bóng, lại chán nữa; đi ăn, cũng chán
nữa. Những hành động này được điều khiển bởi những
hình thức khác nhau của chán ghét và sợ hãi.
Bạn phải học cách kiểm soát. Đừng lo cho con khỉ
nữa mà hãy lo cho chân lý của cuộc sống. Hãy nhìn
bản chất thật sự của tâm: vô thường, bất toại nguyện
và trống rỗng. Phải học cách làm chủ nó. Nếu cần
thì xích nó lại. Hãy để nó tự làm mệt nhoài rồi
chết. Thế rồi, bạn có con khỉ chết. Hãy để cho xác
khỉ chết thối rữa ra, bạn sẽ có xương khỉ.
Giác ngộ không có nghĩa là chết và bất động như
một pho tượng Phật. Người giác ngộ cũng suy nghĩ,
nhưng biết tiến trình suy nghĩ đó là vô thường,
bất toại nguyện, và không có tự ngã. Người hành
thiền sẽ thấy những điều này một cách rõ ràng. Chúng
ta cần phải truy tầm đau khổ và chận đứng nguyên
nhân gây ra khổ đau. Nếu không thấy được điều đó
thì trí tuệ sẽ không bao giờ nẩy sinh. Không nên
đoán mò mà phải thấy sự vật một cách rõ ràng và
chính xác, đúng theo thực tướng của nó -- cảm giác
chỉ là cảm giác; suy nghĩ chỉ là suy nghĩ. Đó là
cách thức chấm dứt mọi vấn đề của chúng ta.
Chúng ta có thể xem tâm như một đóa sen. Một số
sen vẫn còn nằm trong bùn; một số vượt ra khỏi bùn
nhưng vẫn còn ở dưới mặt nước; một số khác đã vươn
đến mặt nước; và một số khác nữa đã nở rộ và toả
hương thơm dưới ánh nắng mặt trời. Bạn muốn mình
là loại hoa nào đây? Nếu bạn thấy mình còn nằm dưới
mặt nước thì phải coi chừng lũ cá và bày rùa!
Theo thầy
Muốn hành thiền tiến bộ, bạn phải có một vị thầy
để dạy dỗ và hướng dẫn bạn. Có nhiều hiểu biết sai
lầm về sự tập trung tâm ý, nhiều hiện tượng bất
thường sẽ xẩy ra trong lúc bạn hành thiền. Lúc chúng
xẩy ra, vị thầy sẽ kịp thời hướng dẫn và đặc biệt
điều chỉnh những sai lầm của bạn. Những điểm thầy
sửa chữa thường là những điểm mà bạn đinh ninh là
mình đúng. Trong những tư tưởng phức tạp của bạn,
một quan điểm phát sinh có thể đối nghịch với những
quan điểm khác làm bạn bối rối. Kính trọng thầy
và tuân theo những qui định và hệ thống mà thầy
đã đưa ra. Thầy dạy làm gì phải làm theo. Thầy khuyên
không nên làm điều gì phải nghe theo lời thầy. Những
lời thầy dạy thường giúp bạn tinh tấn khiến tri
kiến phát khởi trong tâm bạn. Nếu bạn làm đúng theo
lời khuyên của tôi, bạn sẽ thấy và hiểu rõ.
Vị chân sư thường chỉ dạy những cách hành thiền
khó khăn đòi hỏi nhiều nỗ lực của bạn để loại bỏ
tự ngã. Dầu có gì xẩy ra cũng đừng bỏ thầy. Hãy
để thầy hướng dẫn vì bạn rất dễ quên đường thực
hành.
Than ôi, rất ít người nghiên cứu Phật giáo thật
sự muốn hành thiền. Tôi khẩn khoản khuyên họ hành
thiền, nhưng họ chỉ có thể học hỏi nghiên cứu theo
lối thuần lý mà thôi.
Cái gì còn mới thì đều tốt đẹp
Ngài Ajahn Chah đến thăm một trung tâm thiền ở
Hoa kỳ. Các thiền sinh ở đây rất hân hoan thích
thú trước những lời dạy của Ngài.
Ngài dùng lời lẽ rõ ràng, trực tiếp, dí dỏm và
đầy tình thương khi đề cập đến sự luyến ái và nỗi
sợ hãi của con người.
Còn gì sung sướng và thích thú hơn khi được một
vị thiền sư tài ba và nổi tiếng như Ngài Ajahn Chah
đến thăm.
Được thưởng thức những câu chuyện ý nhị, được nhìn
những nhà sư với chiếc y vàng khiêm nhường, được
nghe giáo pháp qua lối diễn đạt mới mẻ nên các thiền
sinh rất thích thú yêu cầu Ngài:
-- Xin Ngài hãy ở lại đây thêm một thời gian, đừng
về sớm như chương trình đã định. Chúng tôi rất sung
sướng được học hỏi với Ngài.
Ngài cười nói:
-- Cái gì mới thì đều tốt đẹp. Nhưng nếu tôi ở
đây dạy các bạn và bắt các bạn thực hành, các bạn
sẽ mệt mỏi vì chán tôi. Phải vậy không? Việc thực
hành của các bạn sẽ ra sao khi niềm hân hoan phấn
khởi tan biến? Chẳng bao lâu các bạn sẽ ngấy tôi
thôi. Làm thế nào để tâm bất an và tâm mong mỏi
này chấm dứt? Ai có thể dạy bạn điều này? Bạn chỉ
có thể học từ nơi Chân Pháp mà thôi.
Hãy để cho cây mọc tự nhiên
Đức Phật dạy rằng sự vật diễn biến theo đường lối
riêng của nó. Một khi bạn đã làm điều gì, bạn chẳng
cần phải nhọc công theo dõi kết quả của nó, hãy
phó mặc cho thiên nhiên, để cho nghiệp lực tự vận
hành và tích lũy. Nỗ lực tinh tấn không ngừng, đó
là việc của bạn. Còn chuyện trí tuệ đến nhanh hay
chậm chẳng cần để ý làm gì. Bạn không thể thúc ép
nó được. Chẳng khác nào khi trồng cây bạn không
thể thúc ép cây mọc nhanh hơn. Cây có bước tiến
của nó. Nhiệm vụ của bạn là đào lỗ, trồng cây, tưới
nước, bón phân, trừ sâu, v. v. Nhưng cây mọc thế
nào là chuyện của cây. Việc hành thiền của bạn cũng
vậy. Bạn hãy vững tin là mọi chuyện sẽ tốt đẹp:
cây của bạn sẽ mọc tốt.
Thế nên bạn phải biết việc làm của bạn khác với
việc làm của cây. Hãy để cho cây lo cho cây và bạn
làm bổn phận của bạn. Nếu tâm không biết làm việc
gì nó cần phải làm thì nó sẽ thúc ép cây mọc nhanh,
đơm hoa kết trái trong vòng một ngày. Đó là quan
kiến sai lầm, nguyên nhân của đau khổ. Cứ hành thiền
đúng và để phần còn lại cho nghiệp lực của bạn.
Và, dầu cho nó có trải qua một đời, trăm đời hay
ngàn đời đi nữa cũng chẳng ăn nhằm gì, việc hành
thiền của bạn sẽ gặt hái kết quả tốt đẹp.
Tại sao phải hành thiền?
Một nhóm người hành hương đến thăm Ngài Ajahn Chah,
hỏi Ngài ba câu hỏi lớn:
1. Tại sao Ngài hành thiền?
2. Ngài hành thiền như thế nào?
3. Kết quả việc hành thiền của Ngài ra sao?
Nhóm người hành hương này là những vị đại diện
cho một tổ chức tôn giáo Âu Châu đã đến gặp nhiều
thiền sư ở Á Châu để hỏi những câu hỏi trên.
Nghe ba câu hỏi này, Ngài Ajahn Chah nhắm mắt,
trầm ngâm một lát, rồi trả lời bằng cách hỏi lại
ba câu hỏi khác:
1. Tại sao quí vị ăn?
2. Quí vị ăn như thế nào?
3. Sau khi ăn xong quí vị cảm thấy ra sao?
Nói xong Ngài cười.
Về sau Ngài giải thích rằng: Những lời dạy của
Đức Phật nhằm mục đích hướng dẫn mọi người hãy trở
về với Trí Tuệ nội tại của mình, trở về với Giáo
Pháp tự nhiên của mình. Bởi thế nên Ngài muốn nhắc
nhở những vị hành hương này không cần phải đi khắp
Á Châu tìm kiếm lời giải đáp mà hãy trở về tìm hiểu
phần bên trong của mình.
Thiền trong mọi tác động
Chánh tinh tấn không phải là cố gắng làm cho một
điều gì đặc biệt phát sinh. Đó là cố gắng ý thức
và tỉnh thức trong mọi lúc, cố gắng chế ngự sự lười
biếng và phiền não, cố gắng thực hiện trong tỉnh
thức mọi tác động hàng ngày của chúng ta.
Giữ rắn trong tay
Ngài Ajahn Chah nói với một nhà sư mới:
-- Việc hành thiền ở đây là không nắm giữ một thứ
gì.
Nhà sư mới phát biểu:
-- Nhưng có vài thứ đôi khi cần nắm giữ chứ!
Ngài trả lời:
-- Đúng thế, nhưng bằng tay chứ không phải bằng
tâm. Khi tâm nắm giữ sự đau khổ thì chẳng khác nào
bị rắn cắn. Và thích thú nắm giữ cái gì với tâm
tham ái chẳng khác nào nắm lấy đuôi rắn: ta chỉ
nắm được một thời gian ngắn thôi, vì sau đó không
lâu, rắn sẽ quay đầu lại cắn ta.
Lấy chánh niệm và không luyến ái làm người canh
giữ tâm mình, như cha mẹ giữ con cái. Rồi thì yêu
và ghét sẽ đến gọi tâm bạn như con cái đến gọi cha
mẹ: "Má ơi! Con không thích cái này!"
"Ba ơi! Con muốn nhiều hơn," "Được!"
"Nhưng má ơi! Con thích có một con voi!"
"Được!" "Con muốn ăn kẹo! Con muốn
đi máy bay!" Tất cả đều chẳng có gì quan trọng
nếu bạn để cho mọi sự vật đến và đi, một cách tự
nhiên mà không nắm giữ.
Khi giác quan tiếp xúc với sự vật thì yêu và ghét
phát sinh, và si mê đi liền theo đó. Nhưng với chánh
niệm thì cũng với sự tiếp xúc đó, nhưng trí tuệ
phát sinh.
Khi bạn bị bắt buộc phải có mặt tại một nơi có
nhiều chuyện quấy rầy giác quan bạn, bạn đừng ngại,
hãy tự nhiên, vì Giác Ngộ không có nghĩa là điếc
và mù. Chỉ cần chú tâm chánh niệm là đủ. Đừng khờ
dại nghe theo kẻ khác một cách mù quáng. Khi nghe
ai nói "Cái này đẹp," hãy tự nhủ "Không
phải thế." Khi nghe ai nói "Cái này tuyệt
diệu," hãy tự nhủ "Không phải thế."
Đừng để dính mắc vào tham ái của thế gian. Đừng
để dính mắc vào những phán đoán của thiên hạ. Hãy
để mọi chuyện trôi qua một cách tự nhiên.
Một số người sợ sự bố thí. Họ cảm thấy sẽ bị bóc
lột hay bị áp chế khi phải cho ai một cái gì. Họ
nghĩ họ cần phải lo cho chính họ. Muốn phát triển
tâm bố thí, chúng ta cần phải đè nén tính tham ái
và dính mắc. Nhờ thế bản chất thực sự của chúng
ta sẽ tự hiển lộ, trở nên nhẹ nhàng hơn và giải
thoát hơn.
Giới hạnh
Có hai trình độ thực hành giáo pháp. Gìn giữ giới
luật là phần căn bản đầu tiên. Giới luật đem lại
hạnh phúc, thoải mái và hòa hợp. Thứ đến -- tích
cực hơn, không liên quan đến sự thoải mái -- đó
là thực hành giáo pháp của Đức Phật để tỉnh thức
và giải thoát tâm mình ra khỏi mọi ràng buộc. Những
lời giáo huấn của Đức Phật đều nhắm đến mục tiêu
này. Muốn thực hành đúng đắn giáo pháp của Đức Phật,
phải hiểu rõ giới luật và pháp hành.
Giới hạnh là cha mẹ của giáo pháp nẩy nở trong
chúng ta. Giới hạnh cung cấp thức ăn bổ dưỡng và
chỉ cho chúng ta hướng đi đích thực.
Giới hạnh là điều kiện căn bản để tạo nên một thế
giới hài hòa, trong đó con người thực sự sống như
một con người, chứ không phải như loài cầm thú.
Giữ giới luật là điều chính yếu trong việc hành
thiền. Giới rất đơn giản. Chỉ có năm giới: không
sát sinh, không trộm cắp, không tà hạnh, không nói
dối và không dùng chất say làm mất chánh niệm. Suốt
đời trau giồi tâm nhân ái, trọng tha nhân. Thận
trọng trong ngôn ngữ và hành động, đó là của cải
của bạn. Nếu dùng giới luật làm căn bản cho mọi
hành động, tâm bạn sẽ hiền hòa, trong sáng và yên
tĩnh. Thiền sẽ dễ dàng phát triển trên mảnh đất
này.
Đức Phật dạy: "Làm điều lành, lánh xa điều
ác, giữ tâm trong sạch." Việc hành thiền của
chúng ta cũng vậy: "Lánh xa điều xấu và giữ
gìn điều tốt." Những điều xấu xa có còn tồn
tại trong tâm bạn không? Dĩ nhiên là còn! Tại sao
không quét dọn nhà cửa sạch sẽ?
Trong việc thực hành đúng đắn, làm điều lành lánh
xa điều ác là một việc tốt, nhưng nó có hạn chế,
vì cuối cùng chúng ta phải bước qua cái tốt lẫn
cái xấu. Giải thoát bao gồm tất cả và không dính
mắc gì cả. Từ sự không dính mắc này, tình thương
và trí tuệ lưu chuyển một cách tự nhiên.
Chánh tinh tấn và trí tuệ không phải là vấn đề
bên ngoài mà là sự bền tâm tỉnh thức và tự chế bên
trong. Như vậy, sự bố thí, nếu làm với ý tốt có
thể đem lại hạnh phúc cho mình và cho người. Nhưng
đức hạnh phải là gốc rễ thì lòng từ thiện này mới
hoàn toàn trong sáng.
Người không hiểu giáo pháp, khi làm điều gì sai
quấy, thường nhìn trước nhìn sau xem thử có ai thấy
không. Thật khờ dại làm sao! Phật, Pháp và Nghiệp
luôn luôn theo dõi họ. Bạn có nghĩ rằng Đức Phật
không thể thấy xa như vậy chăng? Không có gì kín
đáo trên cõi đời này!
Săn sóc và giữ gìn giới luật như người làm vườn
săn sóc giữ gìn cấy cối. Không bị dính mắc vào cây
lớn, cây nhỏ, cây quan trọng và cây không quan trọng.
Một số người muốn đi đường tắt -- họ nói "Bỏ
qua Thiền Định, ta đi ngay vô Thiền Quán; bỏ qua
giới luật, ta đi ngay vào Thiền Định." Chúng
ta có nhiều lý do để bào chữa cho lòng tham ái của
chúng ta.
Chúng ta phải bắt đầu ngay nơi chúng ta hiện đang
có mặt, trực tiếp và đơn giản. Hai bước đầu tiên
là hoàn thành giới luật và chánh kiến. Rồi bước
thứ ba là nhổ gốc rễ phiền não, sẽ tự nhiên xuất
hiện. Cũng như lúc đèn được thắp lên, chúng ta chẳng
cần phải lo lắng đến việc xóa tan bóng tối. Chẳng
cần thắc mắc bóng tối đã đi phương nào. Chúng ta
chỉ biết có ánh sáng.
Có ba mức độ giữ giới. Đầu tiên là thọ giới từ
vị thầy. Thứ đến là giữ giới và sống trong giới.
Ở mức cao nhất, cỡ các bậc thánh nhân, các Ngài
chẳng cần nghĩ đến giới luật, đến đúng sai. Chân
giới đến từ trí tuệ, hiểu thấu đáo Tứ Diệu Đế. Hành
động của các Ngài phát xuất một cách tự nhiên từ
sự chứng ngộ này.
Giới, Định, và Tuệ
Đức Phật chỉ dạy con đường thoát khổ -- nguyên
nhân khổ đau và con đường thực hành. Trong việc
thực hành của tôi, tôi chỉ biết có con đường đơn
giản này thôi. Con đường thoát khổ, tốt đẹp ở giai
đoạn đầu: Giới; tốt đẹp ở giai đoạn giữa: Định;
và tốt đẹp ở giai đoạn cuối: Tuệ. Nếu xem xét một
cách kỹ càng, chúng ta sẽ thấy cả ba nhập một. Chúng
ta thử xét xem ba yếu tố tương quan này.
Thực hành giới như thế nào? Thực ra muốn thực hành
giới ta phải bắt đầu bằng trí tuệ. Thói thường ta
nói giữ giới hay trì giới trước. Nhưng muốn cho
giới thành tựu trọn vẹn, ta phải có trí tuệ để hiểu
rõ những gì bao hàm trong giới. Khởi đầu, chúng
ta phải xem xét thân thể và ngôn ngữ của chúng ta,
tìm hiểu tiến trình nhân quả. Khi quan sát thân
thể và lời nói để thấy phương cách chúng ta gây
ra tai hại, bạn sẽ bắt đầu hiểu, kiểm soát và trong
sạch hóa nhân quả.
Nếu bạn biết được thế nào là hành động và ngôn
ngữ bất thiện, thế nào là hành động và ngôn ngữ
thiện, bạn đã biết được cách thực hành để "khử
ác vi thiện" (bỏ ác làm lành). Khi bạn bỏ ác
làm lành, tâm bạn sẽ ổn định và tập trung. Sự định
tâm này chế ngự được dao động và hoài nghi. Với
tâm tĩnh lặng này, bạn có thể quan sát và thấy rõ
hình sắc và âm thanh khi chúng xuất hiện. Nhờ không
để tâm phóng đi nơi khác, bạn sẽ thấy rõ bản chất
của mọi diễn biến đúng theo chân lý. Khi sự hiểu
biết này trực tiếp, trí tuệ sẽ phát sinh.
Lúc bấy giờ Giới, Định và Tuệ có thể biến thành
một. Khi chúng chín mùi là Bát Chánh Đạo. Khi Tham,
Sân, Si xuất hiện, chỉ có Bát Chánh Đạo mới đủ khả
năng tiêu diệt chúng.
Giới, Định, Tuệ phải được phát triển để hỗ trợ
lẫn nhau. Bất kỳ đối tượng gì hiện ra ở sáu căn,
Đạo đều kiểm soát được. Nếu Đạo mạnh thì có thể
tiêu diệt được phiền não -- Tham, Sân, Si. Nếu Đạo
yếu, phiền não sẽ nắm quyền kiểm soát và giết chết
tâm chúng ta. Vì không hiểu rõ chân tướng của lục
trần nên khi lục trần xuất hiện, ta để nó tự do
tàn phá, hủy hoại chúng ta.
Đạo và phiền não hoạt động song hành. Người học
giáo pháp phải luôn luôn hài lòng với cả hai. Giống
như trường hợp hai người đánh nhau. Khi Đạo nắm
quyền điều khiển thì Đạo sẽ giúp sức cho chánh niệm.
Nếu bạn duy trì được chánh niệm thì phiền não sẽ
nhận phần thất bại khi nó muốn tái chiến. Nếu sự
tinh tấn của bạn đi theo đường Đạo, nó sẽ tiếp tục
diệt trừ phiền não. Nếu Đạo yếu, phiền não sẽ chiếm
ưu thế, lúc ấy tham ái, si mê và lo âu sẽ hiện khởi.
Đau khổ chỉ phát sinh khi Giới, Định, Tuệ yếu.
Khi đau khổ phát sinh thì khả năng để tiêu diệt
lo âu biến mất. Chỉ có Giới, Định, Tuệ mới giúp
cho Đạo hồi sinh. Khi Giới, Định, Tuệ khai triển,
Đạo sẽ bắt đầu khôi phục chức năng và liên tục hoạt
động để hủy diệt nguyên nhân phát sinh đau khổ trong
mọi lúc và mọi nơi.
Cuộc chiến đấu này sẽ kéo dài cho đến lúc một bên
chiến thắng và vấn đề sẽ được ngã ngũ. Như thế đấy!
Vậy các bạn hãy kiên trì thực hành không ngừng nghỉ.
Việc hành đạo bất đầu tại đây và ngay bây giờ.
Đau khổ và giải thoát hay Đạo ở tại đây và ngay
bây giờ. Những lời dạy của Đức Phật như giới luật
và trí tuệ trực chỉ hướng đến tâm. Nhưng hai yếu
tố Đạo và Phiền Não này tranh nhau cho đến cùng.
Bởi thế phải dùng khí cụ thực hành thật khó khăn,
nặng nề. Bạn cần phải kiên nhẫn, chịu đựng và tinh
tấn đúng mức. Sau đó chân trí tuệ sẽ tự đến.
Giới, Định, Tuệ tạo nên Đạo. Nhưng Đạo không phải
là Chân Pháp, không phải là mục tiêu. Đạo chỉ là
con đường dẫn đến mục tiêu. Như bạn muốn đi từ Bangkok
đến thiền viện Wat Pah Pong chẳng hạn. Con đường
rất cần thiết cho hành trình của bạn, nhưng mục
tiêu của bạn là thiền viện, chứ không phải con đường.
Cũng thế ấy, chúng ta có thể nói rằng Giới, Định,
Tuệ ở ngoài giáo pháp của Đức Phật, nhưng là con
đường dẫn đến chân lý này. Khi bạn phát triển ba
yếu tố này, kết quả sẽ là sự bình an kỳ diệu nhất.
Trong sự bình an này, hình sắc và âm thanh không
còn đủ sức mạnh để quấy nhiễu tâm bạn. Bạn không
còn gì phải làm nữa. Bởi vậy, Đức Phật dạy chúng
ta phải vất bỏ hết những gì đang nắm giữ không chút
ngần ngại. Được thế, bạn sẽ tự mình hiểu được sự
bình an này và không còn phải dựa vào một ai khác.
Tuy nhiên, không nên vội đo lường sức tiến bộ của
mình. Chỉ cần thực hành mà thôi. Ngoài ra, nếu mỗi
khi tâm bạn an tịnh, bạn lại hỏi: "Phải đây
không?" thì mọi nỗ lực đều tiêu tan. Không
có dấu hiệu gì để nhận thật sự tiến bộ của bạn,
như dấu hiệu, "Đây là con đường đên Thiền viện
Wat Pah Pong." Hãy vứt bỏ mọi tham ái và kỳ
vọng, hãy nhìn thẳng vào hướng đi của tâm.
Đừng bắt chước
Người ta thường có khuynh hướng bắt chước theo
thầy của mình. Họ trở thành bản sao, hình chụp hay
rập khuôn theo thầy. Chẳng khác nào chuyện người
huấn luyện ngựa cho nhà vua sau đây.
Người huấn luyện ngựa cho nhà vua chết, nhà vua
thuê một người huấn luyện mới. Bất hạnh thay người
mới này bị kiễng chân. Những con ngựa mới và chọn
lọc kỹ càng được mang đến cho y. Và y đã huấn luyện
chúng thuần thục: chạy, phi nước kiệu, kéo xe, v.
v., nhưng tất cả những con ngựa nhỏ đều có bước
đi khập khiễng. Thấy lạ, nhà vua cho gọi người huấn
luyện đến hỏi. Khi thấy y khập khiễng bước vào chầu,
nhà vua hiểu ra mọi lẽ và tức khắc mướn một người
huấn luyện ngựa khác.
Là những vị thầy, quí sư phải ý thức đến sức mạnh
của những cử chỉ và lối sống, lối tu hành của mình.
Và quan trọng hơn, là học trò, các bạn không nên
bắt chước theo hình ảnh, tư thái bên ngoài của thầy
mình. Vị thầy chỉ muốn bạn kiện toàn phần nội tâm
của bạn. Hãy lấy trí tuệ nội tại của bạn làm mô
mẫu, đừng bắt chước dáng đi khập khiễng của thầy.
Thế nào là tự nhiên
Nhiều người muốn hành đạo một cách "tự nhiên."
Họ than phiền rằng lối sống ở đây không hợp tự nhiên.
Tự nhiên là cây trong rừng. Nhưng nếu bạn cất một
ngôi nhà trong đó, phải chăng sự tự nhiên không
còn nữa? Nếu bạn biết cách sử dụng cây, xẻ gỗ và
cất nhà, cây sẽ có giá trị với bạn nhiều hơn. Hoặc
giả như con chó tự nhiên chạy đây chạy đó theo sau
cái mũi của nó. Ném một khúc xương thì cả đám chó
chạy đến cấu xé nhau. Phải chăng đó là tự nhiên
mà bạn muốn?
Nghĩa đúng thực của tự nhiên có thể khám phá ra
bằng giới luật và sự hành thiền. Sự tự nhiên này
vượt qua thói quen, điều kiện và nỗi sợ hãi của
chúng ta. Nếu để tâm con người tự do tiến đến cái
gọi là tự nhiên theo cảm tính, không cần rèn luyện
-- cảm xúc thế nào thì làm theo thế ấy, thì tâm
sẽ dẫy đầy tham lam, sân hận, si mê. Và đau khổ
cũng phát sinh từ đấy.
Qua thực hành chúng ta có thể cho phép cây trí
tuệ và tình thương trưởng thành một cách tự nhiên,
bất kỳ nơi đâu, cho đến khi nó đơm hoa kết trái.
Điều hòa
Ba điểm căn bản thực hành là Thu Thúc Lục Căn (nghĩa
là không chìm đắm và dính mắc trong dục lạc ngũ
trần), Ăn Uống Tiết Độ và Tỉnh Thức.
1. Thu Thúc Lục Căn: Chúng ta có thể dễ dàng nhận
ra một cơ thể bất bình thường: mù, điếc, vẹo, v.
v., nhưng rất khó khăn nhận ra một tâm hồn bất thường.
Khi bắt đầu hành thiền, bạn sẽ thấy mọi sự khác
hẳn. Bạn sẽ thấy một tâm hồn "méo mó"
mà trước đây bạn thấy có vẻ bình thường. Bạn sẽ
thấy nguy hiểm ở nơi mà trước đây bạn không thấy.
Điều này giúp bạn thu thúc. Bạn trở nên nhạy cảm,
như người đi vào rừng sâu ý thức được mối nguy hiểm
của thú dữ, rắn độc, gai nhọn, v. v. Người có vết
thương mới, rất thận trọng trước sự nguy hiểm của
ruồi và muỗi độc. Cũng vậy, đối với người hành thiền,
mối nguy hiểm phát xuất từ các đối tượng của giác
quan (lục trần). Bởi thế, thu thúc lục căn là loại
đức hạnh cao nhất.
2. Tiết Độ Ăn Uống: Ăn chay thì dễ, nhưng ăn ít
và tiết độ như một thiền sinh thì thật khó khăn.
Thay vì ăn chay thường xuyên, hãy học cách ăn trong
chánh niệm. Ý thức được nhu cầu thực sự của mình;
học cách phân biệt giữa muốn và cần.
Đào luyện cơ thể không phải là tự hành hạ mình.
Không ngủ, không ăn đôi lúc có vẻ cực đoan, nhưng
nó có giá trị của nó. Bạn phải thực sự muốn chống
lại sự biếng nhác và phiền não. Khuấy động chúng
lên và quan sát chúng. Một khi hiểu được chúng thì
những sự thực hành có vẻ cực đoan trên sẽ không
cần thiết nữa. Đó là lý do tại sao chúng ta phải
ăn, ngủ, nói ít lại -- nhằm đè nén tâm luyến ái
và khiến chúng tự lộ diện.
3. Tỉnh Thức: Muốn có chánh niệm thì phải có nỗ
lực liên tục, chứ không phải chỉ siêng năng một
lúc rồi thôi. Dầu bạn hành thiền suốt đêm, nhưng
những lúc khác bạn để cho lười biếng ngự trị thì
cũng không phải là hành thiền đúng. Phải luôn luôn
quan sát, theo dõi tâm như cha mẹ theo dõi con cái,
bảo vệ chúng không để chúng làm bậy, dạy cho chúng
biết điều đúng.
Thật là sai lầm khi nghĩ rằng có đôi lúc bạn không
có cơ hội để hành thiền. Bạn phải luôn luôn nỗ lực
để hiểu chính mình, điều này cũng cần thiết như
sự hô hấp của bạn, bạn phải tiếp tục thở bất kỳ
trong hoàn cảnh nào. Nếu bạn không thích một vài
hoạt động nào đó, như tụng kinh hay làm việc chẳng
hạn, và bạn đã vất bỏ chúng để hành thiền, như thế
thì bạn chẳng bao giờ được Tỉnh thức.
Hãy nương tựa vào mình
Đức Phật dạy người nào muốn hiểu biết thì phải
tự mình thấy rõ chân lý. Thế nên không có chút khác
biệt nào giữa những lời tán dương và câu chỉ trích.
Dầu người ta nói thế nào cũng không quấy rầy được
bạn. Một người không tự tin sẽ cảm thấy mình xấu
khi bị kẻ khác chê xấu. Hãy tự xét. Nếu họ nói sai,
hãy quên đi; nếu họ nói đúng, hãy học theo họ. Bất
kỳ trường hợp nào xẩy ra cũng chẳng có gì. Tại sao
phải giận dữ? Nếu bạn có thể nhìn sự vật như vậy,
bạn sẽ thật sự bình an. Chẳng có cái gì là sai cả;
tất cả đều là Pháp. Nếu bạn thật sự sử dụng khí
cụ mà Đức Phật đã ban cho bạn, bạn sẽ không cần
phải ganh tị với người khác nữa. Trong khi những
kẻ lười biếng chỉ muốn nghe và tin, bạn có tự tín
và có thể kiếm sống bằng sự nỗ lực của chính mình.
Tuy thế, nếu khi thực hành bạn chỉ sử dụng những
gì bạn có thì cũng phiền toái bởi vì chúng là của
bạn. Ban đầu, có lúc bạn nghĩ việc hành thiền thật
khó khăn và bạn đã khư khư nắm giữ những cái tốt
của kẻ khác. Thế rồi, Đức Phật dạy bạn phải làm
với những gì bạn có và bạn nghĩ rằng mọi chuyện
đều êm xuôi tốt đẹp. Nhưng rồi bạn lại thấy khó
khăn nữa, Đức Phật lại dạy thêm: Nếu bạn dính mắc
và nắm giữ điều gì, dầu của chính bạn hay của ai
đi nữa, bạn cũng gặp phiền toái. Nếu bạn chạy vào
bếp nhà hàng xóm nắm một cục lửa, bạn sẽ bị phỏng
tay. Nếu bạn nắm cục lửa nhà bạn, bạn cũng bị phỏng
tay như thường. Vậy thì đừng nắm giữ gì cả.
Đó là lối thực tập áp dụng ở đây -- phương pháp
trực tiếp. Tôi không bằng lòng với ai. Nếu bạn đem
kinh điển hay tâm lý học tranh cãi với tôi, tôi
sẽ không tranh cãi. Tôi chỉ trình bày cho thấy nhân
và quả, để bạn hiểu chân lý của pháp hành. Chúng
ta tất cả đều phải nương tựa nơi chính mình.
Biết mình, biết người
Hãy tìm hiểu chính thân tâm của bạn, bạn sẽ hiểu
người khác. Gương mặt, cử chỉ, hành động của một
người phát xuất từ trạng thái tâm của người ấy.
Đức Phật có thể đọc được chúng bởi vì Ngài có kinh
nghiệm và nhìn thấy với trí tuệ trạng thái tâm làm
căn bản cho những biểu lộ ấy. Cũng như một người
già lão luyện đã trải qua thời thơ ấu hiểu rõ tâm
lý trẻ con.
Sự "tự tri" này khác với trí nhớ. Người
già có thể bên trong rất sáng, nhưng bên ngoài có
vẻ lờ đờ. Đọc sách để học hỏi đối với họ rất khó
khăn vì họ quên tên, quên mặt, v. v. Có thể họ biết
rõ ràng họ cần một cái thau, nhưng vì trí nhớ kém,
họ nói lấy cho họ một cái ly.
Nếu bạn thấy tình trạng sinh diệt trong tâm và
không dính mắc vào tiến trình, để trôi qua cả hạnh
phúc lẫn đau khổ thì sự tái sinh của tâm sẽ ngắn
dần, ngắn dần. Để cho chúng trôi qua, dù bạn có
rơi vào địa ngục đi nữa cũng đừng lo lắng thái quá,
bởi vì bạn biết rằng địa ngục cũng vô thường. Hành
thiền đúng đắn thì bạn sẽ thản nhiên nhìn nghiệp
cũ diễn ra và tiêu dần. Hiểu biết cách sinh diệt
của sự vật, bạn chỉ cần tỉnh thức, chánh niệm rồi
để chúng tự nhiên trôi chảy theo dòng của chúng.
Cũng như trường hợp có hai cội cây. Nếu bạn vun
phân tưới nước cho một cây và bỏ mặc cây kia thì
chẳng cần thắc mắc tại sao một cây lên tốt, còn
một cây thì èo uột.
Để mặc người ta
Đừng tìm lỗi người. Nếu cách cư xử của họ sai lầm,
bạn cũng chẳng cần làm khổ mình mà chi. Nếu khi
bạn chỉ cho họ thấy sai lầm của họ mà họ vẫn không
sửa đổi, hãy để yên như thế.
Đức Phật đã từng theo học với nhiều thầy. Ngài
thấy phương pháp của thầy thiếu sót, nhưng Ngài
không dèm pha hay làm thầy mất thể diện. Nhờ học
hỏi với thái độ khiêm nhường và tôn trọng nên Ngài
thâu thập lợi ích trong khi sống với các thầy. Thật
vậy, học với họ Ngài mới biết hệ thống của họ chưa
hoàn hảo. Lại nữa, khi Ngài thành đạo, Ngài không
chỉ trích hay tìm cách dạy lại họ. Sau khi giác
ngộ, Ngài kính cẩn nhớ lại những vị thầy Ngài đã
theo học và muốn chia xẻ với họ sự hiểu biết mà
Ngài mới tìm ra.
Tình yêu thật sự
Tình yêu thật sự là trí tuệ. Tình yêu như phần
lớn mọi người nghĩ chỉ là một cảm giác tạm. Có một
món ăn thật ngon, nhưng nếu mỗi ngày bạn đều ăn
như thế, chẳng bao lâu bạn sẽ chán lên tận cổ. Cũng
thế, tình yêu đó cuối cùng đi đến thù hận và phiền
muộn. Hạnh phúc thế gian bao gồm tham ái và luôn
luôn dính liền với đau khổ. Thật vậy, đau khổ theo
sau hạnh phúc thế gian như cảnh sát theo sau tên
trộm.
Tuy thế, chúng ta không thể loại bỏ hay ngăn trở
loại cảm giác này. Chúng ta không nên dính mắc hay
đồng hóa với chúng mà chỉ cần biết chúng là gì,
sau đó Pháp sẽ có mặt. Một người yêu một người khác
rồi cuối cùng người yêu ra đi hay lìa đời. Than
khóc hay nhớ tưởng lâu dài, nắm giữ cái đã thay
đổi là đau khổ chứ không phải là tình yêu. Khi chúng
ta thể nhập chân lý, không còn cần hay muốn nữa,
trí tuệ và tình yêu thật sự sẽ lấn át tham ái và
tràn ngập thế gian.
Học hỏi qua cuộc sống
Buồn chán không phải là chuyện thật. Nếu nhìn gần,
chúng ta sẽ thấy tâm luôn luôn hoạt động. Như vậy
ta luôn luôn có việc để làm. Hãy nương tựa vào chính
mình để làm công việc lặt vặt trong nhà như dọn
dẹp sạch sẽ sau khi ăn, làm công việc trong nhà
một cách thận trọng và chánh niệm, không khua chén
bát, không đóng sầm cửa. Những việc lặt vặt này
giúp bạn tiến hành định tâm và khiến cho việc hành
thiền dễ dàng hơn. Chúng cũng có thể chứng tỏ rằng
bạn thật sự có chánh niệm hay vẫn còn lạc lối trong
phiền não.
Bạn, những người Tây phương, hay vội vã. Bởi thế
bạn cũng sẽ có hạnh phúc, đau khổ và phiền não cực
lớn. Nếu bạn hành thiền đúng đắn, việc đương đầu
với nhiều vấn đề của bạn sẽ là nguồn gốc của trí
tuệ thâm sâu sau này.
Xả bỏ
Làm bất cứ việc gì cũng với tâm xả bỏ. Đừng kỳ
vọng sự đền đáp hay tán dương. Nếu xả bỏ một ít
sẽ có một ít bình an. Nếu xả bỏ nhiều sẽ được nhiều
bình an. Nếu xả bỏ hoàn toàn sẽ được bình an hoàn
toàn và cuộc tranh đấu với thế gian này đi đến chỗ
chấm dứt.
Đương đầu với tâm mình
Đạo, Quả và Niết Bàn không phải là chuyện ngẫu
nhiên đạt được. Đạo, Quả, Niết Bàn phát sinh từ
sự thực hành đúng, từ chánh tinh tấn, từ can đảm,
dám tập luyện, suy nghĩ và bắt tay vào việc. Nỗ
lực này bao gồm cả việc đối kháng hay đương đầu
với chính tâm bạn.
Đức Phật dạy chúng ta đừng tin vào tâm vì nó phiền
não, bất tịnh, không thể hiện Giới hạnh hay Pháp.
Trong tất cả mọi cách thực hành khác nhau mà chúng
ta chú tâm nỗ lực, chúng ta phải đối kháng lại con
tâm này. Khi tâm bị đối kháng, nó trở nên nóng và
âu sầu, lúc ấy chúng ta sẽ phân vân chẳng biết ta
đi có đúng đường không. Vì sự thực hành bị phiền
não tham ái xâm nhập nên chúng ta đau khổ đến nỗi
có thể quyết định ngưng hành thiền nữa. Nhưng Đức
Phật dạy chính đó là sự thực hành đúng đắn; phiền
não này chớ không phải bạn, đang bùng cháy. Đương
nhiên là việc hành thiền khó khăn chứ không phải
dễ.
Nhiều nhà sư hành thiền chỉ tìm giáo pháp phù hợp
với sách vở, kinh điển. Dĩ nhiên, vào thời kỳ học
hỏi nghiên cứu, phải y cứ vào kinh điển. Nhưng lúc
"chiến đấu" với phiền não, phải chiến
đấu ngoài sách vở. Nếu căn cứ vào mô mẫu có sẵn,
bạn không thể đứng vững trước quân thù. Kinh điển
chỉ đưa một mô mẫu và có thể khiến bạn quên mình,
bởi vì chúng đặt căn bản trên trí nhớ và khái niệm.
Suy nghĩ theo khái niệm phát sinh ra ảo tưởng, mơ
mộng viển vông, có thể đưa bạn lên thiên đàng hay
xuống hỏa ngục, một nơi xa vời của tưởng tượng,
vượt ra ngoài chân lý đơn giản nằm ngay trước mắt
bạn.
Nếu chịu khó rèn luyện, trước tiên bạn sẽ nhận
thấy rằng thân ẩn cư là điều quan trọng. Khi sống
ẩn cư bạn có thể nghĩ đến lời khuyên của Ngài Sariputta
về ba loại ẩn cư: thân ẩn cư, tâm ẩn cư, xa lánh
phiền não cám dỗ ẩn cư. Ngài nói rằng: "Thân
ẩn cư là nguyên nhân tạo nên tâm ẩn cư, và tâm ẩn
cư là nguyên nhân phát sinh tị phiền não ẩn cư."
Dĩ nhiên, khi tâm bạn yên tĩnh, bạn có thể sống
bất kỳ nơi nào. Nhưng trong giai đoạn đầu tìm hiểu
giáo pháp thì "Thân ẩn cư" có giá trị
vô lường. Ngay hôm nay hay một ngày nào đó bạn hãy
đi ra khỏi xóm làng, ngồi xuống. Hãy tập một mình.
Bạn cũng có thể một mình leo lên đỉnh đồi cao đáng
sợ. Rồi bạn sẽ bắt đầu hiểu rõ: nhìn vào chính mình
thật sự sẽ như thế nào.
Đừng quan tâm đến việc có an tịnh hay không. Càng
thực tập bạn càng tạo nên những nhân đúng và sẽ
quen thuộc với những gì xẩy ra. Đừng sợ bạn sẽ không
thành công, không đạt được sự an tịnh. Nếu nghiêm
chỉnh thực hành, bạn sẽ trưởng thành trong Giáp
Pháp. Ai tìm sẽ thấy. Chỉ người ăn mới no.
Quyển 2
--------------------------------------------------------------------------------
Chánh niệm
Thiền có hai loại: Thiền Chỉ và Thiền Quán (Thiền
Định và Thiền Tuệ). Thiền Chỉ giúp cho hành giả
được an tịnh. Thiền Quán, một mặt giúp phát triển
tri giác về vô thường, khổ, vô ngã, một mặt là chiếc
cầu để vượt qua ba con sông lớn này.
Dù có quan niệm thế nào về cuộc sống này, chúng
ta cũng không nên tìm cách thay đổi chúng theo chiều
hướng của mình ưa thích mà chỉ cần nhìn chúng, để
chúng diễn biến một cách tự nhiên. Nơi nào có đau
khổ, nơi đó cũng có con đường để thoát khỏi khổ
đau. Thấy rằng cái gì có sinh có diệt thì có khổ
đau, Đức Phật biết rằng phải có cái gì đó không
sinh không diệt và không khổ đau.
Mọi phương pháp thiền đều có khả năng phát triển
chánh niệm. Mục đích của chánh niệm là để thấy rõ
chân lý tiềm tàng. Với chánh niệm, bạn quan sát
mọi ước muốn khởi dậy trong tâm -- yêu và ghét,
lạc thú và khổ đau. Khi nhận chân được đặc tính
vô thường, khổ và vô ngã của chúng, bạn hãy để chúng
tự nhiên. Bằng cách này, trí tuệ sẽ thay chỗ cho
khổ đau, và hiểu biết sẽ thay thế cho hoài nghi.
Mặc dù đề mục thiền nào cũng giúp phát triển trí
tuệ, nhưng chính bạn phải lựa chọn đề mục thích
hợp với mình. Chánh niệm là biết được những gì ngay
trong hiện tại, ghi nhận và tỉnh thức. Hiểu biết
thấu đáo rõ ràng phạm vi hoàn cảnh của đối tượng
xuất hiện. Khi chánh niệm đi liền với giác tỉnh
thì trí tuệ sẽ luôn luôn xuất hiện để giúp cho cặp
"Chánh niệm-Giác tỉnh" này hoàn thành
sứ mạng của chúng.
Hãy quan sát tâm, theo dõi tiến trình kinh nghiệm
về sinh diệt. Lúc đầu chuyển động có tính cách cố
định. Ngay khi một sự vật diệt đi, một sự vật khác
lại sinh ra, và bạn sẽ có cảm tưởng rằng sinh nhiều
hơn diệt. Dần dần khi tâm quan sát nhạy bén và rõ
ràng, bạn sẽ hiểu được tại sao sự vật sinh ra một
cách mau lẹ như thế, cho đến một lúc nào đó bạn
sẽ đạt đến một điểm, ở đấy sự vật sinh rồi diệt
và...không bao giờ sinh ra nữa.
Với chánh niệm bạn sẽ nhận diện được chủ nhân ông
thực sự của mọi pháp. Bạn sẽ không còn có tư tưởng
đây là thế giới của ta, đây là thân thể của ta mà
là thế giới của thế giới, và thân thể của thân thể.
Bạn có thể bảo thân thể bạn đừng già được không?
Khi dạ dày bạn đau, nó có xin phép bạn không? Chúng
ta chỉ là người thuê nhà. Tại sao chúng ta không
tìm cho ra ai là chủ nhân thật sự của thân thể này?
Cốt tủy của Thiền Minh Sát
Bắt đầu thực tập bằng cách ngồi ngay thẳng và chú
tâm. Bạn có thể ngồi trên sàn nhà hay trên ghế.
Trước tiên bạn không cần phải quá cố gắng chú tâm.
Chỉ cần để ý đến hơi thở ra vào. Nếu cảm thấy rằng
niệm Phật có thể giúp cho sự chú tâm của bạn mạnh
hơn, bạn có thể niệm "Phật," "Pháp,"
hay "Tăng" khi bạn quan sát hơi thở ra
vào. (Điều quan trọng là phải chú tâm vào hơi thở,
niệm Phật chỉ là phương tiện giúp định tâm.) Khi
quan sát hơi thở, bạn phải quan sát một cách tự
nhiên, không được điều khiển hơi thở. Cố gắng điều
khiển hay kiểm soát hơi thở là một việc làm sai
lầm, vì khi điều khiển hơi thở, bạn sẽ có cảm giác
hơi thở hoặc quá ngắn, quá dài hay quá nhẹ, quá
nặng. Bạn sẽ có cảm tưởng dường như mình thở không
đúng cách, và sẽ cảm thấy chẳng thoải mái chút nào.
Bạn hãy để hơi thở hoạt động một cách tự nhiên.
Làm như vậy cuối cùng bạn sẽ nhận thấy hơi thở vào
ra một cách nhẹ nhàng, điều hòa.
Khi quan sát hơi thở ra vào mà bạn tỉnh giác và
hoàn toàn ổn định tâm là bạn đã thở đúng cách.
Khi bị phóng tâm, bạn hãy dừng lại, điều chỉnh
sự chú tâm, trở về với đề mục chính của mình. Thoạt
đầu, khi chú tâm vào hơi thở, tâm bạn có khuynh
hướng muốn đưa hơi thở đi theo một chiều hướng nào
đó. Hãy bình thản, đừng lo lắng hay tìm cách điều
chỉnh nó. Bạn hãy quan sát nó, và để nó tự nhiên.
Thiền sẽ tự nó phát triển. Khi bạn làm như thế,
có lúc bạn sẽ thấy hơi thở ngưng hẳn, nhưng đừng
sợ, bạn sẽ thở lại điều hòa sau đó. Sự ngưng thở
chỉ là cảm giác phát sinh từ tri giác của bạn, thực
ra hơi thở vẫn tự nhiên và nhẹ nhàng tiếp nối. Một
lát sau bạn sẽ thấy hơi thở rõ ràng như trước.
Nếu bạn tiếp tục giữ tâm an tịnh như thế thì bất
kỳ bạn đang ở nơi nào -- đang ngồi trên ghế, đang
ở trên xe, trên tàu, v. v., bạn đều có thể chú tâm
vào đề mục và bước vào trạng thái an lạc một cách
mau chóng dễ dàng. Bất kỳ bạn đang ở đâu, bất kỳ
lúc nào, bạn đều có thể hành thiền được cả.
Khi đạt đến sự tiến bộ này thì bạn đã hiểu Đạo
phần nào rồi đấy. Nhưng bạn phải quan sát những
đối tượng của giác quan nữa.
Hãy hướng tâm an tịnh của bạn vào hình sắc, âm
thanh, mùi vị, sự đụng chạm và suy nghĩ. Tất cả
mọi đối tượng của thân và tâm đều là đề mục để bạn
hướng đến. Bất kỳ cái gì phát sinh đều phải quan
sát, ghi nhận; phải ghi nhận dù bạn thích hay không
thích chúng. Hãy ghi nhận một cách khách quan, đừng
để đối tượng yêu ghét ảnh hưởng đến tâm mình. Yêu,
ghét chỉ là những phản ứng đối với thế giới bên
ngoài. Bạn phải có cái nhìn sâu rộng hơn. Dần dần
bạn sẽ thấy mọi cảm giác yêu ghét thực ra chỉ là
sự vô thường, khổ và vô ngã. Hãy xếp mọi tốt xấu,
hay dở vào ba loại vô thường, khổ và vô ngã. Dầu
chúng thế nào đi nữa cũng để chúng yên, chỉ quan
sát mà đừng can thiệp vào chúng. Đó là cách hành
thiền minh sát. Làm như thế tất cả sẽ được bình
an tĩnh lặng.
Chẳng bao lâu, tuệ giác, vô thường, khổ, vô ngã
sẽ xuất hiện. Đó là bước đầu của trí tuệ thật sự,
cốt tủy của thiền, dẫn đến giải thoát. Hãy theo
dõi kinh nghiệm của mình, nhìn nó và tiếp tục cố
gắng để thấy chân lý. Hãy học cách khước từ, không
vướng mắc để đạt đến bình an tĩnh lặng.
Trong khi hành thiền, nhiều hiện tượng kỳ lạ sẽ
đến với bạn -- bạn sẽ thấy ánh sáng, thấy chư thiên,
thấy Phật, v. v. Khi thấy những điều đó bạn hãy
quan sát mình trước để tìm xem tâm mình đang ở trạng
thái nào. Chớ quên điểm căn bản này. Hãy chú tâm,
chớ mong mỏi thấy gì, cũng chớ mong hình ảnh đừng
đến với mình. Nếu bạn theo đuổi những hình ảnh này,
bạn sẽ rơi vào tình trạng ngơ ngẩn vô vị, vì tâm
đã đi ra ngoài tình trạng ổn cố. Vậy thì khi những
hình ảnh ấy đến, bạn hãy quan sát chúng. Khi quan
sát chúng, bạn phải tự chủ, đừng si mê theo chúng.
Bạn hãy quán chiếu rằng chúng chỉ là vô thường,
khổ và vô ngã. Khi chúng có đến gần bạn đi nữa,
bạn cũng đừng lấy đó làm điều quan trọng, hãy nhìn
chúng rồi để chúng tự ra đi. Nếu chúng không đi,
cũng vẫn tự nhiên, bấy giờ hãy trở về với mục đích
của bạn, đó là hơi thở. Bạn hãy thở ra vào ba hơi
thật dài, mọi hình ảnh sẽ biến mất. Bất kỳ cái gì
hiện ra cũng mặc, hãy tái lập sự chú tâm. Đừng nắm
lấy cái gì và xem đó là của mình. Những gì bạn thấy
chỉ là những hình ảnh hay những cấu trúc do tâm
tạo ra. Đó là sự giả tạo, hư ảo, gây nên yêu thích,
nắm giữ hay sợ hãi. Đừng đắm mình vào khi thấy những
cấu trúc giả tạo này. Mọi kinh nghiệm bất thường
đều đem đến lợi ích cho kẻ trí, nhưng là mối tai
hoạ cho người thiếu khôn ngoan. Hãy tiếp tục hành
thiền cho đến khi nào bạn không còn bị những hình
ảnh quấy nhiễu nữa.
Nếu bạn có thể phó mặc cho tâm như thế thì không
còn gì khó khăn nữa. Nếu tâm muốn vui, bạn chỉ cần
ý thức rằng niềm vui này không vững bền. Bạn có
sợ những hình ảnh xuất hiện trong tâm bạn hay sợ
những kinh nghiệm khác mà bạn gặp trong lúc hành
thiền không? Hãy tự nhiên làm việc với chúng. Bằng
cách này bạn có thể dùng phiền não để huấn luyện
tâm mình, và bạn sẽ hiểu được bản chất tự nhiên
của tâm, thoát khỏi mọi thái cực, rõ ràng và không
dính mắc.
Tâm chỉ là một điểm đơn giản, là trung tâm của
vũ trụ, và tâm sở chẳng khác nào du khách đến ngụ
trong một thời gian. Hãy tìm hiểu kỹ những du khách
này. Hãy làm quen với những bức tranh sống động
do họ vẽ và những câu chuyện hấp dẫn do họ kể, hãy
ngoan ngoãn theo họ. Nhưng nhớ đừng rời khỏi chỗ
ngồi của bạn, bởi vì ngoài chiếc ghế bạn đang sử
dụng không còn chiếc ghế nào khác quanh đấy nữa.
Nếu bạn tiếp tục giữ chỗ ngồi không rời, chào mừng
từng vị khách mỗi khi họ đến, nghĩa là luôn luôn
giữ chánh niệm, chuyển tâm đến những người hiểu
biết, tỉnh thức, thì những người khách khác cuối
cùng sẽ không đến nữa. Nếu bạn thực sự chú ý đến
họ thì họ sẽ đến với bạn bao nhiêu lần nữa? Chuyện
trò với họ, bạn sẽ hiểu rõ từng người một. Chắc
chắn cuối cùng tâm bạn sẽ an tịnh.
Thiền hành
Mỗi ngày đều phải tập kinh hành. Thoạt tiên hãy
đan tay vào nhau và dặt trước bụng. Bóp chặt một
chút để giữ sự chú tâm. Bước những bước bình thường
từ đầu đường kinh hành cho đến cuốn đường, phải
biết mình trong suốt đoạn đường. Đến cuối đoạn đường,
dừng lại rồi quay lui, tiếp tục đi. Nếu bị phóng
tâm, hãy dừng lại để đưa tâm trở về. Nếu vẫn còn
phóng tâm, hãy chú ý vào hơi thở, tiếp tục trở lại.
Luôn luôn giữ tâm chánh niệm trong mọi lúc là một
điều rất ích lợi.
Khi cơ thể mỏi mệt hãy thay đổi tư thế, nhưng không
phải cứ thấy muốn thay đổi là thay đổi ngay. Trước
tiên phải biết tại sao muốn đổi tư thế -- cơ thể
mệt mỏi, tâm dao động, bất an hay làm biếng? Ghi
nhận sự đau khổ của cơ thể. Hãy quan sát một cách
thoải mái và thận trọng. Tinh tấn thực hành là một
yếu tố thuộc về tâm chứ không phải thuộc về thân.
Điều này có nghĩa là hãy luôn luôn giác tỉnh trước
mọi diễn biến của tâm, đừng để ý gì đến yếu tố yêu
ghét. Dầu có ngồi hay đi kinh hành suốt đêm mà không
giác tỉnh theo cách này thì cũng chẳng phải là tinh
tấn chút nào.
Khi đi từ một điểm này đến một điểm khác mà ta
đã định trước, hãy nhìn xuống đất trước mặt bạn
khoảng hai thước và chú tâm vào những cảm giác của
cơ thể. Bạn cũng có thể niệm "Buddho"
(Bút-thô - Phật đà) trong khi kinh hành. Đừng sợ
hãi khi thấy những gì hiện khởi trong tâm mình.
Hãy đặt câu hỏi với chúng và hiểu chúng. Chân lý
là cái gì khác, nằm ngoài tư tưởng hay cảm giác.
Vì vậy, đừng đặt lòng tin vào tư tưởng hay cảm giác
và để chúng trói buộc mình. Hãy nhìn vào toàn thể
tiến trình sinh và diệt. Có như thế trí tuệ mới
phát triển.
Khi điều gì hiện khởi trong tâm, phải kịp thời
tỉnh giác ngay, giống như khi điện vào bóng đèn
thì đèn cháy sáng ngay. Nếu bạn không để ý cảnh
giác, phiền não sẽ chiếm tâm bạn. Chỉ có sự chú
tâm mới đốn ngả được nó.
Sự hiện diện của những tên trộm khiến ta cẩn thận
giữ gìn của cải. Cũng vậy, nhớ đến những phiền não
giúp chúng ta siêng năng hành thiền.
Ai mắc bệnh đây?
Cuối mùa xuân năm 1979, Ngài Ajahn Chah đến thăm
Trung Tâm Thiền Minh Sát ở Barre, Massachusetts.
Ngài dạy một khóa thiền mười ngày ở đây. Mỗi buổi
chiều Ngài thường đi dạo quanh trung tâm. Nhìn thấy
các thiền sinh đang kinh hành chậm rãi, Ajahn Chah
có nhận xét là trung tâm thiền này chẳng khác nào
một bệnh viện tâm thần để chữa trị cho những tâm
hồn thế tục. Mỗi lần gặp họ, Ajahn Chah thường chúc
lành, "Mau khỏi bệnh. Chúc các bạn mau khỏi
bệnh."
Tùy theo đặc tính của từng người mà có một phương
pháp hành thiền thích hợp. Niệm thân đặc biệt thích
hợp với những người có nhiều tham ái hay những nhà
sư trong rừng.
Niệm thân là nhìn vào cơ thể, từng bộ phận của
thân thể, nhìn sự kết hợp thực sự của chúng. Bắt
đầu niệm về đầu: tóc, lông, móng, răng, da. Tách
rời chúng ra khỏi những phần khác của cơ thể. Hãy
dùng tâm lột lớp da này để nhìn vào tận bên trong.
Bạn có thích nó chăng khi nhìn nó với từng phần
riêng rẽ? Nhìn vào bản chất thực sự của thân có
thể cắt được ba sự trói buộc.
1. Quan niệm làm chủ cái thân: Chúng ta sẽ nhận
ra rằng chẳng có cái gì là Ta hay Của Ta. Trên thế
gian này chẳng có cái gì là của ta.
2. Hoài nghi: Khi hiểu các pháp đúng theo thực
tướng của chúng thì hoài nghi sẽ chấm dứt.
3. Chấp chặt vào hình thức lễ nghi: Trong khi còn
bị nghi ngờ ngự trị, chúng ta thường chấp chặt vào
các hình thức lễ nghi, cho rằng làm vậy là không
đúng, làm thế kia mới đúng, v. v. Nhưng khi thấy
rõ ràng rằng thân ta cũng như mọi vật khác đều vô
thường, khổ và vô ngã, lúc ấy ta sẽ không còn nghi
ngờ và không còn chấp vào các hình thức lễ nghi
nữa.
Khi niệm thân, chúng ta không cần niệm tất cả ba
mươi hai thể trược. Nếu niệm một bộ phận mà thấy
được vô thường, khô, vô ngã, bất tịnh thì cũng thấy
được toàn thân ta và thân người khác cũng đều như
thế cả. Giả sử bạn có ba mươi hai cục nước đá, bạn
chỉ cần sờ vào một cục cũng biết được độ lạnh của
tất cả.
Khi bạn có tiến bộ trong pháp niệm thân ô trược
thì bạn cũng sẽ tiến bộ với pháp niệm về sự chết.
Thực vậy, khi chúng ta tiến bộ về một pháp nào đó
thì sẽ có tiến bộ trong các pháp khác. Nếu chúng
ta hiểu được các hiện tượng chết của cơ thể chúng
ta, chúng ta cũng sẽ bén nhạy trước mọi cuộc sống
thế gian này. Tự nhiên chúng ta sẽ tránh khỏi mọi
hành động sai lầm và muốn sống một cuộc sống hiểu
biết, hòa điệu và cởi mở với mọi người, mọi chúng
sanh.
Tập chú tâm
Trong khi hành thiền bạn thường nghĩ rằng sự ồn
ào, tiếng xe chạy, tiếng người nói, hình ảnh bên
ngoài là những chướng ngại đến quấy nhiễu bạn khiến
bạn phóng tâm, trong khi bạn đang cần sự yên tĩnh.
Khoan đã! Ai quấy nhiễu ai đây? Thật ra bạn là người
quấy nhiễu chúng. Xe cộ, âm thanh vẫn hoạt động
theo đường lối tự nhiên của chúng. Bạn quấy nhiễu
mọi vật bằng những ý tưởng sai lầm của mình, cho
rằng chúng ở ngoài bạn. Bạn cũng bị dính chặt vào
ý tưởng muốn duy trì sự yên tịnh, muốn không bị
quấy nhiễu. Phải học cách để thấy rằng chẳng có
cái gì quấy nhiễu ta cả mà chính ta đã ra ngoài
để quấy nhiễu chúng. Hãy nhìn cuộc đời như một tấm
gương phản chiếu chúng ta. Khi tập được cách này
thì bạn tiến bộ trong từng thời khắc một, và mỗi
kinh nghiệm của bạn đều làm hiển lộ chân lý và mang
lại sự hiểu biết.
Một cái tâm thiếu huấn luyện thường chứa đầy lo
âu, phiền muộn. Bởi thế chỉ một chút yên tịnh do
thiền đem lại cũng dễ khiến dính mắc vào. Đó là
sự hiểu biết sai lầm về sự yên tịnh trong thiền.
Đôi lúc có thể bạn nghĩ rằng mình đã tận diệt được
tham lam, sân hận; nhưng sau đó bạn lại thấy bị
tràn ngập bởi chúng. Thực vậy, tham đắm vào sự an
tịnh còn tệ hại hơn là dính mắc vào sự dao động.
Bởi vì khi dao động, ít ra bạn cũng còn muốn thoát
khỏi chúng, trong khi đó bạn rất hài lòng lưu giữ
sự an tịnh và mong muốn được ở mãi trong đó. Đó
là lý do khiến bạn không thể tiến xa hơn nữa.
Khi hỉ lạc phi thường -- một trạng thái thuần tịnh
trong thiền minh sát -- đến với bạn, bạn hãy tự
nhiên, đừng dính mắc vào chúng.
Dù hương vị của sự an tịnh có ngọt ngào đi nữa
cũng phải được nhìn dưới ánh sáng của vô thường,
khổ, vô ngã. Hành thiền nhưng đừng mong cầu phải
đạt được tâm định hay bất cứ mức tiến bộ nào. Chỉ
cần biết tâm có an tịnh hay không an tịnh, và nếu
có an tịnh thì mức độ của nó nhiều hay ít mà thôi.
Làm như thế tâm sẽ tự động phát triển.
Dầu sao thì cũng phải có sự chú tâm kiên cố để
trí tuệ phát sinh. Chú tâm chẳng khác nào bật đèn
và trí tuệ là ánh sáng phát sinh do sự bật đèn đó.
Nếu không bật đèn thì đèn sẽ không sáng, nhưng không
nên phí thì giờ với cái bật đèn. Cũng vậy, định
tâm chỉ là cái bát trống, trí tuệ là thực phẩm đựng
trong bát ấy.
Đừng dính mắc vào đối tượng như dính mắc vào một
loại chú thuật. Phải hiểu mục tiêu của nó. Nếu bạn
thấy niệm "Phật" khiến bạn dễ chú tâm
thì cứ tự nhiên; nhưng chớ có ý nghĩ sai lầm rằng
ngưng niệm Phật là lười biếng. Chữ "Buddho"
(Bút-thô - Phật đà) có nghĩa là người hiểu biết
thì tại sao phải lập đi lập lại chữ này làm gì?
Kham nhẫn và điều hòa
Kham nhẫn và điều hòa là hai điều căn bản trong
sự thực hành của chúng ta. Bắt đầu việc thực hành,
chúng ta chỉ cần theo thời khóa đã được ta vạch
sẵn hoặc thời khóa do thiền viện qui định. Muốn
huấn luyện một con thú, ta phải câu thúc nó. Cũng
vậy, muốn huấn luyện tâm, ta cũng phải kềm chế chính
mình. Gặp con thú khó dạy, ta phải cho nó ăn ít
đi. Ở đây những người hành thiền giữ hạnh đầu đà,
hạn chế thức ăn, y phục, chỗ trú ngụ, chỉ giữ những
nhu cầu căn bản để cắt đứt tham ái. Đây là những
sự thực hành căn bản của thiền.
Luôn luôn duy trì chánh niệm trong mọi tư thế,
mọi hoạt động sẽ làm cho tâm an tịnh và trong sáng.
Nhưng sự an tịnh này không phải là mục tiêu cuối
cùng của thiền. Vắng lặng, an tịnh chỉ giúp cho
tâm an nghỉ tạm thời cũng như ăn uống chỉ tạm thời
giải quyết cơn đói, chớ đời sống của chúng ta không
phải chỉ có chuyện ăn. Bạn phải dùng tâm tĩnh lặng
của mình để nhìn sự vật dưới một ánh sáng mới, ánh
sáng trí tuệ. Khi tâm đã vững chắc trong trí tuệ,
bạn không còn bị dính chặt vào những tiêu chuẩn
tốt xấu của thế tục và không còn bị chi phối bởi
những điều kiện bên ngoài. Với trí tuệ này thì phân
trở thành chất bón -- tất cả kinh nghiệm của chúng
ta trở thành nguồn trí tuệ sáng suốt. Bình thường,
chúng ta muốn đưọc khen ngợi và ghét bị chỉ trích,
nhưng khi nhìn với một tâm hồn sáng suốt, chúng
ta sẽ thấy khen tặng và chỉ trích đều trống rỗng
như nhau. Vậy chúng ta hãy để mọi sự trôi qua một
cách tự nhiên để tìm thấy an bình, tĩnh lặng.
Đừng băn khoăn thắc mắc là phải bao lâu mới đạt
được kết quả mà hãy bắt tay vào việc thực hành.
Kiên trì thực tập. Nếu đau chân, hãy tự nhủ, "Ta
không có chân." Nếu nhức đầu, hãy tự nhủ, "Ta
không có đầu." Lúc ngồi thiền ban đêm, nếu
buồn ngủ, hãy nghĩ, "Đây là ban ngày."
Suốt thời gian hành thiền phải tỉnh giác, chánh
niệm vào hơi thở. Nếu bạn có cảm giác khó chịu ở
ngực, hãy để ra vài phút thở thật sâu. Nếu bị phóng
tâm chỉ cần giữ hơi thở và để cho tâm muốn đi đâu
thì đi -- nó sẽ không đi quá xa đâu!
Bạn có thể thay đổi tư thế sau một thời gian hành
thiền, nhưng đừng để sự bất an hay khó chịu chi
phối tâm mình. Nhiều lúc sự kiên trì chịu đựng đem
lại kết quả tốt. Chẳng hạn, khi cảm thấy nóng, chân
đau, không thể định tâm, hãy xem như tất cả đều
chết, ngồi yên đừng nhúc nhích. Cảm giác đau đớn
sẽ lên đến điểm cao nhất, sau đó sẽ tĩnh lặng và
mát mẻ. Nhưng ngày kế tiếp bạn sẽ không muốn làm
thế nữa. Tự luyện tập đòi hỏi phải có nhiều kiên
trì, nỗ lực. Thực tập một thời gian, bạn sẽ biết
lúc nào cần phải thúc đẩy, lúc nào cần phải nghỉ
ngơi thoải mái, phân biệt được thế nào là mệt mỏi,
thế nào là lười biếng.
Đừng bận tâm về chuyện giải thoát. Khi trồng cây
bạn chỉ cần trồng cây xuống, tưới nước, bón phân,
bắt sâu. Nếu mọi chuyện này đều thực hiện đầy đủ,
cây sẽ lớn lên tự nhiên. Bao lâu cây sẽ lên, đó
là điều vượt ra khỏi tầm kiểm soát của bạn.
Lúc đầu kham nhẫn kiên trì là hai yếu tố cần thiết,
nhưng một thời gian sau đức tin và quyết tâm sẽ
khởi sinh. Lúc bấy giờ bạn sẽ thấy giá trị của sự
thực hành và bạn sẽ say mê hành thiền. Bạn không
còn thích quần tụ mà chỉ muốn ở nơi yên tịnh một
mình, bạn sẽ dành thêm thì giờ để thực tập, tự học
hỏi.
Hãy bắt đầu thực tập với những bước căn bản. Thành
thật, trong sạch và tỉnh giác trong mọi việc bạn
đang làm, bình an, tĩnh lặng sẽ theo sau.
Bảy ngày đắc đạo
Ajahn Chah kể lại rằng Đức Phật đã khích lệ Chư
Tăng khi Ngài xác quyết: Người nào kiên trì nỗ lực
hành thiền thì sẽ đắc quả trong vòng bảy ngày. Nếu
bảy ngày không thành thì sẽ thành đạo trong vòng
bảy tháng hay bảy năm. Một nhà sư trẻ tuổi Hoa kỳ
nghe vậy hỏi Ajahn Chah điều đó có thật hay không?
Ajahn Chah nói chắc rằng nếu thầy chánh niệm liên
tục trong vòng bảy ngày thì thầy sẽ thành đạo.
Đầy hứng khởi, nhà sư trẻ bắt đầu bảy ngày của
mình. Nhưng chỉ trong vòng mười phút sau thầy đã
bị phóng tâm. Thầy bắt đầu bảy ngày trở lại, lần
này cũng bị thất niệm vì suy nghĩ -- có lẽ là suy
nghĩ đến chuyện phải làm gì sau khi đắc đạo! Thầy
lại tiếp tục bắt đầu bảy ngày khác, nhưng chánh
niệm lại bị gián đoạn nữa. Một tuần sau, mặc dầu
chưa đắc đạo nhưng thầy đã có một mức tỉnh giác
rất cao, đã chế ngự được phần nào con tâm quái dị
có khuynh hướng hay phóng đi nơi khác này. Đây là
một phương cách hiệu nghiệm để khởi đầu việc huấn
luyện tâm mình trên đường đi đến giác ngộ.
Đừng kỳ vọng phải đạt được kết quả thật nhanh.
Thiền sinh với đức tin rắn chắc phải có ý chí cương
quyết và lòng kiên trì cũng như người bán hàng phải
luôn miệng rao hàng mà không làm biếng!
Học tụng kinh
Chủ yếu trong việc dạy thiền của Ajahn Chah là
giúp thiền sinh làm mọi việc cần thiết để duy trì
sự quân bình tâm trí hầu thoát khỏi mọi dính mắc.
Một nhà tâm lý Tây phương, xuất gia làm một nhà
sư đã học được bài học này. Nhà tâm lý học xin ở
lại Wat Pah Pong trong ba tháng hạ với kỳ vọng được
ở gần thiền sư đủ khả năng giúp mình hành thiền
chóng đạt kết quả tốt. Vài hôm sau, Ajahn Chah thông
báo cho tất cả chư tăng biết chương trình tụng kinh
hàng ngày là từ 3 giờ 30 đến 4 giờ 40 sáng, và từ
5 giờ đến 6 giờ chiều.
Đó là chương trình mà thiền sinh phải tuân theo
trong kỳ hạ này. Nhà sư mới xuất gia giơ tay xin
phát biểu ý kiến và bắt đầu tranh luận lớn tiếng
rằng ông ta đến đây là để hành thiền, không phải
để phí thì giờ tụng kinh. Việc tranh cãi với thầy
giữa đám đông theo lối Tây phương này làm nhiều
người bất bình. Ajahn Chah từ tốn giải thích rằng
hành thiền thực sự là phải giác tỉnh trong mọi hoạt
động của mình chớ không phải chỉ tìm sự bình an
tĩnh lặng trong lúc ngồi tại sơn am. Ajahn Chah
đi đến chỗ khẳng định nhà tâm lý học phải chấp hành
đúng đắn tụng kinh hàng ngày nếu ông ta muốn ở lại
Wat Pah Pong. Nhà tâm lý học đã ở lại và học tụng
kinh tốt đẹp, đàng hoàng.
Quên thời gian đi!
Chúng ta thường có khuynh hướng làm cho việc hành
thiền trở nên phức tạp và rối rắm. Chẳng hạn, khi
ngồi xuống chúng ta quyết định, "Lần này phải
thành công mới được." Đó không phải là một
việc làm đúng, vì không gì có thể hoàn tất một cách
vội vã được. Đó là một dính mắc mà các thiền sinh
mới thường gặp phải.
Nhiều đêm khi bắt đầu ngồi thiền ta thường có ý
nghĩ, "Tối nay nhất định không ngủ trước một
giờ sáng." Nhưng chẳng bao lâu sau đó, tâm
ta bắt đầu phản kháng và dấy loạn cho đến lúc ta
có cảm tưởng rằng mình sắp chết đến nơi.
Khi ngồi thiền đúng thì không cần đo lường hay
thúc buộc gì cả. Không có đích, không có mục tiêu
để đạt tới. Dầu bạn có ngồi từ sáng sớm đến bảy
tám giờ tối cũng không thành vấn đề. Chỉ cần ngồi
mà không để ý đến thời gian. Đừng tự thúc bách mình.
Đừng ép buộc mình. Đừng đòi hỏi tâm mình phải làm
một điều gì có tính cách chắc chắn cố định. Hãy
để tâm thoải mái, để hơi thở tự nhiên bình thường,
đừng ép hơi thở dài hay ngắn theo ý mình. Hãy để
cơ thể thoải mái. Thực tập đều đặn liên tục, lòng
tham muốn sẽ hỏi bạn, "Ta sẽ ngồi đến lúc nào
đây? Ta sẽ ngồi bao lâu đây?" Hãy quát lại
nó (thầm thôi nhé!), "Này, đừng quấy rầy ta!"
Phải đàn áp nó vì nó là phiền não đến quấy rầy bạn.
Hãy nói, "Ta muốn ngồi bao lâu thì ta ngồi;
ta muốn ngưng ngồi thiền lúc nào thì ngưng, chẳng
có gì sai lầm cả. Nếu ta ngồi suốt đêm, ta làm hại
ai đây? Tại sao ngươi đến quấy rầy ta?" Hãy
cắt đứt lòng ham muốn và tiếp tục ngồi theo ý bạn.
Để tâm thoải mái tự nhiên bạn sẽ đạt được bình an
tĩnh lặng, thoát khỏi sức mạnh của tham ái.
Có một thiền sinh ngồi trước lư hương và nguyện
đến lúc cây nhang tàn mới đứng dậy. Thế là anh ta
cứ nhấp nhỏm theo dõi xem hương đã tàn đến đâu.
"Tàn hết chưa? Mới có nửa cây à?" anh
ta nghĩ. Có khi anh ta nguyện sẽ ngồi cho đến lúc
hương tàn dầu có chết cũng không đứng dậy. Anh ta
sẽ cảm thấy tội lỗi khủng khiếp nếu phải đứng dậy
khi chưa hết giờ qui định. Ngồi thiền như thế là
đã bị tham ái kiểm soát.
Đừng để ý đến thời gian. Hãy duy trì việc thực
hành của mình một cách đều đặn và để sự tiến bộ
đến dần với bạn. Khỏi cần phải nguyện hay thề gì
cả, chỉ cần kiên trì cố gắng thực hành, để tâm tự
nó bình an tĩnh lặng lấy. Cuối cùng bạn sẽ thấy
mình có thể ngồi lâu một cách thoải mái, đó là bạn
đã hành thiền đúng cách. Lúc đau nơi chân, bạn chỉ
cần quan sát và biết sự đau. Bạn sẽ thấy cơn đau
tự biến mất mà không cần đến sự giúp đỡ của bạn.
Thực hành theo cách này, bạn sẽ thấy có nhiều thay
đổi diễn ra trong bạn. Khi đi ngủ bạn có thể tập
cho tâm mình tĩnh lặng trước khi ngủ. Nếu trước
đây bạn hay ngáy, hay mơ, nghiến răng, trăn trở,
v. v., một khi tâm được huấn luyện thì mọi tật xấu
trên sẽ biến mất. Dầu cho bạn có ngủ say đến đâu,
lúc thức giấc bạn cũng tỉnh táo, không bần thần
uể oải. Cơ thể an nghỉ nhưng tâm tỉnh thức suốt
ngày đêm, đó là Phật, là kẻ hiểu biết, tỉnh thức,
hạnh phúc sáng suốt. Phật không bao giờ ngủ, nhưng
không bao giờ cảm thấy uể oải, thẫn thờ. Nếu bạn
làm cho tâm trí mình kiên định như thế trong lúc
hành thiền, bạn có thể thức liền hai ba hôm, và
khi buồn ngủ vẫn có thể nhập định trong vòng năm
mười phút là tỉnh dậy một cách tươi tắn như người
đã ngủ trọn đêm. Ở mức độ này, bạn không cần phải
nghĩ đến thân thể mình nữa, mặc dầu với tình thương
và sự hiểu biết, bạn vẫn còn thấy thân thể này cần
thiết.
Vài gợi ý trong việc hành thiền
Trong khi thực hành có thể có nhiều hình ảnh và
ảo tưởng sẽ hiện ra trong tâm bạn. Bạn sẽ thấy những
hình ảnh hấp dẫn, sẽ nghe những âm thanh khuấy động
-- những loại như thế đều phải quan sát. Loại hình
ảnh trong thiền minh sát này có thể có nhiều năng
lực hơn những hình ảnh trong thiền định đơn thuần.
Những gì hiện lên đều phải quan sát và chỉ quan
sát thôi. Gần đầy có một số người hỏi tôi, "Lúc
tôi đang ngồi thiền có nhiều hình ảnh hiện ra trong
tâm tôi, tôi phải điều tra nghiên cứu chúng hay
chỉ ghi nhận sự đến đi của chúng?" Tôi đã trả
lời, "Khi bạn thấy một vài người nào đó đi
ngang qua, nếu họ là người lạ, bạn sẽ tự hỏi, 'Ai
đấy? Họ đi đâu? Họ đang làm gì?' Nếu họ là người
quen thì bạn chỉ cần ghi nhận rồi để họ đi qua."
Tham muốn, ao ước trong thực hành có thể là bạn
hay kẻ thù. Thoạt đầu, sự tham muốn, ao ước thúc
đẩy hay khích lệ việc hành thiền. Chúng ta muốn
thay đổi sự vật, muốn hiểu biết, muốn chấm dứt đau
khổ. Nhưng nếu luôn luôn ao ước chuyện chưa xảy
ra, muốn sự vật diễn ra hay có đặc tính mà chúng
không thể có thì chỉ gây thêm đau khổ thôi.
Một vài người hỏi, "Chúng tôi chỉ nên ăn khi
đói, chỉ nghỉ mệt như các thiền sư Zen đề nghị hay
chúng tôi nên thí nghiệm bằng cách làm ngược lại,
nghĩa là ép mình trong khuôn khổ, giờ giấc định
sẵn? Và nếu như vậy thì phải ấn định giờ giấc ngủ,
nghỉ và số lượng thực phẩm như thế nào mới thích
hợp?" Dĩ nhiên phải thí nghiệm, nhưng không
thể nào ấn định số lượng nhiều ít được. Phải tự
mình ấn định và tìm hiểu lấy. Lúc mới thực hành,
chúng ta chẳng khác nào đứa trẻ mới học viết những
chữ cái, chữ viết lên xuống, nghiêng ngửa. Dần dần
ta sẽ viết ngay ngắn đàng hoàng. Cuộc sống của chúng
ta cũng như vậy, nếu chúng ta không sống như thế,
chúng ta phải sống thế nào đây?
Thực hành tốt đẹp là tự hỏi mình một cách thành
thật, "Tại sao ta sinh ra?" Tự hỏi mình
như thế ngày ba lần -- sáng, trưa, tối. Ngày nào
cũng tự hỏi như vậy.
Đức Phật dạy Đại đức Ananda phải nhìn thấy sự vô
thường và sự chết trong mỗi hơi thở. Chúng ta phải
biết cái chết; chúng ta phải chết để sống. Điều
này có nghĩa như thế nào? Chết là chấm dứt tất cả
mọi hoài nghi, mọi câu hỏi, và chỉ sống với thực
tế hiện tại. Không phải ngày mai bạn mới chết, bạn
phải "chết" ngay trong hiện tại. Bạn có
thể làm được điều đó không? A! Tĩnh lặng làm sao,
sự bình an tĩnh lặng của chấm dứt hoài nghi.
Tinh tấn thật sự là trạng thái của tâm chứ không
phải của thân. Có nhiều phương pháp định tâm khác
nhau cũng như có nhiều cách sống trên cõi đời này.
Điều quan trọng là bạn phải tự ăn lấy, chứ không
phải cách thức tìm kiếm thức ăn. Thực ra, khi tâm
thoát khỏi tham ái, tâm định sẽ khởi lên một cách
tự nhiên, chứ chẳng cần một điều kiện nào nữa.
Ma túy có thể mang lại những cảm giác đáng lưu
ý, nhưng người dùng ma túy không tạo ra nguyên nhân
của hiệu quả này. Họ chỉ tạm thời biến đổi bản chất,
chẳng khác nào tiêm cho khỉ một chất thuốc khiến
chúng vọt lên cây dừa để hái trái. Những kinh nghiệm
này có thể đúng nhưng không tốt, hoặc là tốt nhưng
không đúng, trong khi đó Giáo Pháp luôn luôn mang
hai đặc tính tốt và đúng.
Đôi lúc chúng ta muốn ép tâm mình phải an tịnh,
sự cố gắng như thế càng làm quấy nhiễu thêm. Trong
trường hợp này, ta hãy ngưng ngay sự thúc ép, kết
quả là tâm định sẽ xuất hiện. Nhưng trong trạng
thái bình an tĩnh lặng này, chúng ta bắt đầu băn
khoăn, "Sẽ có chuyện gì nữa đây? Điều gì đang
xảy ra?" và chúng ta lại dao động trở lại.
Một ngày trước kỳ kết tập tam tạng lần thứ nhất,
một vị sư đến nói với Ngài Ananda, "Ngày mai
là ngày kết tập tam tạng. Những vị tham dự đều hoàn
toàn đắc đạo." Lúc bấy giờ Ananda chỉ mới đạt
quả thánh đầu tiên, nên Ngài quyết định dốc toàn
lực hành thiền suốt đêm để đạt thành quả cuối cùng.
Nhưng sự cố gắng quá sức này đã làm Ananda mệt mỏi.
Không đạt được chút tiến bộ nào do nỗ lực của mình,
Ananda quyết định đi nghỉ một lát. Nhưng trong khi
đặt mình xuống nghỉ, đầu chưa chạm gối, Ananda đã
đắc đạo. Tóm lại, chúng ta phải học cách loại bỏ
tham ái, dầu đó là ý muốn đắc đạo, mới giải thoát
được.
Quán chiếu mọi vật
Khi bạn tiếp tục hành thiền, bạn phải quan sát
cẩn thận mọi kinh nghiệm, mọi giác quan của mình.
Chẳng hạn khi quan sát đối tượng giác quan như tiếng
động, sự nghe. Sự nghe của bạn là một chuyện, và
âm thanh là một chuyện khác. Bạn chỉ cần tỉnh thức
là đủ. Ngoài ra chẳng có ai hay vật gì cả. Hãy học
cách chú ý một cách thận trọng. Quan sát để tìm
ra chân lý một cách tự nhiên như vậy, bạn sẽ thấy
rõ cách thức sự vật phân ly. Khi tâm không bám víu
hay nắm giữ sự vật một cách bất di bất dịch theo
ý riêng của mình, không nhiễm một cái gì, sự vật
sẽ trở nên trong sáng rõ ràng.
Khi tai nghe, hãy quan sát tâm xem thử tâm đã bắt
theo, đã nhận ra câu chuyện liên quan đến âm thanh
mà tai nghe chưa? Bạn có thể ghi nhận, sống với
nó và giác tỉnh trước nó. Có lúc bạn muốn thoát
khỏi sự chi phối của âm thanh. Nhưng đó không phải
là phương thức để tránh thoát. Bạn phải dùng sự
tỉnh thức để thoát khỏi sự chi phối của âm thanh.
Chúng ta không thể kỳ vọng đạt được bình an tĩnh
lặng tức khắc ngay khi hành thiền. Hãy để cho tâm
yên nghỉ, để tâm làm theo ý nó muốn, chỉ cần quan
sát mà đừng phản ứng gì cả. Đến khi sự vật tiếp
xúc với giác quan chúng ta hãy thực tập tâm xả.
Hãy xem mọi cảm giác như nhau. Xem chúng đến và
đi như thế nào. Giữ tâm ở yên trong hiện tại. Đừng
nghĩ đến chuyện đã qua, đừng bao giờ nghĩ, "Ngày
mai ta sẽ làm chuyện đó." Nếu lúc nào chúng
ta cũng thấy những đặc tính thực sự của mọi vật
trong giây phút hiện tại này, bất cứ cái gì tự nó
cũng thể hiện Giáo Pháp cả.
Huấn luyện tâm cho đến khi tâm ổn cố, từng trải,
kinh nghiệm. Lúc bấy giờ, khi sự vật diễn biến bạn
sẽ nhận chân được chúng một cách rõ ràng mà không
bị dính mắc vào chúng. Bạn đừng ép buộc tâm tách
rời khỏi đối tượng giác quan. Khi bạn thực hành,
chúng sẽ tự tách rời lấy và hiện bày ra những yếu
tố đơn giản là Thân, Tâm.
Khi ý thức được hình sắc, âm thanh, mùi vị đúng
theo chân lý, bạn sẽ thấy tất cả đều có một đặc
tính chung -- vô thường, khổ và vô ngã. Mỗi khi
nghe một âm thanh, âm thanh sẽ ghi vào tâm bạn đặc
tính chung ấy. Nghe cũng như không nghe đều như
nhau. Chánh niệm luôn luôn ở với bạn, bảo vệ cho
sự nghe. Nếu lúc nào tâm bạn cũng đạt được trình
độ này, sự hiểu biết sẽ nảy nở trong bạn. Đó là
Trạch Pháp Giác Chi, một trong bảy yếu tố đưa đến
giác ngộ. Yếu tố trạch pháp này suy đi xét lại,
quay tròn, tự đảo lộn, tách rời khỏi cảm giác, tri
giác, tư tưởng, ý thức. Không có gì có thể đến gần
nó. Nó có công việc riêng để làm. Sự tỉnh giác này
là một yếu tố tự động có sẵn của tâm, bạn có thể
khám phá ra nó ở giai đoạn đầu tiên của sự thực
hành.
Bạn thấy gì, bạn làm gì đều phải ghi nhận. Đừng
bao giờ rời khỏi thiền. Nhiều người nghĩ rằng họ
có thể xả thiền vào cuối giờ ngồi thiền. Hết giờ
hành thiền họ cũng chấm dứt luôn việc theo dõi,
quan sát thân tâm. Không nên làm như thế. Thấy bất
cứ cái gì, bạn cũng phải quan sát. Thấy người tốt
kẻ xấu, người giàu kẻ nghèo, phải quan sát theo
dõi. Thấy người già người trẻ, người lớn người nhỏ,
đều phải quan sát. Đó là cốt tủy của việc hành thiền.
Trong khi quan sát để tìm kiếm Giáo Pháp, bạn phải
quan sát đặc tính, nhân quả và vai trò của các đối
tượng giác quan, lớn nhỏ, trắng đen, tốt xấu. Nếu
đó là sự suy nghĩ thì chỉ đơn thuần biết đó là sự
suy nghĩ. Tất cả những đối tượng này đều là vô thường,
khổ và vô ngã. Không nên dính mắc vào chúng. Tỉnh
thức là nghĩa trang của chúng, hãy vất tất cả chúng
vào đấy. Làm được như thế bạn sẽ thấy được đặc tính
vô thường rỗng không của mọi vật và chấm dứt khổ
đau. Hãy tiếp tục quan sát, thẩm nguyện cuộc sống
này. Khi gặp một điều tốt đẹp, hãy ghi nhận xem
tâm bạn lúc ấy thế nào? Bạn vui chăng? Nên quan
sát sự vui này. Dùng vật gì độ một thời gian bạn
bắt đầu thấy chán, muốn cho hay bán đi. Nếu không
ai mua bạn sẽ vất bỏ. Tại sao vậy? Cuộc sống của
chúng ta luôn luôn biến đổi không ngừng. Bạn hãy
nhìn vào chân lý này. Một khi bạn đã hiểu cặn kẽ
một trong những biến cố này, bạn sẽ hiểu tất cả.
Tất cả đều có cùng một bản chất.
Có thể bạn không thích một loại hình ảnh hay âm
thanh nào đó. Hãy ghi nhận điều này. Về sau có thể
bạn lại thích điều mà trước đây bạn từng ghét bỏ.
Nhiều chuyện tương tự như thế xảy ra. Khi bạn nhận
chân ra rằng mọi chuyện trên thế gian đều vô thường,
khổ và vô ngã, bạn sẽ vất bỏ tất cả, và mọi luyến
ái sẽ không còn khởi dậy nữa. Khi bạn thấy mọi vật,
mọi chuyện đến với bạn đều như nhau, lúc bấy giờ
bạn sẽ thản nhiên trước mọi sự, và mọi chuyện chỉ
là các pháp khởi sinh mà chẳng có gì đặc biệt khiến
bạn phải bận lòng. Khi đó Giáo Pháp sẽ xuất hiện.
Một khi bạn đã bước vào dòng suối này và nếm được
hương vị giải thoát, bạn sẽ không còn phải trở lại
nữa, không còn nhận thức và hành động sai lầm nữa.
Tâm trí bạn sẽ biến đổi, chuyển hướng nhập lưu.
Bạn không còn rơi vào đau khổ nữa. Lúc bấy giờ bạn
sẽ vứt bỏ mọi tác động sai lầm, bởi vì bạn thấy
rõ mọi hiểm nguy trong các tác động sai lầm này.
Bạn không nói hay làm những điều lầm lạc nữa. Bạn
sẽ hoàn toàn đi vào Đạo. Bạn sẽ hiểu rõ bổn phận,
sự vận hành, lối đi, và bản chất tự nhiên của con
đường này. Bạn sẽ buông xả mọi chuyện cần buông
xả và tiếp tục buông xả mọi chuyện, không chút ưu
tư thắc mắc.
Những điều tôi nói nãy giờ chỉ đơn thuần là những
lời nói. Ai đến gặp tôi, tôi sẽ có chuyện để nói
với họ. Nhưng tốt nhất là chẳng nên nói nhiều về
những điều này. Việc thực hành quan trọng hơn. Hãy
bắt tay vào việc thực hành. Đừng chần chờ gì nữa.
Tôi chẳng khác nào một người bạn tốt mời bạn đi
đến một nơi nào đó. Đừng do dự nữa, hãy lên đường.
Bạn sẽ không bao giờ ân hận đâu.
Lá rụng
Vào mùa lá rụng, cứ vài hôm chư tăng trong thiền
viện lại chia nhau quét lá ở lối đi và sân chùa.
Trên những khoảng sân rộng, một hai vị sư quét không
xuể, phải nhiều sư hợp lại, dùng những cây chổi
cán dài, cùng nhau quét. Những cây chổi dài chuyển
động chẳng khác nào những trận cuồng phong thổi
đám là vàng tung bay như đàn bướm. Nhưng một lát
sau, rừng cây lại tiếp tục dạy ta bài học mới. Lá
lại rụng, các nhà sư lại tiếp tục quét. Quét xong
đàng này, đàng kia lá đã tràn ngập; quét đến cuối
lối mòn, đầu lối mòn đã vàng rực màu lá.
Cuộc sống của chúng ta khác nào hơi thở ra vào,
giống như lá sinh ra rồi rụng xuống. Khi hiểu được
bài học lá rụng, chúng ta có thể quét sạch lối đi
hàng ngày và gặt hái hạnh phúc lớn lao trong cuộc
sống phù du biến đổi này.
Đời sống một nhà sư
Một nhà sư trẻ sẽ sống an lạc hạnh phúc trong rừng
sâu khi biết chiêm nghiệm bản chất thiên nhiên của
sự vật. Khi nhìn quanh thầy ý thức được sự biến
hoại của tất cả mọi hình thái và tất cả đều đi đến
nơi hủy diệt.
Chẳng có gì trường cửu trên thế gian. Ý thức được
điều này, nhà sư bắt đầu an nhiên tĩnh lặng.
Nhà sư tập bằng lòng với sự thiếu thốn: chỉ ăn
những gì thấy cần, chỉ ngủ khi cần thiết, thỏa thích
với tất cả những gì mình có. Đó là căn bản của thiền
Phật Giáo. Nhà sư Phật Giáo không hành thiền với
lý do vị kỷ. Trái lại, các thầy hành thiền để tự
hiểu biết chính mình, đồng thời để có thể chỉ dạy
kẻ khác sống trong bình an hiểu biết.
Thiền không phải chỉ là sống an lành trong cuộc
đời này. Ngược lại, phải đương đầu với chính mình
chẳng khác nào dấn thân vào phong ba bão táp. Lúc
bắt đầu hành thiền tích cực, chúng ta thường cảm
thấy chán nản, thất vọng đến nỗi muốn tự sát nữa
là khác. Một số người nghĩ rằng đời sống của sư
sãi thật rảnh rỗi và dễ dàng. Cứ để họ thử đi và
xem họ chịu đựng được bao lâu. Nghiệp vụ của các
nhà sư thật khó khăn. Các vị phải tích cực trong
công tác tự giải toả tâm mình để lòng từ ái bao
trùm mọi vật. Trong khi nhìn thấy sự sinh diệt của
đời sống, nhà sư ý thức được rằng chẳng có gì tùy
thuộc vào thầy cả, nhờ thế thầy dồn đau khổ đến
đường cùng.
Nếu hành thiền một cách nghiêm chỉnh, chúng ta
sẽ gặt hái được thành quả ngay. Bạn cứ thử đi sẽ
thấy, tôi chẳng cần quảng cáo làm chi.
Thu thúc
Lối sống thế tục có tính cách hướng ngoại, buông
lung. Lối sống của nhà tu bình dị và tiết chế. Nhà
sư có lối sống khác hẳn kẻ thế tục, từ bỏ thói quen,
ăn ngủ và nói ít lại. Nếu làm biếng, phải tinh tấn
thêm; nếu cảm thấy khó chịu đựng, phải kiên nhẫn
thêm; nếu cảm thấy yêu chuộng và dính mắc vào thân
xác, phải nhìn những khía cạnh bất tịnh của cơ thể
mình.
Nhiều người cho rằng, "Đối kháng lại dục vọng,
tham ái, là một điều khó khăn, chúng ta hãy nương
theo nó và bỏ dần, đây là một phương pháp chậm chạp
nhưng có hiệu quả." Tôi không đồng ý như thế,
vì dung túng cho tham ái, dục vọng bạn sẽ không
bao giờ đến đích được.
Giới luật và thiền định hỗ trợ tích cực cho việc
luyện tâm, giúp cho tâm an định và thu thúc. Nhưng
bề ngoài thu thúc chỉ là một sự chế định, một dụng
cụ giúp tâm an tịnh. Bởi vì dù bạn có cuí đầu nhìn
xuống đất đi nữa, tâm bạn vẫn có thể bị chi phối
bởi những vật ở trong tầm mắt bạn.
Có thể bạn cảm thấy cuộc sống khó khăn và bạn không
thể làm gì được. Nhưng càng hiểu rõ chân lý của
sự vật, bạn càng được khích lệ hơn. Giả sử trên
đường về nhà, bạn dẫm phải gai. Gai đâm sâu vào
chân bạn. Quá đau đớn bạn cảm thấy không thể nào
đi nổi. Thế rồi, thình lình một con cọp xuất hiện.
Bạn quên hết cái đau, nhỏm dậy chạy về nhà.
Phải luôn luôn tự hỏi, "Tại sao ta xuất gia?"
Hãy xem câu này như một khích lệ giúp ta tiến bước.
Không phải xuất gia để được thoải mái và hoan lạc.
Sống ở đời còn dễ dàng hơn nhiều. Trong lúc đi khất
thực, phải luôn luôn tự hỏi, "Tại sao ta phải
làm như vầy? Ta không nên bỏ thói quen này."
Khi nghe pháp, bạn nghe lời dạy hay chỉ nghe âm
thanh? Có thể lời nói đi vào tai, nhưng bạn đang
suy nghĩ, "Khoai lang điểm tâm sáng nay thật
tuyệt."
Phải giữ tâm chánh niệm thật sắc bén. Trong khi
làm các công việc trong tu viện phải làm với sự
chú ý. Phải biết mình đang làm gì, đang có cảm giác
gì trong khi làm. Phải biết rằng khi tâm quá dính
mắc vào ý niệm thiện ác của nghiệp là tự mang vào
mình gánh nặng nghi ngờ và bất an vì luôn luôn e
sợ không biết hành động của mình có sai lầm, có
tạo nên nghiệp ác không. Đó là một sự dính mắc cần
tránh. Quá dính mắc vào điều này làm bạn trở nên
e dè sợ hãi mỗi khi làm công việc gì. Chẳng hạn
lúc quét nhà, bạn lo sợ sẽ làm kiến chết. Trong
khi đi, bạn lo sợ sẽ làm hại cây cỏ. Càng giữ giới
trong sạch, những nghi ngờ lo sợ càng đến với bạn
nếu bạn dính mắc vào giới. Nếu tiếp tục băn khoăn
lo lắng, bạn chỉ đạt được sự bình an tạm thời. Bạn
phải hiểu rõ tiến trình của hoài nghi để chấm dứt
nó.
Trong lúc tụng kinh chúng ta thường nói rằng chúng
ta là những kẻ phụng sự Đức Phật. Phụng sự có nghĩa
là hoàn toàn đặt mình dưới quyền điều khiển và sử
dụng của ông chủ, và ông chủ sẽ ban cho ta mọi nhu
cầu: thức ăn, quần áo, chỗ ở, lời hướng dẫn, v.
v.
Chúng ta, những kẻ mặc áo thừa kế của Đức Phật,
phải hiểu rằng mọi nhu yếu chúng ta nhận được từ
thiện tín nhờ đức hạnh của Đức Phật chớ không phải
ở phước báu riêng của chúng ta. Chúng ta phải biết
tri túc trong vật dụng (thức ăn, y phục, chỗ ở,
thuốc men). Chẳng cần phải mặc y thật tốt; y chỉ
cốt đủ che thân. Chẳng cần phải có thức ăn ngon;
thực phẩm chỉ để nuôi mạng sống. Đi trên đường Đạo
là đối kháng lại mọi phiền não và ham muốn thông
thường.
Một nhà sư lúc đi khất thực, nếu thấy lòng tham
muốn nói, "Cho tôi nhiều", ngài sẽ nói,
"Cho tôi ít". Nếu phiền não nói, "Cho
tôi mau mau", hạnh thu thúc sẽ nói, "Cho
tôi chậm chậm". Nếu tham ái muốn thức ăn nóng
và mềm, hạnh thu thúc sẽ yêu cầu nó lạnh và cứng.
Trong mọi hành động của chúng ta -- mặc y, đi bát,
đều phải làm trong chánh niệm. Giáo pháp và giới
luật Đức Phật ban cho ta chẳng khác nào một vườn
cây trái ngon ngọt. Chúng ta khỏi bận tâm về việc
gieo trồng và săn sóc. Chúng ta cũng khỏi phải lo
sợ gặp phải trái cây độc hay không thích hợp. Tất
cả đều có lợi ích và tốt đẹp cho ta.
Một khi đạt được sự mát mẻ bên trong, bạn không
nên vất bỏ nếp sống tu viện này. Bạn hãy làm khuôn
mẫu cho những kẻ đến sau, đó là thái độ của những
nhà sư giác ngộ.
Giới là dụng cụ
Nhiều người sợ mình hành động sai lầm, tội lỗi,
lo lắng quá đáng đến độ mất ngủ. Lúc còn dính mắc
vào giới luật thì giới luật là gánh nặng, dần dần
bạn sẽ giữ giới một cách nhẹ nhàng và thoải mái
hơn. Nhưng thoạt đầu bạn phải trải qua thời kỳ nặng
nề cũng như trước khi vượt qua đau khổ, bạn phải
đau khổ trước. Một người tận tâm, chu đáo trong
việc tu hành, trước tiên phải chịu nhiều khó khăn,
chẳng khác nào cá nước ngọt phải sống trong nước
mặn. Cố gắng giữ giới luật khiến mắt bạn nóng bỏng,
xốn xang.
Một người thờ ơ và cẩu thả trong việc giừ gìn giới
luật thì sẽ chẳng cảm thấy bị phiền lụy chút nào,
nhưng họ cũng chẳng bao giờ có dịp học hỏi để thấy
chân lý.
Giữ hai trăm hai muơi bảy (227) giới là điều thiết
yếu mà một nhà sư phải hành trì. Chúng ta phải giữ
gìn giới luật trong sạch. Nhưng không phải chỉ giữ
giới là đủ. Hãy nhớ rằng giới chỉ là sự chế định
hay dụng cụ mà thôi. Không cần phải nghiên cứu hết
mọi ý nghĩa lý của giáo pháp hay thông hiểu hết
tất cả luật lệ. Cũng như khi làm một con đường băng
qua rừng, bạn chẳng cần phải đốn hết cây rừng.
Mọi phương pháp thực hành đều dẫn đến giải thoát,
trở thành người thấy rõ ánh sáng trong mọi thời
gian. Con đường duy nhất giúp giới tịnh là làm cho
tâm trong sạch.
Sang trái, sang phải
Một nhà sư Tây phương lưu ngụ ở Wat Pah Pong đã
lấy làm thất vọng vì phải thực hành khó khăn và
phải giữ nhiều giới luật phức tạp và có vẻ phi lý.
Thầy bắt đầu chỉ trích những vị sư khác là hành
thiền tùy tiện không đến nơi đến chốn. Thầy nghi
ngờ những lời dạy của Ajahn Chah. Một dịp nọ thầy
đến gặp ngài Ajahn Chah than phiền, cho rằng ngay
chính ngài Ajahn Chah cũng mâu thuẫn và dường như
nhiều lúc đi ngược lại đường lối giải thoát.
Ajahn Chah cười và cho biết nhiều nhà sư đã tự
gánh lấy đau khổ khi chú ý phán đoán những người
chung quanh. Sau đó Ajahn Chah giải thích cho nhà
sư Tây phương rõ đường lối giảng dạy đơn giản của
ngài: Cũng giống như trường hợp tôi thấy một người
đang đi trên con đường mà tôi quen thuộc. Tôi theo
dõi và biết người ấy sắp rơi vào hố bên phải của
con đường. Tôi bèn gọi người ấy, "Hãy đi sang
trái, sang trái". Cũng thế, khi thấy một người
sắp rơi vào hố bên trái, tôi lại lớn tiếng, "Sang
phải, sang phải". Đó là phạm vi chỉ dẫn của
tôi. Bất kỳ thầy dính mắc vào cực đoan nào, dính
mắc vào cái gì tôi đều bảo, "Hãy buông bỏ chúng
đi. Hãy đi sang phải, hãy đi sang trái, rồi trở
về trung tâm". Làm như thế thầy sẽ đến gặp
Chân pháp.
Chửa trị bất an
Đây là phương pháp đối trị bất an và phóng tâm:
-- Ăn thật ít. Đừng nói chuyện với ai.
Sau bữa cơm, trở về liêu cốc của mình, đóng cửa
lớn và cửa sổ, mặc nhiều áo vào, ngồi xuống, cảm
thấy thế nào cũng mặc kệ.
Bằng cách này bạn sẽ trực tiếp đối diện với bất
an. Khi cảm giác khởi dậy, hãy đặt câu hỏi với chúng.
Bạn sẽ thấy chúng chỉ là cảm giác mà thôi.
Khi bạn cần đi sâu vào việc thực hành, sẽ có lúc
những căng thẳng lớn lao trong tâm hồn bạn trôi
theo những giọt mồ hôi và nước mắt. Nếu bạn chưa
trải qua vài lần như thế, bạn chưa hành thiền thật
sự.
Ý nghĩa sâu xa của việc tụng kinh
Mỗi buổi sáng, sau khi đi khất thực về, các nhà
sư vào trai phòng ngồi thành hai dãy dài. Họ chắp
tay cung kíng đọc kinh trước khi vào bữa ăn. Đây
là những bài kinh chúc lành bằng tiếng Pali, nhắc
lại những lời dạy của Đức Phật, trở về với thời
kỳ Phật còn hiện tiền. Thiện nam tín nữ thuần thành
đem thực phẩm đến dâng cúng cho chư tăng ngồi yên
lặng thành khẩn khi các nhà sư tụng kinh. Sau đó
chư tăng dùng cơm trong yên lặng chánh niệm.
Một vị khách Tây phương, còn mới mẻ với nếp sống
và truyền thống trong tu viện, hỏi Ngài Ajahn Chah
ý nghĩa việc tụng kinh:
-- Phải chăng những nghi lễ này có một ý nghĩa
sâu xa bên trong?
Ajahn Chah trả lời:
-- Vâng, rất có ý nghĩa. Đặc biệt là đối với những
nhà sư đang đói bụng mà phải tụng kinh như thế này
trước khi được ăn bữa cơm độc nhất trong ngày. Bài
kinh bằng tiếng Pali có nghĩa là "Cám ơn."
Họ nói, "Rất cám ơn!"
Chân lý nằm trong những công việc hèn mọn
Việc hành thiền ở đây thật ra chẳng có gì khó khăn,
thế nhưng vẫn có nhiều người không muốn làm. Chùa
Wat Pah Pong trong những ngày đầu tiên rất thiếu
thốn, không có điện, không có giảng đường hay phòng
ăn lớn. Bây giờ chúng ta đã đầy đủ và chúng ta phải
chăm nom săn sóc chúng. Tiện nghi luôn luôn phát
sinh ra những phức tạp, rắc rối.
Chúng ta, mọi người đều có nhiều bổn phận với ngôi
tu viện này. Chăm sóc cốc liêu và nhà vệ sinh là
môt việc làm quan trọng. Những việc đơn giản khác
cũng quan trọng không kém, chẳng hạn như lau quét
giảng đường, rửa bát cho các vị sư lớn tuổi, giữ
sạch sẽ cốc liêu và nhà vệ sinh. Những cái dơ dáy
nhất -- chúng ta phải thừa nhận trước tiên là cơ
thể chúng ta, chúng ta cũng phải giữ sạch sẽ.
Đây không phải là việc làm khiếm nhã hay hèn mọn.
Chúng ta phải hiểu biết một cách xa hơn, đây là
việc làm tinh sạch nhất. Mọi công việc đều làm trọn
vẹn, chánh niệm thì vừa đem lại lợi ích cho ta,
vừa thể hiện việc hành thiền có kết quả tốt đẹp.
Sống hòa thuận, hài hòa với người khác
Một trong những mục đích luân lý và đạo đức là
sống hòa thuận, hài hòa với những người bạn tinh
thần. Mục đích của chúng ta là vậy chứ không phải
chỉ nhằm thỏa mãn những ham muốn ích kỷ của mình.
Hiểu biết vị thế và tôn trọng các bậc truởng thượng
là một phần quan trọng của giới luật mà chúng ta
hành trì.
Muốn sống hài hòa với mọi người, chúng ta phải
loại bỏ tính kiêu căng tự phụ, cho mình là quan
trọng hơn cả, đồng thời cũng không dính mắc vào
những lạc thú phù du. Nếu không vất bỏ yêu ghét,
thực ra bạn chưa có được chút nỗ lực tinh tấn nào.
Không vứt bỏ có nghĩa là đi tìm an bình nơi không
bình an. Hãy tự khám phá chân lý này. Chẳng cần
phải lệ thuộc vào một đạo sư bên ngoài -- thân và
tâm không ngừng dạy ta. Hãy lắng nghe bài thuyết
giảng của chúng để không còn hoài nghi nữa.
Con người luôn luôn bị dính mắc vào ý nghĩ cho
mình là lãnh tụ, người lãnh đạo. Cũng có kẻ dính
mắc vào chuyện mình là một học trò, một môn đệ.
Có ai tự hào rằng mình không phải là học trò khi
mình có thể học hỏi ở tất cả mọi vật? Ai có thể
dạy dỗ tất cả mọi điều mà không phải là thầy?
Hãy lấy việc vái lạy làm phương cách bảo vệ thế
giới quanh bạn. Hãy vái lạy một cách tôn kính và
đầy tình thương. Khi trở về cốc liêu một mình, hãy
để mọi thứ xuống và việc trước tiên là nằm dài ra
lạy. Muốn đi ra ngoài để quét dọn, hãy nằm dài ra
lạy trước. Lúc quét dọn xong trở vào, lại tiếp tục
lạy nữa. Vào nhà vệ sinh, phải vái lạy trước. Và
vái lạy trước khi trở về phòng. Hãy nhủ thầm, "Mọi
lỗi lầm do thân, khẩu, ý tôi gây ra, cầu mong đuợc
tha thứ." Luôn luôn giữ mình chánh niệm.
Tu sĩ chúng ta là những kẻ đại may mắn. Chúng ta
có chỗ ở, có bạn lành, có cư sĩ hỗ trợ và có Giáo
Pháp. Chỉ còn việc thực hành nữa thôi.
Tiết chế lời nói
Muốn nói ít thì chỉ nói khi có ai hỏi, chỉ nói
khi cần. Khi có ai hỏi, "Sư đi đâu?" chỉ
cần trả lời, "Đi lấy gỗ mít." Nếu họ hỏi
tiếp, "Lấy gỗ mít để làm gì?" chỉ trả
lời, "Để nhuộm y." Thay vì trả lời dài
dòng, "Tôi vừa từ Bangkok đến. Tôi nghe nói
quanh đây có nhiều gỗ mít tốt. Vì vậy tôi đến kiếm
một ít đem về nhuộm y. Tồi vừa mới may xong chiếc
y tuần rồi. Còn anh thì sao, tuần này thế nào?"
Kẻ xuất gia không nên nói nhiều và thích quần tụ.
Điều này không có nghĩa là phải hoàn toàn tịnh khẩu.
Nhưng nhà sư chỉ nói khi cần thiết và hữu ích. Trong
tu viện của ngài Ajahn Chah, buổi chiều sau khi
các nhà sư đã kéo nước, quét dọn, tắm rửa, không
còn nghe một âm thanh nào ngoài tiếng dép đi kinh
hành của các nhà sư. Thường thì mỗi tuần một lần,
các nhà sư vào giảng đường để nghe chỉ dẫn hoặc
học hỏi giáo lý. Xong xuôi, các vị lại trở về cốc
liêu để ngồi thiền hay đi kinh hành. Các đường đi
lại trong thiền viện đã khá mòn trước đây, nhưng
ngày nay vì các nhà sư ít đi lại nên người ta chỉ
thấy dấu chân những con chó trong làng.
Càng ngày càng khó tìm ra những thiền viện tốt
đẹp. Bởi thế một số nhà sư cho rằng Phật Giáo chỉ
chú trọng vào việc nghiên cứu học hỏi giáo lý mà
không thật sự thực hành. Khắp nơi người ta chỉ lo
đốn cây khai rừng để tạo nên những ngôi chùa mới
mà chẳng lưu tâm gì đến việc luyện tâm. Ngày xưa
trái lại, các thiền sư chỉ sống với thiên nhiên
mà không kiến tạo gì cả. Ngày nay các tín đồ xem
việc xây dựng chùa chiền là hoạt động chính của
tôn giáo và đó là lãnh vực mà nhiều người ưa thích.
Như vậy cũng đúng. Nhưng chúng ta phải hiểu mục
đích của việc xây dựng chùa chiền. Việc thực hành
giáo pháp của nhà sư chiếm khoảng 80 đến 90% thì
giờ, thời gian còn lại dành để giúp đỡ mọi người.
Lại nữa, muốn dạy người khác, tự mình phải kiểm
soát được mình; có kiểm soát được chính mình mới
có đủ khả năng giúp đỡ người. Đừng mang gánh nặng
của kẻ khác. Những buổi nghe Pháp là cơ hội để kiểm
điểm lại tâm mình, kiểm điểm lại sự thực hành của
mình. Điều quan yếu là phải thực hành những điều
đã học hỏi. Bạn có thể tìm thấy những lời dạy dỗ
này trong chính bản thân bạn không? Bạn đã thực
hành đúng hay gặp một vài khuyết điểm? Bạn có tầm
nhìn đúng không? Không ai có thể thay bạn làm những
điều này. Bạn không thể diệt hoài nghi nhờ nghe
người khác. Bạn có thể tạm thời xoa dịu mọi nghi
nan của bạn, nhưng chuyện rồi đâu lại vào đấy, và
nhiều câu hỏi lại phát sinh ra. Cách duy nhất để
chấm dứt hoài nghi là chính bạn phải tự mình diệt
chúng.
Chúng ta phải dùng phương pháp độc cư trong rừng
để thanh lọc tâm chứ không phải để tách rời với
mọi người hay để đào thoát. Làm thế nào có thể đào
thoát khỏi tâm chúng ta; làm thế nào có thể trốn
khỏi vô thường, khổ và vô ngã, khi chúng nó có mặt
khắp nơi? Chúng chẳng khác nào mùi hôi thối của
phân. Dầu dính ít hay nhiều vẫn hôi như nhau.
Đối diện với tham ái
Nếu đời sống thế tục thuận lợi cho việc hành thiền,
Đức Phật đâu có khuyến khích chúng ta đi tu làm
gì. Thân và Tâm chúng ta là những băng đảng cướp
của giết người luôn luôn lôi kéo chúng ta đến hầm
lửa tham lam, sân hận, si mê. Đời sống thế tục có
rất nhiều khó khăn trở ngại, ngũ dục luôn luôn lôi
cuốn. Chúng mời gọi chúng ta đến căn nhà ái dục
với một giọng nói ngọt ngào thân thiện, "Đến
đây! Hãy đến đây!" Và khi bạn đến gần, cửa
mở, súng nổ.
Bạn có thể đối trị tham ái bằng cách hành phép
đầu đà -- chỉ dùng các vật dụng cũ kỹ, không hấp
dẫn, hoặc hành thiền quán sát tử thi. Xem mọi người,
kể cả chính bạn, chỉ là những xác chết, những bộ
xương. Hành thiền cách này thực ra không phải dễ,
bởi vì khi chợt thấy hình ảnh một cô gái đẹp, bạn
sẽ không còn thấy xác chết nữa.
Niệm thân là cách tập luyện để đối kháng lại những
quan niệm sai trái của mình. Chúng ta thường xem
thân này tốt đẹp. Trong khi đó Đạo giải thoát bảo
ta nhìn cơ thể này chỉ là những tập hợp của vô thường
và bất toại nguyện. Khi chúng ta còn trẻ trung,
khoẻ mạnh, chưa nhuốm bệnh ngặt nghèo, chúng ta
dễ có những hành động và ý nghĩ sai lầm -- cái chết
đối với chúng ta thật xa vời, chẳng phải sợ hãi
gì cả. Những người không hành thiền thì mãi đến
lúc mang bệnh nặng hay tuổi già đến, họ mới thay
đổi quan niệm. Tại sao phải đợi đến lúc ấy? Hãy
làm như người đã chết, mặc dầu lòng tham ái của
bạn không bao giờ chết; đúng vậy, nhưng xem chúng
như đã chết.
Đôi khi cần phải đi đến một thái cực, chẳng hạn
sống gần với thú dữ, thấy nguy hiểm đe doạ tánh
mạng mình, bạn không còn thì giờ để nghĩ đến tình
dục nữa. Bạn cũng có thể bớt ăn hay nhịn ăn để giảm
sự kích thích.
Một số nhà sư sống trong nghĩa địa, lấy tử thi
làm đề mục hành thiền. Đây là đề mục có hiệu quả
chế ngự tình dục. Lúc còn trẻ tôi thích sống với
những người già, hỏi họ thử xem cái già đến với
họ như thế nào? Khi nhìn họ, tôi nhận thức được
rằng chúng ta ai cũng phải đi con đường này. Tâm
luôn luôn nghĩ đến cái chết, đến sự hủy diệt; không
còn chút quyến luyến hay kỳ vọng gì vào cuộc đời
này sẽ khiến chúng ta cảm thấy hoan hỉ và định tâm.
Khi thấy sự vật như nó đang hiện hữu, nghĩa là thấy
sự vật theo chân tướng của nó, ta sẽ không bị nó
ràng buộc. Sau đó, khi đã có tâm định kiên cố, chúng
ta sẽ không còn gặp khó khăn nữa. Chúng ta còn bị
ái dục lôi kéo vì thiền tâm chưa kiên cố. Khi trở
thành những nhà sư sống trong rừng, chúng ta không
còn để cho phiền não tự do hòanh hành nữa, vì chúng
ta đã nếm mùi những cú đá khá đau của chúng. Chỉ
có kiên nhẫn và chịu đựng mới là phương thuốc thích
hợp. Thực vậy, trong lúc hành thiền, chẳng có gì
cả ngoài sức chịu đựng. Thế mà nhờ sự chịu đựng,
tất cả đều sẽ thay đổi.
Có nhiều người cho rằng chúng ta điên khi thấy
chúng ta ngồi trong rừng bất động như những tượng
đá. Nhưng họ đã sống ra sao? Họ cười, họ khóc, họ
dính mắc vào sự vui buồn. Có khi họ giết nhau hay
tự sát vì tham lam sân hận. Vậy thì ai điên đây?
Hãy luôn luôn nhớ kỹ trong tâm: Tại sao ta xuất
gia? Người nào đến hành thiền như chúng ta mà không
hưởng được hương vị giải thoát thì đã phí thì giờ
vô ích. Những cư sĩ, với gia đình, nghề nghiệp,
trách nhiệm, mà còn nếm được hương vị giải thoát,
huống hồ một người xuất gia. Một tu sĩ nếu chịu
hành thiền chắc chắn sẽ thành công.
Hoàn cảnh có thể thay đổi, nhưng tâm vẫn thế
Người ta thường nghĩ rằng từ bỏ hết đời sống thế
tục, mặc y, mang bát, làm một vị sơn tăng là vất
bỏ lại sau lưng tất cả những gì thuộc tư hữu của
mình. Không còn làm chủ xe cộ, máy móc, sách vở,
áo quần, nhà sư hoàn toàn tự do. Nhưng tâm luyến
ái, như một cái bánh trớn, không thể đứng lại ngay
mà phải dừng lại từ từ.
Bởi thế, một số nhà sư Tây phương vừa mới vất bỏ
của cải trần thế đã sớm dính mắc vào y, bát. Họ
nhuộm y thật đúng màu, xoay sở đủ cách để làm chủ
một chiếc bát mới, nhẹ, làm bằng sắt không gỉ. Bận
tâm, lo săn sóc hay dính mắc vào vài ba vật sở hữu
có thể làm mất nhiều thì giờ, trong khi đó công
việc của nhà sư là chỉ hành thiền mà thôi.
Một vài nhà sư Tây phương đã từng du lịch nhiều
nơi trên thế giới trước khi đi tu. Họ đã tự do ăn
mặc và sống theo sở thích trước đây; chẳng bao lâu
họ sẽ cảm thấy đời sống an phận, khuất phục trong
thiền viện rất tù túng, áp chế và khó khăn. Râu
tóc cạo như nhau, y áo cùng kiểu, cách vái chào
các sư cao hạ, cách ôm bình bát,v. v., đều cùng
một lối giống nhau cả. Dù cho có chủ tâm tốt, người
Tây phương cũng khó có thể cảm thấy thoải mái trong
lối sống khuôn mẫu, thu thúc này.
Một vị sư đặc biệt trước đây không những là khách
du lịch thường xuyên mà còn tự xem mình là một tín
đồ của "đợt sóng mới," đội những chiếc
nón thêu hoa đủ màu, trên gắn những cái chuông nhỏ,
tóc dài để bím, v. v. Sau một vài tuần sống thúc
bó trong qui củ thiền viện, một đêm nọ nhà sư thức
giấc vào lúc nửa đêm vì một cơn ác mộng. Trong mộng
nhà sư thấy mình mặc bộ y nhuộm đủ màu xanh đỏ;
chiếc bát cũng được vẽ hoa lá và những đường ngoằn
ngoèo theo lối hoa văn Tây Tạng.
Ajahn Chah cười khi nghe thuật chuyện sáng hôm
sau, và ngài hỏi thăm nhà sư về sự tự do ở Mỹ. Phải
chăng tự do thể hiện qua kiểu để tóc hay lối ăn
mặc? Có lẽ sau đó Ajahn Chah nhắc nhở nhà sư và
đưa nhà sư trở về với việc hành thiền, đó là ý nghĩa
sâu xa của tự do. Việc làm chính của nhà sư là khám
phá ra rằng: tự do vượt ra khỏi mọi hoàn cảnh và
thời gian.
Người nào gặt hái được kinh nghiệm về sự tham luyến
trong khi khoác áo nhà tu và trong khi sống đơn
giản, người ấy đã học được một bài học sáng ngời
quí giá, hơn hẳn tất cả những bài học từ trước.
Tư hữu và tham luyến hoàn toàn tách rời khỏi mọi
hoàn cảnh bên ngoài. Chúng có gốc rễ từ trong tim
và thể hiện trong mọi hoàn cảnh. Chỉ với một vật
nhỏ bé, tư hữu và tham luyến cũng khởi dậy được.
Cho đến khi nào chúng ta hiểu và học được bài học
sâu xa về sự dứt bỏ, lúc bấy giờ những cấu hợp bên
ngoài chỉ là đấu trường khác, nơi đấy những tập
nhiễm tham ái đóng vai tuồng của chúng mà chẳng
liên hệ gì đến chúng ta cả.
Ajahn Chah biết rõ sức mạnh của đời sống an cư
trong rừng. Đấy là một sức mạnh lớn lao và sáng
chói, rất hữu hiệu để đối trị những phiền toái trầm
trọng mọc gốc rễ từ trong tâm trí chúng ta. Ưu thế
của Ngài là dùng giới luật nghiêm khắc giúp các
nhà sư trực tiếp đương đầu với những vấn đề của
chính họ, bao gồm trong tham lam, phán đoán, sân
hận và si mê. Những lời dạy của Ajahn Chah thường
nhằm mục đính đưa chư tăng trở về đối diện với chính
tâm mình, nguồn gốc và cội rễ của mọi phiền toái
trên cõi đời này.
Bạn trốn đi đâu bây giờ?
Nhiều người đến đây để xuất gia. Nhưng sau khi
trở thành nhà sư, họ đối diện với chính mình và
cảm thấy rằng chẳng an lạc chút nào. Thế rồi họ
nghĩ đến việc hoàn tục, chạy trốn. Nhưng đi tìm
an lạc ở đâu bây giờ?
Biết được cái gì tốt, cái gì xấu mới là điều quan
trọng, dù đi nhiều nơi hay ở một chỗ cũng thế thôi.
Bạn không thể tìm được an lạc trên đỉnh nuí cao
vời hay trong hang động sâu thẳm. Dầu có thể tới
tận nơi Đức Phật thành đạo nhưng không phải nhờ
thế mà bạn có thể đến gần chân lý hơn.
Điều đương nhiên đến với bạn trước tiên là hoài
nghi: Tại sao chúng ta phải tụng kinh? Tại sao chúng
ta ngủ ít thế? Tại sao phải nhắm mắt lúc ngồi thiền?
Những câu hỏi tương tự như vậy sẽ nảy sinh trong
tâm bạn khi bạn bắt đầu hành thiền. Chúng ta phải
thấy tất cả mọi nguyên nhân của đau khổ -- đó là
Chân Pháp, Tứ Diệu Đế, chứ chẳng phải một phương
pháp luyện tâm đặc biệt nào. Chúng ta phải quan
sát cái gì đang xảy ra. Nếu quan sát sự vật chúng
ta sẽ thấy chúng đều là vô thường và trống rỗng,
từ đó một ít trí tuệ sẽ nảy sinh. Khi chưa thật
sự hiểu thực tại, chưa thấy rõ thực tại, chúng ta
chưa hết hoài nghi và sự chán nản sẽ trở lại với
chúng ta nhiều lần. Đó không phải là dấu hiệu xấu.
Đó là một phần của những gì mà chúng ta phải đối
đầu; đó là những sở hữu của chính tâm ta, đó chính
là Tâm và Trí của ta.
Đi tìm Đức Phật
Ngài Ajahn Chah thường tỏ ra dễ dãi và cảm thông
với những đệ tử xuất gia Tây phương thích đến rồi
đi. Theo truyền thống, một thầy tỳ khưu mới tu phải
ở với vị thầy đầu tiên ít nhất năm hạ rồi mới được
ra đi làm một du tăng khất sĩ. Ajahn Chah thường
nhắn nhủ đệ tử phải giữ gìn giới luật trong sạch.
Giới luật là phần tối thiết yếu trong việc tu trì
của một nhà sư. Phải nghiêm trì giới luật, ép mình
trong khuôn khổ kỷ luật của thiền viện và của tăng
đoàn. Nhưng một số nhà sư Tây phương, giống như
trẻ được nuông chiều, đã được Ajahn Chah cho phép
ra đi trước thời hạn để đến học với những vị thầy
khác. Thông thường một vị sư ra đi là chuyện đương
nhiên, chẳng có gì phải luyến lưu, nhung nhớ hay
gây chút xáo trộn nào trong thiền viện. Đời sống
trong giáo pháp trực tiếp, đầy đủ và trọn vẹn. Mỗi
lần ngồi ở đâu Ajahn Chah đều nói, "Chẳng có
ai đến và chẳng có ai đi."
Sau một năm rưỡi tu tập tại chùa Wat Pah Pong,
một nhà sư Mỹ xin phép đến tu học với các thầy người
Thái và Miến Điện khác. Một hai năm sau, nhà sư
Mỹ trở về với nhiều mẩu chuyện về cuộc hành trình
của mình gồm nhiều tháng hành thiền tích cực và
một số kinh nghiệm đáng ghi nhớ. Sau buổi tụng kinh
lễ Phật chấm dứt, nhà sư Mỹ được đối xử bình thường
như chẳng hề có chuyện ra đi. Sau buổi thảo luận
Phật Pháp và hoàn tất mọi công việc thường nhật
với các nhà sư và khách đến viếng thăm, Ajahn Chah
hỏi nhà sư Mỹ xem thử nhà sư có tìm thấy giáo pháp
gì mới lạ và hay ho không?
-- Không, mặc dù tôi đã học được nhiều điều mới
trong khi hành thiền, nhưng thật ra, tất cả những
điều đó đều tìm thấy ở Wat Pah Pong này. Giáo pháp
luôn luôn ở ngay đây để mọi người thấy và thực hành.
Ajahn Chah cười nói:
-- A! Đúng vậy. Tôi đã từng nói với sư điều này
trước khi sư đi, nhưng sư không hiểu đó thôi.
Nhà sư Mỹ sau đó đến cốc của Ajahn Sumedho, vị
học trò đầu đàn người Tây phương của Ajahn Chah,
và kể lại tất cả hành trình của mình, những điều
hiểu biết mới và những thành quả lớn lao trong việc
hành thiền. Sumedho yên lặng lắng nghe và chuẩn
bị bình trà buổi chiều được pha bằng một vài loại
cây rừng. Sau khi câu chuyện chấm dứt, Sumedho mỉm
cười nói, "Vâng, thật kỳ diệu. Hãy để cho chúng
trôi qua."
Cứ thế, những người Tây phương tiếp tục đến rồi
đi, tất cả đều tự mình học những bài học này. Đôi
lúc, trước khi họ lên đường, Ajahn Chah chúc họ
đi thành công, nhưng thường thì nói vài câu trêu
chọc họ.
Một nhà sư người Anh băn khoăn trong việc tìm kiếm
một cuộc sống hoàn hảo, một vị thầy hoàn hảo, đến
rồi đi, xuất gia rồi hoàn tục nhiều lần. Thấy thế,
Ajahn Chah quở trách, "Nhà sư này đang tìm
kiếm gì đây?" Ajahn Chah tuyên bố với toàn
thể tăng chúng, "Con rùa có râu không? Quí
vị nghĩ xem ông ta phải đi bao xa mới tìm thấy nó?"
Tệ hơn nữa, một vị sư Tây phương đến xin phép Ajahn
Chah để đi, vì nhà sư thấy rằng việc thực tập với
đời sống bó buộc của tu viện quá khó khăn, thấy
quanh mình thật nhiều tệ hại, "Một số sư nói
chuyện nhiều quá! Tại sao chúng tôi phải tụng kinh
mới được chứ? Tôi cần nhiều thì giờ ngồi thiền một
mình. Những vị sư cao hạ hơn, và ngay cả thầy nữa,
chẳng chỉ vẽ gì cho người mới cả." Nhà sư nói
trong nỗi thất vọng, "Ngay cả thầy cũng chẳng
có vẻ gì là người giác ngộ cả. Thầy luôn luôn thay
đổi. Lúc thì thật khó khăn, lúc thì như bất cần.
Làm sao tôi biết thầy đã đắc đạo chưa?"
Ajahn Chah cười cởi mở khi nghe nhà sư người Anh
nói thế. Vừa vui đùa, vừa chọc tức nhà sư trẻ, Ajahn
Chah nói:
-- Cái hay là ở chỗ tôi không tỏ ra đã đắc đạo
đối với sư. Bởi vì nếu như tôi giống khuôn mẫu người
giác ngộ của sư, người giác ngộ lý tưởng phải làm
những hành động như sư nghĩ thì sư vẫn dính mắc
mãi vào việc tìm kiếm ông Phật ở bên ngoài. Ông
Phật không ở ngoài, Phật ở ngay trong chính tâm
của sư."
Nhà sư trẻ cúi đầu lạy Ajahn Chah, rồi trở về cốc
để tìm ông Phật thật.
Hãy nương tựa vào chính mình
Ngồi xếp bằng trên nền đá cứng là chuyện tự nhiên
và dễ dàng đối với những người sinh trưởng trong
hoàn cảnh thiếu tiện nghi vật chất. Nhưng đó là
việc hết sức khó khăn đối với một sa di trẻ tuổi
Tây phương vừa mới đến thiền viện, một vị sa di
còn vụng về và kém uyển chuyển. Không có gì khổ
sở, khó chịu cho bằng phải ngồi trên sàn nhà cứng
ngắc và lạnh lẽo. Vị sa di tìm ra được một cách
thích nghi để làm giảm bớt sự căng thẳng này. Đó
là mỗi buổi sáng sa di vào thiền đường thật sớm,
lựa một chỗ ngồi gần với cột nhà, và khi mọi người
đều nhắm mắt hành thiền thì sa di có thể nhẹ nhàng
tựa lưng vào cột đá hành thiền một cách thoải mái
theo kiểu Tây phương.
Sau một tuần lễ thực tập, vào một buổi tối, Ajahn
Chah rung chuông báo hiệu giờ ngồi thiền chấm dứt
và bắt đầu giảng pháp. Nhìn thẳng vào nhà sư mới,
Ajahn Chah nói:
- Hôm nay tôi sẽ nói về đề tài: "Khi thực
hành giáo pháp ta nên tự hỗ trợ cho mình, tự nương
tựa nơi chính mình, đừng nương tựa vào nơi nào khác
bên ngoài mình."
Mọi người trong thiền đường đều cười. Riêng chú
sa di Tây phương, hơi bối rối một chút, ngồi thẳng
thắn khác thường ngày, từ lúc bắt đầu buổi giảng
cho đến khi bài pháp chấm dứt. Từ đấy trở đi, với
quyết tâm mạnh mẽ, chú sa di đã học được cách ngồi
thẳng lưng trên mọi sàn nhà, dưới bất kỳ hoàn cảnh
hay điều kiện nào.
Học hỏi cách dạy học
Hôm nay là lễ Makkha Puja, ngày rằm tháng giêng.
Đây là một ngày quan trọng trong Phật giáo, kỷ niệm
ngày 1250 vị A la hán, những vị học trò giác ngộ
của Đức Phật, hội họp. Trong cuộc họp mặt đó, Đức
Phật đã dạy chư tăng đi khắp nơi để truyền bá giáo
pháp, đem lại sự tốt đẹp, sự hạnh phúc và giác ngộ
cho chúng sanh.
Trong dịp lễ này, Ajahn Cha và hàng trăm đệ tử
của Ngài đã thức trọn đêm để hành thiền với thiện
nam tín nữ. Cả ngàn người tham dự ngồi kín chánh
điện rộng lớn. Họ ngồi một giờ đồng hồ, sau đó Ajahn
Chah hay một trong những học trò lớn của Ngài sẽ
thuyết pháp. Liên tục suốt đêm, cứ một giờ ngồi
thiền lại một giờ thuyết pháp.
Một trong những vị học trò lớn người Tây phương
của Ngài Ajahn Chah ngồi chung với những vị sư mới.
Họ cảm thấy phấn khởi, thích thú lẫn khó khăn khi
trải qua một đêm thực tập như vầy. Vào khoảng giữa
đêm, sau khi dứt một giờ ngồi thiền, Ajahn Chah
tuyên bố cho mọi người biết để đón nghe một nhà
sư Tây phương thuyết pháp bằng tiếng Lào. Cả nhà
sư đó và thiện tín hiện diện đều lấy làm ngạc nhiên
trước sự đột ngột đó. Nhưng không còn dịp chuẩn
bị hay băn khoăn, nhà sư phải cố gắng ngồi trước
mặt mọi người, kể lại lý do tại sao thầy xuất gia
và những hiểu biết mới mẻ về Phật pháp mà thầy đã
gặt hái được qua thực hành. Sau lần nói chuyện này,
thầy không còn bối rối khi phải thuyết pháp trước
đám đông bằng ngôn ngữ mà mình mới lõm bõm.
Sau này Ajahn Chah giải thích rằng lúc thuyết pháp,
hãy để cho pháp trôi chảy một cách tự nhiên từ con
tim và từ kinh nghiệm nội tại của mình mà không
cần sửa soạn trước, "Cứ ngồi, nhắm mắt lại
và để Phật pháp tự thuyết lấy."
Một dịp khác, Ajahn Chah bảo Ajahn Sumedho, vị
học trò Tây phương kỳ cựu của Ngài thuyết pháp.
Sumedho thuyết trong vòng nửa tiếng đồng hồ. Ajahn
Chah bảo, "Thuyết thêm nửa tiếng nữa."
Sau nửa tiếng, Ajahn Chah lại bảo, "Thuyết
thêm nữa." Sumedho tiếp tục và bắt đầu chán.
Nhiều thiện tín bắt đầu ngủ gục. Ajahn Chah khuyến
khích, bắt thêm nữa. Sau khi chiến đấu suốt mấy
tiếng đồng hồ, Sumedho đã hoàn toàn làm mọi người
chán nản. Cũng từ đó về sau, Sumedho chẳng bao giờ
lo sợ khi phải thuyết pháp trước đám đông, không
còn sợ người ta phê bình, đánh giá mình trong khi
thuyết pháp nữa.
Ajahn Chah hỏi một nhà sư sắp từ giã tu viện để
về xứ rằng thầy có dự định dạy dỗ gì khi về Âu Châu
không. Nhà sư trả lời rằng thầy không có dự tính
dạy Phật pháp, tuy nhiên nếu có ai hỏi, thầy sẽ
cố gắng giải thích cho họ biết cách hành thiền.
Ajahn Chah nghe nói thế bèn nói, "Tốt lắm.
Dạy Phật Pháp cho người muốn học thì còn gì tốt
bằng?" Ajahn Chah lại nói thêm, "Và khi
thầy giảng dạy Phật giáo, tại sao không gọi đó là
Thiên Chúa giáo. Ở Tây phương mà thầy nói đến Phật
giáo thì họ không hiểu gì cả. Tôi nói về Thượng
Đế với người Thiên Chúa, mặc dù tôi chưa đọc sách
của họ. Tôi tìm thấy Thượng Đế trong tâm. Thầy có
nghĩ rằng Thượng Đế là ông già Nô-en hàng năm thường
đem quà đến cho trẻ em không?"
Thượng Đế là giáo pháp, là chân lý. Ai ý thức được
điều này thì sẽ hiểu biết tất cả mọi sự. Và Thượng
Đế chẳng có gì đặc biệt cả. Chỉ có vậy thôi.
Những điều chúng ta thực sự cần dạy là làm thế
nào để thoát khỏi đau khổ, làm thế nào để có được
tình thương, có trí tuệ và tràn đầy từ ái. Những
lời dạy về tình thương và trí tuệ là Phật pháp.
Bất kỳ ở nơi đâu và dùng bất kỳ ngôn ngữ gì cũng
có thể dạy về tình thương và trí tuệ. Hãy gọi đó
là Thiên Chúa giáo. Dạy như thế giúp nhiều người
hiểu hơn.
Ajahn Chah đã dạy những điều sau đây cho một vị
có ý muốn dạy Giáo pháp:
"Đừng làm cho họ ngại ngùng, lo sợ khi gặp
thầy. Hãy vững vàng và trực tiếp. Hãy thành thật
trước những khuyết điểm của mình. Hãy thừa nhận
khả năng giới hạn của thầy. Hãy làm việc với tình
thương và lòng quảng đại. Khi gặp người mà thầy
không đủ khả năng hay nhân duyên để giúp, hãy phát
triển tâm xả. Đôi khi việc dạy dỗ rất khó khăn,
phải kiên nhẫn. Thầy dạy Đạo là cái thùng rác để
mọi người vất vào đó mọi nỗi bực dọc và mọi vấn
đề rắc rối. Thầy càng dạy nhiều người, thùng rác
của thầy càng đầy. Nhưng đừng lo lắng. Dạy dỗ người
khác là phương cách tuyệt diệu để thực hành Phật
pháp. Phật pháp sẽ hỗ trợ cho kẻ nào thành thật
áp dụng Phật pháp vào trong đời sống của họ. Người
nào dạy dỗ kẻ khác thì Đức Kiên Nhẫn và Tri Hiểu
Biết sẽ phát triển."
Ajahn Chah khuyến khích học trò của Ngài hãy chia
xẻ với người khác những gì mình đã học hỏi được.
"Khi thầy học được chân lý, thầy có thể giúp
người khác, đôi khi bằng lời dạy của thầy, nhưng
phần lớn thì bằng lối sống của thầy. Ai muốn hiểu
tôi thì phải sống với tôi. Nếu thầy sống ở đây lâu
thầy sẽ biết. Tôi đã làm một vị du tăng sống trong
rừng nhiều năm. Tôi không dạy. Tôi thực hành và
lắng nghe lời thầy tôi dạy. Và đây là lời nhắn nhủ
quan trọng: Khi nghe hãy thực sự nghe. Tôi không
biết phải nói gì nữa."
Giử Giáo pháp đơn giản
Một khu rừng lớn gần làng mạc được dâng cho Ngài
Ajahn Chah để làm tu viện. Một vị thiện nam giàu
có nghe thế bèn hoan hỉ dâng cúng tài chánh để xây
dựng một giảng đường và chùa lớn trên đỉnh đồi cao
của khu rừng. Một số thiện tín khác hội họp cùng
nhau vẽ nên một pháp đường và những kiến trúc phụ
thuộc. Cốc của chư tăng được cất trong những hang
động quanh nuí. Một con đường xuyên qua khu rừng
rậm được khai phá. Phần kiến trúc phải làm trước
tiên là pháp đường: đổ móng, đúc những cây cột lớn,
làm nền để thiết trí một tượng Phật khổng lồ. Khi
công trình đang tiến hành, nhiều kiến trúc phụ được
bổ sung. Thí chủ ủng hộ và nhóm kiến trúc sư bàn
cãi mãi vì ý kiến bất đồng. Mái phải làm thế nào
cho hợp? Có nên sửa đổi đồ án lại theo cách nào
cho sáng suả hơn? Mọi người đều có ý kiến hay, nhưng
ý kiến nào cũng tốn tiền cả.
Cuối cùng mọi người đem ra bàn thảo trong một buổi
họp nhiều giờ với ngài Ajahn Chah. Tất cả mọi ý
kiến đều được đem ra bàn cãi sôi nổi. Cuối cùng
vị thiện nam thí chủ xin ngài Ajahn Chah cho biết
ý kiến. Ajahn Chah cười và trả lời đơn giản:
-- Khi quí vị làm tốt thì có kết quả tốt.
Chẳng bao lâu pháp đường lộng lẫy hoàn thành.
Thiền cách nào hay nhất?
Hầu như suốt ngày Ajahn Chah phải bận rộn tiếp
khách -- sinh viên, nông dân, chính trị gia, tướng
tá, khách hành hương, thiện nam tín nữ. Họ đến xin
ngài chúc phúc, để thỉnh ý, hỏi đạo, vấn an, bắt
bí, thử thách, phân trần, chỉ trích, khiếu nại...;
họ đem đến hàng ngàn vấn đề để giải quyết. Ajahn
Chah không ngừng dạy dỗ họ. Có người hỏi ngài về
chuyện này, Ajahn Chah trả lời:
-- Tôi đã học hỏi được nhiều giáo pháp khi tiếp
xúc với họ, nhiều hơn tất cả các cách hành thiền
khác.
Bữa ăn tuyệt vời
Một số sinh viên hỏi tại sao Ajahn Chah rất ít
khi nói về Niết Bàn mà chỉ dạy về Trí Tuệ trong
đời sống thường nhật. Nhiều thiền sư khác thường
giảng dạy về sự chứng ngộ và nguồn an lạc vô biên
của Niết Bàn. Ajahn Chah trả lời:
-- Một số người thưởng thức một bữa cơm ngon và
sau đó kể lại sự tuyệt vời của bữa cơm cho bất kỳ
ai mà họ gặp. Một số khác cũng ăn và thưởng thức
một bữa cơm tương tự, nhưng họ cảm thấy không cần
phải đi kể cho mọi người nghe về bữa cơm mà mình
đã ăn rồi.
Quyển 3
-----------------------------------------------------------
Cái cốc của ngài Ajahn Chah
Ajahn Chah bảo rằng ngài chẳng mơ gì nữa. Một đêm
ngài chỉ ngủ vài tiếng trên một cái cốc cao cẳng.
Bên dưới cốc là một sân rộng trống trải để tiếp
khách.
Những vị khách đến thăm ngài thường mang theo quà.
Ngoài thức ăn, y áo, họ còn đem dâng ngài những
pho tượng cổ. Nhiều pho tượng được chạm trổ những
hoa văn biểu tượng Phật giáo rất công phu và mỹ
thuật.
Một vị sư Tây phương, nguyên là một nhà sưu tầm
đồ cổ, rất say mê những tác phẩm mỹ thuật Á châu,
lấy làm sung sướng được nhận lãnh nhiệm vụ quét
dọn sạch sẽ cốc của ngài Ajahn Chah hàng ngày. Nhà
sư nghĩ rằng đây là cơ hội tốt để thầy thưởng thức
những nghệ thuật phẩm mình hằng ưa thích. Nhà sư
nhận chìa khóa, lên cốc mở cửa, nhưng chỉ thấy độc
một chiếc giường nhỏ và cái mùng che muỗi. Nhà sư
khám phá ra rằng mỗi khi Ajahn Chah nhận được tặng
phẩm gì, ngài liền phân phối ngay sau đó, càng sớm
càng tốt. Achan Chah không dính mắc vào bất cứ cái
gì.
Một buổi lễ thiêng liêng, và một ngày nóng bức
Ngay thời kỳ Đức Phật, các nhà sư vẫn được mời
đi làm lễ ban phước hay đem lại sự an lành cho tín
đồ trong những lúc họ gặp khó khăn. Kinh điển có
ghi chép chính Đức Phật đã theo tục lệ cổ truyền
rảy nước thiêng và ban phúc cho thiện nam tín nữ.
Vì phần lớn các nhà sư hiện nay ở Thái Lan chỉ
thích nghiên cứu học hỏi kinh điển và lễ lạc mà
không chú trọng đến việc hành thiền nên ngài Ajahn
Chah thường gọi đùa những nghi lễ này là "Đi
ngược đường." Tuy thế, Ajahn Chah cũng dùng
nghi lễ khi cần thiết. Một buổi chiều nóng nực,
Ajahn Chah được mời xuống phố để thuyết pháp và
làm lễ ban phước cho một số tín đồ và học sinh.
Sau phần tụng kinh và thuyết pháp thường lệ, Ajahn
Chah bưng một bát nước bằng đồng, nối liền với một
sợi chỉ chuyền qua tay tám vị sư khác, dẫn đến bức
tượng Phật lớn ở tư thế ngồi thiền. Sau phần tụng
kinh và lễ dâng hương đèn, Ajahn Chah đứng dậy dùng
một nhánh lá cọ rảy nước thiêng để chúc lành cho
mọi người đến tham dự buổi thuyết pháp.
Môt nhà sư Tây phương trẻ trong phái đoàn chư tăng
đến tham dự khởi tâm bất bình. Sau đó, không thể
kiên nhẫn được với buổi lễ, than trách với Ajahn
Chah:
-- Tại sao Ngài lại làm những nghi lễ vô bổ và
chán ngắt, chẳng phù hợp với việc hành đạo chút
nào?
Ajahn Chah trách lại:
-- Dĩ nhiên phải làm, vì một ngày nóng nực như
thế này, mọi người đến tham dự đều muốn tắm mát.
Chân phép mầu
Dân làng và Phật tử sống quanh tu viện Wat Pah
Pong kể rất nhiều chuyện về phép mầu của ngài Ajahn
Chah. Họ nói rằng Ajahn Chah có thể phân thân đến
nhiều nơi trong cùng một lúc. Có người quả quyết
đã thấy Ajahn Chah phân thân thành hai. Họ nói rằng
Ajahn Chah đã dùng phép mầu để chữa bệnh; Ajahn
Chah có nhãn thông đã thuần thục trong việc nhập
định.
Ajahn Chah cười khi nghe được những chuyện này.
Phép mầu là vấn đề mà những người chưa giác ngộ
cũng như những người chưa thông hiểu sâu xa Phật
pháp thường mong cầu và quan tâm. Ajahn Chah nói:
-- Chỉ có một loại Chân Pháp Mầu. Đó là Giáo Pháp,
những lời dạy có khả năng giải thoát tâm và chấm
dứt khổ đau. Những pháp mầu khác chỉ là ảo tưởng,
thuật tráo bài, mà mắt khiến ta đi trật đường. Đường
chính của chúng ta liên quan đến con người, chết
sống và tiến đến giải thoát. Ở Wat Pah Pong chỉ
dạy có Chân Pháp Mầu mà thôi.
Một dịp khác Ajahn Chah nói với chư tăng:
-- Dĩ nhiên, một khi thiền định thuần thục, có
thể dùng thiền định vào những mục tiêu khác như
luyện thần thông, làm nước thánh, phúc chúc, làm
bùa, tiên đoán việc tương lai, v. v. Nếu đạt tâm
định các sư có thể làm được điều đó. Nhưng hành
thiền như thế chẳng khác nào uống thuốc độc, uống
rượu. Thế thì còn đâu là chánh đạo, con đường Đức
Phật đã đi? Ở đây, thiền định (thiền vắng lặng)
chỉ dùng làm căn bản cho thiền minh sát, vì vậy
không cần phải đạt đến mức thiền định thật cao.
Chỉ cần quan sát những gì sinh ra, tiếp tục quan
sát nhân và quả, cứ thế tiếp tục quan sát. Bằng
cách này chúng ta dùng sự chú tâm để quan sát hình
sắc, âm thanh, mùi vị, sự xúc chạm và những hoạt
động của tâm ý và cuối cùng sẽ tìm thấy Pháp Giải
Thoát.
Pháp hành của người chủ nhà
Đời sống của gia đình thật khó mà cũng thật dễ.
Khó làm nhưng dễ hiểu. Chẳng khác nào bạn đến đây
và than phiền về cục than đỏ mà bạn đang nắm trong
tay. Tôi chỉ đơn giản bảo bạn hãy vất nó đi. Bạn
không chịu và cãi lại:
-- Không, tôi không muốn bỏ. Tôi muốn nó trở nên
lạnh cơ.
Bạn có thể chọn một trong hai cách: vất bỏ nó đi,
hoặc kiên nhẫn chịu đựng. Bạn sẽ phân vân hỏi lại:
-- Làm thế nào tôi có thể vứt bỏ được?
Bạn có thể bỏ gia đình bạn được không? Được. Bỏ
phần nội tại trong tâm bạn. Bỏ sự dính mắc bên trong
thôi. Giống như con chim đẻ trứng. Bạn có trách
nhiệm phải ấp trứng. Nếu không trứng sẽ thối.
Có thể bạn muốn mọi người trong gia đình nể phục
và cảm thông bạn, biết rõ tại sao bạn làm như thế
này mà không làm như thế kia, v. v. Nhưng có thể
họ không cảm thông được bạn. Thái độ của bạn có
thể thiếu hòa ái. Tâm hồn bạn có thể chật hẹp. Nếu
cha mẹ là một tên trộm và con không hưởng ứng, phải
chăng con là đứa trẻ hư hỏng? Hãy giải thích và
tìm hiểu mọi chuyện xảy ra trong chiều hướng tốt
đẹp. Cố gắng thành thật, sau đó hãy để mọi chuyện
tự nhiên. Nếu bạn bị bệnh và quyết định đến gặp
bác sĩ, nhưng sau khi tận tâm chữa trị bằng mọi
loại thuốc, bệnh bạn vẫn không khỏi, bạn phải làm
thế nào đây? Bạn không còn cách nào hơn là phải
chấp nhận thực trạng và để tâm tự nhiên.
Nếu bạn nghĩ đến các danh từ "gia đình tôi,"
"việc hành thiền của tôi," bạn sẽ gặp
rắc rối vì những hình thức tự ngã này là nguyên
nhân của đau khổ. Đừng nhọc công đi tìm hạnh phúc,
dầu bạn đang sống với những người khác hay đang
sống một mình. Hãy sống với giáo pháp, hạnh phúc
sẽ tự tìm đến. Phật Pháp giúp bạn giải quyết vấn
đề, nhưng chính bạn phải tự thực hành và khai mở
trí tuệ trước. Bạn không thể có cơm bằng cách chỉ
bỏ nước và gạo vào nồi, rồi bảo nó chín ngay. Bạn
phải nhúm lửa và để cơm có đủ thời giờ chín. Với
trí tuệ mọi vấn đề cuối cùng đều có thể giải quyết.
Khi hiểu rõ đời sống gia đình, bạn có thể hiểu rõ
được nghiệp báo và nhân quả, và nhờ thế bạn có thể
quán xuyến và cải thiện mọi hành động của bạn trong
tương lai.
Hành thiền chung nhóm với mọi người ở thiền viện
hay trong những khóa thiền là những việc làm không
mấy khó khăn. Vì ở đấy mọi người đều hành thiền,
bạn phải tinh tấn theo họ, phải ngồi thiền, phải
kinh hành như mọi người. Nhưng lúc về đến gia đình,
bạn gặp khó khăn. Bạn bảo rằng lúc ở nhà bạn làm
biếng. Bạn hãy bỏ hết quyền lực của chính bạn, chuyển
quyền hành đó kẻ khác, cho sở làm, cho những vị
thầy ở ngoài bạn. Hãy tỉnh dậy! Bạn tạo ra một thế
giới riêng của chính bạn. Mà điều quan trọng là
bạn có thích hành thiền không đã?
Là sư sãi, chúng tôi phải cố gắng giữ giới luật
và hành hạnh đầu đà. Thực hành nghiêm chỉnh giới
luật là con đường dẫn đến giải thoát. Các bạn cư
sĩ cũng phải cố gắng giữ giới luật như vậy.
Các bạn hành thiền ở nhà nên giữ gìn trong sạch
những giới căn bản. Cố gắng kiểm soát hành động
và lời nói. Thật sự tinh tấn và hành thiền liên
tục không gián đoạn. Muốn tập trung tâm ý bạn phải
rán tinh tấn. Đừng thấy chỉ mới cố gắng một hay
hai lần mà không tập trung tâm ý đã sinh ra chán
nản.
Tại sao không thử cố gắng lâu hơn? Bạn đã để tâm
trí đi lang bạt bao lâu theo ý nó mà không kiểm
soát được? Bạn có băn khoăn rằng một hay hai tháng
chưa đủ để luyện tâm an tịnh không?
Dĩ nhiên, tâm rất khó huấn luyện. Muốn dạy một
con ngựa bất kham, hãy cho nó nhịn đói một lát,
nó sẽ đến gần bạn hơn. Khi nó đã bắt đầu nghe lời,
hãy cho nó ăn chút ít. Đạo sống của chúng ta có
cái hay cái đẹp là có thể huấn luyện được tâm. Với
nỗ lực đúng, chúng ta có thể đạt được trí tuệ.
Sông đời sống cư sĩ và thực hành chánh pháp là
sống trong thế gian, nhưng ở trên thế gian. Giới
bắt đầu bằng năm điều học căn bản. Mọi giới đều
quan trọng -- là cha mẹ của mọi điều tốt đẹp.
Điều căn bản là loại bỏ khỏi tâm mọi sai lầm, quét
sạch mọi nguyên nhân gây ra phiền muộn và dao động.
Phải giữ giới luật thật kiên cố. Sau đó hãy tham
thiền khi cơ hội đến. Đôi lúc việc hành thiền tiến
triển tốt đẹp, đôi lúc không. Đó là chuyện tự nhiên.
Đừng bận tâm về việc này. Cứ tiếp tục. Nếu nghi
ngờ khởi lên, hãy xem chúng cũng như những chuyện
khác của tâm đều vô thường cả.
Khi bạn tiếp tục hành thiền đều đặn thì sẽ có định
tâm. Dùng tâm định này phát triển trí tuệ. Nhìn
sự yêu ghét khởi dậy từ các giác quan mà không dính
mắc vào chúng. Đừng bận tâm nghĩ đến kết quả hay
sự tiến bộ. Cũng đừng mong ngóng ao ước tiến bộ
mau chóng. Cũng như đứa trẻ muốn chạy phải tập bò
và tập đi trước đã. Cứ giữ giới thật trong sạch
và tiếp tục hành thiền.
Vô ngã
Đối với người không hiểu sự chết, cuộc sống chứa
đựng nhiều rắc rối. Nếu thân thể ta thực sự là của
ta, nó hẳn đã nghe theo mệnh lệnh mà ta đưa ra.
Khi ta bảo, "Đừng có già" hay "Ta
cấm ngươi không được đau," nó có nghe lời ta
không? Không, nó chẳng thèm để ý đến. Ta chỉ là
người thuê căn nhà này, chứ không phải chủ nhà.
Nếu nghĩ rằng căn nhà này thuộc về ta, ta sẽ đau
khổ khi phải rời bỏ nó. Nhưng thực ra chẳng có gì
gọi là ta, chẳng có cái gì gọi là bản ngã thường
tồn. Không có gì vững chắc, bất biến mà chúng ta
có thể nắm giữ được.
Đức Phật phân biệt cho chúng ta thấy rõ hai loại
chân lý -- chân lý rốt ráo và chân lý ước định.
Ý niệm về một cái ngã chỉ là một khái niệm, một
ước định. Người Mỹ, người Thái, thầy giáo, học sinh,
tất cả chỉ là sự chế định mà thôi. Một cách rốt
ráo thì chẳng có gì cả. Chúng chỉ là đất, nước,
gió, lửa -- những yếu tố tạm thời kết hợp lại với
nhau.
Chúng ta gọi cái cơ thể này là ta, nhưng một cách
rốt ráo, chẳng có gì là ta cả, chỉ có "ANATTA,"
vô ngã mà thôi. Muốn biết rõ sự vô ngã, bạn phải
hành thiền. Nếu bạn chỉ suy tư tìm hiểu, đầu bạn
sẽ nổ tung. Một khi bạn hiểu rõ vô ngã, tức khắc
gánh nặng của cuộc sống sẽ được nhấc đi. Đời sống
của gia đình bạn, công việc của bạn,..., tất cả
đều trở nên dễ dàng hơn. Khi không có cái nhìn chật
hẹp về ngã nữa, bạn sẽ không còn dính mắc vào hạnh
phúc. Và khi bạn không còn dính mắc vào hạnh phúc,
bạn bắt đầu có hạnh phúc thực sự.
Ngắn và thẳng
Một bà già mộ đạo từ một tỉnh kế cận đến Wat Pah
Pong hành hương. Bà thưa với ngài Ajahn Chah rằng
bà chỉ có thể ở đây một thời gian ngắn thôi vì bà
còn phải trở về chăm sóc mấy đứa chắt của bà. Bà
cũng thưa với ngài là vì bà đã quá già nên xin ngài
ban cho một thời pháp ngắn.
Ngài Ajahn Chah mạnh mẽ trả lời: Này, bà cụ hãy
lắng tai nghe. Ở đây không có ai hết, chỉ như vậy
thôi. Không ai là chủ nhân, không có ai già, không
có ai trẻ, không có ai tốt, không có ai xấu, không
có ai mạnh, không có ai yếu. Chỉ có vậy thôi, vậy
thôi. Tất cả đều trống rỗng, chỉ có các yếu tố khác
nhau của thiên nhiên, chúng nó tác dụng hỗ tương
với nhau thôi. Không có ai sinh ra và chẳng có ai
chết đi. Người nào nói về cái chết là người đó nói
chuyện như đứa con nít không hiểu gì hết. Trong
ngôn ngữ của Tâm, nghĩa là ngôn ngữ của Phật Pháp,
không có chuyện đó.
Khi chúng ta gánh một gánh nặng, gánh đó thật nặng
nề, nhưng khi không có ai gánh cái gánh nặng đó
thì chẳng có vấn đề gì trên đời này nữa. Đừng tìm
kiếm điều tốt, điều xấu hay bất cứ điều gì hết.
Đừng là gì hết. Không có gì nữa hết. Chỉ có vậy.
Nước ngầm
Phật Pháp không riêng của ai; Phật Pháp không có
sở hữu chủ. Phật Pháp phát khởi khi thế giới hiện
khởi, nhưng đứng riêng độc lập một mình như sự thật
muôn đời. Phật Pháp luôn luôn có mặt nơi đây, không
dời đổi, không biên cương, dành sẵn cho mọi người
muốn tìm đến với nó. Phật Pháp cũng như nước ngầm
trong lòng đất: ai đào giếng sẽ bắt gặp chỗ nước
ngầm đó. Dầu bạn có đào giếng hay không, nước ngầm
vẫn luôn luôn ở đấy, ẩn tàng sau lưng mọi vật.
Khi tìm kiếm Phật Pháp, chúng ta có khuynh hướng
tìm kiếm quá xa, chúng ta rướn quá độ, với quá xa,
nên bỏ qua phần cốt tủy. Phật Pháp không phải ở
đàng kia, hay ở chỗ nào xa lắc xa lơ, phải đi một
chuyến thật xa, hay phải dùng viễn vọng kính, mới
tìm thấy được. Phật Pháp ở ngay tại đây, rất gần
với chúng ta, là yếu tính thật sự của chúng ta,
là vô ngã. Khi chúng ta nhìn thấy yếu tính này,
mọi vấn đề không còn nữa, mọi rắc rối biến mất hết.
Tốt, xấu, sướng, khổ, sáng, tối, ta, người,...,
chỉ còn là những hiện tượng trống rỗng. Nếu chúng
ta biết được điều thiết yếu này, ý thức xưa cũ của
chúng ta về tự ngã sẽ không còn nữa và chúng ta
trở nên thật sự tự do.
Chúng ta thực hành sự xả bỏ, chứ không trì thủ.
Nhưng trước khi có thể xả bỏ Thân và Tâm, chúng
ta phải biết rõ bản chất của nó. Khi ấy sự xả bỏ
xảy ra tự nhiên.
Không có gì là ta hay của ta; tất cả đều vô thường.
Tại sao chúng ta không thể nói Niết Bàn là của ta?
Bởi vì những kẻ chứng ngộ Niết Bàn không còn có
tư tưởng về cái ta vàcủa ta nữa. Nếu còn có tư tưởng
về ta và của ta, họ không thể nào thấy được Niết
Bàn. Dầu họ biết rằng mật là ngọt, nhưng họ không
còn nghĩ: Tôi đang nếm vị ngọt của mật.
Con đường Phật Pháp là phải bước tới hoài, nhưng
Chân Phật Pháp không đi tới, không đi lui, cũng
không đứng yên một chỗ.
Niềm vui của Đức Phật
Nếu mọi sự đều vô thường, bất xứng ý và vô ngã,
mục tiêu của sự sống là gì? Một người ngắm nhìn
dòng sông chảy qua. Nếu anh ta không muốn nó chảy,
không muốn dòng sông liên tục thay đổi theo bản
chất của nó, anh ta sẽ phải nhận chịu sự đau khổ
lớn lao. Một người khác, ý thức được rằng bản chất
của dòng sông là thay đổi không ngừng, dù mình có
thích như vậy hay không, anh ta sẽ không cảm thấy
đau khổ. Biết được sự sống cũng như dòng sông này,
không có sự vui sướng lâu dài, không có tự ngã,
chính là tìm được chân lý vững bền và không có sự
đau khổ, chính là tìm ra được sự an tịnh thật sự
trên đời.
Người ta có thể nói, "Thế thì ý nghĩa của
cuộc đời là gì?" "Con người sinh ra làm
chi?" Tôi không thể trả lời các câu hỏi đó.
Tại sao bạn ăn? Bạn ăn để không phải ăn thêm nữa.
Bạn sanh ra để không phải sanh ra nữa.
Giải thích bản chất thực sự của sự vật, về sự trống
rỗng của chúng ta, là một việc khó khăn. Nghe được
giáo pháp, con người phải tìm ra phương cách để
hiểu.
Tại sao chúng ta hành thiền? Nếu chúng ta không
hỏi tại sao, chúng ta được an nhiên tự tại rồi đó.
Buồn rầu đau khổ không thể xảy đến với người hành
thiền như thế này.
Ngũ uẩn là những kẻ giết người. Bám lấy thân thì
sẽ bám lấy tâm, và ngược lại. Chúng ta hãy ngưng
lại, đừng tin tưởng tâm của chúng ta nữa. Hãy dùng
giới luật và sự an tịnh tâm để giữ gìn chánh niệm
và tỉnh thức thường trực. Khi ấy bạn sẽ nhận chân
được rằng mọi sự đều vô thường, bất xứng ý và trống
rỗng, cùng lúc bạn sẽ nhìn thấy hạnh phúc và đau
khổ xảy ra riêng rẽ. Trong sự tĩnh lặng đó, niềm
vui chân thực của Đức Phật sẽ đến.
Lượm xoài
Khi bạn có được trí tuệ, sự tiếp xúc với đối tượng
giác quan, cho dù tốt hay xấu, vui sướng hay đau
khổ, cũng giống như đứng dưới gốc cây xoài lượm
trái trong khi có kẻ khác leo lên cây rung cho bạn.
Chúng ta chỉ việc lựa xoài tốt và xoài thúi mà chẳng
nhọc công vì chúng ta không phải leo lên cây.
Như vậy nghĩa là gì? Mỗi đối tượng giác quan đến
với chúng ta, mang lại cho chúng ta kiến thức. Chúng
ta không cần phải làm đẹp chúng. Tám ngọn gió của
thế gian -- được mất, vinh nhục, khen chê, đau khổ
và vui sướng, cứ tới tự nhiên. Nếu tâm của bạn đã
phát triển được sự yên tĩnh và trí tuệ, bạn có thể
lượm và lựa một cách thoải mái. Cái mà người khác
có thể gọi là tốt hay xấu, đó hay đây, vui sướng
hay đau khổ, đều lợi lộc cho bạn, bởi vì kẻ khác
leo lên cây xoài rung cho bạn, và bạn chẳng có điều
gì phải sợ hãi.
Tám ngọn gió thế gian cũng giống như những trái
xoài rớt xuống cho bạn. Bạn hãy dùng định lực và
tâm yên tịnh để chiêm ngưỡng và thu thập. Biết trái
xoài nào tốt, trái xoài nào thuí, chính là trí tuệ,
tức là sự minh sát (vipassana). Bạn không tạo ra
trí tuệ. Khi có trí tuệ, nội quán (insight) tự nhiên
phát sinh. Dầu rằng tôi gọi nó là trí tuệ, bạn không
nhất thiết phải cho nó một cái tên.
Tôi nói ngôn ngữ Zen
Một thiền sinh Zen hỏi Ngài Ajahn Chah:
- Sư bao nhiêu tuổi? Sư sống ở đây quanh năm suốt
tháng, phải không?
Ngài Ajahn Chah trả lời:
- Tôi không sống ở đâu hết. Ông không kiếm ra tôi
ở đâu hết. Tôi không có tuổi tác gì hết. Muốn có
tuổi tác thì phải hiện hữu, mà nghĩ rằng mình hiện
hữu là chuốc lấy rắc rối rồi. Chúng ta không tạo
ra vấn đề thì thế giới cũng không có rắc rối. Đừng
tạo ra cái tự ngã. Chẳng có gì đáng nói thêm nữa.
Có lẽ thiền sinh Zen này nhìn ra được rằng cốt
tủy của Thiền Minh Sát (vipassana) không khác biệt
với cốt tủy của Zen.
Chiêng im lặng
Sống trong thế gian mà hành thiền, người khác thấy
bạn chẳng khác nào cái chiêng không được đánh động
và không tạo nên âm thanh nào hết. Họ thấy bạn như
vô dụng, điên rồ, thất bại. Nhưng thực ra điều ngược
lại thì đúng hơn.
Sự thực ẩn tàng trong sự không thực, cũng như tính
thường hằng ẩn tàng trong sự vô thường.
Không có gì đặc biệt
Người ta thường hỏi dọ tôi về sự hành trì riêng
của tôi: Tôi chuẩn bị tâm tư như thế nào khi ngồi
thiền? Không có gì đặc biệt hết! Tâm tôi để yên
chỗ hồi nào tới giờ nó ở. Họ hỏi tôi, "Thế
thì Ngài là một vị A-La-Hán chăng?" (A-La-Hán
là một vị tu hành đã đạt đến mức độ cao của sự tiến
bộ về tâm linh.) Tôi có biết đâu? Tôi như cây cổ
thụ đầy lá hoa, hoa và trái. Chim chóc tới ăn và
làm tổ trong cây đó. Nhưng cây cổ thụ đó không hiểu
biết về thân phận nó. Nó cứ sống tự nhiên vậy thôi,
nó sao nó vậy.
Bên trong bạn không có gì cả
Năm thứ ba tôi làm tỳ kheo, tôi có sự nghi ngờ
về bản chất của Định và Trí Tuệ. Quá muốn kinh nghiệm
trạng thái Định, tôi không ngừng cố gắng hành trì.
Khi ngồi tham thiền, tôi cố gắng hình dung ra tiến
trình đó, và do đó tâm tôi bị chia tách một cách
đặc biệt.
Khi tôi không làm gì đặc biệt hết và không tham
thiền thì tôi tốt, không có làm sao. Nhưng khi nào
tôi quyết tâm tập trung tư tưởng thì tâm tôi trở
nên cực kỳ bấn loạn.
Tôi tự hỏi, "Chuyện gì vậy? Tại sao nó như
thế này?" Sau một thời gian tôi nhận ra rằng
sự tập trung tâm ý trong việc hành thiền cũng giống
như hít thở vậy thôi. Nếu bạn nhất định cố gắng
thở sâu hay cạn, mau hay chậm, việc hít thở trở
nên khó khăn. Còn nếu cứ xuôi thuận theo nó, không
cần ý thức việc hít vào thở ra, việc hít thở trở
nên tự nhiên và trôi chảy. Tương tự như vậy, mọi
cố gắng bắt buộc mình trở nên tĩnh lặng chỉ là thể
hiện sự bám víu và ham muốn. Làm như vậy chỉ cản
trở sự định tâm mà thôi.
Thời gian trôi qua, tôi tiếp tục hành trì với lòng
tin tưởng vững chắc và sự hiểu biết càng lúc càng
lớn mạnh hơn lên. Dần dà tôi bắt đầu thấy diễn tiến
tự nhiên của việc hành thiền. Vì nhận ra rằng những
ước muốn của tôi rõ ràng là một chướng ngại, tôi
hành trì một cách cởi mở hơn, khảo sát các yếu tố
của tâm khi chúng xảy ra. Tôi ngồi và theo dõi,
ngồi và theo dõi, cứ như vậy hoài.
Một ngày nọ, vào khoảng 11 giờ đên, sau khi ngồi
thiền xong tôi đi kinh hành. Trong đầu tôi khi đó
trống trơn không có tư tưởng nào hết. Tôi đang ở
tu viện trong rừng mà có thể nghe những tiếng ồn
ào và tiếng ca hát của cuộc hội hè đình đám đang
diễn ra trong làng cách tu viện một khoảng xa. Khi
cảm thấy mỏi mệt do việc hành thiền, tôi trở về
cốc của mình. Khi tôi ngồi xuống, tôi nhận thấy
tôi không ngồi vô thế kiết già mau lẹ như thường
lệ. Tâm tôi tự nó muốn tiến vô trạng thái Định thâm
sâu. Tâm tự nó như thế đó. Tôi tự nghĩ, "Tại
sao như vậy?" Khi tôi ngồi xuống, tôi thấy
tĩnh lặng hết sức. Tâm tôi vững vàng và tập trung
tốt. Không phải là tôi không nghe được tiếng ca
hát từ trong làng, nhưng tôi có thể làm cho tôi
không nghe tiếng ca hát đó nếu tôi muốn như vậy.
Ở trạng thái nhất tâm này, tôi xoay nó hướng về
các âm thanh thì tôi nghe được các âm thanh đó.
Khi tôi không hướng tâm về các âm thanh thì hoàn
toàn yên lặng. Lúc âm thanh tới, tôi quan sát kẻ
đang chú tâm đến âm thanh, kẻ này hoàn toàn tách
biệt với âm thanh. Tôi quán tưởng như vậy. Đây là
trạng thái định, phải không? Không phải trạng thái
này thì còn trạng thái nào khác hơn? Tôi có thể
nhìn thấy tâm tôi tách rời khỏi đối tượng nó nhìn
như cái chén này và ấm nước này vậy. Tâm và âm thanh
không hề dính liền với nhau. Tôi tiếp tục xét như
vậy, rồi tôi hiểu. Tôi nhìn thấy cái nối liền chủ
thể và khách thể lại với nhau, và khi sự nối liền
này bị phá vỡ, sự an tịnh thật sự hiển lộ.
Lần đó, tâm tôi không để ý đến chuyện gì khác.
Nếu tôi muốn ngưng hành thiền, tôi có thể ngưng,
như vậy mà không thấy khó chịu. Khi một nhà sư ngưng
hành thiền, thầy thường tự hỏi, "Ta làm biếng
chăng? Ta mệt mỏi chăng? Ta bất an chăng?"
Không, tâm tôi lúc đó không làm biếng, không mệt
mỏi, cũng không bất an. Tôi chỉ thấy trọn vẹn và
đầy đủ về mọi mặt.
Khi tôi ngưng hành thiền để nghỉ ngơi một lát,
chỉ có hành động ngồi là ngưng lại thôi. Tâm tôi
vẫn y nguyên như trước, không thay đổi. Khi tôi
nằm xuống, tâm tôi vẫn tĩnh lặng y như trước. Khi
đầu tôi chạm lên chiếc gối, tâm tôi xoay vào trong.
Tôi không biết nó xoay vô trong chỗ nào, nhưng nó
xoay vô trong như điện được bật lên vậy, và toàn
thân tôi nổ bùng ồn ào; sự nhận thức thì vô cùng
tinh tế. Vượt qua điểm đó, tâm bước sâu vô nữa,
bên trong không có gì hết, hoàn toàn không có gì
hết, không có gì vô trong hết, không có gì có thể
đạt tới hết. Sự nhận biết ngưng lại bên trong một
lúc rồi trở ra. Không phải tôi kéo nó ra, không
đâu, tôi chỉ là một quan sát viên, là người nhận
biết mà thôi.
Khi tôi ra khỏi tình trạng này, tâm tôi trở lại
trạng thái bình thường, và một câu hỏi nảy lên,
"Cái đó là cái gì vậy?" Câu trả lời xảy
đến là, "Những sự việc này, chúng chỉ là như
vậy, như vậy thôi. Không cần phải nghi ngờ chúng
nó." Tôi chỉ nói có bấy nhiêu, và tâm tôi chấp
nhận như vậy.
Sau khi ngưng nghỉ một lúc, tâm tôi lại quay bật
vô trong. Tôi không quay nó; chính nó tự quay vô
trong lấy một mình. Khi tâm đi vô trong, nó lại
đi tới bờ mé như lần trước. Lần thứ nhì này thân
thể tôi vỡ thành từng mảnh vụn. Và tâm tôi đi sâu
hơn nữa, tĩnh lặng, cùng tột. Khi tâm tiến vô và
đã lưu lại một thời gian lâu như ý nó muốn, nó lại
ra trở lại, và tôi trở về trạng thái bình thường.
Trong thời gian này, tâm tự nó hành động, tôi chẳng
hề có ý bắt nó đi vô hay đi ra gì hết. Tôi chỉ nhận
biết và quan sát những gì xảy ra vậy thôi. Tôi không
nghi ngờ. Tôi chỉ tiếp tục ngồi thiền và quán tưởng
mà thôi.
Lần thứ ba tâm tiến vô, toàn bộ thế giới đều tan
vỡ: đất đai, cây cỏ, đồi núi, người,..., tất cả
chỉ là khoảng trống. Không một vật gì còn lại hết.
Khi tâm thức đã tiến vô và lưu lại một thời gian
như nó muốn, nó rút ra và trở lại trạng thái bình
thường. Tôi không biết nó trụ như thế nào, những
chuyện đó khó thấy và khó diễn tả. Không có gì có
thể dùng để so sánh với tình trạng đó được.
Về ba lần kinh nghiệm này, ai nói được là chuyện
gì đã xảy ra? Ai biết được điều đó? Tôi có thể gọi
đó là gì? Điều tôi nói ở đây chỉ là vấn đề bản thể
của tâm. Không cần phải bàn tới việc phân loại các
tâm hay tâm sở. Bằng lòng tin sâu chặt, tôi tiến
vô hành thiền, sẵn sàng liều mạng, và khi tôi ra
khỏi kinh nghiệm này thì toàn thể thế giới đã thay
đổi hẳn. Mọi kiến thức và hiểu biết đều đã biến
thái. Nếu có người nào trông thấy tôi thì chắc người
đó nghĩ là tôi đã điên mất rồi. Thật vậy, người
nào không chánh niệm vững vàng rất dễ trở nên điên
khùng, bởi vì nhận thức về thế giới vũ trụ hoàn
toàn thay đổi hẳn so với trước. Thực ra chỉ có "cái
ta" là thay đổi mà thôi. Tuy vậy, cái ta thay
đổi đó vẫn chỉ là một người với cái ta trước kia.
Thiên hạ nghĩ thế này, tôi nghĩ thế khác. Thiên
hạ nói như thế này, tôi nói như thế khác. Tôi không
còn đồng nhất với bàng dân thiên hạ như trước nữa.
Khi tâm tôi đạt tới sức mạnh tột độ của nó thì
căn bản ở đây là năng lực tinh thần, năng lực của
sự tập trung tâm ý. Trong trường hợp tôi vừa mô
tả, kinh nghiệm đó đạt trên năng lực của định. Khi
định đạt tới trình độ này, minh sát tự nó diễn tiến
trong khi hành giả không cần phải cố gắng.
Nếu bạn hành trì như thế này, bạn sẽ không phải
tìm kiếm ở đâu xa. Bạn thân ơi, bạn còn chần chờ
gì nữa mà không thử đi?
Có một chiếc thuyền bạn có thể dùng để qua bên
kia bờ sông. Tại sao bạn chưa chịu bước lên thuyền?
Hay là bạn thích bùn sình hơn? Tôi có thể chèo chống
ra khơi bất cứ lúc nào, nhưng mà tôi còn ở đây chờ
bạn đó!
--------------------------------------------------------------------------------
Hành thiền là nhìn thẳng vào tâm mình - Vấn đạo
với Ajahn Chah
Sau đây là những lời vấn đạo của một thiền sinh
Tây phương với ngài Ajahn Chah.
Hỏi: Thưa thầy, tôi đã cố gắng hết sức để hành
thiền, nhưng dường như tôi chẳng đạt được chút kết
quả nào. Tôi phải làm sao đây?
Đáp: Điều quan trọng trong lúc hành thiền là đừng
mong muốn đạt được cái gì. Lòng mong mỏi giải thoát
hay giác ngộ là một chướng ngại cho sự giải thoát.
Dù bạn có nỗ lực hành thiền đến mức độ nào đi nữa,
hoặc hành thiền suốt ngày đêm mà vẫn còn ôm ấp tư
tưởng là sẽ đạt được cái gì đó, tâm bạn sẽ không
bao giờ bình an, tĩnh lặng. Nỗ lực hành thiền với
ước muốn đạt đươc cái gì là nguyên nhân tạo ra sự
hoài nghi và bất an. Người hành thiền với ước muốn
đạt được cái gì sẽ không bao giờ tiến bộ bởi vì
trí tuệ không thể khởi sinh từ lòng ham muốn. Vậy
thì cứ thản nhiên thực tập, chú tâm theo dõi thân
tâm, và đừng mong ước đạt thành gì cả. Đừng dính
mắc vào sự giải thoát, giác ngộ. Ngoài ra, khi bạn
bắt đầu hành thiền, và khi tâm bắt đầu yên tịnh,
bạn liền nghĩ rằng, "Ồ, không biết như vầy
đã đến tầng thiền-na thứ nhất chưa? Còn phải bao
lâu nữa?" Ngay lúc khởi tâm như thế, bạn mất
hết tất cả. Cách hay nhất là cứ tiếp tục theo dõi
đề mục và để trí tuệ phát triển một cách tự nhiên.
Bạn cứ tiếp tục chú tâm theo dõi mọi diễn biến
của thân tâm mà đừng nghĩ gì đến việc đánh giá trình
độ mình, không cần biết mình đang ở tuệ nào, mức
độ nào. Bạn càng chú tâm theo dõi thân tâm bao nhiêu,
bạn càng thấy rõ bấy nhiêu. Nếu bạn hoàn toàn tập
trung tâm ý vào đề mục, bạn sẽ không còn băn khoăn
lo lắng đến chuyện đã đạt đến trình độ nào. Cứ tiếp
tục đi đúng đường rồi chân lý sẽ hiển lộ một cách
tự nhiên.
Làm sao có thể nói cốt tủy của việc thực hành?
Đi tới cũng không đúng! Đi lui cũng không đúng!
Đứng yên một chỗ cũng không đúng! Không có cách
nào để đo lường hay phân loại sự giải thoát.
Hỏi: Tôi vẫn còn suy nghĩ nhiều, vẫn còn bị phóng
tâm nhiều, mặc dầu tôi rất cố gắng chú tâm chánh
niệm. Tại sao?
Đáp: Đừng lo lắng, băn khoăn về chuyện đó. Hãy
cố gắng giữ tâm an trụ trong hiện tại. Bất kỳ tư
tưởng gì hiện ra trong tâm bạn, bạn phải chú tâm
ghi nhận nó. Những phóng tâm ấy sẽ tự động ra đi.
Cũng đừng ao ước sẽ xua đuổi được chúng; cứ thực
hành rồi bạn sẽ đạt được trạng thái tự nhiên. Cũng
không nên có sự phân biệt giữa tốt và xấu, giữa
nóng và lạnh. Chẳng có tôi, chẳng có anh, và chẳng
có tự ngã gì cả. Chúng thế nào thì nhìn chúng thế
ấy. Khi bạn ôm bát đi khất thực, bạn chẳng cần làm
chuyện gì đặc biệt cả, chỉ đơn thuần đi và chú tâm
vào những gì đang xảy ra. Chẳng cần phải dính mắc
vào sự tĩnh lặng hay độc cư. Nghĩa là đừng bao giờ
có tư tưởng: tôi phải thiền một mình ở một nơi yên
tĩnh mới tiến bộ được. Bất cứ đi nơi đâu bạn cũng
có thể thiền được. Khi bạn ở đâu bạn cũng đều phải
biết mình và chú tâm chánh niệm một cách tự nhiên.
Nếu có sự nghi ngờ xuất hiện, phải theo dõi sự nghi
ngờ đến và đi. Chỉ giản dị thế thôi. Không bám víu
hay nắm giữ điều gì, vật gì, dầu tốt hay xấu. Trong
khi đi kinh hành, thỉnh thoảng bạn có thể gặp vài
trở ngại. Chẳng hạn, tư tưởng của bạn bị ô nhiễm
và hướng đi nơi khác, khiến bạn không còn chú tâm
vào bước đi nữa. Gặp những trường hợp phiền não
đến quấy nhiễu bạn như thế, bạn chỉ cần nhìn chúng,
chúng sẽ ra đi. Đừng bao giờ suy nghĩ, bận tâm đến
những trở ngại đã trôi qua. Đừng ưu tư về những
chuyện gì sắp hay chưa xảy ra. Hãy an trú trong
hiện tại. Đừng quan tâm đến chiều dài của con đường
đi, cũng đừng dính mắc vào nó nữa. Khi thực tập
đã thuần thục, tự nhiên sự quân bình sẽ đến với
bạn.
Hỏi: Tôi phải khởi đầu việc hành thiền như thế
nào? Có cần phải có đức tin trước khi thực hành
không?
Đáp: Một số người bắt đầu việc thực hành khi họ
đã có một số đức tin và hiểu biết về Phật Pháp.
Đó là chuyện tự nhiên. Nhưng như thế không có nghĩa
là phải có đức tin và hiểu biết Phật Pháp mới chịu
đi hành thiền. Chúng ta có thể hành thiền, và phải
hành thiền mà không cần phải có điều kiện nào cả.
Điều quan trọng là phải thực sự muốn nhìn vào bên
trong của Tâm mình, hoàn cảnh của chính mình, hiểu
Tâm mình một cách trực tiếp. Sau đó, tự nhiên đức
tin và sự hiểu biết chín mùi trong tâm.
Hỏi: Trong khi hành thiền, chúng tôi có cần đi
sâu vào Định hay không?
Đáp: Trong khi ngồi thiền, nếu tâm bạn bắt đầu
yên tĩnh và định thì đó là điều tốt, vì bạn có thể
dùng chúng làm dụng cụ để tiến xa hơn. Nhưng bạn
cần thận trọng và đừng bị dính chặt vào sự yên tịnh.
Nếu bạn ngồi chỉ với mục đích đạt đến định tâm thì
bạn sẽ cảm thấy hạnh phúc và sung sướng, nhưng bạn
đã phí thì giờ. Mục đích của hành thiền là ngồi
và để cho tâm an định, rồi dùng tâm định này để
quan sát bản chất của Thân và Tâm. Ngoài ra, nếu
bạn chỉ muốn đạt tới định tâm, bạn sẽ đạt được sự
an tịnh và đè nén được nhiều phiền não trong lúc
bạn ngồi, nhưng khi hết hành thiền, sự an tịnh và
định tâm cũng mất luôn. Giống như bạn lấy một tảng
đá để đè lên hố rác, khi bạn nhấc tảng đá đi, hố
rác vẫn còn. Ngồi lâu hay mau không thành vấn đề.
Bạn đừng để mình bị lạc vào trong an tịnh mà phải
dùng sự an tịnh của mình để quan sát sâu xa hơn
bản chất của Thân và Tâm. Đó chính là phương cách
giúp bạn giải thoát thực sự.
Quan sát Thân - Tâm một cách trực tiếp nhất, đó
là không dùng sự suy nghĩ, tưởng tượng để nhìn Thân
- Tâm. Có hai trình độ quan sát. Một là suy nghĩ
và đi lang thang từ điểm này đến điểm khác, khiến
bạn bị dính mắc vào những tri giác hời hợt giả tạo,
chỉ có bề mặt mà không có thực chất. Loại quan sát
thứ hai là một sự an tịnh, định tâm và lắng nghe
bên trong. Chỉ khi nào có tâm định, tỉnh và an tịnh,
lúc ấy chân trí tuệ mới phát sinh một cách tự nhiên.
Thoạt đầu, trí tuệ chỉ là một âm vang nhè nhẹ, một
mầm cây yếu mềm vừa nhô lên khỏi mặt đất. Nếu bạn
không hiểu điều này, bạn có thể nghĩ quá nhiều đến
nó, săn sóc nó quá nặng tay khiến nó chết một cách
đau đớn dưới chân bạn. Nếu bạn cảm nhận nó một cách
lặng lẽ, từ đó bạn có thể thấy được căn bản của
tiến trình Thân và Tâm. Từ nhận thức này bạn sẽ
thấy được vô thường và bản chất vô ngã của Thân
và Tâm.
Hỏi: Nhưng nếu chúng tôi không tìm kiếm gì cả thì
làm sao gặp được Phật Pháp?
Đáp: Bất kỳ chỗ nào bạn nhìn đều là Pháp--xây dựng
nhà cửa, đi trên đường cái, ở trong nhà tắm, hay
ở trong thiền đường này,..., tất cả đều là Pháp.
Khi bạn hiểu biết đúng thì không có gì trên thế
gian này mà không phải là Pháp cả.
Nhưng bạn phải hiểu rằng hạnh phúc và đau khổ,
vui và buồn luôn luôn ở với ta. Khi bạn hiểu rõ
bản chất của chúng, Phật và Pháp cũng ở ngay đây.
Khi bạn thấy một cách rõ ràng, mỗi thời khắc của
kinh nghiệm đều là Pháp. Nhưng phần lớn chúng ta
có phản ứng một cách mê muội. Trước lạc thú, "Tôi
thích cái này; tôi muốn được nhiều hơn." Và
trước những gì không vừa lòng, "Đi đi, tôi
không thích cái đó; tôi không muốn nữa." Nếu
bạn hoàn toàn mở rộng tầm mắt trước mọi diễn biến
của thế gian mà không có thái độ mê muội như trên,
bạn với Phật sẽ là một.
Một khi bạn đã hiểu rõ, đó chỉ là một vất đề đơn
giản và trực tiếp. Khi lạc thú phát sinh, nên hiểu
rằng nó không phải là ta, là của ta. Khi đau khổ
phát sinh, cũng nên hiểu rằng nó không phải là ta,
là của ta, đau khổ hay khoái lạc đều biến mất. Nếu
bạn không chấp giữ các hiện tượng xảy ra, không
đồng hoá chúng với mình, không xem chúng là sở hữu
của mình, tâm sẽ đạt được trạng thái quân bình.
Sự quân bình này là chánh đạo, những lời dạy của
Đức Phật, dẫn đến giải thoát. Thường chúng ta hay
kỳ vọng, "Tôi có thể đạt được tầng thiền này
hay tầng thiền kia không?" hay, "Tôi có
thể phát triển năng lực gì?" Như vậy là chúng
ta đã bỏ qua những lời dạy của Đức Phật để nhảy
sang một lãnh vực khác thật sự chẳng hữu dụng chút
nào. Nếu bạn thật sự muốn, bạn có thể tìm thấy Đức
Phật trong những sự vật đơn giản nhất trước mắt
bạn, và có thể đạt được cốt tuỷ của sự quân bình
này bằng tâm xả bỏ.
Bước đầu thực hành, điều quan trọng là bạn phải
có một hướng đi thích hợp. Thay vì cứ đi càn, đến
đâu thì đến, bạn phải có một bản đồ hay được một
người đã từng đi trên đường này hướng dẫn. Con đường
giải thoát mà Đức Phật là người đầu tiên chỉ dẫn
là Trung Đạo, nằm giữa hai thái cực: lợi dưỡng và
khổ hạnh. Tâm phải mở rộng trước mọi kinh nghiệm,
không mất quân bình hay rơi vào những cực đoan.
Được vậy, bạn sẽ nhìn sự vật với tâm tự nhiên, không
dính mắc mà cũng không hất huỉ. Khi hiểu rõ được
sự quân bình này thì Đạo sẽ rõ dần. Khi sự hiểu
biết được phát triển là lúc lạc thú đến, bạn hiểu
ngay nó là vô thường, bất an và trống rỗng. Khi
đau buồn và thất vọng đến, bạn cũng xem chúng như
vậy: vô thường, bất an và trống rỗng. Cuối cùng,
khi đã đạt được một đoạn khá xa trên con đường,
bạn sẽ thấy rõ ràng rằng trên thế gian này chẳng
có gì có giá trị, chẳng có gì cần phải nắm giữ.
Mọi vật chẳng khác nào những vỏ chuối hay vỏ dừa,
chẳng có gì hấp dẫn. Khi bạn nhìn thấy mọi vật trên
thế gian đều là những vỏ chuối và vỏ dừa, bạn sẽ
tự do đi trên thế gian này, không có gì khiến bạn
bực mình chán nản. Lúc ấy bạn đã đi trên con đường
dẫn đến giải thoát.
Hỏi: Ngài có đòi hỏi thiền sinh phải theo những
khoá thiền dài ngày, hành thiền tích cực và tịnh
khẩu không?
Đáp: Vấn đề này tùy thuộc vào từng cá nhân. Bạn
phải tập hành thiền trong mọi hoàn cảnh, ở chợ hay
độc cư trong rừng. Dĩ nhiên hành thiền nơi yên tĩnh
thì tốt hơn. Đó là lý do chúng tôi sống ở trong
rừng. Lúc mới thực hành, bạn phải làm mọi việc một
cách chậm chạp, phải chánh niệm trong khi đi. Sau
đó bạn có thể học chánh niệm trong mọi hoàn cảnh.
Một số người xin được hành thiền tích cực, tịnh
khẩu trong sáu tháng hay một năm. Nhưng không có
luật lệ nào về việc này. Đó phải là quyết định của
cá nhân. Cũng như những chiếc xe bò mà các nông
dân sử dụng quanh đây -- khi muốn chở hàng nhiều
thì họ phải thêm sức mạnh vào xe, thay bánh xe mạnh
hơn và thêm bò kéo. Họ có thể làm được điều ấy hay
không? Cũng vậy, thiền sư và thiền sinh phải linh
động trong việc này. Thiền sinh có thật sự muốn
thế không? Có đúng lúc không? Phải tế nhị, linh
động, hiểu và tôn trọng giới hạn của mình. Đó cũng
là trí tuệ.
Đức Phật dạy hai loại thực hành: Giải thoát bằng
trí tuệ và giải thoát bằng hành thiền.
Những người giác ngộ bằng trí tuệ chỉ cần nghe
Pháp và tức thì có tri kiến. Bởi vì toàn bộ giáo
lý đều dạy xả bỏ mọi vật, để mọi vật như vậy, họ
thực hành xả bỏ theo lối tự nhiên chẳng cần phải
qua nỗ lực tinh tấn hay định tâm. Lối thực hành
đơn giản này cuối cùng có thể đưa họ đến chỗ không
còn tự ngã, nơi đó không còn gì để xả bỏ và không
còn gì để nắm giữ.
Những người giác ngộ bằng thiền định cần phải có
nhiều thì giờ để định tâm hơn. Họ phải ngồi hay
thực hành theo một số kỷ luật đặc biệt và dài ngày.
Đối với họ, sự định tâm này nếu sử dụng đúng cách
sẽ trở thành cơ sở để tiến sâu vào minh sát. Một
khi tâm đã định, cũng giống như học xong bậc trung
học, bấy giờ họ có thể vào đại học và học bất cứ
ngành nào thích hợp với họ. Một khi tâm định đã
mạnh họ có thể tiến đến những tầng thiền định cao
hơn hay dùng tâm định để phát triển tất cả các mức
độ của minh sát.
Dù giải thoát bằng trí tuệ hay giải thoát bằng
thiền định, chúng ta đều phải qua con đường thực
hành. Mọi phương cách thực hành mà không có sự dính
mắc, chấp thủ đều đưa đến giải thoát.
Hỏi: Cần phải thực hành pháp niệm tâm từ cùng lúc
với thiền minh sát không?
Đáp: Lập đi lập lại những câu niệm tâm từ đem lại
kết quả tốt đẹp. Nhưng đó chỉ là sự thực tập căn
bản cho những người mới hành thiền. Khi bạn đã thực
sự nhìn thấy bên trong tâm bạn và thực hành phần
tinh tuý của Phật Giáo một cách đứng đắng thì tâm
từ của bạn tự nhiên phát triển. Khi bạn xả bỏ tự
ngã và các thứ khác thì bạn sẽ có một sự phát triển
sâu xa và tự nhiên khác hẳn với người sơ cơ, lập
đi lập lại câu: "Cầu mong cho tất cả chúng
sinh an vui hạnh phúc, cầu mong cho tất cả chúng
sinh tránh khỏi mọi điều đau khổ."
Hỏi: Chúng tôi phải đi dâu để nghiên cứu Phật Pháp?
Đáp: Khi bạn tìm thấy Phật Pháp, bạn sẽ nhận thấy
Phật Pháp không ở trong rừng sâu hay trên núi cao.
Phật Pháp cũng không ở trong hang động hay trong
tu viện. Phật Pháp ở ngay trong tâm. Ngôn ngữ của
Phật Pháp không phải là tiếng Thái, tiếng Miến hay
tiếng Pali. Phật Pháp có ngôn ngữ riêng, ngôn ngữ
chung của mọi người, ngôn ngữ của kinh nghiệm gặt
hái qua thực hành. Có một sự khác biệt lớn lao giữa
sự chế định của thế tục và kinh nghiệm trực tiếp.
Người nào nhúng tay vào ly nước nóng đều cảm thấy
nóng. Nhưng sự nóng này được diễn tả bằng nhiều
ngôn ngữ khác nhau. Cũng vậy, người nào nhìn sâu
vào tâm đều có cùng kinh nghiệm như nhau, chẳng
liên quan gì đến quá trình văn hóa hay ngôn ngữ.
Nếu tâm bạn nếm được hương vị của giáo pháp thì
bạn trở thành một với mọi người, chẳng khác nào
gia nhập chung một đại gia đình.
Hỏi: Phật Giáo có khác biệt nhiều với các tôn giáo
khác không?
Đáp: Mục đích của tôn giáo, trong đó có Phật Giáo,
là đem lại hạnh phúc cho con người, bằng cách giúp
họ thấy một cách rõ ràng và chân thật sự vật nó
như thế nào. Bất kỳ tôn giáo nào, hệ thống tín ngưỡng
hay đường lối thực hành nào giúp con người thấy
rõ chân tướng của sự vật, đều có thể gọi là Phật
Giáo, nếu bạn muốn.
Trong đạo Thiên Chúa, một trong những ngày lễ quan
trọng là Lễ Giáng Sinh. Năm ngoái, một nhóm nhà
sư Tây phương đã tổ chức một ngày Giáng Sinh đặc
biệt, với một lễ tặng quà và làm phước. Một số thiện
nam tín nữ thắc mắc điều đó, "Tại sao đã xuất
gia thành sư sãi Phật Giáo rồi mà các vị này còn
tổ chức Lễ Giáng Sinh? Bộ đó không phải là lễ của
Thiên Chúa Giáo sao?"
Trong buổi thuyết pháp, tôi đã giải thích tại sao
mọi người trên thế giới đều có một căn bản như nhau.
Gọi là người Âu, người Hoa kỳ, hay người Thái, chỉ
là muốn nói đến chỗ họ sinh hay màu tóc của họ,
nhưng Thân và Tâm của họ đều có cùng bản chất như
nhau. Tất cả đều ở trong một gia đình nhân loại,
có cùng đặc tính giống nhau, đó là đều phải sinh
ra, đều phải già, đều phải chết. Khi bạn hiểu được
điều đó, sự khác biệt không còn quan trọng nữa.
Cũng vậy, lễ Giáng Sinh là một dịp để mọi người
cố gắng giúp đỡ người khác bằng những việc làm tốt
đẹp của mình. Đó là điều quan trọng và kỳ diệu.
Bạn có thể gọi đây là ngày gì cũng được, chẳng ăn
nhằm gì điều đó cả.
Bởi thế tôi mới nói với mọi thiện tín, "Hôm
nay là ngày Thiên Chúa Phật Pháp." Ai thực
hành đúng thì họ đã thực hành "Phật Đà Thiên
Chúa Giáo" và mọi chuyện đều tốt đẹp.
Tôi dạy họ cách này để xả bỏ chấp thủ và luyến
ái vào những chế định của thế gian và để nhìn thấy
mọi diễn biến của sự vật một cách chính xác và tự
nhiên.
Bất kỳ cái gì giúp chúng ta thấy rõ chân lý, giúp
chúng ta làm điều tốt đẹp, đều là lối thực hành
đúng. Bạn có thể đặt cho nó tên gì cũng được.
Hỏi: Những người mới tập thiền phải hành thiền
như thế nào?
Đáp: Cũng như những người hành thiền lâu.
Hỏi: Tôi có thể quan sát tham lam và sân hận, nhưng
làm thế nào để kiểm soát si mê?
Đáp: Bạn như người đang cưỡi ngựa mà lại hỏi, "Con
ngựa đâu?"
Hỏi: Về việc ngủ nghỉ phải như thế nào? Tôi phải
ngủ mấy tiếng mỗi ngày?
Đáp: Thật là khó trả lời cho bạn điều đó. Đối với
thiền sinh, trung bình mỗi ngày ngủ bốn tiếng là
đủ. Điều quan trọng là phải tự xét xem và tự tìm
hiểu mình để chọn một số giờ ngủ nghỉ thích hợp.
Nếu bạn ngủ quá ít, bạn sẽ thấy không thoải mái,
và điều này làm cho bạn khó tỉnh thức. Nhưng ngủ
nhiều quá cũng khiến trí óc chậm lụt và tâm chao
động. Hãy tìm một sự quân bình tự nhiên cho chính
mình, thận trọng quan sát thân tâm và cố gắng chọn
cho mình một số giờ ngủ thích hợp. Sau một thời
gian hành thiền, bạn sẽ tự biết là phải ngủ bao
nhiêu giờ một ngày. Nếu ngủ dậy mà còn nằm nướng
thêm, đó là phiền não. Hãy tỉnh thức, chánh niệm
ngay lúc bạn vừa mở mắt.
Hỏi: Về việc ăn uống thì sao? Tôi phải ăn nhiều
ít mỗi ngày?
Đáp: Ăn cũng như ngủ, bạn phải tự biết lấy. Thức
ăn là nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể. Hãy xem thức
ăn như những loại thuốc chữa bệnh. Nếu bạn cảm thấy
buồn ngủ sau khi ăn hay cảm thấy càng ngày càng
mập ra, như vậy là bạn đã ăn quá nhiều. Hãy bớt
ăn lại, xem xét thân và tâm bạn. Cũng không cần
phải ăn quá đói. Hãy tự xem bạn cần phải dùng bao
nhiêu lượng thực phẩm hàng ngày. Hãy tìm lấy sự
quân bình tự nhiên của cơ thể bạn. Thực hành hạnh
đầu đà bằng cách bỏ tất cả thức ăn vào trong bình
bát của bạn, lúc bấy giờ bạn sẽ dễ dàng tìm thấy
số lượng thực phẩm đủ dùng cho bạn trong mỗi bữa
ăn. Mỗi khi ăn hãy thận trọng theo dõi mình, bạn
sẽ tự hiểu rõ. Tinh túy của sự thực hành là ở chỗ
đó. Bạn chẳng cần phải làm gì đặc biệt cả, chỉ cần
theo dõi chính mình, theo dõi tâm mình để tìm ra
sự quân bình tự nhiên.
Hỏi: Tâm người Đông phương và tâm người Tây phương
có khác nhau không?
Đáp: Mặc dầu hình dáng bên ngoài và ngôn ngữ có
khác nhau, nhưng tâm con người đều có những đặc
tính thiên nhiên giống nhau. Người Đông phương hay
Tây phương cũng đều có tham lam, sân hận như nhau.
Mọi người đều có đau khổ và đều có khả năng chấm
dứt khổ đau.
Hỏi: Đọc hay học giáo lý có phải là một trong những
yếu tố cần thiết để hành thiền không?
Đáp: Không thể tìm thấy giáo lý trong kinh điển.
Nếu bạn muốn tự mình tìm thấy những gì Đức Phật
dạy cho bạn, bạn không cần bận tâm đến sách vở làm
gì. Hãy theo dõi tâm mình. Hãy quan sát và theo
dõi cảm giác và tư tưởng đến rồi đi như thế nào.
Đừng để bị dính mắc vào bất cứ điều gì, chuyện gì.
Chỉ cần chú tâm tỉnh thức trước những gì đang xảy
ra. Đó là con đường tiến đến chân lý. Hãy tự nhiên.
Mọi việc làm, mọi động tác của bạn ở đây đều là
cơ hội để bạn thực tập thiền quán. Tất cả đều là
giáo pháp. Bất kỳ làm công việc gì bạn cũng phải
cố gắng chánh niệm. Trong khi quét dọn, phụ bếp,
rửa chén, v. v., bạn phải chú tâm tỉnh thức, giữ
chánh niệm. Khi bạn đi đổ rác, đổ ống nhổ, chuì
rửa nhà cầu, ..., đừng nghĩ bạn làm những công việc
đó vì lợi ích cho kẻ khác. Chân lý nằm ngay trong
việc đổ ống nhổ, trong công tác chùi rửa cầu tiêu.
Đừng nghĩ rằng chỉ những lúc ngồi kiết già mới là
những giờ phút hành thiền. Nhiều người than phiền
là không có dư thì giờ để hành thiền. Điều đó thật
sai lầm. Bộ bạn không có đủ thì giờ để thở sao?
Thiền định của bạn nằm ở đây: chánh niệm, giác tỉnh,
hoàn toàn tự nhiên, thoái mái trong mọi công việc
bạn đang làm.
Hỏi: Tại sao lúc hành thiền ở đây chúng tôi không
có những giờ trình pháp hàng ngày?
Đáp: Nếu bạn có vấn đề gì cần hỏi, bạn có thể đến
gặp thiền sư bất cứ lúc nào. Không cần phải trình
pháp hàng ngày. Nếu tôi trả lời bạn tất cả mọi câu
hỏi nhỏ nhặt nhất, bạn sẽ không bao giờ hiểu được
tiến trình hoài nghi trong tâm bạn. Điều cần thiết
là bạn phải biết tự biết cách tự xem xét mình, tự
hỏi mình, tự trình pháp cho mình. Hãy chú tâm theo
dõi bài giảng một thời gian, rồi đem những lời giảng
đó so sánh với sự thực hành của bạn. Xét xem thử
sự thực hành của bạn đúng hay sai, khác với lời
giảng dạy ở điểm nào? Tìm hiểu xem tại sao bạn hoài
nghi, ai hoài nghi và hoài nghi cái gì? Bạn chỉ
có thể hiểu được những điểm này khi chính bạn tự
xem xét lấy.
Hỏi: Đôi lúc tôi lo lắng về giới luật của nhà sư.
Vô ý làm chết côn trùng có tội lỗi không?
Đáp: Giới luật và những qui luật đạo đức rất cần
thiết; chúng là những yếu tố căn bản trong việc
hành thiền, nhưng đừng dính mắc một cách mù quáng
vào chúng. Sự chủ ý hay cố ý đóng vai trò quan trọng
trong giới sát sanh cũng như trong các giới khác.
Hãy hiểu tâm mình. Đừng quá dính mắc vào giới luật.
Nếu giữ một cách đứng đắn và thích hợp, giới sẽ
hỗ trợ cho bạn trong lúc hành thiền. Nhiều nhà sư
quá lo lắng về giới luật khiến họ ăn ngủ không yên;
đấy là một trở ngại. Đừng khiến giới luật trở thành
gánh nặng cho chính mình.
Trong việc thực tâp thiền của chúng ta ở đây, nền
tảng chính là giới luật. Giới luật, hạnh đầu đà,
và thực hành thiền định là ba điểm quan trọng. Chú
tâm chánh niệm và thận trọng giữ gìn giới luật (từ
những qui luật có tính cách hỗ trợ trong lúc hành
thiền cho đến 227 giới của tỳ kheo) sẽ đem lại lợi
ích lớn lao. Giới luật giúp cho đời sống giản dị,
tri túc, không phiền toái.
Không cần lo lắng là phải giữ giới như thế nào,
làm sao để khỏi phạm giới, v. v. Hãy tự nhiên trong
mọi tác động. Không quá lo lắng về giới luật sẽ
khiến bạn khỏi suy nghĩ. Thay vào đó bạn chỉ cần
chú tâm chánh niệm là đủ. Giới luật giúp chúng ta
cùng sống hoà hợp với mọi người, một cuộc sống êm
thắm, hài hoà. Giới luật là những viên gạch lót
đường để tiến đến định tâm và phát triển trí tuệ.
Giữ giới luật và hành hạnh đầu đà khiến chúng ta
sống đời sống đơn giản, không bám víu vào vật chất
và của sở hữu. Do đó, sống ở đây chúng ta có thể
thực hành trọn vẹn những lời dạy của Đức Phật: tránh
xa điều ác, làm điều lành, sống đơn giản (chỉ sử
dụng những nhu cầu vật chất cần thiết), thanh lọc
tâm. Muốn thế chỉ cần chú tâm theo dõi mọi tác động
của thân và tâm bạn trong mọi oai nghi: đi, đứng,
nằm, ngồi.
Hỏi: Làm thế nào để đối trị với sự hoài nghi? Nhiều
hôm tôi đâm ra nghi ngờ nhiều thứ. Nghi ngờ sự thực
hành, nghi ngờ sự tiến bộ của chính tôi, và nghi
ngờ cả thiền sư nữa.
Đáp: Nghi ngờ là chuyện tự nhiên. Mọi người bắt
đầu với sự nghi ngờ. Bạn sẽ học được ở hoài nghi
nhiều điều lợi ích. Điều quan trọng là đừng đồng
hoá mình với sự hoài nghi, nghĩa là đừng chụp lấy
nó, bám víu vào nó. Dính mắc vào hoài nghi sẽ khiến
bạn rơi vào vòng lẩn quẩn. Thay vào đó, hãy theo
dõi toàn thể tiến trình của hoài nghi, của băn khoăn.
Hãy nhìn xem ai đang hoài nghi. Hoài nghi đến và
đi như thế nào. Làm thế bạn sẽ không còn là nạn
nhân của sự nghi ngờ nữa. Bạn sẽ vượt ra khỏi sự
nghi ngờ và tâm bạn sẽ yên tĩnh. Lúc bấy giờ bạn
sẽ thấy mọi chuyện đến và đi một cách rõ ràng. Tóm
lại, hãy để cho mọi sự bám víu, mọi dính mắc của
bạn trôi đi; chú tâm quan sát sự nghi ngờ. Đó là
cách hiệu quả nhất để chấm dứt hoài nghi. Chỉ cần
đơn thuần chú tâm quan sát hoài nghi, hoài nghi
sẽ biến mất.
Hỏi: Có rất nhiều thiền sư và mỗi vị chỉ dạy một
phương pháp hành thiền riêng, khiến thiền sinh bối
rối, băn khoăn. Làm sao biết phương pháp nào đúng?
Đáp: Cũng giống như việc đi xuống phố. Chúng ta
có thể đến phố từ nhiều hướng khác nhau. Thường
các phương pháp thiền chỉ khác nhau bề ngoài. Dầu
phương pháp nào đi nữa, chậm hay nhanh, nếu giúp
chánh niệm thì cũng như nhau. Điểm chính yếu mà
mọi thiền sinh cần phải nằm lòng là đừng dính mắc.
Vì cuối cùng thì mọi phương pháp hành thiền phải
được buông bỏ. Phương pháp hành thiền chỉ là phương
tiện. Thêm vào đó, thiền sinh cũng không được dính
mắc vào thiền sư. Lối của thiền sư nào đưa bạn đến
sự dứt bỏ, không dính mắc, đó là lối thiền đứng
đắn.
Bạn có thể đi đây đó để tham học với các thiền
sư và để thử qua những phương pháp hành thiền khác
nhau. Một số các bạn ở đây đã từng làm như thế.
Đó là điều ước muốn và là việc tự nhiên. Sau khi
bạn đã đặt nhiều câu hỏi với các vị thiền sư và
đã biết được nhiều phương pháp hành thiền, bạn sẽ
nhận thấy rằng tất cả những việc bạn làm chẳng đưa
bạn đến chân lý ngoài sự buồn chán. Rồi bạn sẽ thấy
rằng chỉ có lúc bạn đứng lại để xem xét tâm mình
mới là lúc bạn thấy được, tìm được những gì Đức
Phật dạy. Chẳng cần phải đi tìm cái gì bên ngoài
bạn. Hãy trở về đối diện với bản chất thực sự của
chính mình. Chính lúc trở về đối diện với chính
mình bạn sẽ thấy chân lý.
Hỏi: Nhiều lúc tôi thấy dường như các vị sư ở đây
chẳng thực hành thiền chút nào. Họ có vẻ lờ đờ,
thiếu giác tỉnh. Những hình ảnh này làm bận tâm
tôi rất nhiều.
Đáp: Không nên chú ý đến kẻ khác. Để ý đến kẻ khác
chẳng đem lại lợi ích gì cho chúng ta. Nếu bạn cảm
thấy bực bội, hãy xem xét sự bực bội của mình. Không
nên thắc mắc rằng thiện tín này xấu, vị sư kia không
tốt. Hãy để họ qua một bên, không cần phải đánh
giá, phê bình người khác làm gì. Bạn sẽ không thấy
trí tuệ nếu cứ để tâm theo dõi, xem xét, đánh giá
kẻ khác. Giới luật, nội qui là dụng cụ trợ giúp
cho bạn hành thiền có kết quả. Giới luật không phải
là khí cụ để bạn chỉ trích hay tìm lỗi ở kẻ khác.
Không ai có thể hành thiền thay cho bạn. Bạn cũng
không thể hành thiền thay cho ai cả. Hãy chú tâm
chánh niệm, tỉnh thức trước những gì bạn làm; đó
là phương pháp hành thiền tốt đẹp.
Hỏi: Tôi hết sức cố gắng tập thu thúc lục căn và
chú tâm đến cảm giác của mình. Tôi luôn luôn nhìn
xuống đất và giữ tâm chánh niệm trong mọi tác động
nhỏ nhặt. Chẳng hạn, lúc ăn, ăn rất chậm, dành nhiều
thì giờ để ăn. Tôi để ý đến từng xúc chạm của sự
ăn: nhai, ý thức muì vị, nuốt, v. v. Tôi thực hiện
từng tác động một cách thận trọng và ý tứ. Thực
hành như vậy có đúng không?
Đáp: Thu thúc lục căn và theo dõi cảm giác của
mình là sự thực tập tốt đẹp. Lúc nào chúng ta cũng
phải chú tâm tỉnh thức, ghi nhận mọi cảm giác đến
với mình. Nhưng đừng thái quá. Hãy đi, đứng, nằm,
ngồi một cách tự nhiên. Đừng quá thúc ép việc hành
thiền của bạn, cũng như đừng quá bó buộc chính mình
vào trong một khuôn khổ định sẵn nào. Quá thúc ép
cũng là một hình thức của tham ái. Hãy kiên nhẫn.
Kiên nhẫn và chịu đựng là điều kiện cần thiết của
một thiền sinh. Nếu bạn hành động một cách tự nhiên
và chú tâm tỉnh thức, trí tuệ sẽ đến với bạn một
cách tự nhiên.
Hỏi: Có cần phải ngồi thiền thật lâu không?
Đáp: Không cần phải ngồi thiền thật lâu, thật nhiều
giờ. Nhiều người nghĩ rằng càng ngồi lâu thì chúng
ta càng sáng suốt. Điều đó không đúng. Trí tuệ đến
với chúng ta qua mọi oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi.
Buổi sáng, lúc mới thức dậy, bạn phải hành thiền
ngay và bạn phải tiếp tục hành thiền cho đến khi
bạn đi ngủ. Trong suốt ngày bạn có thể hành thiền
qua mọi tư thế: đi, đứng, nằm, ngồi. Điều quan trọng
là phải chánh niệm trong mọi tư thế, mọi tác động
của bạn; việc duy trì một tư thế nào lâu không phải
là điều quan trọng.
Nói như thế không có nghĩa ngồi lâu là điều không
tốt; ở đây, tôi muốn nhấn mạnh đến sự chánh niệm.
Không cần quan tâm đến chuyện bạn có thể ngồi được
bao lâu. Điều quan trọng là bạn phải theo dõi mọi
tác động, mọi tư thế của bạn trong mọi lúc đi, đứng,
tắm, rửa, ăn, uống, v. v.
Mỗi người có một bản chất thân, tâm khác nhau (người
có thể ngồi lâu, người có thể đi lâu, v. v.) Chẳng
hạn một số bạn sẽ chết ở tuổi năm mươi; một số khác
ở tuổi sáu mươi, và một số khác nữa ở tuổi chín
mươi. Cũng thế, không thể qui định thế nào về sự
thực hành của bạn. Đừng suy nghĩ hay băn khoăn về
điều đó. Hãy chánh niệm và để mọi chuyện trôi chảy
một cách tự nhiên; dần dần tâm bạn sẽ an tĩnh và
tất cả những gì quanh bạn cũng sẽ tĩnh lặng theo.
Tâm bạn lúc bấy giờ sẽ tĩnh lặng như mặt hồ phẳng
lặng trong khu rừng yên tĩnh. Mọi loại thú hiếm
và quí sẽ đến uống nước tại chiếc hồ tĩnh lặng này.
Bạn sẽ thấy biết bao điều kỳ diệu đến và đi, nhưng
bạn vẫn tĩnh lặng trong sự đến và đi đó. Mọi giải
đáp sẽ hiển lộ và bạn sẽ tức thời nhận thấy bản
chất thực sự của vạn hữu. Đó là hạnh phúc của kẻ
giác ngộ.
Hỏi: Khi hành thiền có nhất thiết phải đạt đến
trạng thái nhập định không?
Đáp: Không cần thiết. Bạn chỉ cần có tâm an tịnh
và đạt đến nhất tâm là đủ. Rồi dùng sự nhất tâm
đó để xem xét chính bạn. Ngoài ra, chẳng cần phải
có điều kiện nào khác. Nếu đạt đươc định tâm cũng
tốt, nhưng chẳng cần phải dính mắc, chấp chặt vào
chúng. Một số người dính mắc vào trạng thái định
tâm; đấy là một trở ngại. Trạng thái định tâm cũng
có thể đem lại nhiều thích thú, nhưng bạn nên hạn
chế. Nếu bạn khéo léo một chút, bạn sẽ biết cách
sử dụng và giới hạn trạng thái này.
Hỏi: Tại sao chúng ta phải hành hạnh đầu đà? Chẳng
hạn chỉ ăn thức ăn đựng trong bát, không được dùng
thức ăn đựng trong chén đĩa?
Đáp: Hạnh đầu đà giúp cắt đứt phiền não. Chỉ ăn
thức ăn trong bát giúp chúng ta chánh niệm, giác
tỉnh hơn và xem thức ăn như một món thuốc chữa bệnh.
Nếu chúng ta không có phiền não, chúng ta có thể
ăn như thế nào cũng được. Ở đây chúng ta thực hành
như thế này là để có một đời sống đơn giản. Đức
Phật không buộc mỗi tu sĩ đều phải giữ hạnh đầu
đà. Ngài cho phép những ai muốn thực hành tích cực
được giữ hạnh đầu đà vì hạnh đầu đà giúp gia tăng
ý chí và sức mạnh tinh thần. Đây là một hạnh tự
nguyện. Đừng để ý đến người khác đã thực hành như
thế nào. Hãy quan sát chính tâm bạn và tìm xem hạnh
đầu đà đem lại lợi ích gì cho bạn.
Ngay ở đây, khi thiền sinh đến tu, họ sẽ được chỉ
định một căn lều để ở. Họ được chỉ định, không được
tự do chọn lựa. Việc đó nhằm mục đích giúp thiền
sinh không bám víu, dính mắc vào chỗ ở; ở đâu cũng
được. Sau khi hành thiền một thời gian, nếu họ ra
đi rồi trở lại hành thiền lần nữa, họ sẽ được chỉ
định ở một lều khác. Đó là cách thực tập của chúng
tôi -- tập không dính mắc vào bất cứ chuyện gì.
Hỏi: Nếu chỉ ăn thức ăn đựng trong bát là điều
quan trọng để hành thiền, tại sao là thầy mà Ngài
không ăn trong bát như chúng tôi? Ngài không nghĩ
rằng một vị thầy phải làm gương cho người khác noi
theo sao?
Đáp: Đúng. Một vị thầy phải làm gương cho học trò
noi theo. Tôi không trách bạn chỉ trích điều đó.
Bạn có thể hỏi bất cứ điều gì bạn muốn. Nhưng điều
quan trọng tôi muốn nói ở đây là đừng dính mắc vào
vị thầy nữa. Nếu tôi có hình thức bên ngoài hoàn
toàn tuyệt hảo thì thật là kinh khủng! Tất cả các
bạn sẽ dính mắc vào tôi. Ngay Đức Phật nhiều lần
bảo học trò làm thế này nhưng Ngài làm thế khác.
Sự nghi ngờ của bạn đối với vị thầy có thể giúp
bạn.
Bạn nên theo dõi chính bản thân mình. Phải theo
dõi những phản ứng của mình. Có khi nào bạn nghĩ
rằng tôi để thức ăn ở dĩa rồi đem cho những thiện
tín làm việc quanh ngôi chùa này không? Muốn có
trí tuệ, chính bạn phải biết quay lại và khai triển
ở chính mình. Hãy học hỏi ở thầy những điều gì tốt
đẹp, và chú tâm tỉnh thức, hiểu biết mình trong
khi thực hành. Nếu tôi đang nghỉ ngơi thoải mái,
trong khi đó bạn phải ngồi xếp bằng để tham thiền,
bạn có lấy làm tức tối không? Khi tôi nói đây là
màu xanh, kia là màu đỏ, đó là đàn ông, đây là đàn
bà, bạn phải tự mình quan sát, đừng nghe theo tôi
một cách mù quáng.
Một vị thầy của tôi trước đây ăn rất nhanh, khi
ăn ông ta gây ra những tiếng động ồn ào, nhưng ông
ta lại dạy chúng tôi phải ăn chầm chậm và chú tâm
tỉnh thức trong khi ăn. Quan sát thầy, tôi lấy làm
thất vọng và buồn nản. Tôi đau khổ trong khi ông
ta vẫn tự nhiên! Thật ra tôi đã quan sát bên ngoài
mà không quan sát chính tôi. Sau này tôi mới hiểu
rõ được điều đó. Có nhiều người lái xe rất nhanh,
nhưng cẩn thận. Trong khi đó một số khác lái xe
rất chậm nhưng lại gây ra rất nhiều tai nạn. Đừng
dính mắc vào những qui luật có sẵn. Đừng dính mắc
vào hình thức bên ngoài.
Nên nhìn người ngoài mười phần trăm, và để lại
chín mươi phần trăm theo dõi chính mình. Đó là phương
pháp thực hành tốt đẹp. Trong thời gian đầu tôi
thường để tâm quan sát thầy tôi là Ngài Achaan Toong
Rath và có nhiều nghi ngờ đối với Ngài. Nhiều người
nghi Ngài là một người bất bình thường. Ngài làm
nhiều chuyện kỳ lạ và đối xử rất khắt khe với học
trò. Bề ngoài Ngài có vẻ rất nóng giận, nhưng bên
trong thì rất bình lặng. Tâm hồn Ngài rất trong
sáng và luôn luôn chánh niệm -- cho đến giây phút
Ngài qua đời.
Thông thường chúng ta hay nhìn bề ngoài để so sánh
phân biệt. Nếu cứ nhìn bề ngoài để quan sát thiên
hạ, bạn sẽ không bao giờ có hạnh phúc. Cũng như
thế, nếu bạn muốn tìm thấy sự an bình mà lại cứ
phí thì giờ để quan sát theo dõi những người hoàn
toàn hay những vị tuyệt hảo, bạn cũng sẽ không được
bình an chút nào. Đức Phật dạy chúng ta phải nhìn
vào giáo pháp, chân lý, chớ đừng nhìn vào kẻ khác.
Hỏi: Làm thế nào để có thể chế ngự được dục vọng?
Đôi khi tôi cảm thấy mình thật sự bị nô lệ vào những
thú vui thể xác.
Đáp: Tham dục phải được quân bình bằng sự chú tâm
vào đề mục bất tịnh. Dính mắc vào vóc dáng có thể
là một cực đoan. Gặp trường hợp như thế, chúng ta
phải để tâm đến một cực đoan khác của cơ thể. Chúng
ta hãy quan sát cơ thể và xem đó như một xác chết.
Hãy nhìn vào tiến trình tan rã, huỷ hoại của một
xác chết. Cũng có thể quan sát từng bộ phận của
cơ thể như phổi, tim, gan, mắt, máu, nước tiểu,
mồ hôi, v. v. Hãy nhớ lại hình ảnh của các yếu tố
bất tịnh của cơ thể mỗi khi tham dục phát sinh.
Làm như thế sẽ tránh khỏi tham dục quấy nhiễu.
Hỏi: Còn về sự nóng giận thì sao? Khi cơn giận
nổi lên, tôi phải làm thế nào?
Đáp: Phải niệm tâm từ. Khi tâm nóng giận phát sinh,
bạn phải quân bình chúng bằng cách khai triển từ
tâm. Nếu có ai làm điều gì xấu đối với bạn hay giận
bạn, bạn cũng đừng giận dỗi. Nếu tức giận, bạn càng
si mê và tối tăm hơn người đó nữa. Hãy sáng suốt
giữ tâm từ ái và thương người đó, vì người ấy đang
đau khổ. Hãy làm cho tâm tràn đầy tình thương, xem
người đang giận mình như anh chị em thân yêu của
mình. Lúc bấy giờ hãy chú tâm vào cảm giác từ ái,
và lấy sự từ ái làm đề mục thiền định. Trải lòng
từ đến tất cả chúng sinh trên toàn thế giới. Chỉ
có lòng từ ái mới thắng được sự sân hận.
Đôi khi bạn có thể thấy vài vị sư có hành động
và thái độ không tốt. Điều này làm bạn bất bình.
Sự bất bình này là một phiền não, đau khổ không
cần thiết. Có những ý nghĩ bất bình như thế là bạn
đã đi ra ngoài Giáo Pháp của Đức Phật. Khi bạn thấy
những vị sư không tốt, tư tưởng sau đây có thể đến
với bạn: những vị này không hành thiền một cách
tích cực như ta, đấy là những vị không tốt, v. v.
Suy nghĩ như vậy là tự tạo ra và mang lấy vào mình
một phiền não lớn lao. Đừng so sánh, phê phán, phân
biệt. Hãy để cho thành kiến, quan niệm của bạn trôi
đi và theo dõi chính mình. Đó là giáo pháp.
Bạn không thể nào khiến người khác làm đúng như
bạn hay theo ý bạn. Đừng ao ước điều gì diễn ra
theo ý muốn của mình, vì đó là nguyên nhân gây ra
sự đau khổ. Thiền sinh thường vấp phải những khuyết
điểm thông thường như thế. Hãy nhớ rằng: việc quan
sát, theo dõi kẻ khác không giúp cho bạn mở mang
trí tuệ. Đừng phí phạm thì giờ và tâm trí quan sát
người khác, mà hãy xem xét chính mình, xem xét cảm
giác của mình. Đó là phương pháp giúp cho bạn mở
mang trí tuệ.
Hỏi: Trong lúc hành thiền, tôi hay buồn ngủ. Sự
buồn ngủ làm cho tôi khó hành thiền. Tôi phải làm
thế nào để hết buồn ngủ?
Đáp: Có nhiều cách để chế ngự cơn buồn ngủ. Nếu
bạn đang ngồi trong chỗ tối, hãy đến ngồi ở chỗ
sáng hơn và mở mắt ra. Đứng dậy, đi rửa mặt. Vỗ
vào mặt hay đi tắm. Nếu vẫn còn buồn ngủ, hãy thay
đổi tư thế. Đi bộ nhiều hơn. Đi thụt lùi. Đi thụt
lùi khiến bạn chú ý đến bước đi nhiều hơn và hết
buồn ngủ. Nếu vẫn còn buồn ngủ, hãy đứng một chỗ,
tưởng tượng rằng ánh sáng chan hòa khắp nơi. Cũng
có thể đến ngồi gần mép cầu thang cao hoặc ngồi
bên bờ miệng giếng sâu, bạn sẽ không còn dám buồn
ngủ nữa.
Nếu đã làm tất cả những chuyện ấy mà vẫn buồn ngủ,
hãy đi ngủ! Nằm xuống từ từ, thận trọng theo dõi
tâm cho đến khi hoàn toàn rơi vào giấc ngủ. Khi
thức giấc hãy tỉnh thức ngay, đừng xem đồng hồ hay
nằm nướng thêm. Hãy chánh niệm ngày từ lúc bạn bắt
đầu thức dậy.
Nếu ngày nào bạn cũng thấy buồn ngủ, hãy cố gắng
ăn ít đi. Hãy tự xem xét mình. Khi thấy còn chừng
năm muỗng nữa sẽ no, hãy ngừng lại đừng ăn nữa,
rồi uống nước vào. Sau đó đến chỗ ngồi theo dõi
sự buồn ngủ và sự đói bụng của bạn. Bạn hãy tập
cách quân bình sự ăn uống của mình. Khi tiếp tục
làm như thế, bạn sẽ tự nhiên thấy mình tinh tấn
hơn và sẽ ăn ít đi.
Hỏi: Tại sao hàng ngày chúng tôi phải lạy rất nhiều?
Đáp: Lễ lạy rất quan trọng. Đó là hình thức biểu
hiện bên ngoài một phần việc thực tập thiền định
của bạn. Hình thức lễ lạy phải làm một cách đứng
đắn. Đầu phải để sát xuống sàn, cùi chõ phải để
gần đầu gối và hai đầu gối phải cách nhau một gang
tay. Lạy chậm chậm và chánh niệm trên thân thể bạn.
Đó là cách chữa bệnh kiêu ngạo, ngã mạn. Chúng ta
phải lễ lạy thường xuyên. Khi lạy ba lạy, bạn có
thể giữ trong mình ba đặc tính quí báu: Phật, Pháp,
Tăng. Đó là đức tính của tâm trong sạch sáng suốt
và bình an. Lễ lạy là dùng hình thức bên ngoài để
tự huấn luyện mình, làm cho cơ thể và tâm hồn trở
nên điều hòa.
Đừng để rơi vào khuyết điểm là nhìn xem những người
khác lễ lạy như thế nào. Những chú tiểu mới tu có
vẻ khờ khạo, buồn ngủ hay những vị sư già có vẻ
thiếu chánh niệm không phải là đối tượng để cho
bạn phán đoán. Mỗi người có những đặc tính riêng,
bởi vậy khó có một phương pháp huấn luyện tổng quát.
Một vài người học hiểu rất nhanh; một số khác lại
có vẻ chậm chạp khi thực hành hay tiếp thu những
điều dạy dỗ. Phán đoán kẻ khác chỉ làm gia tăng
tính tự kiêu, ngã mạn của bạn. Thay vì phán đoán
kẻ khác, hãy xem xét chính mình. Lễ lạy thường xuyên
sẽ giúp bạn dần dần loại bỏ được những tính xấu
ấy.
Những vị nào đã hài hoà với giáo pháp sẽ vượt qua
những hình thức bên ngoài. Mỗi việc họ làm đều là
một hình thức lễ lạy. Khi ăn họ nghiêm trang như
đang lạy; khi đi, đứng, nói năng, họ cũng nghiêm
trang như đang lễ lạy; đối xử với mọi người họ cũng
nghiêm trang như đang lễ lạy. Tại sao họ có tư thái
như thế? Bởi vì họ đã vượt ra ngoài sự ích kỷ.
Hỏi: Đối với những học trò mới, Ngài gặp phải vấn
đề gì khó khăn nhất?
Đáp: Đối với những thiền sinh mới, vấn đề khó khăn
nhất và cũng là một trở ngại lớn lao ảnh hưởng đến
viện hành thiền của họ, là quan điểm và ý kiến riêng
của họ về mọi vấn đề: quan điểm ngay chính họ, quan
điểm về sự thực hành, quan điểm về những lời dạy
của Đức Phật. Tri kiến của họ là những vấn đề, những
trở ngại lớn lao!
Phần lớn những người học thiền ở đây là người có
địa vị cao trong xã hội. Họ là những nhà buôn giàu
có, những người tốt nghiệp đại học, giáo sư, sĩ
quan. Khối óc của họ chứa đầy quan niệm. Họ biết
đủ thứ; họ quá giỏi giang nên không cần đến người
khác. Chẳng khác nào một cái chén đựng đầy nước
dơ nếu đổ thêm nước vào thì chẳng dùng được gì cả.
Phải đổ nước cũ đi, chùi sạch cái chén thì mới có
thể sử dụng được.
Bởi thế thiền sinh phải để cho đầu óc mình trống
rỗng; bỏ hết mọi quan niệm, ý kiến, sự hiểu biết
của mình, lúc bấy giờ họ mới có thể thấy được chân
lý. Việc thực hành của chúng ta vượt ra ngoài sự
thông minh và sự ngu dốt. Nếu bạn tự nghĩ rằng,
"Ta thông minh, ta lanh lợi, ta giàu có, ta
là nhân vật quan trọng, ta hiểu biết rõ giáo pháp
của Đức Phật," bạn đã làm lu mờ chân lý Vô
Ngã. Đâu đâu bạn cũng nhìn thấy Tôi và Của Tôi mà
thôi. Như vậy là bạn đã đi ra ngoài giáo pháp của
Đức Phật, vì Phật Giáo loại bỏ tự ngã.
Hỏi: Những phiền não như tham lam, sân hận là ảo
tưởng hay có thật?
Đáp: Tham lam, sân hận vừa có thật vừa là ảo tưởng.
Những phiền não mà ta thường gọi là tham ái, tham
dục, tham lam hay sân hận, si mê, v. v., chỉ là
những cái tên bên ngoài. Giống như trường hợp ta
gọi cái chén này đẹp, xấu; cái chén kia to, nhỏ,
v. v., đó là không phải sự thật. Những cái tên được
gọi một cách qui ước như vậy phát khởi từ sự tham
ái của chúng ta. Nếu ta muốn một cái chén lớn hơn,
ta gọi cái chén ta đang có là cái chén nhỏ. Lòng
tham ái khiến chúng ta có sự phân biệt. Thật ra,
chân lý không có tên gọi. Nó thế nào thì để nó thế
ấy.
Hãy nhìn sự vật theo đúng thực tướng của chúng,
đừng định danh theo quan niệm thiên lệch của mình.
Bạn là đàn ông phải không? Bạn có thể trả lời, "Phải."
Đó chẳng qua là sự biểu hiện bên ngoài của sự vật.
Thật ra, bạn chỉ là sự kết hợp của nhiều yếu tố,
là một tổng hợp của các uẩn biến đổi không ngừng.
Khi bạn có một tâm hồn tự do, cởi mở, bạn không
còn có sự phân biệt nữa. Chẳng có lớn hay nhỏ; chẳng
có tôi và anh. Chẳng có gì cả. Vô ngã hay không
có một linh hồn vĩnh cửu. Thật ra cuối cùng thì
chẳng có ngã hay vô ngã gì cả. Đó chỉ là những danh
từ qui ước.
Hỏi: Xin thầy giải thích thêm về nghiệp báo.
Đáp: Nghiệp là tác động. Nghiệp là sự dính mắc.
Cơ thể chúng ta, lời nói chúng ta và tâm chúng ta
đều tạo ra nghiệp khi chúng ta dính mắc. Chúng ta
tạo thói quen. Những thói quen này sẽ khiến chúng
ta khổ trong tương lai. Đó là kết quả của sự dính
mắc của chúng ta, đồng thời cũng là kết quả của
những phiền não trong quá khứ. Mọi tham ái đều dẫn
đến nghiệp.
Giả sử trước khi trở thành một nhà sư, bạn là một
tên trộm. Bạn ăn cắp, bạn làm cho người khác đau
khổ, làm cho cha mẹ buồn lòng. Bây giờ bạn đã là
một nhà sư, nhưng mỗi khi nhớ đến những việc sai
quấy bạn đã làm trước đây, bạn không khỏi đau buồn,
ân hận. Hãy nhớ rằng không phải chỉ do thân thể
mà cả ngôn ngữ và tâm hồn cũng tạo điều kiện cho
những gì sẽ xảy ra trong tương lai. Trong quá khứ
nếu bạn làm điều gì tốt đẹp, bây giờ chỉ nhớ lại
thôi, bạn cũng sẽ lấy làm sung sướng hãnh diện.
Trạng thái sung sướng, hãnh diện hôm nay là kết
quả của những gì bạn đã làm trong quá khứ. Nói cách
khác, những gì bạn nhận hôm nay là kết quả của nghiệp
trong quá khứ.
Tất cả mọi sự đều được điều kiện hóa bởi nguyên
nhân, dầu đó là nguyên nhân đã có từ lâu hay trong
khoảnh khắc hiện tại. Nhưng bạn cũng chẳng cần phải
băn khoăn thắc mắc để tìm hiểu nghiệp gì thuộc về
quá khứ, nghiệp gì thuộc về hiện tại, nghiệp gì
thuộc về tương lai, mà bạn chỉ cần quan sát thân
và tâm của bạn. Khi quan sát, theo dõi từng những
biến chuyển của tâm, bạn sẽ tự hiểu rõ nghiệp báo.
Vậy thì hãy quan sát tâm bạn đi, bạn sẽ thấy rõ
mọi chuyện.
Đối với nghiệp của người ta thì hãy để cho người
ta lo. Đừng bận tâm, đừng dính mắc vào chuyện quan
sát, tìm hiểu hay lo lắng cho nghiệp của người khác
làm gì. Nếu tôi uống thuốc đắng thì tôi đau khổ.
Bạn khỏi cần chia xẻ sự đau khổ của tôi. Hãy nhận
những gì tốt đẹp mà thầy bạn đã đem lại cho bạn.
Có như thế bạn mới được bình an; tâm trí bạn mới
giống như tâm trí thầy bạn. Nếu quan sát tâm bạn,
bạn sẽ thấy. Dầu bạn chưa biết gì về sự quan sát
tâm, nhưng chỉ cần thực tập một lần bạn sẽ hiểu
rõ ràng. Tự bạn sẽ hiểu và chính đó là sự thực hành
giáo pháp.
Lúc còn nhỏ chúng ta thường được cha mẹ dạy dỗ
và cha mẹ chúng ta cũng thường lấy làm bực mình
vì ta. Dĩ nhiên cha mẹ nào cũng muốn ta nên người.
Bạn sẽ thấy điều đó khi bạn thực tập một thời gian
lâu. Khi cha mẹ hay thầy giáo phê bình chỉ trích
chúng ta, chúng ta thường buồn rầu và tức giận,
nhưng về sau chúng ta sẽ hiểu rõ cha mẹ và thầy
giáo hơn. Cũng vậy, cứ thực tập một thời gian bạn
sẽ hiểu. Những kẻ quá giỏi dắn, quá thông minh,
sẽ bỏ đi sau một thời gian ngắn, và không học được
gì cả. Nếu bạn thấy rằng bạn giỏi hơn kẻ khác, bạn
chỉ gặt hái sự đau khổ mà thôi. Đáng thương thay!
Nhưng cũng chẳng cần phải âu sầu điều đó làm gì.
Chỉ quan sát thôi.
Hỏi: Đôi khi tôi có cảm tưởng rằng từ ngày trở
thành một vị sư, tôi càng bị khó khăn và đau khổ
hơn.
Đáp: Tôi biết một số các bạn ở đây đã từng sống
trong những tiện nghi vật chất và tự do hướng ngoại.
Nay thì các bạn phải sống với một nếp sống nghiêm
khắc và bó buộc. Trong lúc thực hành, chúng tôi
lại thường bắt các bạn ngồi và chờ đợi hàng giờ.
Thực phẩm và khí hậu cũng khác hẳn ở quê hương bạn.
Dầu thế, mỗi người đều cố gắng để vượt qua những
trở ngại này, vì đau khổ sẽ dẫn đến sự chấm dứt
đau khổ. Đây là cơ hội tốt để các bạn học hỏi. Lúc
bạn nóng giận hay cảm thấy băn khoăn, đấy là những
duyên may lớn lao để bạn hiểu biết tâm mình. Đức
Phật thường dạy: Phiền não là thầy dạy của chúng
ta
Tôi xem học trò như con tôi. Tâm tôi lúc nào cũng
đầy lòng từ ái yêu thương và mong cho họ được an
lành. Đôi khi tôi có làm cho bạn khó chịu hay đau
khổ, đó cũng chỉ nhằm đem lại lợi ích cho bạn. Tôi
biết một số các bạn ở đây có học thức cao và hiểu
biết nhiều. Nhưng người ít học thức và có sự hiểu
biết trung bình dễ hành thiền hơn. Nói như thế,
nhưng cũng có nhiều khía cạnh phải chú ý. Các bạn
có học thức cao chẳng khác nào một căn nhà lớn:
các bạn phải lau chuì nhiều. Nhưng sau khi lau chuì
xong, các bạn sẽ có nhiều phòng rộng rãi để sự dụng.
Bạn có thể dùng phòng khách, phòng ăn, phòng ngủ,
nhà bếp, v. v. Vậy hãy kiên nhẫn.
Kiên nhẫn và chịu đựng là những yếu tố thiết yếu
của sự hành thiền. Lúc tôi còn là một nhà sư trẻ,
tôi học và nói tiếng nước tôi, tôi ăn thức ăn quen
thuộc của xứ tôi. Thế mà có đôi lúc tôi cảm thấy
chán nản, thất vọng. Nhiều lần tôi muốn hoàn tục
và đôi khi còn có ý nghĩ tự sát nữa. Những đau khổ
này phát sinh từ những tư tưởng sai lầm. Khi bạn
thấy chân lý, bạn sẽ không còn bị lệ thuộc bởi quan
niệm hay ý kiến nữa, tất cả mọi chuyện đều yên lặng,
bình an.
Hỏi: Sau một thời gian thực tập, hiện nay tâm tôi
rất an tịnh trong lúc hành thiền. Tôi nên làm gì
cho bước kế tiếp đây?
Đáp: Tâm an tịnh và tập trung là một điều tốt.
Hãy dùng tâm bình an, tĩnh lặng và tập trung này
để xem xét thân và tâm. Ngay cả những lúc tâm bất
an, bạn cũng phải để tâm theo dõi; sau đó bạn sẽ
thấy tâm an tịnh. Tại sao vậy? Bởi vì bạn sẽ thấy
được sự vô thường. Ngay cả sự bình an, tĩnh lặng
cũng phải được xem là vô thường nữa. Nếu bạn bị
dính mắc vào trạng thái an tịnh, bạn sẽ đau khổ
khi không đạt được trạng thái bình an, tĩnh lặng.
Hãy vất bỏ mọi sự, ngay cả sự bình an tĩnh lặng.
Hỏi: Tôi nhớ không lầm là thầy từng nói thầy rất
sợ những thiền sinh quá tích cực, quá siêng năng?
Đáp: Điều đó đúng. Tôi rất sợ những người đó. Tôi
sợ những người có tư thái quá nghiêm trọng như thế.
Nhất là những người rất nỗ lực, rất tích cực, nhưng
thiếu trí tuệ. Họ tự ép mình vào những cố gắng không
cần thiết. Một số các bạn ở đây có quyết định phải
tu hành giác ngộ mới được, bởi thế họ hết sức tích
cực. Họ nghiến răng và tranh đấu với chính mình,
lúc nào họ cũng chiến đấu hầu mong chóng đạt đến
giác ngộ, giải thoát. Những cố gắng liên tục đem
lại cho họ nhiều khó khăn, đau khổ. Ai cũng thế
cả. Họ không hiểu bản chất của sự vật. Tất cả mọi
cấu tạo, thân và tâm đều vô thường. Chỉ cần đơn
thuần quan sát chúng mà đừng dính mắc vào chúng,
đừng để chúng ràng buộc mình.
Có một số người quá tích cực như thế nên họ hay
chỉ trích, phê bình; họ thường theo dõi người khác
để phê phán. Họ muốn thế thì cứ để họ làm. Hãy để
họ qua một bên với những quan niệm của họ. Riêng
chúng ta, chúng ta đừng có một sự phê phán, một
sự phân biệt nào. Ai có quan niệm gì, ai muốn thực
hành ra sao, cứ để mặc họ. Hãy lo cho chính mình.
Đừng phân biệt, vì phân biệt rất nguy hiểm, chẳng
khác nào đang lái xe trên khúc đường có nhiều khúc
cong nguy hiểm, chúng ta phải chăm chú lái xe, đừng
để xe đi lệch ra ngoài. Nghĩ đến sự xấu tốt của
kẻ khác, so sánh người với mình: người ấy xấu hơn
tôi, người ấy tốt hơn tôi, người ấy bằng tôi, v.
v., là đi lệch ra khỏi con đường và gặp nguy hiểm.
Nếu chúng ta phân biệt, chúng ta chỉ gặt hái đau
khổ mà thôi.
Hỏi: Tôi hành thiền nhiều năm. Hầu như bất cứ lúc
nào, trong hoàn cảnh nào, tâm trí tôi cũng mở rộng
và tôi luôn luôn có được sự bình an tĩnh lặng. Nay
tôi muốn trở về lối cũ: đọc sách hay tìm hiểu giáo
lý, v. v., và thực hành thiền định (thiền vắng lặng)
ở mức cao hơn hoặc muốn đạt đến nhập định. Thầy
thấy thế nào?
Đáp: Được lắm. Việc này rất có ích cho việc huấn
luyện tâm. Nếu bạn có trí tuệ, bạn sẽ không bị dính
mắc vào trạng thái định tâm. Trường hợp này cũng
giống như trường hợp muốn ngồi thiền thật lâu. Đó
là cách rất tốt để thực tập, để huấn luyện tâm mình.
Đó là trí tuệ. Khi bạn đã xem xét và hiểu biết tâm
mình, bạn sẽ có đủ trí tuệ để hạn chế sự định tâm
cũng như có đủ trí tuệ để bớt lệ thuộc vào sách
vở.
Nếu bạn đã thực hành thuần thục và không còn dính
mắc hay bị lệ thuộc vào bất cứ cái gì, lúc bấy giờ
bạn hãy trở về với sách vở. Sách vở chẳng khác nào
đồ ăn tráng miệng, sách vở có thể giúp bạn chỉ dẫn
kẻ khác. Bạn cũng có thể trở về với thiền vắng lặng
và thực tập để đạt đến tâm định, và với trí tuệ
là không dính mắc vào bất cứ điều gì.
Hỏi: Xin thầy giảng giải thêm về việc chia xẻ cho
người khác những lời dạy của Đức Phật.
Đáp: Hành động với thiện tâm và từ ái là đường
lối căn bản và tốt đẹp nhất để truyền bá Giáo Pháp
của Đức Phật. Làm việc lành, giúp đỡ mọi người với
tâm từ ái và đạo đức sẽ mang lại kết quả tốt đẹp,
khiến cho tâm hồn bạn và tâm hồn người mát mẻ, hạnh
phúc. Dạy dỗ kẻ khác là một trách nhiệm cao đẹp
và quan trọng, phải làm với tất cả nhiệt tâm của
mình. Phải ý thức rằng trong khi dạy dỗ kẻ khác,
bạn cũng tự dạy cho mình. Bạn phải tự mình thực
tập, tự mình làm cho mình trong sạch, chứ không
phải chỉ đơn thuần nói cho người khác biết thế nào
là đúng, là sai. Bạn phải thực hành tất cả những
gì bạn đã dạy dỗ kẻ khác với tất cả tấm lòng của
mình. Phải hết sức thành thật với chính bạn và với
mọi người. Phải hiểu rõ đâu là trong sạch, đâu là
ô nhiễm. Cốt tuỷ của những lời Phật dạy là học hỏi
cách nhìn sự vật một cách chân xác, trọn vẹn và
rõ ràng. Thấy được thực tướng của vạn hữu tự do,
giải thoát.
Hỏi: Xin thầy tóm lược lại những điểm chính của
buổi vấn đạo hôm nay.
Đáp: Bạn phải tự xem xét mình. Hiểu mình là ai.
Hiểu thân và tâm mình bằng sự quan sát theo dõi.
Trong lúc ngồi thiền, trong khi ăn uống, ngủ nghỉ,
bạn đều phải biết làm thế nào để giới hạn và điều
hoà. Hãy sử dụng trí tuệ của bạn. Hành thiền không
phải nhằm mục đích để đạt được, để hoàn thành một
cái gì cả. Chỉ cần chú tâm tỉnh thức. Toàn thể việc
hành thiền của chúng ta là nhìn thẳng vào tâm mình.
Khi nhìn thẳng vào tâm mình, bạn sẽ thấy được sự
khổ, nguyên nhân khổ và sự chấm dứt khổ. Bạn phải
kiên nhẫn. Phải kiên nhẫn nhiều và chịu đựng nhiều.
Dần dần bạn sẽ thấu hiểu được và học hỏi được nhiều
điều. Đức Phật dạy những học trò phải ở với thầy
ít nhất năm năm. Bạn phải học, phải hiểu giá trị
của sự dứt bỏ, kiên nhẫn và tận tuỵ.
Đừng thực hành quá khắt khe, quá cứng rắn. Đừng
bị lệ thuộc vào hình thức bên ngoài. Chú ý đến kẻ
khác là một lối thực hành tệ hại. Hãy tự nhiên trong
mọi chuyện và theo dõi tự nhiên không gò bó. Giới
luật của nhà sư và nội qui của tu viện rất quan
trọng, vì chúng tạo nên sự đơn giản và điều hoà.
Hãy sử dụng một cách có hiệu quả phương tiện quí
báu này bằng cách tuân theo giới luật và nội qui.
Nhưng hãy nhớ rằng: tinh túy của giới luật là theo
dõi tác ý của mình. Theo dõi và biết mình đang có
ý định hay đang làm gì. Luôn luôn xem xét tâm mình.
Phải có trí tuệ. Không có tâm phân biệt. Bạn có
cảm thấy buồn khổ khi nhìn thấy một thân cây nhỏ
trong rừng, chẳng cao, chẳng thẳng như những cây
khác không? Chắc chắn là không rồi! Vì chỉ có những
kẻ điên rồ mới lo lắng cho số phận của những cây
cỏ èo uột trong rừng. Cũng thế, đừng phán đoán kẻ
khác. Cuộc đời này có muôn màu muôn vẻ, bạn để tâm
đến làm gì? Muốn thay đổi chúng chẳng khác nào muốn
mang gánh nặng vào thân. Vậy hãy kiên nhẫn, giữ
giới luật, sống giản dị tự nhiên, và theo dõi tâm.
Đó là hành thiền. Đó là phương cách phát triển lòng
vị tha, loại bỏ tính ích kỷ, dẫn dần đến an bình
hạnh phúc.
- Hết -
Source: BuddhaSasana

Về trang chủ
XEM
TIẾP
|