| 
TRANH
VÀ THIỀN
[Trước đây không
lâu HNPĐ có đưa lên web bai khảo cứu VÀO CÕI TRANH
THIỀN cuả tác giả Lê Anh Minh.
Nay lại thấy xuất hiện trên một web-site cuả chuà
Quang Minh ( Úc châu) một bài cuả Ngọc Đào tưạ đề
y như vậy.
Rồi, khi đọc kỹ, chúng tôi mới thấy bài này, phần
lớn đã giống nguyên bản cuả Lê Anh Minh , phần còn
lại cũng giống nguyên bản một số bài
khác mà “ tác giả” có ghi tên trong phần tham khảo
Tuy không chấp nhận việc làm trên, HNPĐ cũng xin
đăng nguyên văn bài VÀO CÕI TRANH THIỀN cuả “ tác
giả” Ngọc Đào để độc giả cuả HNPĐ
thẩm độc ( Để phân biệt với những nguyên bản chúng
tôi xin phép các tác giả để đổi tiêu đề cuả bài
trên thành: TRANH VÀ THIỀN)
Dịch giả Ng.Tr.Kh khi gửi bài cho chúng tôi có căn
dặn: “ Viết, dịch, tập thiền điều tránh kỵ là bản
ngã” Do vậy, với tinh thần thiền học, khi đọc bài
cuả Ngọc Đào dưới đây, chúng ta cũng đừng nên băn
khoăn ai là chủ ( bản) cuả bài viết trên. . . HNPĐ]
TRANH
VÀ THIỀN
Ngọc Đào
Từ
tranh cổ đến tranh thiền
Xưa
nay trong lĩnh vực hội họa (painting) mỗi khi đề
cập đến môn họa truyền thống của phương Đông thì
người ta thường nghĩ đến nền hội họa cổ của Trung
Hoa.
Tranh cổ Trung Hoa
(tranh Tàu) có lịch sử lâu đời và mang màu sắc dân
tộc đậm đà, tạo nên một phong cách đặc trưng đối
với nền hội họa thế giới.
Từ thời đồ đá (the
neolithiera) cách đây khoảng 6000 năm, trên gốm
sứ Trung Hoa (China/Pottery and Porcelain) đã thấy
xuất hiện các đường nét hoa văn (designs). Có thể
nói đây là thứ tranh cổ sớm nhất của Trung Hoa.
Nếu tính từ bức tranh lụa (silk painting) cuối thời
Chu được tìm thấy trong di chỉ mộ thời Chiến Quốc
thì nền hội họa Trung Hoa đã có lịch sử trên hai
ngàn năm. Đời Hán (trên 206 trước CN - 220 sau CN)
lần đầu tiên xuất hiện tranh vẽ người và trong cung
đình đã có những họa sĩ (artists) chuyên nghiệp.
Thời Tam Quốc, Lưỡng Tấn (tức Tây Tấn và Đông Tấn),
Nam Bắc Triều, do Phật giáo truyền vào đất nước
Trung Hoa nên thấy xuất hiện những bức tranh tường
mang tính tôn giáo, chẳng hạn bức tranh tường "Đôn
Hoàng" nổi tiếng trên thế giới. Đời Đường,
Tống, tranh sơn thủy và hoa điểu (hoa chim) phát
triển độc lập, cực mạnh với 2 trường phái : tả chân
và tả ý. Thời Nguyên (Mông Cổ, 1279-1368) trở về
sau, loại tranh tả ý chiếm địa vị quan trọng. Các
họa sĩ bắt đầu tạo nên những tác phẩm nghệ thuật
kết hợp được 4 yếu tố : thi, thư (phép, viết chữ),
họa, ấn (đóng dấu). Đến thời Minh (1368-1660) và
kế đến thời cận đại nhà Thanh) nền hội họa tiếp
tục phát triển với nhiều danh họa và các trường
phái khác nhau.
Hội họa Trung
Hoa truyền thống
-
thường được gọi là Quốc Họa - bao gồm ba đề tài
căn bản : sơn thủy, hoa điểu và nhân vật. Về hình
thức biểu hiện cũng chia thành 3 trường phái : trường
phái tả chân, trường phái tả ý và trường phái dung
hợp. Tả chân là vẽ công phu, tỉ mỉ, kết cấu chặt
chẽ, hình tượng giống như thật; tả ý là vẽ ít bút
mực mà lột tả được cái thần của sự vật, tạo nên
tính khái quát cao độ. Còn dung hợp có nghĩa vừa
tả chân vừa tả ý nên kết hợp được tinh hoa của hai
trường phái kia.
Để thưởng thức được
cái hay cái đẹp của tranh Tàu, chúng ta cần lưu
ý một số đặc điểm :
* Đường nét
để tả tình : Trong khi hội họa phương Tây
lấy lớp lang, sáng tối của màu sắc để diễn tả hình
tượng thì hội họa Trung Hoa lấy đường nét để tạo
hình. Điểm này có liên quan đến văn tự chữ Hán của
Trung Hoa. Như chúng ta biết, chữ Hán là loại chữ
vuông tượng hình được viết bằng bút lông cho nên
mỗi một chữ Hán có thể coi là một bức tranh được
vẽ bằng đường nét. Trong lĩnh vực hội họa, các họa
sĩ tả được hình tượng mà còn qua nét bút thẳng,
cong, nặng, nhẹ, đậm nhạt, khô ướt... thể hiện được
các biến thái của cung bực tình cảm.
* Trữ tình
tả ý : Hội họa Trung Hoa rất chú trọng
đến ý cảnh và ý đạt được "trong thơ có họa,
trong họa có thơ" (thi trung hữu họa). Thí
dụ, có họa sĩ vẽ bức tranh với chủ đề "Chùa
cổ trong rừng thẳm". Trong tranh chỉ vẽ cảnh
núi non, dòng suối bạc mà không có hình ảnh ngôi
chùa nào cả. Tuy nhiên lại có một nhà sư đang vớt
nước suối khiến người xem tranh tưởng tượng ra có
một ngôi chùa cổ ẩn hiện đâu đó. Vì vậy mà bức tranh
tràn đầy ý thơ... Trên tranh thường có đề thơ là
một hình thức độc đáo của tranh Tàu. Câu thơ làm
cho chủ đề tranh thêm sâu sắc, gợi cho người xem
những liên tưởng phong phú.
* Điểm nhìn
phân tán : Tranh họa của phương Tây bao
giờ cũng có một tiêu điểm (focus) nhất định, đen
trắng, mờ tỏ, gần xa đều phụ thuộc vào chỗ đứng
của họa sĩ. Tranh Tàu thì phá vỡ luật xa gần, chỉ
một tờ giấy hoặc bức lụa nhỏ người ta có thể vẽ
được lên đó toàn cảnh Vạn Lý Trường Thành, dãy núi
Côn Sơn cao ngất. Tư thế của người họa sĩ không
bao giờ cố định : khi thì nhìn nghiêng, lúc lại
cúi nhìn; biến không gian vô hạn thành không gian
hữu hạn, thâu tóm được cả đất trời vào một bức tranh
nhỏ bé. Tuy nhiên, tranh Tàu không phản lại hiện
thực. Họa sĩ chỉ sử dụng nghệ thuật cao siêu tổ
chức lại cảnh sắc thiên nhiên để đạt mục đích làm
thỏa mãn ý niệm của người xem tranh. Chúng ta nhận
thấy bút pháp này cũng được thể hiện trong hội họa
truyền thống của Ấn Độ, Ba Tư... Nó giúp họa sĩ
phát huy trí tưởng tượng một cách tự do phóng khoáng,
phá vỡ giới hạn tầm nhìn không gian, sáng tạo được
thế giới nghệ thuật.
* Ước lệ
tượng trưng và tỷ dụ : Do không bị lệ thuộc
vào không gian và thời gian nên tranh Tàu thường
lấy cây cỏ để biểu thị bốn mùa, lấy mặt trăng và
cây nến để biểu hiện ban đêm (dường như không có
bức tranh nào vẽ cảnh đêm đen). Có khi họa sĩ đề
cây mai, cây thông, cây trúc, hoa cúc... vì các
hình ảnh này theo quan điểm mỹ học phương Đông là
tượng trưng cho khí tiết cao đẹp của con người.
Ngoài ra người ta còn dùng hoa mẫu đơn để ví với
mỹ nhân, dùng chim uyên ương để chỉ hạnh phúc lứa
đôi, vẽ chim khách để tượng trưng điều tốt lành.
Nếu không hiểu được tính ẩn dụ đặc trưng của người
Trung Hoa thì khó mà thấy hết được ý vị của tranh
Tàu.
Những bức tranh tả
ý mang màu sắc trừu tượng, chẳng hạn một nét chấm
có khi tượng trưng cho hòn đá hoặc cây cối, một
nét mác (qua câu) có thể là núi, là vách núi; nhưng
nó khác hội họa trừu tượng hiện đại của phương Tây
vì nó gần với thế giới hiện thực. Người ta còn nhận
định là hội họa trừu tượng hiện đại của phương Tây
chỉ lấy cảm thụ chủ quan của tác giả làm tiêu chuẩn,
phá vỡ chân thực (the true to life) của thế giới
hiện thực.
* Đề thơ
và đóng dấu : Sau khi hoàn thành xong bức
tranh, họa sĩ Trung Hoa thường đề thơ và đóng dấu
lên bức tranh thì mới gọi là hoàn chỉnh cuối cùng.
Do vậy mà người ta gọi một bức tranh Tàu là một
công trình nghệ thuật kết hợp giữa thi, thư, họa
và ấn. Con dấu son in vào tranh thường dùng lối
chữ triện rất mỹ thuật tạo nên mỹ cảm đặc biệt.
Chúng ta thường thấy trong một bức tranh Tàu có
từ 2 con dấu trở lên. Một con dấu là tên họ hay
biệt hiệu của họa sĩ, còn những con dấu khác đôi
khi chỉ là câu thơ hoặc đoản ngữ mà họa sĩ muốn
mượn nó để làm phong phú thêm chủ đề cho tác phẩm.
Ngoài màu đen ra,
tranh cổ Trung Hoa còn sử dụng màu son, xanh lam,
bột vàng, bột bọc làm từ khoáng sản và các màu thanh
thiên, hoàng anh, hồng nhạt... làm bằng thực vật.
Màu sắc có nguồn gốc từ khoáng sản rất bền, ngàn
năm sau vẫn như mới không phai biến màu.
Vào cõi tranh thiền
Nhìn chung môn họa
truyền thống của Trung Hoa gồm các chủ đề ước lệ
quen thuộc được thể hiện với màu sắc đậm nhạt thích
mắt, thậm chí những màu tươi vui rực rỡ. Các chủ
đề này được lập đi lập lại đây đó đến sáo mòn, đại
loại như hoa (đào, mai, lan, cúc, sen, thủy tiên,
mẫu đơn, tử đằng, quỳnh); Điểu cầm (phụng, hạc,
ưng, công, trĩ, két, quạ, chim cút, vịt trời, gà,
vịt, ngan, ngỗng); Muông thú (hổ, ngựa, lừa, trâu,
bò, nai, dê); Linh thú (long, lân); Côn trùng (bướm,
chuồn chuồn, dế, bọ ngựa, sâu, kiến); Thủy tộc (cá,
tôm, cua); Cây cối (tùng, bách, tre, trúc, phong,
ngô đồng, dương liễu); Phong cảnh (mây nước, sông
núi, biển cả, thác ghềnh, khe suối); Nhân vật (truyền
thuyết và hiện thực); Trái cây (đào tiên, phật thủ...),
v.v... Những chủ đề này được các họa sĩ khai thác
triệt để suốt bao thế kỷ qua. Có những danh họa
chuyên vẽ đá hoặc hoa mai, hoặc trúc hay lan...
Chính vì vậy mà nền hội họa Trung Hoa lâm vào tử
hải (biển chết), người họa sĩ cảm thấy lúng túng
trong mê lộ (labyrinth) : bất kỳ ý tưởng nào cũng
là cũ kỹ mà các tiền bối đã khai thác tận dụng hết
rồi. Loại tranh này chẳng còn gì tân kỳ nữa, rốt
cuộc chỉ là những màu sắc trang trí nội thất mà
thôi.
Sau khi vị tổ Thiền
thứ 28 là Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung Hoa vào
năm 520 (Canh Tý) Thiền Tông Trung Hoa (chuyển hóa
từ Thiền tông Ấn Độ), ra đời và ngày càng phát triển
mạnh. Đến đời Nam Tống (thế kỷ thứ 12) thiền du
nhập vào đất nước Phù Tang (Nhật Bản). Thiền đã
ảnh hưởng đậm nét tâm hồn hai dân tộc Hoa - Nhật
suốt bao thế kỷ trong sinh hoạt đời sống hàng ngày
cũng như trong học thuật.
Thiền đã thổi vào
nền hội họa truyền thống Trung Hoa một luồng sinh
khí mới, cứu lấy môn hoa này thoát khỏi "tử
hải". Cách thể hiện thiền "Minh Tâm Kiến
Tánh" là nguồn cảm hứng bất tận cho người nghệ
sĩ. Hội họa là một thứ "ngôn ngữ phi ngôn ngữ"
mà ngôn ngữ hội họa há không thể trự chỉ nhân tâm
sao ? Rõ ràng có thể xem hội họa là phương tiện
thể nghiệm thiền để có thể "kiến tánh"
tức thấy được cái Phật tánh trong lòng. Nhưng tôn
chỉ của thiền là "phi phương tiện" (Bất
lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền) cho nên phải
thể hiện sao cho hội họa trở thành một thứ phương
tiện để có thể tải được tư tưởng ảo diệu thâm sâu
của Phật giáo.
Để bạn đọc có thêm
nhận định về ý nghĩa của thiền trong lĩnh vực nghệ
thuật xin trích dẫn một đoạn trong tác phẩm The
Art of Zen (Nghệ thuật của Thiền), mà tác giả Stephen
Addiss (phát hành do Harry N. Abrams, Inc., Neu
York, 1989) đã nêu những điều nghịch lý rất "thiền"
trong thiền như sau : "Thiền ẩn chứa nhiều
sự kiện trái ngược nhau (paradox). Thiền là "vô
tự" nhưng tính đến nay thì số lượng sách viết
về thiền nhiều vô kể. Thiền là "cá thể"
(individual) tuy nhiên vẫn thường cần có thiền sư
hướng dẫn. Thiền là "thực tiễn" (down-to-earth)
bàng bạc trong cuộc sống hàng ngày tuy nhiên lại
được thực hành nghiêm ngặt tại hầu hết các thiền
viện (monasteries). Thiền mang tính trang nghiêm
nhưng chứa đựng lắm nụ cười hóm hỉnh (humor). Thiền
đòi hỏi hiện thực (being) hơn là biểu tượng (representing)
tuy nhiên lại được cảm truyền qua nhiều hình thức
nghệ thuật (vườn thiền, hoa thiền hay hoa đạo "Kwado",
trà thiền hay trà đạo "Chanoyu", tranh
thiền). Thiền hướng dẫn cho chúng ta không chỉ "nghe"
(hearing) mà phải biết "lắng nghe" (listening);
không chỉ "nhìn" (looking) mà phải biết
"thấy" (seeing); không chỉ "nghĩ"
(thinking) mà thôi mà cần phải dấn thân "kinh
qua" (experience) và trên tất cả : không nên
chỉ "bám víu" (clinging) vào những điều
hiểu biết suông mà phải chấp nhận và hoan hỉ hòa
nhập vào thế giới trước mặt".
Thiền
họa
Những đặc điểm nổi
bật của thiền họa là sự đơn giản tối đa tưởng chừng
phi nghệ thuật, sự hướng nội, sự trống trải đầy
gợi ý, sự bất toàn trong viên mãn (như lời Lão Tử
"Đại thành nhược khuyết") và được thể
hiện theo phong cách đặc biệt : tiết giảm nét bút
và chừa nhiều khoảng trống trên giấy - gọi là bút
pháp một góc (one-corner style). Như chúng ta đã
biết, môn họa Trung Hoa nhìn chung có 2 loại bút
pháp trái ngược nhau : "công bút" và "ý
bút", có thể độc dụng hay kiêm dụng trong tranh.
"Công bút" tức lối vẽ công phu trau chuốt
từng chi tiết nhỏ. "Ý bút" là bút pháp
tả ý chấp nhận màu sắc, nhưng trong thiền họa bút
pháp này ly khai màu sắc, chỉ có mực đen giấy trắng
mà thôi. Người Nhật gọi là "symiye" (mặc
hội : vẽ bằng mực đen), người Tàu gọi là "mặc
họa".
"Mặc" là
mực đen làm bằng bồ hóng (soot) tức muội than của
gỗ tùng và khói dầu trộn với chất keo đẻo đun lỏng
rồi đúc thành thỏi để nguội. Bút lông (mao bút)
làm bằng lông thú như : trừu, chồn, sói, chuột,
thỏ tùy theo loại bút (nét nhỏ, mạnh thì dùng lông
thỏ; nét lớn thì dùng lông trừu). Giấy vẽ là loại
giấy cực mỏng, đặc biệt là giấy Tuyên thường gọi
là "xuyến chỉ". Từ đời Tống trở về trước,
tranh Tàu chủ yếu dùng lụa (silk painting). Từ đời
Tống về sau, do kỹ thuật làm giấy tinh xảo hơn,
bắt đầu xuất hiện loại giấy Tuyên. Nhìn chung, vẽ
sơn thủy và tả ý thì chủ yếu dùng giấy; vẽ nhân
vật, hoa điểu lại dùng lụa để đạt sự tinh vi tỉ
mỉ. Nhưng dù lụa hay giấy, cả hai đều là chất liệu
lý tưởng vì hút mực dễ dàng. Điều này khác hẳn lối
họa sơn dầu (oil painting) Tây phương.
Một chất liệu mong
manh dễ rách như giấy được chọn làm công cụ thể
hiện cảm hứng nghệ thuật bởi những cảm hứng này
phải được tải đi thật nhanh, nếu ngọn bút dừng lại
lâu, giấy sẽ bở rách vì quá ẩm ướt. Đường nét cần
phải nhanh, tiết giảm tối đa và chỉ thể hiện những
gì thật cần thiết. Một nét bút phóng ra phải là
duy nhất, dù nó thế nào đi nữa thì người nghệ sĩ
cũng không được dậm vá, tô điểm hay sửa chữa. Nó
phải tự do, linh động, không gò ép, không tẩy xóa
hay đồ lại. Người nghệ sĩ cứ để mình chuồi đi theo
dòng cảm xúc một cách tự nhiên, tự phát tuyệt đối.
Cánh tay, bàn tay, ngọn bút chính là một tổng thể
và dường như có bàn tay vô hình nào đó dẫn dắt đi.
Thiền họa dường như thực hiện bởi bản khả năng phi
kiểm soát đầy khổ luyện. Nếu giữa bút và giấy có
xen vào sự suy tư lý luận nào đó, điều này sẽ phá
hỏng tác phẩm. Chúng ta sẽ lầm nếu cho rằng tranh
thiền chỉ là những nét nguệch ngoạc cẩu thả vô lối.
Đường nét của thiền họa là cái gì bất toàn, nó bất
chấp luật phối cảnh (perspective) và luật vẽ bóng
(chiaroscuro) vốn là định luật cơ bản của lối họa
Tây phương. Điều cốt yếu là cái thần của sự vật
phải thể hiện được trên giấy, do đó nét bút phải
sống động như là nhịp đập của một sinh thể...
Lối họa của tranh
thiền khác hẳn lối họa sơn dầu Tây phương. Loại
họa sơn dầu đòi hỏi một bố cục nghiêm chỉnh có qui
tắc và hệ thống. Vải bố, sơn dầu là những chất liệu
mạnh mẽ cho phép họa sĩ tẩy xóa, dặm vá, cạo sửa
dễ dàng. Lối họa Tây phương ví như tấm vải triết
lý hoàn bị mà các sợi chỉ hợp lý của nó đan kết
chặt chẽ với nhau. Nó ví như một giáo đường tôn
nghiêm mà tường, cột, nền toàn bằng đá tảng rắn
chắc. Ngược lại thiền họa có vẻ nghèo nàn, hình
thức sơ sài thô thiển, đường nét giản ước, chất
liệu mỏng manh đến vậy. Thế nhưng người Đông phương
chúng ta lại nhìn thấy trong đó một nhịp sống kỳ
diệu ẩn tàng sau từng nét, từng chấm, từng mảng
đậm nhạt. Đen và trắng tượng trưng cho cặp mâu thuẫn
đối nghịch gay gắt trong cõi nhị nguyên (dualism)
này. Tư tưởng của chúng ta chấp vào đó : đen trắng,
đúng sai, thiện ác, cao thấp, ngắn dài, sướng khổ,
có không...
Thiền (Zen) là bất
nhị pháp môn (non-dualism) đột phá cái thế nhị nguyên
đối lập để giải thoát nhân sinh. Tư tưởng nhất nguyên
(monism) phá chấp ấy chính là căn bản đạo pháp thiền.
Những sắc độ đậm nhạt tượng trưng cho từng mức độ
hóa giải và tất cả những đen trắng đậm nhạt đó trong
từng nét bút đã thể hiện một sự vật nào đó tưởng
chừng vô nghĩa như gốc cây, hòn đá, cánh hoa, con
chim trên cành, ngọn lau trĩu tuyết... Nhưng lại
chuyển tải được sự sống mà không cần giảng giải.
Một cánh huệ (lys) nở cô đơn hay đóa sen (lotus)
trong gió là hình ảnh sống động của một tâm hồn
thuần phác nguyên sơ trong cơn giông tố cuộc đời.
Một là thuyền câu bé nhỏ trên mặt nước mênh mông
cho chúng ta ấn tượng sâu sắc hình ảnh biển cả bao
la và sự hiện hữu một tâm hồn sâu kín hòa nhập với
cuộc sống vĩnh hằng vô ngại giữa nhịp sống đời dâu
biển. Tất cả những kỷ niệm sâu kín này lại tựu thành
trong sự dung dị và phi nỗ lực.
Thiền họa không phải
là chụp ảnh, mô phỏng hay sao chép một thực thể.
Một nét chấm hay một đường "không tượng trưng"
cho con chim hay ngọn núi, mà cái chấm đó "chính"
là con chim, đường cong đó "chính" là
ngọn núi, bởi vì thiền họa phải là sáng tạo. Một
sự vật trong tranh thiền phải giống thực mà không
thực, phải viên mãn mà dường như khiếm khuyết. Người
nghệ sĩ buông xả mọi nỗ lực chụp hình nguyên dạng
sự vật, mà phải sáng tạo một sinh thể ngoài sự tưởng
tượng của chúng ta. Thái độ của nghệ sĩ thiền họa
đối với nghệ thuật cũng là thái độ của thiền đối
với cuộc sống. Đó là lý do tại sao hầu hết các tác
giả của tranh thiền đều là thiền sư hay thiền sinh.
Nét bút của nghệ
sĩ thiền họa phải dứt khoát như tia chớp, không
có tô sửa. Bởi vì một sự vật chỉ đẹp khi nó không
bị ràng buộc hay câu thúc. Cái đẹp đó nằm trong
sự buông xả. Cơ nhục được vận dụng vẽ một đường
hay một chấm nhưng đàng sau đó là sự vô tâm. Với
sự vô tâm niệm của nghệ sĩ thiền, tác phẩm nghệ
thuật hình thành. Thiền họa chụp bắt cái thần của
sự vật đương lúc nó vận hành. Điều này có vẻ khó
bởi vì vạn vật luôn chuyển vận không bao giờ tĩnh
lại. Nhưng người nghệ sĩ thiền họa có thể làm được
điều này nếu biết nắm bắt sự sống từ trong nội tâm
hơn là tâm ngoại. Khi tác phẩm hình thành, những
nét bút phóng phát trực tiếp từ nội tâm không bị
tạp niệm ngăn trở đó chính là một sinh thể.
Thiền họa khước từ
màu sắc, bởi vì màu sắc gợi nên một thực thể trong
thiên nhiên mà thiền họa thì không chấp nhận một
sự tái hiện nào hoàn toàn hay bất hoàn toàn. Nếu
chủ trương hội họa là sao chép mô phỏng tái hiện
giống y một sự vật thì không gian hai chiều của
trang giấy sẽ không thể hiện được trung thực điều
gì, và màu sắc khó mà đạt được nguyên dạng sự vật
đó. Ngoài ra nếu người họa sĩ lại cố vẽ cho thật
giống thực thể đó thì cũng chỉ là sự mô phỏng tái
hiện rất tội nghiệp mà thôi.
Mặt khác, thiền họa
không cho phép sự trì hoãn. Sự diên trì của ngọn
bút sẽ phá hỏng tờ giấy vốn dĩ mong manh yếu ớt.
Trì hoãn có nghĩa là thay đổi, là vỡ mộng, là toan
tính, là lý sự, là câu thúc mà đó không phải là
tinh thần của thiền họa. Luôn luôn có một nét nào
đó xuất hiện bất ngờ đột ngột trong thiền họa. Nơi
mà chúng ta tưởng sẽ có một đường hay một chấm thì
lại chẳng có gì cả. Nhưng sự thiếu vắng đó chẳng
hề gây thất vọng mà nó gợi ý cho chúng ta mạnh mẽ
hơn nữa. Thế nên bút pháp một góc khiến cho tranh
có nhiều khoảng trống thoáng và đầy gợi ý. Một trang
giấy nhỏ có thể hàm ẩn cả vũ trụ. Một nét ngang
ngụ ý cho sự mênh mông của không gian, một vòng
tròn gợi ý sự vĩnh hằng của thời gian. Ngoài ra
cả hai còn gợi nên sự vô biên và sự sống nữa.
Tranh tôn giáo không
hẳn là tranh thiền. Cho nên tranh họa chân dung
chư Phật thậm chí chân dung các tổ thiền hay thiền
sư vẫn không nên miễn cưỡng xếp vào loại thiền họa
ngoại trừ đôi bức đặc biệt. Một số tranh tuy thực
hiện với lối công bút nhưng giàu hương vị thiền
thì cũng có thể gọi là thiền họa được.
Bước vào cõi tranh
thiền là bước vào một thế giới u mặc đầy gợi ý.
Người nghệ sĩ thiền họa - nguyên là thiền sư hoặc
thiền sinh - chẳng những muốn ký thác vào tranh
cái tâm nguyện theo dấu bước của chư tổ bằng cách
minh họa chân dung, hành trạng các ngài, mà còn
muốn gởi cho tha nhân một thông điệp ẩn tàng qua
những hình ảnh đơn sơ đời thường tưởng chừng vô
nghĩa với nét bút tiêu sái (trong sạch, thanh cao)
ngỏ hầu tha nhân có thể giải thoát tâm linh. Trong
chừng mực nào đó thiền họa có thể xem là một phương
tiện chứng ngộ. Chức năng của thiền họa gần với
chức năng của công án thiền.
Kể từ du nhập lưỡng
thổ Hoa - Nhật, nền hội họa mỗi nước đã khởi sắc
và mang một hương vị thâm trầm. Hương vị thiền giúp
thiền họa trở thành một mảng tranh độc đáo tân kỳ
và biệt lập trong kho tàng Quốc Họa. Người thưởng
ngoạn tranh thiền trong phút giây tĩnh lặng trầm
ngâm bên tách trà ngát hương, dù đã muôn lần hân
thưởng một bức tranh nào đó, nhưng rồi sẽ có một
lần chót thấy mình chới với, bức tranh mới quá,
lạ quá, cơ hồ mới thấy lần đầu. Một chân lý vi diệu
vừa được khám phá. Đó là khoảnh khắc của sự bừng
tỉnh, như căn phòng kín tối tăm đã lâu, nay được
mở toang mọi cửa nẻo đón ánh quang huy của một ngày
mới, như ngọn đèn vừa thắp lên sau bao năm tháng
bỏ quên lăn lóc trong bóng tối âm thầm.
THƯ
PHÁP
Trên thế giới, mỗi
bước có lối viết chữ riêng. Người Trung Hoa gọi
"Thư pháp" hay "Thư đạo", người
Nhật gọi "Thư sơ" (Kalizome), người Anh,
Úc, Mỹ gọi là "Calligraphy", người Pháp
gọi là "Calligraphie".
Được gọi là thư pháp
khi người viết chữ đạt khả năng viết nên nét chữ
bay bướm, đậm nhạt huyền ảo để bài thơ truyền đạt
hết ý tứ, tâm tư gởi gắm được rung động, xúc cảm
qua nét thư pháp uyển chuyển thần tình như trường
hợp của Thôi Hộ đề thơ.
Theo nhà biên khảo
Lê Văn Lân : "Những kiểu chữ như rồng bay phượng
múa mà chúng ta thấy trước đây ở Việt Nam chỉ là
một trong con số 100 đến 120 kiểu chữ thư pháp,
phát xuất từ Trung Hoa vào thế kỷ thứ năm, thứ sáu
thời Nam Bắc Triều. Những kiểu chữ này được dùng
để trang trí trên những bức bút thiếp bằng lụa,
trên những bia kỷ niệm, những bức trướng liễn chúc
tụng vào ngày xuân, sinh nhật hay vào dịp đỗ đạt,
thăng quan... tên gọi của nó là Tập thể thư".
Theo Yujiro Makata,
tác giả quyển The Art of Japanese Calligraphy (Nghệ
thuật thư pháp Nhật Bản) thì Tập thể thư là một
tập hợp các kiểu chữ Hán pha trộn với nhau, vừa
chữ triện (Tensho) vừa chữ lệ (Reisho), thịnh hành
ở Trung Hoa vào thời Nam Triều, đời Tề (479-502),
đời Lương (502-557), kéo dài cho đến đời Đường (618-713).
Tập thể thư truyền qua Nhật Bản được gọi là Zattaisho.
Thư pháp Trung Hoa
hoàn toàn không phải là một kỹ thuật viết chữ máy
móc mà là một nghệ thuật siêu đẳng. Người viết chữ
Nho là một nghệ nhân trải qua quá trình luyện tập
lâu dài và liên tục, đem cả tâm huyết, tinh thần
ký thác trên giấy. Những vật dụng dùng để viết,
do đó được trân trọng kén chọn và gìn giữ. "Văn
phòng tứ bảo" - như tên gọi - gồm 4 món quý
: mực, nghiên, giấy, bút. Mỗi thứ được chế tạo đặc
biệt theo nhiều trình độ khác nhau của người sử
dụng...
Cái đẹp của thư pháp
Trung Hoa đôi khi không nằm trong sự cân đối (symetry)
mà nằm trong sự không cân đối đầy đồng tính (dynamic
asymetry) như tác giả Trương Di nhận định trong
quyển Chinese Calligraphy. Một chữ in thường có
nét sắc, gọn, rõ ràng, đầy tính máy móc mà người
ta có thể dùng Compass (đinh quy), thước, bút chì
nhọn để vẽ lại đúng như thế. Nhưng đó là những chữ
"chết". Ngòi bút lông thì khác, nó linh
động với cái sống của nó. Sự sống bổi hổi bồi hồi
của ngọn bút là làm ra những nét lúc dầy lúc mỏng,
lúc nhu lúc cương, lúc khoan lúc nhặt, lúc thẳng
lúc cong để diễn tả dịch tính rất động của thiên
nhiên...".
Thư pháp của Trung
Hoa và thư pháp của Nhật Bản được xem như một dạng
của thiền họa (Zen paintings) trong nghệ thuật thiền
(Zen Art).
Trong Trà đạo (Cha-no-yu)
của người Nhật, nghệ thuật thư pháp giữ vai trò
quan yếu. Sau khi khiêm cung cúi khom người để bước
qua cửa trà thất - cửa chỉ cao độ một thước - khách
cúi lạy một cách kính cẩn bức họa hay liễn chữ treo
trên vách cạnh lẵng hoa ở về phía của căn sàng gian
Tokonoma như là một nghi thức cung kính đối với
Cổ Đức, với Thiền Tổ.
Tinh thần của Trà
đạo bao gồm 4 chữ : Hòa - Kính - Thanh - Tịnh (Wa,
Kei, Sei, Jaku). Trà sư Nakano Karumo từng nói :
"Tinh thần Cha-no-yu là để làm sạch lục căn
ra khỏi những ác trược. Bằng cách ngắm xem tranh
hay liên chữ treo nơi sàng gian Tokonoma, ngắm hoa
trong lọ đang tỏa hương thơm dịu : thị giác, khứu
giác người ta được sạch : nhờ lắng nghe tiếng nước
sôi réo trong ấm sắt và tiếng nhỏ giọt tí tách từ
trong ống tre : thính giác người ta được sạch; nhờ
nếm trà : khẩu vị người ta được sạch; và nhờ cầm
trên tay những trà cụ : xúc giác người ta được sạch.
Khi các giác quan đã được thanh như thế TÂM ta tự
nó cũng được thanh tịnh thoát khỏi phiền trược.
Nghệ thuật uống trà rốt ráo chính là tu luyện tinh
thần và ước nguyện riêng tôi là mọi thời trong ngày
không tách biệt khỏi tinh thần Trà đạo".
Khuôn
Mặt Thiền
Cách đây không lâu,
lần thứ nhất một cuộc triển lãm về tranh thiền được
tổ chức tại Viện Bảo tàng Nghệ thuật (Museum of
Fine Art) Boston, tiểu bang Massachusetts (Hoa Kỳ)
đã thu hút đông đảo giới trí thức. Douglas Davis,
một nhà báo Mỹ đã nhận định về cuộc triển lãm như
sau :
Daisetz Suzuki, nhà
truyền bá thiền học nói : "Thiền hoàn toàn
đơn giản; nếu các tôn giáo khác nói than thì đen,
thiền nói than không đen".
Những người phát
ngôn của thiền đã châm chọc thế giới bằng các lời
giảng châm biếm khó hiểu như trên qua hàng thế kỷ,
làm lúng túng những ai hăng hái tìm hiểu về thiền
ở phương Đông (nơi xuất phát của thiền), cũng như
ở phương Tây - nơi qua nhiều thập kỷ gần đây các
lối chiêu dụ của thiền lan tỏa trong hàng ngũ trí
thức và thanh niên Mỹ. Nhưng cuối cùng ngày nay
khuôn mặt của thiền đã lộ rõ để mọi người nhìn thấy
bằng mắt hoặc chiêm ngưỡng bằng tri thức. Lần đầu
tiên trên thế giới, nghệ thuật sáng tạo bởi thiền
và lấy cảm hứng từ thiền được trưng bày rộng rãi
ở Viện Bảo tàng Nghệ thuật Boston (Hoa Kỳ) gồm 81
bức họa phẩm, thư pháp và một phiến đá lớn điêu
khắc được khai quật tại khu bảo tàng ở Nhật, một
số tác phẩm mang niên kỷ xa xưa từ thời phong trào
đạo thiền được du nhập vào nước Nhật từ Trung Hoa.
Kết luận đầu tiên
rút ra tại cuộc triển lãm ở Boston - do 2 người
phụ trách viện Bảo tàng là Tan Fontein và Money
Hickman tổ chức với sự hợp tác của chính phủ Nhật
- là thiền tự thân không có gì nghiêm khắc nhiều
so với bất cứ tôn giáo nào trên thế giới. Các họa
sĩ được chia thành hai nhóm : nhóm thiền sư hoặc
đệ tử của thiền và nhóm họa sĩ lấy cảm hứng ở thiền
học. Để qua những tranh chân dung trang trọng và
phong cảnh, các tác phẩm do 2 nhóm trên sáng tạo
chứng tỏ một tinh thần nhất quán, kín đáo, khô và
kỳ quái. Những khuôn mặt thể hiện thiền nói lên
một điều nhưng trang nghiêm và thanh thản, theo
phong cách nghệ thuật Thiên Chúa giáo Trung Cổ hoặc
vô số các chân dung của Đức Phật được thờ phượng
khắp phương Đông. Khuôn mặt thiền cười mỉm, cười
vui, nhăn nhó và ngáp.
Thường tu sĩ đạo
thiền được đặc tả qua hành động hầu như lửng lơ
(như đang ngủ, đang chẻ các đốt tre), lạ lùng (như
nằm dài bên cạnh con hổ), hoặc đã phá tôn giáo (như
đốt kinh Phật). Việc đã phá tôn giáo từ lâu đời
là biểu tượng của lịch sử thiền đã bắt đầu tại Trung
Hoa vào thế kỷ thứ 7 như một môn phái Phật giáo
cách mạng và chỉ ra con đường giác ngộ không phải
qua kinh kệ, nghi lễ mà bằng chính kinh nghiệm trực
tiếp của cá nhân.
Ông Fontein giải
thích : "Các tu sĩ đạo thiền ngày xưa bị xem
là những người điên. Họ phóng túng, khoáng đạt đến
gần như là những con người hài hước, phản đề của
Phật giáo chính thống".
Lòng khát khao của
thiền đối với kinh nghiệm nguyên sơ thể hiện rõ
qua thư pháp của các họa sĩ cũng như qua chủ đề
của họ. Nét cọ nhanh, giản dị, đầy đặn tựa hồ thoát
khỏi các đầy tiết tỉ mỉ lẫn màu sắc xa xỉ trong
họa phẩm và thư pháp. Họa sĩ thiền : giống như những
"họa sĩ hành động" Mỹ của thập niên 1950,
muốn trước hết phải nắm bắt được tinh thần khoáng
đạt khi sáng tác. Một phần họ được quy định theo
truyền thống "đề thơ" trong nền hội họa
Trung Hoa khai sinh vào thế kỷ thứ 9, nhưng họ vẫn
bám theo nó một thời gian sau khi thiền rời khỏi
đất nước Trung Hoa để vào Nhật Bản - quê hương hiện
nay của thiền.
Bức tranh do Gibon
Sengai phát họa vào thế kỷ thứ 18 có sự giản dị
trong sáng của một bức vẽ trẻ con; cuộn giấy chữ
viết (thư pháp) cùng thời của nhà sư Rwkan sử dụng
nét chữ Nhật vẽ "thiên địa" không giống
gì hơn nét cọ bị kéo lê của Franz Kline.
Tác phẩm mang tính
cốt lõi của thiền là bức "Bồ Đề Đạt Ma Một
Nét" vẽ vào thế kỷ 14, trong đó tác giả giữ
bút liên tục trên giấy cho đến khi hoàn thành, nét
vẽ phác mộc mạc về một thiền sư thanh đạm mà cuộc
sống của người được mô tả phía trên bức vẽ như sau
"Giường tôi lạnh khi tôi nằm ngủ đêm. Áo tu
bằng giấy cây đậu, mùng ngủ cũng bằng giấy. Theo
Đức Đạt Ma và hành động khi hoàn cảnh yêu cầu".
Người Nhật biến thiền
thành một thứ kỷ cương có các chùa chiền, nghi lễ
và thậm chí cả kinh kệ đại loại. Nhưng ngày nay
thiền vẫn như thuở ban đầu, khẳng định sự ưu tiên
cho kinh nghiệm chứ không phải sách vở, khẳng định
sự chiêm nghiệm chứ không phải học hỏi. Ông Fontein
cũng phát biểu : "Thiền dứt khoát chống lại
sự tri thức theo cách riêng của mình". Vậy
tại sao đám đông sinh viên và giảng viên đại học
đã lũ lượt kéo vào Viện Bảo tàng Boston ? Tại sao
có sự quan tâm rộng lớn về thiền trong giới trí
thức ? Câu trả lời thật rõ ràng và một lần nữa cũng
thật nghịch lý : "Thiền lôi cuốn trí óc bằng
cách từ chối nó, giống như các họa sĩ của thiền
thành công vì tranh tránh được các kỹ xảo".
Đôi
Nét Về Vị Tổ Thiền
Bồ Đề Đạt Ma (Bodhi
Dharma) có tên thật là Bồ Đề Đa La (Bodhi Tara),
con thứ ba của vua Chí Vương, thuộc dòng Sát Đế
Ly, nước Quốc Hương, Nam Thiên Trúc (vùng cao nguyên
Dekkan), thuộc phía Nam Ấn Độ.
Bồ Đề Đạt Ma là pháp
hiệu, được đặt khi bái sư với Ngài Bát Nhã Đa La
(Prajanatra), một tổ sư Thiền tông đời thứ 27 của
Ấn Độ.
Để thực hiện lời
di huấn của thầy mình, vào năm 517, Tổ sư Bồ Đề
Đạt Ma từ giả Ấn Độ, dùng thuyền vượt biển, trong
3 năm, đến Quảng Châu (Trung Hoa) vào ngày 21 tháng
Chín năm 520 (Canh Tý), triều Lương Võ Đế, niên
hiệu Phổ Thông thứ bảy.
Trong 9 năm "diện
bích tham thiền", Ngài đã tiếp độ và truyền
y bát cho Nhị tổ Huệ Khả (tức Thần Quang). Sau đó
lần lượt được kế thừa đến vị Lục tổ thứ sáu.
Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma
viên tịch trong lúc ngồi tham thiền tháng 10 năm
529. Nhục thân được an táng tại chùa Định Lâm, núi
Hùng Nhĩ, sau đó bài vị được thờ tại chùa Thiếu
Lâm Tự (theo sách Bích Nham Lục).
"Đạt Ma Tổ Sư
Thiền" hay là Thiền tông, Trung Hoa là môn
thiền do Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma khai hóa từ Thiền tông
Ấn Độ hay còn gọi là Thiền Tam Muội, sách truyền
dạy dựa vào kinh sách Phật. Phật tổ Thích Ca là
vị đầu tiên thực hiện và chỉ dạy cho phép Thiền
Tam Muội, cũng như những pháp môn của các tông phát
Phật giáo khác.
Thiền, tiếng nhà
Phật, phiên âm của chữ Phạn "Dhyana" tức
Thiền Na, có nghĩa là "minh tưởng", tức
yên lặng mà suy tưởng.
Thiền đã mọc rễ và
lớn mạnh để trở thành Thiền Trung Hoa (chuyển hóa
từ Thiền tông Ấn Độ) đối với thông điệp thù thắng
:
- Giáo ngoại biệt
truyền (Đạo truyền ngoài kinh điển).
- Bất lập văn tự (Không lập văn tự).
- Trực chỉ nhân tâm (Nhằm thẳng vào nơi tâm con
người).
- Kiến tánh thành Phật (Kiến chiếu vào tự tánh để
thành Phật).
Để nhận diện hình tướng của Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma,
sử có ghi "... Sau khi vua Hiếu Trang (con
vua Hiếu Minh Đế, Hậu Ngụy) nghe Tống Văn thuật
lại việc gặp mặt tổ tại núi Thống Lãnh, vua liền
chỉ thị Tống Văn, họp cùng một số đại sư Thiếu Lâm
Tự, để diễn tả lại các chi tiết về hình ảnh diện
mạo của tổ cho 19 nhà danh họa chân dung (portrait
artists) vẽ lại".
Theo sự diễn tả này,
tổ có một thân hình cao lớn vạm vỡ, tướng đi đứng
khoan thai, lẹ làng. Lần đầu tiên xuất hiện ở bờ
biển Trung Hoa, tổ mặc y phục màu vàng theo lối
Ấn Độ. Về sau, tổ hay dùng tràng kiểu Trung Hoa,
đặc biệt đầu thường đội một chiếc khăn trắng để
che sương gió. Râu, tóc, lông ngực, lông tay của
tổ mọc tự do, dầy đặc dị thường. Chân trái, tổ đeo
chiếc chuông vàng nhỏ tạo nên âm thanh ngân vang
theo mỗi bước chân. Hai tay luôn đeo chiếc vòng
ngọc lớn rộng như miệng chén. Mũi của tổ to lớn
như chiếc mũi sư tử, miệng hay mím chặt, tạo thành
một đường cong ẩn sau vùng râu rậm. Tổ bị gãy mất
hai chiếc răng cửa. Đặc biệt nhất là đôi mắt, đa
số người Ấn Độ đều có đôi mắt với tròng nâu hoặc
đen, bên trong có hình xoắn ốc, trái lại, mắt tổ
có màu xanh lơ, to và có vẻ sâu thẳm như hư vô,
không đáy. Đôi mắt đó thường nhìn trừng trừng như
đứng tròng bất động. Nhìn ai giống như có một mãnh
lực vô hình, khiến người ta xao xuyến, khiếp sợ.
Sau nửa tháng, 18
bức chân dung đặc biệt về tổ được hoàn thành rất
đẹp, trong nhiều tư thế khác nhau như đi đứng, hoặc
ngồi. Mỗi họa sĩ tùy theo sở thích và khám phá của
mình mà vẽ nên : Tổ vẫn vác chiếc gậy có treo một
chiếc dép, vai mang túi bụi đời, như lần cuối cùng
Tống Văn gặp trên núi Thống Lãnh, nhưng chân không
đạp trên cành lau, vượt sông Dương Tử vào một chiều
vắng bóng đò ngang độ khách. Có bức vẽ tổ đứng sừng
sững trên hòn đá bên một gốc lão tùng cằn cỗi. Có
bức vẽ tổ ngồi nhìn vách đá Trấn Động Võ, theo tích
"Cửu Niên Diện Bích Tham Thiền". Có bức
vẽ tổ nhìn thẳng trực diện, đôi mắt trợn trừng trừng,
nhìn thẳng vào người đối diện, đứng ở góc cạnh nào
xem đều thấy tổ nhìn theo. Có bức vẽ tổ chìm trong
mưa tuyết, đôi mắt nhìn vào hư vô...
Mỗi bức chân dung
là một tuyệt tác danh họa. Nhưng Tống Văn cảm thấy
như thiếu một cái gì, không bao giờ vẽ được. Mười
tám bức họa như mười tám cái xác không hồn, bất
động, tuy vẽ Bồ Đề Đạt Ma nhưng không phải Bồ Đề
Đạt Ma. Không ai có thể vẽ tổ được trên giấy mực...
Nếu có chăng ? Bóng dáng của tổ chỉ thành hình được
tâm hồn tưởng tượng của mỗi người. Mười tám bức
danh họa này được xếp vào kho tàng quốc gia",
(theo "Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma" - Gs Vũ Đức).
Tranh
Thiền : Mục
Ngưu Đồ (Tranh Chăn Trâu)
Hình
ảnh biểu tượng con trâu là một hình ảnh cụ thể sống
động đã từng được Đức Phật sử dụng trong những ngày
cuối cùng để dạy các đệ tử của Ngài, nhằm canh giữ
cái Tâm của họ, cũng như canh giữ một con trâu.
Đức Phật dạy "Y như chăn trâu cầm gậy canh
chừng, không để nó buông lung phạm vào lúa mạ của
người" (kinh Di Giáo). Và cũng từ đó, hình
ảnh con trâu được các nhà Đại thừa và các nhà Thiền
tông Trung Hoa ứng dụng một cách linh động triệt
để hơn. Như Ngài Mã Tổ Đạo Nhất hỏi Thạch Củng (tức
Thiền sư Huệ Tạng) : "Ông đang làm cái gì đấy
?". Đáp : "Chăn trâu". Lại hỏi :
"Chăn như thế nào ?". Đáp : "Mỗi
khi trâu chạy a vào đồng cỏ thì xỏ mũi nó kéo lại".
Mã Tổ bảo : "Ông giỏi chăn trâu".
Hoặc Ngài Phước Châu
Đại An hỏi Ngài Bách Trượng : "Tôi khát khao
hiểu pháp Phật, đó như cái gì ?". Đáp :"Hệt
như cỡi trâu tìm trâu". Lại hỏi : "Hiểu
rồi như thế nào ?". Đáp : "Như người chăn
trâu cầm roi giữ trâu mình đừng cho phạm đến lúa
mạ của người".
Kế thừa là Thiền
sư Đại An thượng đường dạy Đại Chúng : "Đại
An này ở núi Quy ba mươi năm, ăn cơm núi Quy, đại
tiện núi Quy mà chẳng học thiền núi Quy. Ngày đêm
chỉ coi chừng một con trâu đen. Nếu nó đi lạc đường
hay vào trong cỏ, liền nắm mũi kéo lại. Nếu nó ăn
lúa mạ của người, liền đưa roi quất. Đáng thương,
trâu bị điều phục lâu ngày trở nên thuần phục, vâng
theo lời người dạy dỗ. Giờ đây con trâu đen đã hóa
thành trâu trắng, sờ sờ rõ ràng trước mắt, trọn
ngày đuổi cũng không đi".
Hay, Ngài Lặc Đàm
hỏi Linh Thao : "Trước khi chưa xuất gia ông
làm gì ?". Đáp : "Chăn trâu". Lại
hỏi : "Chăn như thế nào ?". Đáp : "Sáng
sớm cỡi đi, chiều tối cỡi về". Lặc Đàm bảo
: "Ông thật ngu si hết cỡ !". Nhờ đó Linh
Thao đại ngộ (Truyền Đăng Lục).
Và Ngài Bạch Vân
Nghĩa Đoan hỏi Quách Công Phu rằng : "Trâu
thuần chưa ?" (Tranh chăn trâu Trúc Thiên)...
Để rồi cứ như vậy,
pháp chăn trâu được nhiều người sử dụng, vừa tự
chăn vừa dạy kẻ khác chăn, mãi về sau này người
ta mới vẽ thành tranh và được gọi là "Thập
Mục Ngưu Đồ". Tranh "chăn trâu" này
tuy nhiều nhưng có thể xếp thành hai loại : loại
theo khuynh hướng Đại Thừa vẽ lại quá trình công
phu tu tập của hành giả, trước hết phải tự thắng
bản thân mình, sau đến tự tri và cuối cùng đạt đến
tự tại. Còn khuynh hướng Thiền tông trình bày bước
tiến tâm linh theo hình vẽ qua 3 giai đoạn : Sai
tâm bắt tâm - Tâm vô tâm - Tâm bình thường.
Qua hình ảnh biểu
tượng con trâu được trình bày ở trên, từ hình ảnh
biểu tượng một con trâu Ấn Độ sang hình ảnh biểu
tượng một con trâu Trung Hoa, chúng ta nhận thấy
không có gì khác biệt, về hình thức cũng như nội
dung trong việc "hàng phục kỳ tâm" mà
con trâu là một biểu tượng. Từ hình ảnh biểu tượng
con trâu đó khi sang Việt Nam, trên mặt hình thức
cũng chỉ là một con trâu đất, con trâu bùn hay một
con trâu đá không hơn không kém. Vào thế kỷ thứ
13, người chăn giữ con trâu đầu tiên trong văn học
Thiền Việt Nam chính là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ông
đã chăn con trâu chính ông mà ông đã phát hiện từ
Quy Sơn Trung Hoa chòm xóm... (theo Con Trâu Đất
của Thích Đại Lãn - Tạp chí Tư Tưởng Phật giáo).
Tranh chăn trâu thường
được treo ở các chùa thuộc hệ Bắc Tông. Trụ sở Tam
Tông Miếu trên đường Cao Thắng (quận 3), Sài Gòn
có bộ tranh Chăn Trâu được vẽ lớn lên tường bằng
sơn dầu tại chánh điện. Tuy nét bút thiếu phần cổ
kính nhưng tranh cũng phản ảnh phần nào cái thiền
phong ngày trước.
Đề tài chung của
các loại tranh chăn trâu là đường lối tu tập. Đường
lối tuy nhiều song không ngoài việc "bắt Tâm".
Nhìn chung, Thập Mục Ngưu Đồ có thể coi như lời
giải đáp cho câu hỏi trong kinh Kim Cương "Vạn
hạ hàng phục kỳ Tâm ?" (Làm sao để làm chủ
được cái Tâm ?). Các vị thiền sư giảng : Cái Tâm
ở đây được ẩn dụ là con trâu (buffalo). Vì có trâu
nên có mục đồng (herdboy). Vì có Tâm nên có cảnh.
Tất cả cố gắng của Đại Thừa đều nhằm vào sự "cột"
trâu, tức là "điều Tâm" vậy. Tâm là con
trâu hoang. Muốn trị nó phải dùng những biện pháp
mạnh như đánh bằng roi, xỏ mũi bằng giây lòi tói...
Cũng vậy, muốn trị tâm cần quy y, giữ giới cấm,
phát tâm bồ đề... Lâu ngày chầy tháng, trâu trở
nên thuần phục, Tâm trở nên đều hòa.
Để bạn đọc hiểu rõ
thêm về tranh chăn trâu - loại tranh tiêu biểu nhất
của thiền họa (Zen paintings) - xin được dẫn ra
đây tài liệu về bộ tranh chăn trâu Thiền tông.
Tranh Chăn Trâu Thiền
tông từ mục thứ nhất "Tìm Trâu" đến mục
thứ tám "Không Còn Trâu, Không Còn Người Chăn"
là do Thiền sư Thanh Cư họa. Kế đó, Ngài Tắc Công
họa thêm mục thứ chín "Phản Bổn Hoàn Nguyên"
và làm tụng. Sau cùng, Ngài Từ Viễn họa tiếp mục
thứ mười "Buông thõng tay vào chợ".
Tài liệu về bộ tranh
Chăn Trâu Thiền tông được trích ra từ sách "Những
Bước Tu Thiền" của Thiền sư Thích Thanh Từ
- Hòa thượng Viện chủ Viện Thường Chiếu. Vì khuôn
khổ bài báo, chúng tôi có giản lược phần "dẫn"
và có "giảng giải" của mỗi bức tranh.
Thiết nghĩ, với các phần tụng, dịch, giảng giải
cũng khá đầy đủ. Mong bạn đọc thông cảm.
Tranh Thiền
tông số 1 : Tìm Trâu
Tụng :
Mang mang bát thảo khứ truy tầm
Thủy hoạt sơn diêu lộ cánh thâm
Lực tận thần bi vô mịch xứ
Đản văn phong thụ vãn thiền ngâm.
Dịch :
Nao nao vạch cỏ tìm
trâu
Núi thẳm đường xa nước lại sâu
Kiệt sức mệt nhoài tìm chẳng thấy
Chỉ nghe véo vắt giọng ve sầu...
Giảng giải :
Chú mục đồng lòng
nao nao bồn chồn vạch cỏ bụi để tìm kiếm trâu. Chú
lội qua suối sâu, chú trèo lên núi cao, chú vượt
đường dài xa thẳm. Sức chú đã kiệt, tinh thần chú
đã mỏi mệt, nhưng chú vẫn chẳng biết trâu ở đâu
mà tìm. Trời chiều, giữa cảnh rừng rậm, chú chỉ
nghe trên cành cây tiếng ve ngâm.
Người mới tu với
tất cả ý chí dõng mãnh thiết tha, muốn tu cho thành
tựu Đạo quả, nên hết đến Đạo tràng này, lại đến
Pháp hội kia để học hỏi tìm tòi. Càng đi tìm tòi
càng học hỏi thì càng nhọc sức, vẫn không nắm bắt
được cái mà mình muốn kiếm tìm. Nhìn lại, chỉ thấy
sinh hoạt cũ kỹ của ngày tháng qua.
Tranh Thiền
tông số 2: Thấy Dấu
Tụng :
Thủy biên lâm hạ
tích thiên đa
Phương thảo ly phi kiến dã ma
Túng thị thâm sơn cánh thâm xứ
Liêu thiên tỉ khổng tạc tàng tha.
Dịch :
Ven rừng bến nước
dấu liên hồi
Vạch cỏ ruồng cây thấy được thôi
Ví phải non sâu lại sâu thẳm
Ngất trời lỗ mũi hiện ra rồi.
Giảng giải :
Bên bờ sông, trên
bờ suối, dưới mé rừng dấu chân trâu rất nhiều. Nên
chú mục đồng vạch cỏ cây lùm bụi để tìm trâu, chú
cho rằng trâu sẽ ở đâu đây. Dầu cho là núi lại ở
chỗ sâu thẳm, nhưng mà lỗ mũi cao ngất trời dấu
được đâu nữa. Tức là tìm kiếm mà thấy dấu rồi nhất
định sẽ thấy trâu không nghi ngờ.
Lời Phật dạy trong
Kinh, lời Tổ dạy trong Luận, trong ngữ lục, là mỗi
chúng sanh đều có sẵn Tánh Giác. Hành giả tín Phật,
Tổ không nói dối nên gắng sức tu tập theo lời Phật
Tổ dạy, không sớm thì muộn chắc chắn sẽ thành Phật.
Tranh Thiền
tông số 3: Thấy Trâu
Tụng :
Hoàng Li chi thượng
nhất thanh thanh
Nhật noãn phong hòa ngạn liễu thanh
Chỉ thử cánh vô hồi tị xứ
Sân sân đầu giác họa nan thành.
Dịch :
Hoàng anh cất tiếng
hót trên cành
Nắng ấm gió hòa bờ liễu xanh
Chỉ thế, không nơi xoay trở lại
Đầu sừng rành rõ vẽ khôn thành.
Giảng giải :
Trên cành cây, chim
hoàng anh hót từng tiếng, từng tiếng. Trời ấm, gió
mát, trên bờ có rặng liễu xanh. Chỉ ở đây, không
có chỗ xoay loại được nữa. Rõ ràng trâu hiện đầu
sừng ra rồi mà vẽ không được.
Ngay khi mắt thấy
sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị,
thân xúc chạm, không khởi thức phân biệt đẹp xấu,
hay dở, thấy chỉ thấy, nghe chỉ nghe... Ngay khi
đó Tánh thấy, Tánh nghe... đang hiện hữu rõ ràng.
Thể Tánh chân thật hiển hiện rõ ràng mà không diễn
tả được.
Tranh Thiền
tông số 4: Được Trâu
Tụng :
Kiệt tận thần thông
hoạch đắc cừ
Tâm cường lực tráng tốt nan trừ
Hữu thời tài đáo cao nguyên thượng
Hữu nhập yên vân thâm xứ cư.
Dịch :
Dùng hết thần thông
bắt được y
Tâm hùng sức mạnh khó khăn ghì
Có khi vừa hướng cao nguyên tiến
Lại xuống khói mây mãi nằm ỳ.
Giảng giải :
Chú mục đồng tận
dụng hết sức lực mới bắt được trâu, xỏ mũi cột vàm.
Tuy bắt được nó rồi, nhưng tâm can nó cang cường,
sức nó mạnh mẽ nên khó chế ngự điều phục, lại có
khi vừa đến cao nguyên lại chui vào mây khói ở sâu
trong đó.
Hành giả đã tận lực
huân tu mới nhận được thể tánh chân thật của chính
mình. Tuy đã nhận ra, nhưng nó không thường hiển
lộ, vì tập khí lâu đời nên mỗi khi căn tiếp xúc
trần liền phân biệt tốt xấu hay dở, chớ không nhớ
mình có : "Cái biết không phân biệt",
và cứ thế chạy theo trần cảnh khởi vô số vọng niệm
khó mà điều phục. Cao nguyên là dụ cho tâm thể chơn
thật đang hiển hiện, mây khói là dụ cho thức tình
vọng tưởng. Có khi tâm thể chơn thật mới vừa hiện
ra chưa được ba phút, nó lại ẩn hiện trong đám mây
mờ vọng tưởng đang dấy khởi. Bị vọng tưởng che phủ,
nó không hiện nữa, giống như trâu lên cao nguyên
đứng thì dễ thấy, nếu nó lủi vô đám sương mù thì
mất hút. Tâm chúng ta cũng vậy, mới vừa an lặng
rõ ràng hiện tại, bất chợt vọng niệm dấy khởi liền
che mất, thật lâu mới hiện lại, hiện trong phút
chốc lại bị che mất bởi vọng tưởng nữa. Hình ảnh
này diễn tả thật cụ thể sự tu tập rất khó khăn ở
giai đoạn đầu.
Tranh Thiền
tông số 5: Chăn Trâu
Tụng :
Tiên sách thời thời
bất ly thân
Khủng y túng bộ nhập ai trần
Tương tương mục đắc thuần hòa dã
Cơ tỏa vô ức tự trục nhân.
Dịch :
Nắm chặt dây roi
chẳng lìa thân
Ngại y chạy sổng vào bụi trần
Chăm chăm chăn giữ thuần hòa dã
Dây mũi buông rồi vẫn theo gần.
Giảng giải :
Roi và dây chú mục
đồng luôn luôn nắm trong tay không bao giờ rời.
Chú sợ trâu nhảy vọt vào lùm bụi, nên phải luôn
luôn chăn thật kỹ. Bao giờ trâu được thuần rồi,
thì chừng đó mới buông dây mũi không kềm chế nữa,
trâu tự nó đi theo chú.
Tuy đã nhận ra thể
tánh chân thật rồi nhưng vọng niệm vẫn còn dấy khởi,
nên hành giả phải luôn luôn phản tỉnh, niệm dấy
liền biết không theo, và thường xuyên tỉnh giấc.
Như thế lâu ngày tâm sẽ thuần, chừng đó muốn khởi
niệm thì niệm khởi, không muốn khởi niệm thì tâm
lặng lẽ thanh tịnh.
Tranh Thiền
tông số 6: Cỡi Trâu Về Nhà
Tụng :
Kgưu đà lê dục hoàn
gia
Khương địch thanh thanh tống vãn hà
Nhất phách nhất ca vô hạn ý
Tri âm hà tất cổ thần nha.
Dịch :
Cỡi trâu thong thả
trở về nhà
Tiếng sáo vi vu tiễn vãn hà
Một nhịp một ca vô hạn ý
Tri âm nào phải động môi à.
Giảng giải :
Chú mục đồng cỡi
trâu đi bên vệ đường để trở về nhà. Tiễn biệt trời
chiều, miệng chú thổi sáo vi vu, tay chú gõ nhịp,
chú ca câu ca tuyệt vời. Bấy giờ, trâu đã trở thành
bạn tri âm của chú, chú đâu nó đó, chú không còn
rầy la đánh đập nó nữa.
Người tu điều phục
tâm đến chỗ thị phi gác bỏ ngoài tai, được mất không
bận lòng, sống trọn ngày chỉ biết cười vui, tự mình
cũng không còn nhọc nhằn dụng công, người hướng
dẫn tu cũng vui cười, không còn bận lòng nhắc nhở
hoặc la rầy.
Tranh Thiền
tông số 7: Quên Trâu Còn Người
Tụng :
Kgưu dĩ đắc đáo
gia san
Ngưu đã không hề nhân dã nhàn
Hồng nhật tam can du tác mộng
Tiên thằng không đốn thảo đường gian.
Dịch :
Cỡi trâu về thẳng
đến gia san
Trâu đã không rồi, người cũng nhàn
Mặt nhật ba sào vẫn say mộng
Dây roi dẹp bỏ bên cạnh sàng.
Giảng giải :
Chú mục đồng đã cỡi
trâu về đến nhà rồi, chú không còn bận lòng nghĩ
đến trâu để chăn giữ nữa, nên nói trâu đã không,
người cũng rảnh. Vì còn trâu là còn chăn giữ, nay
không còn, chú được rảnh rang nhàn rỗi, và do nhàn
rỗi nên sáng ngày, mặt trời lên ba sào mà chú vẫn
còn ngủ say. Khi ấy, dụng cụ chăn trâu như roi dây
không cần quăng hết vô nhà cỏ.
Cũng vậy, khi tâm
vọng không còn dấy khởi nữa, hoàn toàn lặng lẽ,
tức là tâm đã trở lại chỗ ban sơ thanh tịnh sáng
suốt thì hành giả không còn dụng công tu tập nữa,
đối với mọi vật không bận lòng, tùy thời đói ăn
mệt ngủ.
Tranh Thiền
tông số 8: Người Trâu Đều Quên
Tụng :
Tiên sách nhân ngưu
tận thuộc không
Bích thiên liêu quách tín nan thông
Hồng lô diệm thượng tranh dung tuyết
Đáo thử phương năng hiệp Tổ tông.
Dịch :
Roi gậy người trâu
thảy đều không
Trời xanh thăm thẳm tín chẳng thông
Lò hồng hừng hực nào dung tuyết
Đến đó mới hay hiệp Tổ tông.
Giảng giải :
Trâu đã không, nên
roi gậy cũng bỏ, người chăn cũng không nốt. Trời
xanh thênh thang không có một gợn mây, thì lúc đó
trông thấy cái gì ? Cho nên tin tức không thông
được. Lò lửa đỏ hừng đâu còn một mảnh tuyết. Chừng
đó mới hiệp với con đường Phật Tổ đi.
Người khi đã vượt
qua kiến chấp đối đãi hai bên thì không còn ngã
và pháp. Ngã pháp không còn thì trí tuệ viên mãn,
nên tượng trưng bằng vòng tròn Viên giác, chỗ mà
Lục Tổ nói : "Bản lai vô nhất vật" đó
vậy.
Tranh Thiền
tông số 9: Trở Về Nguồn Cội
Tụng :
Phản bổn hoàn nguyên dĩ phí công
Tranh như trực hạ nhược manh lung
Am trung bất kiến am tiền vật
Thủy tự mang mang hoa tự hồng.
Dịch :
Phản bổn hoàn nguyên
đã phí công
Đâu bằng thẳng đó tợ mù câm
Trong am chẳng thấy ngoài vật khác
Nước tự mênh mông hoa tự hồng.
Giảng giải :
Cội nguồn là tâm
thể chân thật, nó vốn sẵn có như vậy, không cần
phí công để tìm, không cần phí sức để trở lại. Chỉ
cần mắt thấy sắc không phân biệt đẹp xấu, tai nghe
tiếng không phân biệt hay dở. Thấy nghe mà không
phân biệt tốt xấu, hay dở cũng như mù như điếc nên
nói mù câm. Trong am là chỉ cho tâm thể thênh thang
trùm khắp không có một vật gì ngoài nó. Chừng đó
mới thấy tự tại, thấy nước mênh mông, thấy hoa tự
nở hồng nở tía mà không bận tâm không vướng mắc,
đó là phản bổn hoàn nguyên, gọi là vào cảnh giới
Phật.
Tranh Thiền
tông số 10: Thỏng Tay Vào Chợ
Tụng :
Lộ hung tiễn lúc nhận triền lai
Phù thố đồ khôi tiếu mãn tai
Bất dụng Thần Tiên chơn bí quyết
Trực giao khô mộc phóng hoa khai.
Dịch :
Chân trần bày ngực
thẳng vào thành
Tô đất trét bùn cười thanh
Bí quyết Thần Tiên đâu cần đến
Cây khó cũng khiến nở hoa lành.
Giảng giải :
Thiền sư mặc áo bày
ngực, chân không giày dép đi vào chợ để làm những
việc rất tầm thường như người đời. Miệng cười hỉ
hạ tới mép tai, không cần gìn giữ hạnh mẫu mực của
người tu, không thuyết giảng giáo lý cao siêu mầu
nhiệm, chỉ làm một con người rất tầm thường để dạy
cho những người bán cá, bán thịt ở ngoài chợ, ở
quán rượu, là những con người không có chút đạo
đức, khiến cho họ có chút đạo đức biết tu hành.
Đó là trọng trách giáo hóa của người tu đã đến chỗ
viên mãn. Chỗ này là chỗ thiết yếu, hành giả cần
phải hiểu cho rõ, người tu sau khi vào cảnh giới
Phật tức là đã triệt ngộ, rồi mới vào cảnh giới
ma để lăn xả vào đời, làm lợi ích cho đời. Nếu chưa
ngộ, chưa vào cảnh giới Phật mà vào cảnh giới ma,
tự mình đã không tu tiến mà cũng không làm lợi ích
cho người được, thì chắc chắn sớm muộn gì cũng thành
ma. Đừng nghe loáng thoáng, hiểu lờ mờ rằng mỗi
người ai cũng có Phật tánh, cho rằng mình cũng có
ông Phật rồi tùy ý phóng đãng, ăn nhậu, chơi bời
làm nhiều chuyện tội lỗi, thì sẽ rơi vào địa ngục
như tên bắn. Vì vậy, học là phải hiểu cho chính
chắn, cho thấu suốt để tu tập không sai lầm, và
tu đến nơi đến chốn.
* Tài liệu
trích dẫn
- Những bước tu thiền
của Thiền sư Thích Thanh Từ
- Tranh Trung Quốc
của Lê H. Tiêu
- Tranh Thiền của
Lê Anh Minh
- Chinese Paintings
and Calligraphy by Elizabeth Hammer
- The Art of Zen
by Stephen Addiss
- Zen Circles of
Illumination by Belinda Sweet
XEM
TIẾP
|