| CÕI
THIỀN

TÀI
LIỆU THAM KHẢO VỀ THÁI CỰC QUYỀN

Thái Cực Quyền
Hỏi Ðáp
Các nguyên tắc
và nguyên lý của Thái Cực quyền
Thái Cực Quyền
Luận (tác giả: Vương Tông Nhạc)
Khởi Nguyên Của Thái Cực quyền Như Thế
Nào ?
Về nguồn gốc phát sinh Thái Cực Quyền (TCQ), có
nhiều thuyết khác nhau mà cho đến nay chưa có thuyết
nào đưa ra được kết luận xác thực. Căn cứ vào một
số thuyết cũ, đều cho rằng người sáng chế ra môn
này là Trương Tam Phong, người ta chưa xác quyết
được là đã có một Trương Tam Phong thực hay không
? Quê quán ở đâu ? Có biết vũ thuật không ? Phát
minh ra TCQ như thế nào ? Trong các loại thư tịch
cổ (sách, bản văn, hành chính, v.v...) cũng không
có sự ghi chép thống nhất; có loại thư tịch mà nội
dung vẫn là thần thoại, không thể tin cậy.
Tiên sinh Ðường Hào, một bậc tiền bối trong giới
võ thuật, cũng nhận định : "Các thuyết cũ bảo
TCQ được sáng chế bởi Trương Tam Phong vào thời
kỳ suy vi của triều Bắc Tống (mà cũng có thuyết
bảo là Trương Tam Phong thời Nguyên mạt Minh sơ).
Nhận định nầy không đúng, tại vùng Trần Gia Câu
không hề có truyền thuyết gì về một Trương Tam Phong
nào cả. Căn cứ vào kết quả tìm tòi được ở Trần Gia
Câu, người ta phát hiện TCQ ở đó có đại bộ phận
động tác (gọi là thức tử) rút ra từ môn "Quyền
Kinh" được tập đại thành bởi một tướng lãnh
trứ danh nhà Thanh là Thích Kế Quang mà môn "quyền
kinh" của Thích Kế Quang lại dựa vào 16 loại
quyền pháp trong dân gian mà biến thành. Do đó mà
có thể nói : TCQ bắt nguồn từ dân gian, trãi qua
sự phát triển liên tục mà thành vậy".
"TCQ của vùng Trần Gia Câu bắt đầu xuất hiện
vào đầu triều nhà Thanh. Hoàng đế Sùng Trinh của
triều nhà Minh mạt niên từng khuyến khích văn nhân
luyện võ, vào thời ấy có Trần Nguyên Bình là người
văn võ kiêm toàn. Nghiên cứu quyển kinh Hoàng Ðình
của Ðạo gia (quyển kinh này nói về thuật hô hấp)
, và tham chiếu môn quyền kinh của Thích Kế Quang,
cho đến đầu đời nhà Thanh, sáng tạo xong TCQ Trần
Gia Câu. Thế rồi về sau TCQ của Trần Gia Câu được
một người họ Dương học lại, đem đi truyền thụ tại
vùng Hà Bắc và dựng nên TCQ Dương gia rất nổi tiếng."
Luyện tập Thái Cực Quyền có ích lợi gì
?
Ích lợi của việc luyện tập Thái Cực Quyền rất nhiều.
Mỗi động tác của Thái Cực Quyền hầu như là sự vận
động của toàn thân, làm cho mỗi bộ phận trong thân
thể chúng ta có dịp hoạt động. Trong khi luyện tập
cần phải kết hợp động tác với sự hô hấp một cách
tự nhiên, để làm phát triển cơ quan hô hấp và tăng
gia lượng hoạt động của phổi.
Lượng vận động tuy lớn nhưng không kịch liệt, làm
cho huyết dịch tuần hoàn suông sẻ, phát triển cơ
năng tim, làm cho tim đập một cách hòa hoãn nhưng
khoẽ khoắn, làm giãm thiểu hiện tượng ứ máu và bệnh
cứng động mạch.
Ðồng thời việc thay cũ đổi mới các tế bào (hiện
tượng chuyễn hóa hay còn gọi là tân trần đại tạ)
được xúc tiến luôn, các phế vật trong cơ thể được
bài trừ mau mắn. Sự luyện tập còn làm cho bao tử
và ruột co thắt tốt hơn, thích ăn hơn, ngoài ra
còn làm mất đi bệnh táo bón nữa.
Việc luyện tập Thái Cực Quyền còn đòi hỏi "tâm
tĩnh". Việc nội liễm tinh thần và tập trung
tinh thần là một cách phát triển đại não rất tốt.
Hơn nữa trong sự vận động mà các động tác vốn dĩ
đã phức tạp lại nối với nhau một cách hoàn chỉnh,
thì bộ phận đại não phải làm việc hết sức. Như vậy
cũng chính là gây nên một tác dụng huấn luyện tốt
đối với hệ thống trung khu thần kinh, phát triển
cơ năng cũa hệ thần kinh, tăng cường một cách tự
nhiên tác dụng điều tiết đối với các bộ máy, khí
quản trong toàn thân, làm tăng gia tính thích ứng
của thân thể đối với ngoại giới. Thí dụ như khả
năng thích ứng với trời nóng nực hay giá lạnh và
lực đề kháng với bệnh truyền nhiễm đều có thể tăng
gia một cách tương ứng. Cho nên nếu kiên trì luyện
tập Thái Cực Quyền, thì rõ ràng đó là một cách rèn
luyện thân thể, tăng cường sức chống chọi, và ngay
cả kéo dài tuổi thọ nữa.
Ngoài ra việc luyện tập Thái Cực Quyền còn giúp
ta rèn luyện được phẩm cách tốt đẹp như: trầm tĩnh,
thanh thãn, kiên nghị, nhẫn nại, mẫn cảm và tập
trung ý chí.
Ngày nay, mục đích của chúng ta khi luyện tập Thái
Cực Quyền không phải đơn thuần xem nó như một môn
võ thuật, mà chủ yếu xem nó là phương pháp rèn luyện
thân thể, khu trừ bệnh tật, làm chúng ta luôn luôn
gín giữ tinh lực được sung túc.
Có phải ai ai cũng có thể luyện tập Thái
Cực Quyền không?
Luyện tập Thái Cực Quyền có những ích lợi như vậy,
thế thì có phải ai cũng có thể tập nó chăng? Ðúng
vậy, hễ là người bình thường (không kể tuổi tác,
gái trai) đều có thể tập (nhưng đối với người bệnh
thì khác, như bệnh lạc huyết, bệnh tim ở thời kỳ
nghiêm trọng). Còn như trẻ em khoẽ mạnh mà tập thì
cũng không có gì trở ngại. Ðây chính là tính cách
phổ biến của Thái Cực Quyền vì nó thích nghi với
mọi người có thể chất, thể lực khác nhau. Chẳng
qua, các huấn luyện viên cần chú ý đến trạng huống
sức khoẽ của người học mà tùy nghi dạy quyền, như
về mặt thời gian dài ngắn, số lượng động tác nhiều
ít, vv. Ðó là tùy người mà dạy và dạy một cách linh
động. Những lúc luyện tập một mình cũng nên chú
ý đến điểm này.
Giới người thích nghi nhất với việc tập Thái Cực
Quyền, có thể chia ra như sau:
1. Từ trung niên đến lão niên, những ai không thể
hoặc không muốn tập các môn vận động khác.
2. Thể chất suy nhược hoặc có bịnh mạn tính, như
huyết áp quá cao, viêm khớp xương có tính phong
thấp, phổi mới kết hạch, thần kinh suy nhược, cho
đến bệnh kinh nguyệt không đều hòa ở phụ nữ. (Tốt
nhất là nên đi khám bác sĩ xem tình trạng sức khoẽ).
3. Công chức, giáo sư, y sĩ, vv. Giới này vốn có
nếp sinh hoạt an tỉnh, không ham thích những vận
động kịch liệt (dữ dội), nên rất dễ thích nghi với
việc tập TCQ.
4. Các bà các cô nội trợ, bất luận trung niên hoặc
lão niên, đều có thể tập TCQ.
Như vậy giới thanh niên không thích hợp ới TCQ
chăng? Căn cứ vào giá trị và hiệu dụng của sự vận
động TCQ, thì không có gì là không thích hợp cả.
Nhưng căn cứ vào đặc điểm của sự vận động của TCQ
là mềm mại, hòa hoãn cùng với tính cách của thanh
niên thì không thích hợp lắm; bởi vì thể chất và
thể lực của thanh niên phát triển rất nhanh, thanh
niên thường có tính hiếu động, ham thích những vận
động kịch liệt như điền kinh, cac bộ môn bóng, hoặc
các môn quyền thuật và khí giới khác.
Nhưng nếu giới thanh niên có người thấy hứng thú
việc tập TCQ thì dĩ nhiên là vô hại.
Có người cho rằng TCQ chỉ là một hình thức trị
liệu đối với những người suy nhược vì bệnh. Ðiều
này không đúng. Trên thực tế, chúng ta thấy rất
nhiều người không bệnh hoạn mà tập TCQ thì tinh
lực của họ vượng hơn, thịnh hơn, lòng dạ cởi mở
tươi tắn hơn. Như vậy, môn quyền thuật này không
phải dành cho những người bệnh nhược, mà đối với
người không bệnh cũng có tác dụng dưỡng thân không
kém.
Hai chữ "Thái Cực" trong Thái
Cực Quyền có ý nghĩa gì?
Tại sao môn quyền thuật này được gọi là Thái Cực
Quyền?
Trước hết chúng ta hãy liễu-giải khởi-nguyên và
ý nghĩa của hai chữ "Thái Cực". Thái Cực
là danh từ được dùng đầu tiên ở kinh Dịch. Quyển
kinh này quan niệm rằng lúc Trời Ðất chưa hình thành
là Thái Cực (còn gọi là Thái Sơ, Thái Nhất nữa).
Sau đến đời nhà Tống, có Chu Ðôn Di vẽ ra một bức
Thái Cực đồ, có thuyết minh kỹ càng, nhằm giải thích
ý nghĩa hàm ngụ và sự biến hóa phát triển của ý
niệm Thái Cực.
Nghĩa đen của hai chữ Thái Cực: Thái là lớn lao,
Cực là trạng thái ban sơ hoặc cao cấp nhất của sự
vật. Bởi vì ngày xưa không có ai biết vũ trụ , lúc
quả đất chưa xuất hiện , thực sự như thế nào, thời
gian ấy dài bao nhiêu triệu năm? cho nên cổ nhân
mới đành đặt gọi cái vũ trụ lúc bấy giờ là Thái
Cực, hoặc là Vô Cực. Trong Thái Cực đồ khuyết của
Chu Ðôn Di, câu đầu tiên là "Vô Cực Nhi Thái
Cực" (Nhi ở đây có nghĩa "tức là",
nghĩa là Vô Cực tức là Thái Cực, chớ không phải
là từ Vô Cực mà sinh ra Thái Cực). Ý niệm này còn
được mô tả trong câu "Thái Cực bản Vô Cực"
(Thái Cực vốn là Vô Cực).
Do đó, việc mệnh danh môn TCQ có nguồn gốc nhất
định.Chúng ta có thể biện giải một cách giản đơn
như sau:
1. Mỗi động tác của TCQ đều đi theo đường tròn
giống như là các đường tròn được biểu thị trong
Thái Cực dồ. Trong các động tác đường tròn này có
chứa rất nhiều sự biến hóa, như hư thực, động tĩnh,
cương nhu, tấn thối, vv.
2. Luyện TCQ, ta thấy các ý niệm động trung cầu
tĩnh, tĩnh trung cầu động, dụng ý bất dụng lực,
giống như điều thường gọi là vô trung sinh hữu (
thực ra không phải là từ không mà sinh ra có, mà
là "cái không" phát triển dần dần thành
"cái có", giống như cái lẽ Vô Cực mà Thái
Cực).
3. Ðộng tác trong TCQ, từ khai thức đến thâu thức
hoàn toàn liên tục, không một chổ nào đứt đoạn,
giống như một vòng tròn hoàn chĩnh, không thể tìm
được đầu mối; đó chính là cái lẽ "Thái Cực
vốn là Vô Cực".
Hiện Nay Có Bao Nhiêu Phái TCQ ? Mỗi Phái
Có Ðặc Ðiểm Nào ?
Các hệ phái TCQ rất là phức tạp. Nếu lấy sự lớn
nhỏ của chiêu-thức (dáng, hình thức di chân múa
tay) mà phân biệt thì có thể chia làm ba phái chính.
Nếu căn cứ vào nội dung quyền thức và nguồn gốc
khác nhau thì có thể chia làm bảy nhà.
A. Ba Hệ Phái
1. Ðại Giá Thức :
Do Dương Trừng Phủ làm đại biểu. Loại quyền giá
này được truyền thụ bởi cha ông là Dương Kiện Hầu,
và đến ông thì có sửa đổi lại đôi chút. Quyền thức
mở rộng, nhẹ nhàng, trầm trọng (trầm ổn), thường
gọi là Dưong phái.
2. Trung Giá Thức :
Do Ngô Giám Tuyền làm đại biểu. Giá thức không lớn
không nhỏ (không rộng, không hẹp) mà vừa vừa, nổi
bật ở sự nhu hóa. Nguồn gốc của loại quyền giá này
như sau: Cha của Ngô Giám Tuyền là Ngô Toàn Hựu,
đầu tiên học đại giá thức với Dương Lộ Thiền, rồi
lại học tiểu giá thức với Dương Ban Hầu (con của
Dương Lộ Thiền), và truyền cả hai môn này lại cho
con mình là Ngô Giám Tuyền. Giám Tuyền bèn dung
hợp chiết trung , tự mình thành một phái, gọi là
Ngô phái.
3. Tiểu Giá Thức :
Do Vũ Vũ Tương làm đại biểu. Họ Vũ vốn người huyện
Vỉnh Niên, phủ Quảng Bình, Tỉnh Trực Lệ, đến Ôn
Châu Hà Nam, theo học với Trần Thanh Bình. Học được
bộ thứ hai của tân giá tử, rồi tự mình cải tiến.
Quyền thức khéo léo, khít khao, kín đáo, thân pháp
thì thấp. Tự dựng thành một phái, gọi là Vũ phái.
B. Bảy Nhà Giá Thức :
1. Trần Thị Lão Giá : (Quyền phổ nhà họ Trần)
Truyền bởi Trần Trường Hưng thuộc Trần Gia Câu,
Ôn Châu, Hà Nam. Quyền thức là đại giá thức của
lão giá nhà họ Trần.
2. Trần Thị Tân Giá :
Truyền bởi Trần Hữu Bản của Trần Gia Câu, quyền
thức thuộc bộ đầu trong tân giá của nhà họ Trần,
cũng thuộc đại giá.
3. Trần Thị Tiểu Giá :
Truyền bởi Trần Thanh Bình ở làng Siêu Bảo (gần
Trần Gia Câu), quyền thức thuộc bộ thứ hai trong
tân giá của nhà họ Trần, thuộc tiểu giá.
4. Dương Thị Ðại Giá :
Truyền bởi Dương Trừng Phủ (Hà Bắc). Ông nội của
Dương Trừng Phủ là Dương Lộ Thiền, vào khoãng các
năm Hàm Phong đời vua Văn Tông triều Thanh (tức
là từ 1851 trở đi), đem TCQ đến Hà Bắc, sau đó cha
con Dương Kiện Hầu, Dương Trừng Phủ cải tiến mà
thành.
5. Vũ Thị Tiểu Giá :
Truyền bởi Vũ Vũ Tương, người huyện Vỉnh Niên, sau
truyền cho Hác Vi Trinh và ông này đem truyền ở
Bắc Kinh.
6. Ngô Thị Trung Giá :
Do cha con Ngô Toàn Hựu, Ngô Giám tuyền truyền bá,
như đã nói trên.
7. Tôn Thị Tiểu Giá :
Truyền bởi Tôn Lộc Ðường (Bắc Kinh) , họ Tôn học
với Hác Vi Trinh rồi cải tiến, tự dựng thành một
nhà.
Những điều trình bày ở trên chỉ cứ vào các tài
liệu đích thực và xác thực, và phân biệt một cách
đại cương thành ba phái bảy nhà; còn nếu muốn phân
biệt tường tận hơn thì vấn đề rất phức tạp, nhà
nào cũng có ưu điểm riêng, người học tùy theo thể
chất, tuổi tác và sở thích mà chọn lựa cho mình
Tại sao Thái Cực Quyền còn gọi là Trường
Quyền hoặc Thập Tam Thế?
TCQ vốn có hai bộ phận: một bộ phận gọi là Trường
Quyền, một bộ phận gọi là Thập Tam Thế. Trước đây
có người cho rằng Trường Quyền và Thập Tam Thế là
một, điều này sai. Nếu xét về mặt quyền lộ, thì
Trường Quyền dài hơn là Thập Tam Thế, đúng với điều
mà trong Thái Cực Quyền Luận (do Vương Tông Nhạc
đời vua Càn Long viết) định nghĩa "Trường Quyền
như sông dài biển rộng, chảy mãi không dứt".
Nguồn gốc danh xưng của Thập Tam Thế là như sau.
Căn cứ vào thuyết cũ, Thập Tam Thế hàm chứa quan
niệm Ngũ Hành Bát Quái ở trong. Ngũ Hành là: Kim,
Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ, được ví với năm loại bộ pháp.
Bát Quái là: Càn, Khôn, Khãm, Ly, Chấn, Ðoài, Cãn,
được ví với tám loại thủ pháp của TCQ.
Năm hình thức bộ pháp của TCQ là: tiền tấn, hậu
thối, tả cố, hữu phán và trung định.
Dụng pháp của tay có tám loại: băng (quen đọc là
bằng), lý, tê, án, thái, liệt, trửu, kháo, phân
phối cho tám hướng: Ðông , Tây, Nam, Bắc, Ðông Bắc,
Tây Bắc, Ðông Nam, Tây Nam. Bát phương này và ngũ
bộ nói trên hợp lại gọi là Thập Tam Thế. Như vậy
ý nghĩa của Thập Tam Thế chỉ là mười ba hình thái
vận động của tay chân, chớ bảo là mười ba thức (tư
thức) là lầm lẫn vậy.
TCQ Có Ðặc Ðiểm Chủ Yếu Nào ?
TCQ là một loại vận động rất đặc thù, không những
khác với các môn thể thao thường mà ngay cả đến
những bộ bộ môn quyền thuật khác của Trung Hoa nó
cũng có phong cách riêng biệt. Về vấn đề đặc điểm,
sách này có đề cập từng điểm dưới một chuyên đề.
Ở đây chỉ giới thiệu các đặc điểm chủ yếu :
1. Ðộng tác nhu hòa hoãn mạn : (Ðộng tác mềm mại,
buông lơi, thong thả)
TCQ đòi hỏi người tập "Dụng ý bất dụng lực"
, tuyệt không được gồng cứng các cơ, toàn thể các
khớp xương phải lỏng (tung khai), bất kỳ động tác
nào cũng phải mềm mại, buông lơi, thong thả, tốc
độ không nhanh mà chậm chạp, như Quyền Luận có nói
"Vận kình như trừu ty" (vận kình như kéo
tơ), "Mại bộ như miêu hành" (bước chân
như mèo đi), thời gian đi một bài quyền thường mất
15 đến 20 phút.
2. Ðộng tác nào cũng là hoạt động toàn thân :
Ở mõt số bộ môn thể thao, thường phân chia vận động
của tay, vận động của chân,v.v... Một số quyền thuật
cũng thế, trước là đấm một quyền rồi đá một ngọn,v.v...
Nhưng luyện tập TCQ thì khác, TCQ đòi hỏi sự chuyển
động của toàn thân thể, hễ động một thì không chổ
nào không động "Nhất động vô hữu bất động",
hễ tĩnh một thì không nơi nào không tĩnh "Nhất
tĩnh vô hữu bất tĩnh" , "Thượng hạ tương
tùy, nội ngoại tương hợp" . Nếu như luyện TCQ
mà không luyện được toàn thân hoạt động, mà có bộ
phận trong người đứng chết trân, thì đó là một đại
khuyết điểm vậy.
3. Mỗi động tác cần kết hợp hô hấp với vận động
một cách tự nhiên :
TCQ cũng còn khác với các loại vận động thường thấy
ở điểm này nữa. Có người bảo rằng : Trong khi tập
các loại vận động khác, có bao giờ ngưng hô hấp
đâu ? Tại sao TCQ lại cho hô hấp là một đặc điểm
của mình ? Lý do là như thế này : sự hô hấp trong
TCQ là có quy luật, khi nào hít vào, khi nào thở
ra, đều được thực hiện nghiêm túc, chớ không phải
là hít thở một cách tự nhiên mà bình thường người
ta thường không chú ý tới, mà cũng không phải là
miễn cưỡng (gắng gượng) dồn nén hơi thở. Sự hô hấp
phải làm sao đạt đến tình trạng "Thâm, trường,
quân, tĩnh, khai thoát tự nhiên" (sâu, dài,
đều, im, thoải mái tự nhiên). Còn đối với người
mới học, chỉ cần hít thở bình thường tự nhiên là
được rồi.
4. Khi vận động cần phải "Tâm Tĩnh" :
"Tâm tĩnh" tức là tâm thần an tĩnh, tinh
thần nội liễm, không hoang loạn, không tâm viên
ý mã, hồ tư loạn tưởng (không suy nghĩ lung tung
viễn vong), cốt làm sao cho vỏ ngoài đại não êm
dịu lại một cách từ từ, tuyệt đại bộ phận đi vào
trạng thái bị khống chế tức là có nhiều dịp nghĩ
ngơi. Ngoài ra lượng hô hấp tăng nhiều, huyết dịch
tuần hoàn mau chóng, giúp cho đại não thu được nhiều
dưỡng liệu và dưỡng khí, điều này có tác dụng rất
tốt đối với việc nâng cao và tăng trưởng cơ năng,
và mực độ làm khõe mạnh bộ phận cao cấp của hệ thống
trung khu thần kinh. Năng lực hoạt động của hệ thống
thần kinh được mạnh mẻ, thì có ảnh hưởng rất tốt
đến việc điều tiết, sự phối hợp hoạt động của các
hệ thống khí quan trong cơ thể. Do đó chúng ta có
thể nói, sự yêu cầu "tâm tĩnh" của TCQ
có cơ sở sinh lý học vững chải, và cũng là đặc điểm
quan trọng nhất của TCQ.

|