|
Sigmund
Freud - Tâm lý gia của cõi vô thức
Nguyễn Xuân
Hiến
Trong
tất cả các ngành khoa học, người ta thường thừa
nhận tâm lý học là một môn khoa học bí hiểm và tối
tăm nhất, và khó có thể chứng minh bằng khoa học
hơn bất cứ bộ môn nào khác. Bản chất của những sự
vật ở đây luôn luôn có sự hư hư thực thực và sự
bất ngờ, vì nhà tâm lý học phải nghiên cứu về một
hiện tượng tự nhiên bí mật nhất, đó là cuộc sống
tâm lý của con người. Một lý thuyết hóa học hay
vật lý có thể được chứng minh hay bác bỏ những phương
pháp kỹ thuật trong phòng thí nghiệm, nhưng đối
với giá trị của một lý thuyết tâm lý học, rất có
thể không sao chứng minh được một cách minh bạch,
cho nên nhiều cuộc tranh luận bão táp đã nổi lên
xung quanh Sigmund Freud và khoa phân tâm học suốt
sáu chục năm ròng.
Dầu sao, có thể chứng
minh được hay không thì học thuyết của Sigmund Freud
cũng đã có một ảnh hưởng vô song đối với tư duy
hiện đại. Ngay Einstein cũng không kích thích trí
tưởng tượng hay thâm nhập vào đời sống của người
đương thời bằng Sigmund Freud. Nhờ tìm tòi nghiên
cứu những thứ chưa bao giờ ai hiểu biết về trí não
con người mà Sigmund Freud đã đưa ra được những
ý tưởng và những từ ngữ mà ngày nay đã chan hòa
vào cuộc sống thường nhật của chúng ta. Thực vậy,
tất cả mọi lĩnh vực tri thức của con người như văn
chương, nghệ thuật, tôn giáo, nhân chủng học, giáo
dục, luật pháp, xã hội học, luật học, sử học và
những môn học về xã hội hay cá nhân khác đều chịu
ảnh hưởng của học thuyết Sigmund Freud.
Tuy nhiên, học thuyết
này lại quá khô khan và ít sáng sủa. Một nhà phê
bình khá hài hước đã nhận xét rằng:
“Đối với người đời
thì do sự phổ biến học thuyết này, Freud đã nổi
bật lên như một kẻ phá bĩnh vĩ đại nhất trong lịch
sử tư tưởng nhân loại. Ông đã biến đổi sự giễu cợt
và những niềm vui nhẹ nhàng của con người thành
những hiện tượng dồn nén, bí hiểm và sầu thảm, đã
tìm thấy sự hằn thù trong nguồn gốc yếu thương,
ác ý ngay trong lòng sự âu yếm, loạn luân trong
tình yêu thương giữa cha mẹ và con cái, tội lỗi
trong thái độ đại lượng và trạng thái của sự căm
uất bị “dồn nén” của mọi người cha như là một thứ
được lưu truyền của nhân loại”.
Tuy nhiên nhờ Freud
mà ngày nay người ta đã có những ý nghĩ rất khác
nhau về chính mình. Họ chấp nhận các khái niệm của
Freud như: ảnh hưởng của tiềm thức đối với ý thức,
nguồn gốc tính dục của bệnh thần kinh, sự hiện hữu
và tầm quan trọng của tính dục trẻ thơ, tác dụng
mặc cảm Ơ-đip" vào các giấc mộng, tình trạng
"dồn nén"… Những khuyết điểm của con người
như lỡ lời, nhớ mặt quên tên và quên lời hứa đều
mang một ý nghĩa mới xét theo quan điểm của Freud.
Hiện nay khó mà xác định được hết những định kiến
mà Freud phải chống lại để truyền bá học thuyết
của ông. Những định kiến này còn cố chấp hơn cả
những định kiến mà Copernicus và Darwin đã vấp phải.
Khi Freud chào đời
ở Freiberg thuộc miền Moravia, tác phẩm Nguồn gốc
các chủng loài chưa xuất hiện. Năm đó là năm 1985.
Cũng như Karl Marx, tổ tiên Freud có nhiều người
là pháp sư đạo Do Thái. Ông được đưa tới thành Vienna
thủ đô nước Áo vào năm lên bốn tuổi và đã sống gần
suốt cả tuổi trưởng thành tại đây. Theo Ernest Jones,
người viết tiểu sử chính của Freud thì ông đã được
thừa hưởng của cha ông là một nhà buôn len, "tính
hoài nghi sâu sắc về những tai biến bất thường của
cuộc đời, thói quen dùng giai thoại Do Thái để châm
biếm các quan điểm đạo đức, không tín ngưỡng những
vấn đề tôn giáo". Bà mẹ Freud sống tới năm
59 tuổi, bản tính năng động và nhanh nhẹn. Sigmund
Freud là đứa con cưng đầu lòng của bà. Sau này Freud
đã viết "một người đã từng là con yêu đặc biệt
của một bà mẹ thì suốt đời người ấy có cái cảm giác
là một kẻ đi chinh phục, và chính cái lòng tin chiến
thắng ấy luôn đem lại thành công thực sự".
Vào những năm đầu
của cuộc đời, Freud rất tin vào thuyết của Darwin
vì ông thấy rằng "Những thuyết ấy làm cho người
ta có thể hy vọng vào những bước tiến phi thường
trong việc tìm hiểu thế giới". Dự định sẽ trở
thành thầy thuốc, ông đã theo học trường Đại học
Y khoa thành Vienna. Và ông đã đỗ bác sĩ năm 1881.
Là một thầy thuốc trẻ tuổi của bệnh viện đa khoa,
chữa trị đủ mọi loại bệnh, ông tiếp tục nghiên cứu
môn thần kinh bệnh học và giải phẫu thần kinh. Ít
năm sau, số mệnh xoay chiều và bất thần làm tên
tuổi của ông nổi tiếng khắp thế giới. Một bạn đồng
nghiệp của ông đã đi Paris và ông bèn đi theo sang
thành phố này. Tại đây, ông cùng làm việc với Jean
Charcot, lúc ấy đã là một nhà bệnh lý học và thần
kinh học người Pháp nổi tiếng. Ở đây, lần đầu tiên
ông được tiếp xúc với công trình của Charcot về
bệnh loạn thần kinh và cách dùng phương pháp thôi
miên để điều trị bệnh này. Freud đã thoả mãn khi
thấy Charcot chứng minh được "bệnh loạn thần
kinh thật mà và loạn thần kinh giả do dùng thôi
miên tạo ra.
Nhưng khi trở lại
thành Vienna, Freud không làm thế nào để thuyết
phục được các bác sĩ đồng nghiệp: họ không tin là
phương pháp chữa bệnh loạn thần kinh bằng thôi miên
lại có cơ sở khoa học. Và người ta còn trừng phạt
những ý nghĩ quá tạo bạo của ông bằng cách đuổi
ông ra khỏi phòng thí nghiệm giải phẫu thần kinh.
Từ đấy Freud tách khỏi môi trường đại học và không
còn tiếp tục tham gia những buổi họp của giới trí
thức ở Vienne nữa. Trong lúc hành nghề bác sĩ tư,
ông tiếp tục dùng phương pháp thôi miên để thí nghiệm
trong nhiều năm nữa, nhưng dần dần ông đã bỏ phương
pháp điều trị này chỉ vì ít người hợp với lối chữa
bằng thôi miên và cũng vì đôi khi thôi miên có những
hiệu quả không hay với nhân cách người bệnh. Thay
vào đó, Freud bắt đầu phát triển một phương pháp
mới, ông đặt tên là "tự do liên tưởng",
về sau kỹ thuật này đã trở thành một tiêu chuẩn
thực hành của khoa học phân tâm học.
Freud hẳn là người
sáng lập ra môn thần kinh bệnh học, điều đó không
còn nghi ngờ gì nữa. Trước ông, các nhà thần kinh
bệnh học chỉ quan tâm đến những triệu chứng của
bệnh tâm thần phân liệt (schizophrenia) và chứng
tâm thần suy giảm (lẩm cẩm), cần phải giam lại trong
bệnh viện. Ngay từ khi chữa chứng dồn nén và chứng
thần kinh tương khắc, Freud đã đi tới kết luận là
không phải chỉ riêng con bệnh mà cả những người
lành mạnh bình thường cũng mang trong mình những
xung khắc tâm thần tương tự. Đi xa hơn nữa, bệnh
tâm thần không phải là bệnh theo nghĩa thông thường
được chấp nhận mà là trạng thái tâm lý của trí não.
Vấn đề quan trọng là làm thế nào để điều trị những
chứng rối loạn tâm thần đang lan tràn rộng rãi ấy.
Căn cứ vào những quan sát, thí nghiệm và kinh nghiệm
thực hành khi điều trị cho nhiều người bệnh ở Vienna,
Freud đã xây dựng cơ sở cho khoa phân tâm học vào
khoảng cuối thế kỷ 19.
Freud là một trong
những nhà khoa học đã sáng tác nhiều hơn hết trong
thời đại chúng ta. Sự phong phú về những đề tài
mới mẻ cùng những phần đóng góp về tâm lý do ngòi
bút của ông đem lại không thể thu gọn trong bất
cứ một cuốn sách hay tờ báo nào. Theo ông, thì chắc
chắn cuốn sách quan trọng ra đời sớm nhất của ông
mà cũng được ông yêu thích nhất là cuốn Đoán Mộng
xuất bản năm 1900. Sách này gồm hầu hết những quan
sát cơ bản và những suy luận của ông. Trong cuốn
Nghiên cứu về chứng loạn thần kinh xuất bản sớm
hơn (tức là vào năm 1895), ông đã bộc lộ niềm tin
rằng "yếu tố chính trong sự rối loạn về tính
dục là sự suy yếu gây ra cả bệnh tâm thần (neuros)
lẫn bệnh tâm thần suy nhược (psychoneuroses)".
Đó là nền tảng của thuyết phân tâm. Vài năm sau
đó, Freud hoàn chỉnh được lý thuyết của ông về sức
đối kháng, hiện tượng chuyển biến tính dục tuổi
thơ, mối tương quan giữa những ký ức bất mãn và
ảo tưởng, giữa cơ chế tự vệ (defense mechanism)
và sự dồn nén.
Một bản tóm lược
những luận đề chính sẽ cho ta thấy được phần nào
tính phức tạp của thuyết phân tâm. Trước hết, thần
kinh bệnh học và phân tâm học không phải là hai
từ đồng nghĩa. Phân tâm học có thể được coi như
một ngành của thần kinh bệnh học và chỉ áp dụng
cho những trường hợp khó khăn nhất là rối loạn nhân
cách. Cho nên, phân tâm học có thể được định nghĩa
như một phương pháp dùng để trị những bệnh rối loạn
tâm lý và thần kinh. Theo một bản tường trình mới
đây thì ở Mỹ chỉ có 300 trên 4.000 các bác sĩ thần
kinh được tín nhiệm là những nhà phân tâm học mà
thôi.
Họa hoằn lắm Freud
mới chú ý tới việc điều trị cá nhân. Những trường
hợp cá nhân không bình thường chỉ được coi là những
triệu chứng xáo trộn về kinh tế, xã hội và văn hoá
của thế giới ngày nay. Mục đích của ông là trị bệnh
tận gốc.
Nhiều nhà phê bình
đã đồng ý là thành tựu mà Freud đã đạt được dựa
chủ yếu trên công trình phát giác và khảo sát về
lĩnh vực vô thức của con người.
So sánh tâm linh
con người với một tảng băng, mà tới tám chín phần
mười tảng băng này chìm dưới nước biển, Freud cho
rằng phần chính tâm lý con người cũng được ẩn giấu
trong cõi vô thức. Bên dưới lớp vỏ ngoài, vì những
lý do nào đó, những cảm giác và những mục đích mà
một cá nhân đã không những giấu kín người khác mà
còn tự giấu ngay chính bản thân mình nữa. Trong
tâm lý học của Freud, cõi vô thức là tối thượng
và mọi hoạt động ý thức chỉ có một vị trí phụ thuộc.
Nếu hiểu được cái thầm kín bí mật sâu xa của cõi
vô thức ắt chúng ta hiểu được bản chất nội tâm của
con người. Freud tuyên bố là chúng ta thường suy
nghĩ một cách vô thức và chỉ thỉnh thoảng suy tư
của chúng ta mới có tính chất ý thức. Tâm linh vô
thức chính là nguồn gốc gây bệnh tâm thần, vì bệnh
nhân thường cố gắng gạt ra ngoài cõi ý thức mọi
ký ức khó chịu, mọi ước vọng bị "dồn nén"
vô hiệu, nhưng kết quả là anh ta tích tụ ngày càng
nhiều ký ức, những ước vọng, để dồn thành bệnh.
Freud phân loại mọi
hoạt động tinh thần của mỗi nhân con người được
thể hiện thành ba cấp độ được ông gọi là Tự Ngã,
(Id. Soi); Bản Ngã (ego moi) và Siêu Ngã (superego
Surmoi). Quan trọng số một là cái Id, Freud bảo:
Phạm vi của Id là phần nhân cách tối tăm và không
thể đi đến được của chúng ta. Bản thân ta chỉ biết
chút ít về cái Id qua nghiên cứu các giấc mộng và
qua sự biểu hiện các triệu chứng bên ngoài của bệnh
tâm thần, Id là nơi trú ngụ các bản năng nguyên
thuỷ và các xúc cảm đi ngược lên tới cái quá khứ
xa xưa khi mà con người còn là một con thú, Id có
tính chất thú vậy và bản chất của nó là thuộc về
dục tính (sexual in nature), nó vốn vô thức. Freud
viết tiếp: Cái Id bao gồm tất cả những gì do di
truyền, có ngay từ lúc sinh ra được kết tụ lại trong
sự cấu thành. Id mù quáng và độc ác. Mục đích độc
nhất của nó là thoả mãn các ham muốn bản năng và
các khoái cảm, không cần biết đến các hậu quả. Nói
theo Thomas Mann thì: "Nó không biết gì đến
giá trị, thiện hay ác, và cả đạo đức nữa".
Đứa bé sơ sinh là
Id được nhân cách hóa. Dần dần cái Id phát triển
lên thành cái Ego (bản ngã Moi). Khi đứa bé lớn
lên. Thay vì được hoàn toàn dẫn dắt bằng nguyên
lý khoái lạc, cái Ego bị chi phối bởi nguyên lý
“thích ứng với thực tại”. Ego biết được thế giới
xung quanh, nhận ra rằng phải kìm hãm những khuynh
hướng phạm pháp của cái Id để ngăn ngừa mọi xung
đột với luật lệ của xã hội. Như Freud viết, cái
Ego là “viên trọng tài giữa những đòi hỏi bạt mạng
của cái Id và sự kiểm soát của thế giới bên ngoài”.
Vì vậy Ego thực sự hành động như một nhân viên kiểm
duyệt, cắt xén, sửa đổi những thúc giục của cái
Id làm cho những thúc giục này phù hợp với tình
hình thực tế, biết rằng việc tránh khỏi bị xã hội
trừng phạt và cả để tự bảo toàn hay là ngay cả đến
sự bảo tồn, đều phải tùy thuộc vào những “dồn nén”.
Tuy nhiên cuộc đấu tranh giữa cái Ego và Id có thể
gây ra những bệnh tâm thần, ảnh hưởng nghiêm trọng
tới nhân cách cá nhân.
Sau hết, còn một
thứ yếu tố thứ ba trong quá trình sinh hoạt tinh
thần gọi là Superego (Siêu ngã). Siêu ngã này có
thể được định nghĩa một cách đại khái là “lương
tâm”. Học trò chính của Freud ở Hoa Kỳ là A.A Brill
đã viết:
“Cái Superego là
sự phát triển tinh thần cao hơn cả mà con người
có thể đạt tới được và bao gồm lẫn lộn mọi sự cấm
đoán, mọi quy tắc cư xử do cha mẹ tạo ra nơi đứa
trẻ. Tri giác lương tâm hoàn toàn tùy thuộc vào
sự phát triển của cái Superego.
Cũng như cái Id,
cái Superego cũng nằm trong vô thức và cả hai cùng
luôn ở thế tương tranh, trong khi cái Ego luôn hoạt
động ở giữa như một trọng tài. Lý tưởng đạo đức
và quy tắc cư xử đều nằm trong Superego. Khi ba
cái Id và Superego tương đối hòa hợp thì cá nhân
lúc ấy ở trạng thái điều hòa và hạnh phúc. Nếu cái
Ego để cho cái Id vi phạm các luật lệ, cái Superego
sẽ gây ra lo lắng, cảm giác có tội và mọi biểu lộ
của lương tâm.
Lý thuyết tính dục
hay còn gọi là nhục dục (Libido) là một khái niệm
khác được ghép chung với Id và do Freud tạo ra.
Ông dạy rằng tất cả những xúc cảm của Id đều là
hình thức thể hiện của “năng lượng tính dục” (sexual).
Thuyết tính dục đã từng được gọi là “cái lõi của
phân tâm học”. Mọi sáng tạo văn hóa của con người:
nghệ thuật, luật pháp, tôn giáo, vân vân.. đều được
coi là sự phát triển của tính dục. Khi nói “năng
lực của tính dục” (sexual energy), thì ở đây chữ
“tính” (sexual) được dùng theo nghĩa rộng. Ở đứa
trẻ bản năng tính dục bộc lộ qua những hành động
như mút tay, bú sữa chai và bài tiết. Những năm
sau đó năng lượng tính dục có thể được truyền cho
người khác qua hôn nhân, mang hình thức một hư hỏng
thuộc về “tính” hay được thể hiện qua hoạt động
sáng tạo nghệ thuật, văn chương hay âm nhạc - đó
là phương pháp được gọi là “dịch chuyển”. Theo Freud
thì bản năng tính dục (sex instinct) là nguồn gốc
của mọi công trình sáng tạo vĩ đại nhất.
Thật vậy, Freud đã
tuyên bố: “Các bênh tâm thần, không chừa một bệnh
nào, đều là những rối loạn của đời sống sinh lý”.
Nếu luận thêm, không thể cho rằng bệnh tâm thần
là do những cuộc hôn nhân thất bại hay những mối
tình lỡ làng gây ra; trái lại có thể tìm thấy dấu
vết tất cả những bệnh này ở thời kỳ ấu thơ với các
mặc cảm tính dục. Freud đã áp dụng lý thuyết của
ông sang lĩnh vực nhân chủng học trong tác phẩm
Vật tổ và cấm kỵ. Ông tin rằng ngay tôn giáo cũng
chỉ là biểu hiện của mặc cảm tính dục. Sau khi phân
tích kỹ lưỡng từng chi tiết hàng trăm trường hợp
bệnh nhân đến chữa bệnh, Freud đã nâng bản năng
tính dục và thèm khát nhục dục lên thành yếu tố
đầu tiên và mạnh mẽ nhất trong việc tạo thành nhân
cách con người, đồng thời là nguyên nhân sâu xa
của mọi bệnh tâm thần. Đó là một phán đoán mà một
số các nhà phân tâm học nổi tiếng khác đã bác bỏ
như sẽ nói sau đây.
Vì xã hội buộc mỗi
con người phải kiềm chế nhiều ham muốn, theo cách
nói của Freud thì mỗi cá nhân đã vô tình tích trữ
nhiều “dồn nén”. Bình thường thì ý thức con người
vẫn thành công trong việc ngăn trở, không cho “những
sức mạnh vô thức đen tối” bị dồn nén kia xuất hiện.
Nhưng sự kiểm soát ấy có thể làm cho những con bệnh
tâm thần trải qua những giai đoạn xúc cảm bị rối
loạn sâu xa. Freud cho công việc chữa bệnh của nhà
phân tâm học là “làm bộc lộ và thay thế những dồn
nén bằng những hành động phán đoán có thể đưa đến,
hoặc sự chấp nhận hoặc sự loại bỏ những gì đã bị
khước từ từ trước”. Vì bản chất của sự dồn nén là
gây ra sự đau khổ, nên người bệnh thường cố tìm
cách ngăn không cho những dồn nén ấy bộc lộ ra ngoài.
Sự cố gắng che đậy ấy Freud gọi là “sức đối kháng”.
Nhiệm vụ của thầy thuốc là loại bỏ sức đối kháng
này, để người bệnh bộc lộ ra cái “dồn nén” kia.
Kỹ thuật do Freud
phát minh ra để giải tỏa với mọi “dồn nén” và loại
bỏ mọi đối kháng là phương pháp “gợi tự do liên
tưởng”: Những lời nói thao thao bất tuyệt có ý thức
của người bệnh khi nằm trên cái giường của nhà phân
tâm học trong cảnh đèn sáng mờ mờ, nhà phân tâm
học kích thích, khêu gợi để người bệnh không nghĩ
một cách có ý thức về bất cứ chiều hướng nào, Freud
cho rằng phương pháp “kích thích tự do liên tưởng”
là phương pháp duy nhất hữu hiệu để chữa bệnh tâm
thần. Ông cũng chủ trương là phương pháp ấy “hoàn
thành được điều mà người ta trông đợi, nghĩa là
đưa những mong muốn bị sức đối kháng dồn nén từ
xưa ta lĩnh vực ý thức”. Brill đã mô tả cách Freud
chữa bệnh như sau: “Ông thuyết phục con bệnh gạt
mọi suy nghĩ có ý thức, tự buông thả mình vào một
trạng thái tập trung bình thản, tự phó mặc theo
những cảm xúc và suy nghĩ nảy sinh, rồi thuật lại
tất cả những điều đó cho ông biết. Nhờ phương pháp
ấy, ông đưa dần bệnh nhân tới trạng thái “tự do
liên tưởng”; và nhờ nghe người bệnh tự do liên tưởng,
mà thầy thuốc có thể tìm ra được nguồn gốc sâu xa
của các triệu chứng”. Sự việc đã quên rồi nay lại
được người bệnh kéo ra khỏi cõi vô thức, có khi
phải sau hàng tháng trời điều trị bằng phương pháp
phân tâm. Nguồn gốc thường là một sự việc nào đó
đau đớn, khó chịu, đáng sợ hay nói cách khác đáng
ghét, từ trong quá khứ của bệnh nhân. Đó chính là
những “kỷ niệm” mà người bệnh hoàn toàn không muốn
nhớ lại một cách có ý thức.
Trong quá trình tự
do liên tưởng, những hồi tưởng lông bông ấy không
tránh khỏi tạo ra một mớ lộn xộn, rối rắm những
sự kiện lờ mờ không rõ, và tưởng như vô ích. Vì
vậy, người thầy thuốc như nhiều nhà phê bình cho
biết, gần như có vô vàn cách giải thích những dữ
kiện ấy. Vì thế nhà phân tâm học phải hết sức sáng
suốt và có tài khéo léo.
Trong khi chữa bệnh
bằng phương pháp phân tâm, Freud phát hiện ra cái
mà ông gọi là “một yếu tố quan trọng khó thể nào
lường được”, một giây liên lạc tình cảm nồng nhiệt
giữa con bệnh và nhà phân tâm học. Cái đó gọi là
“chuyển dịch”.
“Bệnh nhân không
thỏa mãn nếu chỉ coi nhà phân tâm học như là người
giúp đỡ và cố vấn cho họ.. Ngược lại con bệnh lại
nhìn thấy qua nhà phân tâm học một hình ảnh quan
trọng trong thời thơ ấu hay quá khứ của họ hiện
lại. Và vì thế mà họ sẵn sàng bộc lộ mọi tình cảm
và phản ứng mà chắc chắn là đã được dành cho hình
ảnh ấy “dịch chuyển” sang phía nhà phân tâm học”.
Sự dịch chuyển “có
thể thay đổi giữa hai thái cực, từ một tình yêu
hoàn toàn xác thịt và cuồng nhiệt tới một thái độ
nghi ngờ chua chát và oán hờn không kìm chế được.”
Trong tình trạng
ấy, nhà phân tâm học “như được đặt vào địa vị của
cha mẹ người bệnh”. Freud coi sự kiện dịch chuyển
như “công cụ tốt hơn hết để chữa bệnh theo phương
pháp phân tâm” nhưng ông cũng cho biết “tuy nhiên
việc sử dụng phương pháp này là phần khó khăn và
quan trọng hơn hết trong kỹ thuật phân tâm”. Freud
xác nhận là việc này “được thực hiện bằng cách thuyết
phục con bệnh là họ đang sống lại những mối liên
hệ tình cảm phát sinh từ thời ấu thơ”.
Một phương pháp hữu
hiệu khác để nghiên cứu những xung đột và cảm xúc
nội tâm được Freud khai triển thêm là phân tích
những giấc mộng. Trong lĩnh vực này, Freud cũng
lại là một nhà tiên phong. Trước ông, người ta coi
giấc mộng là vô nghĩa hoặc không có mục tiêu. Tác
phẩm Đoán mộng của ông là công trình khoa học đầu
tiên nghiên cứu về hiện tượng nằm mộng. Ba mươi
mốt năm sau khi tác phẩm này được ấn hành, Freud
nhận ra rằng: “Theo nhận xét của tôi ngày nay thì
tác phẩm này chứa đựng tất cả những phát kiến giá
trị nhất mà tôi đã may mắn tìm ra”. Theo Freud thì
“chúng ta đã có lý khi cho rằng giấc mộng là sự
biến dạng của một ước vọng khi bị dồn nén”. Mỗi
một giấc mộng đều biểu hiện một bi kịch trong thế
giới nội tâm của con người. Freud xác nhận rằng:
“Giấc mộng bao giờ cũng là sản phẩm của một cuộc
tranh chấp” và “mộng bảo vệ cho giấc ngủ”. Nhiệm
vụ của giấc mộng là trợ giúp chứ không phải là phá
rối giấc ngủ. Giấc mộng làm tan đi cảm giác căng
thẳng do những ước mong không đạt được gây ra.
Theo quan điểm của
Freud thì giấc mộng thuộc phạm vi chi phối của vô
thức, của Id và mộng rất quan trọng đối với nhà
phân tâm học vì nhờ nó mà phân tâm học đi được vào
cõi vô thức của con bệnh. Trong cõi vô thức có tất
cả những ước vọng đầu tiên và những ham muốn thuộc
cảm xúc đã bị hai cái Ego và Superego gạt ra khỏi
ý thức. Những ham muốn thú tính luôn luôn nằm ngay
bên dưới cái vỏ ngoài ý thức, và tự thúc đẩy tiến
vào thế giới mộng mị. Tuy nhiên, ngay trong giấc
mộng, Ego và Superego vẫn có mặt để canh chừng,
kiểm duyệt. Vì lẽ đó, ý nghĩa của giấc mộng không
luôn rõ ràng, những ý nghĩa này được biểu lộ bằng
những hiện tượng và thầy thuốc cần biểu lộ chúng
một cách lão luyện. Vì mang tính kí hiệu cho nên
ý nghĩa của giấc mộng ta không thể hiểu được theo
nghĩa đen, ngoại trừ những giấc mộng đơn giản của
trẻ thơ. Trong tác phẩm Đoán mộng có nhiều ví dụ
được Freud dùng phương pháp phân tâm phân tích.
Đọc nhầm, nói lỡ
lời và những biểu hiện đãng trí lặt vặt khác đều
là những dấu hiệu cho biết hoạt động ngầm của vô
thức. Freud viết: “Đã biết dùng phép đoán mộng để
đi vào cõi vô thức thì phân tâm học cũng sử dụng
những lầm lỡ của con người nhằm mục đích đó. Những
lầm lỡ ấy nhà phân tâm học gọi là triệu chứng hoạt
động”. Vấn đề này còn được Freud nghiên cứu vào
năm 1904 trong cuốn Tâm thần bệnh lý học của đời
sống thường ngày (The psychopathology of everyday
life). Trong tác phẩm này, ông vẫn chủ trương “những
hiện tượng đó không phải ngẫu nhiên... chúng có
một ý nghĩa và ý nghĩa đó có thể diễn giải ra được.
Và người ta có lý khi từ những hiện tượng đó suy
ra sự hiện hữu của những xúc động và mong muốn bị
dồn nén, ngăn cấm”. Quên tên ai có thể có nghĩa
là mình không ưa gì người mang tên ấy. Một người
lỡ tầu vì nhầm lẫn bảng tầu chạy, có thể có nghĩa
là người ấy không muốn đi chuyến tầu ấy. Một người
chồng đánh mất hay quên chìa khóa nhà có thể vì
người ấy cảm thấy đã phải sống khổ sở trong gia
đình và không muốn về nhà. Nghiên cứu những lầm
lẫn như vậy có thể đưa nhà phân tâm học đi vào cõi
vô thức đầy rối rắm của con người.
Người ta còn tự giải
thoát được những gì bị dồn nén nhờ biết giễu cợt.
Giễu cợt đã được Freud mệnh danh là “cái nắp xả
hơi tối tân và an toàn nhất mà con người đã dần
tạo ra được” vì chính nhờ giễu cợt mà chúng ta tạm
thời thoát ra khỏi những dồn nén mà cái xã hội lễ
giáo này đòi hỏi chúng ta phải che giấu đi.
Có thể vì những phản
ứng chung quanh hoặc vì càng ngày càng bất mãn hay
bi quan, khi về già Freud tỏ ra lo lắng về cái chết
(bản năng đi đến cái chết). Có lần ông quan niệm
“bản năng chết” này quan trọng ngang với bản năng
tính dục. Freud cho rằng có một “bản năng đi đến
cái chết” thúc đẩy tất cả những thứ đang sống trở
về trạng thái vô cơ (không sống). Bản năng này cũng
làm biến dạng mọi vật. Theo quan điểm ấy con người
luôn luôn bị xâu xé giữa nhu cầu tức bản năng sinh
lý và một sức mạnh đối kháng, sự thôi thúc của hủy
diệt, hay là bản năng tử vong. Lẽ dĩ nhiên thì cuối
cùng bản năng tử vong đã chiến thắng. Bản năng này
gây ra chiến tranh và những thú đê hèn đồi bại như
gây tổn hại cho dòng giống và giai cấp, gây ra niềm
thích thú hạ đẳng khi xem những vụ xử tội phạm,
đấu bò rừng, và xử lăng trì tùng xẻo.
Tóm lại, những điều
vừa nói trên là những khía cạnh của học thuyết Freud.
Các nhà phân tâm học ngày nay cũng chia ra làm hai
hay hơn nữa, phe phái chống đối nhau, một phe chống
lại và một phe hùa theo Freud. Alfried Adler, một
trong những học trò đi theo Freud ngay từ đầu đã
tách ra khỏi nhóm Freud vì ông tin rằng Freud đã
quá quan trọng hóa bản năng tính dục. Và đây là
học thuyết của Adler đối lại Freud. Theo Adler thì
niềm mong muốn tỏ ra mình hơn đồng loại là động
lực chính lối cư xử của con người. Ông đã mở rộng
ý tưởng về “mặc cảm tự ti”. Mặc cảm này thúc giục
mỗi cá nhân con người cố gắng có một hoạt động để
người khác thừa nhận mình. Một nhà ly khai nổi danh
khác là Karl Jung ở Zurich cũng đã cố gắng làm giảm
bớt tầm quan trọng của vai trò tính dục (sex). Jung
chia nhân loại ra làm hai loại tâm lý: loại hướng
ngoại và loại hướng nội, mặc dù ông vẫn thừa nhận
rằng mỗi cá nhân đều là một hỗn hợp của hai loại
tâm lý đó. Khác với Freud, Jung nhấn mạnh vào yếu
tố di truyền trong sự phát triển nhân cách.
Nói chung những người
phê phán Freud đã tách rời khỏi Freud vì những bất
đồng như: Freud quá nhấn mạnh vào ý nghĩa khởi đầu
của bệnh tâm thần thơ ấu, Freud tin rằng chính những
bản năng dữ dội, tối sơ đã giám sát con người. Cũng
có một số người đã không đồng ý với Freud tin rằng
“tự do liên tưởng” là một kỹ thuật không thể sai
lầm trong việc thám hiểm cõi vô thức của con người.
Họ đặc biệt nêu ra những khó khăn trong việc giải
thích những dữ kiện do phương pháp ấy đem lại.
Tuy
nhiên, một nhà tâm thần học, đã nhận xét lại:
“Những biến đổi và
phát triển trong sáu chục năm qua đã không hề làm
giảm giá trị tinh thần hay ảnh hưởng của Freud.
Ông đã phát hiện ra cõi vô thức. Ông đã cho biết
vô thức ấy giúp tạo thành cái “tôi” như thế nào
và ta phải làm thế nào để đạt tới nó. Các nhà phân
tâm học sau đó đã thay đổi nội dung nhiều ý tưởng
và khái niệm của Freud dưới ánh sáng của những kinh
nghiệm sâu xa hơn. Quý độc giả có thể bảo rằng các
nhà phân tâm học này đã viết được một cuốn Tân ước
về tâm thần bệnh học, còn Freud thì viết cuốn Cựu
ước. Tác phẩm của Freud sẽ vẫn là tác phẩm nền móng”.
Đa số thái độ hiện
nay của chúng ta đối với bệnh điên đều do Freud
mà có. Hiện nay có khuynh hướng cho rằng “Bệnh nhân
tâm thần đều giống y như chúng ta, chỉ khác là họ
đã giống nhiều hơn mà thôi”. Alexander Reid Martin
nhấn mạnh: “Dù thừa nhận hay chối bỏ học thuyết
Freud thì hiện nay tất cả những bệnh viện tâm thần
đều sử dụng những yếu tố và những nguyên lý cơ bản
trong khoa tâm lý học của Freud. Cái mà trước đây
được coi như một thế giới bí hiểm, cấm ngăn, kỳ
cục, không đâu vào đâu, vô nghĩa thì qua Freud,
đã trở thành sáng sủa đầy ý nghĩa, không những được
y học mà còn được tất cả các khoa học xã hội thừa
nhận và chú ý tới”.
Ảnh hưởng của học
thuyết Freud đối với văn học và nghệ thuật cũng
đáng chú ý không kém. Trong tiểu thuyết, thơ, kịch
và các hình thức văn chương khác, những ý tưởng
chính của Freud đã được phát triển trong ít năm
gần đây. Bernard Dana Evans Voto đã miêu tả quan
niệm là “chưa có một nhà khoa học nào khác có một
ảnh hưởng mạnh mẽ và rộng rãi đến văn học như Freud”.
Ảnh hưởng của Freud trong hội họa, điêu khắc và
thế giới nghệ thuật nói chung cũng sâu xa không
kém.
Tóm tắt lại, đánh
giá sự đóng góp phức tạp của thiên tài Freud là
việc vô cùng khó khăn vì phạm vi ông quan tâm quá
rộng và vì tính chất mâu thuẫn trong những khám
phá của ông. Một nhà văn Anh, Robert Hamilton đã
cố gắng làm công việc ấy, ông đánh giá như sau:
“Freud đã vẽ bản
đồ khoa học tâm lý học. Ông là một nhà tiên phong
vĩ đại và phần lớn những thành công của ông là nhờ
ở cái mới lạ cùng bút pháp của ông. Mặc dù phương
pháp này có mặt đáng hoài nghi, nhưng chưa bao giờ
có một phương pháp nào lý thú hơn và mới lạ hơn,
ngay cả về mặt bút pháp nếu không kể loại thuần
túy văn chương, cũng chưa bao giờ có một bút pháp
nào quyến rũ hơn của Freud. Ông đã buộc thế giới
phải suy tư theo kiểu tâm lý học, đó là một nhu
cầu cốt yếu của thời đại chúng ta. Ông cũng đã buộc
con người phải tự đặt cho mình những câu hỏi liên
quan đến hạnh phúc của loài người. Đánh đổ luận
thuyết tâm lý khô khan, cầu kỳ của thế kỷ mười chín,
Freud đã đưa ra phản luận “phân tâm” chứa đầy rối
ren”.
Một nhà tâm thần
học Hoa kỳ nổi tiếng là Frederic Wertham đã đứng
trên một quan điểm khác để nhận định về trường hợp
của Freud như sau:
“Phải thừa nhận rằng
ngoài một số lớn sự kiện bệnh lý của các bệnh nhân
mà ông quan sát được, Freud đã đem lại ba thay đổi
cơ bản trên con đường nghiên cứu về nhân cách và
tâm thần bệnh lý. Điều thứ nhất là ít ra ông đã
nói về những phương pháp tâm lý và đã suy từ những
phương pháp ấy với cách lý luận của khoa học tự
nhiên. Điều đó chỉ thực hiện được khi mà Freud đưa
ra khái niệm thực tế về cõi vô thức và những phương
pháp thực tiễn để khảo sát nó. Điều thứ hai là Freud
đã tìm ra một khía cạnh mới cho môn tâm thần bệnh
lý học. Đó là tuổi thơ. Trước Freud, khoa tâm thần
bệnh học đã chữa trị theo cách coi mỗi bệnh nhân
như một Adam, con người chưa bao giờ sống qua tuổi
thơ. Điều thứ ba, ông đã mở đầu sự hiểu biết về
sự di truyền của tính dục. Phát hiện thực sự của
ông ở đây là bản năng tính dục ở dạng tiềm ẩn nhiều
hơn là trẻ con có đời sống tính dục”.
Một sự đánh giá tương
tự đã được A.G.Tansley diễn tả trong bài kỷ niệm
Freud viết cho Hội Khoa học Hoàng gia Luân đôn:
“Tính cách mạng trong
những kết luận của Freud sẽ trở thành dễ hiểu nếu
chúng ta nhớ lại rằng ông đã thám hiểm một lĩnh
vực hoàn toàn chưa ai thám hiểm, lĩnh vực của trí
não con người mà trước ông chưa ai bước vào. Những
hiện tượng rõ rệt của lĩnh vực trí não này, vốn
bị coi là không thể giải thích đựơc hay bị coi như
là những thác loạn thần kinh, hoặc bị bỏ qua vì
những hiện tượng này thuộc về những cấm kỵ nghiêm
khắc nhất của con người. Sự tồn tại của lĩnh vực
này trước kia không được thừa nhận. Freud buộc lòng
phải khẳng định cõi vô thức của trí não là có thực
để rồi cố gắng thám hiểm, khám phá miền đất đó ”.
Sau đó, Winfred Overholser
đã nhận định: “Có nhiều lý do để nói rằng từ một
năm nay Freud được đặt ngang hàng với Copernicus
và Newton và là một trong những vĩ nhân đã mở ra
những chân trời mới cho tư tưởng con người. Một
điều chắc chắn là ở thời đại chúng ta chưa ai lại
đem nhiều ánh sáng dọi vào sự hoạt động trí não
của con người nhiều bằng Freud”.
Những tháng cuối
cùng trong cuộc đời dài dằng dặc của Freud đã diễn
ra trong tình trạng lưu đày. Sau khi Đức quốc xã
chiếm đóng nước áo, ông buộc phải rời Vienna vào
năm 1938. Nước Anh chấp nhận ông cư ngụ, nhưng chưa
được một năm sau thì ông đã mất vì bệnh ung thư
miệng, vào khoảng tháng chín năm 1939.
Jostein
Gaarder

|