|  VƯỜN
HỒNG

Thế
Lữ: Thơ ca và Sự nghiệp
Nhà
thơ Thế-Lữ tên thật là Nguyễn thứ Lễ, sinh tháng
10 năm Đinh- mùi (1907).
Trong quyển Thi-Nhân Việt-Nam có ghi sau đây: nơi
sinh Thế-Lữ lấy làm lạ, người nhà "Nói là Thái
Hà, ấp Hà-nội, còn thi-sĩ thì cứ tưởng là Lạng sơn,
nơi đã ở từ khi còn bé đến năm 11 tuổi. 11 tuổi
xuống Hải- phòng học đến năm thứ 3 Thành chung thì
bỏ. Có chân trong Tự-lực văn đoàn và các tòa soạn:
Báo Phong-hóa, Ngày nay, Tinh hoa.
Đã xuất bản: Mấy Vần Thơ, Vàng Và Máu, Bên Đường
Thiên Lôi, Gió Trăng Ngàn, Trại Bồ Tùng Linh, Ba
Hồi Kinh Dị, Con Quỷ Truyền Kiếp, Lê Phong Phóng
Viên, Gói Thuốc Lá, Đòn Hẹn, Mấy Vần Thơ, tập mới
(1962).
Hiện nay Thế-Lữ ở miền Bắc. Văn nghệ -- ngoài ấy
là thứ văn nghệ hiện thực, một chiều hướng với xã
hội chủ nghĩa. Chúng ta đứng trên bìnhđiện thi-ca,
và thơ khác với những tính-chất tuyên truyền, khác
với những lý-thuyết chính trị. Chúng ta không đề
cập đến con người của Thế- Lữ ngày nay mà chỉ nhớ
đến Thế-Lữ của thời vang bóng ngày xưa, thời: Thế-Lữ
của thi-ca lãng-mạn và Thế-Lữ, một thi nhân có công
trong phong- trào thơ mới tiền-chiến.
Giỗ giấc ngủ thanh bình ta tìm về Thế-Lữ... hình
ảnh nhà tiên thi đó hiện ra bồng lớn trên những
dãy ngân hà của thế giới thần tiên.
Ô hay! cái thành công của cuộc đời nào đâu đã là
chân lý, những vần thơ thực thế nào phải là thơ.
Hoài Chân - Hoài Thanh bởi quá nặng tình với đời
mà quên rằng... tâm hồn phiêu lưu về nẻo kỳ mộng
của khách thơ không phải trong gió bụi. Có bao giờ
người ta mới nhìn thấy được trong cái lạnh lùng
tạnh vắng của hư không, của hắc ám, của hoan lạc,
của trần ai bụi phủ. Nó hiện lên cảnh trí thanh-bình.
Ta hãy đi tìm trở về non nước chiêm bao... vì chiêm
bao mới thực là lẽ sống của lòng người. Chúng ta
cầu mong những linh hồn quá đau thương hãy về quần
tụ cả trong thế giới thần tiên đó, với ngày tháng
lung linh mộng, để mà lắng nghe giọng hót của một
loài chim truyền kỳ chớp cánh giữa đảo quạnh mù
sương, mang lại tiếng nói của mùa xuân vĩnh cửu.
Bao nhiêu lao khổ nhục nhằn, những thực tại bi
thảm đó chưa vừa ư mà còn gọi nhau đá đấm! Bao nhiêu
lương tâm bị xô xé chưa vừa ư, còn phanh phui toan
mang gót giầy đinh mà dẫm lên... bao nhiêu điêu
tàn đổ vỡ trên cõi đời chưa vừa ư mà cứ hiu hiu
dở tuồng anh hùng tuấn sĩ... để tàn gục vì trò định
mệnh. Một giòng thơ nhẹ nhàng có tác dụng đẹp và
cao nhã hơn nghn trang lý thuyết khó cỗi.
Cái nụ cười mà bọn trưởng giả trí thức... các nhà
tư tưởng lấy đôi mắt gọng kính mà nhìn bốn chân
trời bát ngát của thơ thì thực có nhìn thấy gì đâu,
chỉ thấy màu hoang tàn đổ xiêu trong cặp kính màu
bệnh hoạn ấy thôi.
Thời kỳ Thế-Lữ là một thời mà người ta còn một
niềm tin vào thi ngữ với vũ trụ thơ của mộng tình.
Một thời pha màu sương khói của đường thi và tuyết
mơ của văn học tây phương mười tám... thời kỳ mà
trên tinh thần thi ca còn có một đền mộng của lịch
sử nhân gian... còn có một niềm kính yêu với tạo
vật... nhất là còn yên ổn để chơi thơ... thơ mà
không chơi thì đếch có ra gì cả... Thơ mà làm như
Tố Hữu sau này thì đếch phải thơ... không hiểu Nàng
thơ quí phái như thế, bắt nàng thơ vùi trong hầm
mỏ tro than thì nàng thơ sẽ chết gục ngay... xin
đừng biện luận về thơ nữa các ngài duy vật ạ!
Cỏ cây giao tình, xuân sắc đượm ngát hương thơm...
lòng người mơn trớn, trong hoa chim mách lẽo, gió
mơn trớn hoa và hoa điểm tô cho vườn ngự của nhân
gian thêm phần diễm ảo, cảnh nào bằng trong Mộng
ảnh:
Người đẹp đứng bên nguồn
Óng ả như mình liễu
Mai tóc lả lơi buông
Mặc gió cành trêu ghẹo
Thơ đến kỳ tuyệt là điểm linh hồn trong mộng ảnh
lung linh, ngôn ngữ rực sáng như ngọn hải đăng giữa
mù sương đó là thơ không biện luận, không giải thích...
Thơ có viễn tượng, nghệ thuật thơ siêu thực là nối
được viễn tượng ngôn ngữ chứ không phải tạo những
hình bóng quái dị, một tâm-não loạn, một lương tri
quê quặc, ghê khiếp... xin các ngài đừng nghĩ là
người viết bài khinh hay oán cõi đời, muốn làm cho
lẽ đời cao đẹp, không phải cựa quyậy ở trong cõi
tù túng được:
Trèo lên trên đỉnh non cao
Nghe lời chim gọi, gió dào dạt thưa...
để nhìn thấy:
Sóng rờn đôi mắt lung lay
Tình xuân nồng đượm đôi mày thanh thanh
Cười duyên đắm đuối trời tình
Lòng ta như muốn tan thành hư không
để cảm biết được cái chân lý:
Ta ôm thiếu nữ trong lòng
Người yêu thoắt biến thành bông hoa rừng
Sự thật ở đâu, thoát ẩn thoát hiện cả cái nhan
sắc của trần gian này cũng hồ nhu ảo, như chân...
mộng và thực giao thoa, chỉ còn lại gì, thưa...
còn lại:
Bông hoa nay vẫn còn hương
Lòng ta còn mối đau thương không cùng
Đính hoa ở một bên lòng
Ngàn năm tiếc giấc mơ màng khi xưa
Mộng ngàn năm... đó là viễn tượng, đó là tình thiên
thu, đó là cái mà định mệnh ác liệt không làm tan
nát được, còn tất cả xin thưa... chỉ là hư ảnh,
chỉ là phù du thôi... đau lòng mà nhìn cái hiện
hoạt cõi đời như thế; chỉ có những vần thơ nhẹ tuyệt
mù sương mỏng mới tạo được cái nghĩa phù du mà vô
cùng vĩnh viễn đó:
Hỏi xem mây có duyên gì,
Mà con chim én đi về lững lơ
Bởi vì trong cõi đời:
Cũng như em tâm hồn ta đã lạnh
Tự lâu rồi, từ cái thuở xa xăm
Niềm hoài vọng ý thiết tha, bám chặt mười ngón
tay vào cõi đời, nhất mực yêu từng ngọn cây cuốn
lá, từng bước xuôi ngược gian nan muốn nghe được
cả nỗi sầu nhân thế trong tiếng hát cung đàn, giữa
phường lầu xanh, giữa hồ trăng hay tận hoàng hôn
ngất lạnh. Tình yêu nghệ thuật, say đắm vẻ đẹp,
thông cảm khổ đau, và tìm về một chân trời mộng
tưởng hào hoa đó là cái lẽ đẹp say đắm của nhà thi
sĩ ở giữa Hà-nội mưa phùn... Và đó là giấc mộng
vàng... mộng tưởng quá xa xôi, đầm thấm và trẻ trung
của một thuở thanh bình ngày nọ...
* Trích Thi Ca Việt Nam Hiện Đại của Trần Tuấn Khải.
Tài liệu
+ Mấy Vần Thơ (Tập Mới) của Thế Lữ.
+ Thi Nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân.
+ Thi Ca Việt Nam Hiện Đại của Trần Tuấn Khải.

|