| 
Nguyễn
Duy Chính
ĐÔNG Y
Cho đến gần
đây, ở các nước Âu Mỹ người ta vẫn nghĩ rằng chỉ
có Tây y là có căn bản khoa học và có giá trị, những
phương pháp chữa trị khác đều bị hạn chế, không
đáng tin cậy. Thế nhưng những khủng hoảng về y tế
mới đây, cả trên việc chữa chạy một số bệnh trầm
kha lẫn phí tổn điều trị đã khiến cho người ta phải
xét lại nhiều quan điểm, trong đó có cả việc chấp
nhận một số phương pháp luân chuyển (alternative
medicine) để phụ với y thuật qui ước (conventional
medicine). Tuy nhiên, bên cạnh những phương pháp
chữa bệnh tương đối thô sơ và một số hình thức ngoại
khoa mà hiệu quả còn đang trong vòng nghiên cứu
của nhiều bộ môn dân gian, những y gia Âu Mỹ đang
tìm hiểu và đánh giá lại y học Trung Hoa, vì đây
không phải chỉ giản dị là một ngành thảo dược y
(herbal medicine), dùng một số cây cỏ trong thiên
nhiên để chữa bệnh thuần túy do kinh nghiệm cổ truyền
như người ta thường thấy trong một số bộ lạc thiểu
số.
Y học Trung Hoa có một quá trình lâu dài, có cơ
sở lý luận và có cách thức điều trị, bao gồm cả
phương (toa thuốc) lẫn pháp (cách lý luận). Nhiều
đặc điểm và quan niệm y khoa của Trung Hoa được
xem là rất tiến bộ, về cả phép chữa lẫn cách bào
chế thuốc. Đông y cho rằng trị bệnh phải trị từ
lúc bệnh chưa phát, mỗi cá nhân là một tiểu vũ trụ
có những nét đặc thù và vì thế thuốc men liều lượng
phải gia giảm tùy từng người, tùy từng lúc, và đối
với mỗi con bệnh, người thầy thuốc phải đưa ra một
chiến lược khác nhau, uyển chuyển linh động, lúc
tiến lúc thoái, khi kinh khi quyền chẳng khác gì
một viên tướng ngoài mặt trận. Người thầy thuốc
lại không hành xử như một nghề chuyên môn, mà thường
phải nắm vững tình trạng sinh hoạt và tâm tính bệnh
nhân, nhiều khi phải ở chung với gia chủ một thời
gian trước khi đưa ra một biện pháp chữa trị. Biện
pháp đó có thể bao gồm nhiều cách thức, đổi cách
ăn uống, tập luyện thân thể, quan niệm sống. Nhiều
danh y vốn dĩ là đạo sĩ, tinh thông nhiều ngành
bao gồm tam giáo cửu lưu. Hoa Đà, một danh y đời
Tam quốc cũng là người sáng tạo ra Ngũ Cầm Hí, một
phương pháp tập luyện dựa theo động tác của năm
loài vật. Mỗi thang thuốc là một tổng hợp cân đối
dùng để điều chỉnh lại những mất thăng bằng, giúp
cho con bệnh có đủ sức để đối kháng lại ngoại tà
chứ không thay thế con bệnh làm nhiệm vụ phòng chống
bệnh. Những quan niệm âm dương, khí huyết, tạng
phủ, kinh lạc … không phải chỉ là một mớ tín niệm
mơ hồ mà nhiều phần đã được kiểm chứng một cách
khoa học.
Một trong những vấn nạn lớn khi người Âu Tây nghiên
cứu về y thuật Trung Hoa là họ muốn coi y học như
một ngành riêng mà quên rằng quan niệm chữa bệnh
bắt nguồn và tồn tại theo đời sống. Đối với cổ nhân,
chữa bệnh chỉ là một giai đoạn, giai đoạn bất đắc
dĩ sau cùng phải thực hiện khi mọi phương thức khác
đã thất bại. Để làm sao khỏe mạnh, người ta đã phải
thông hiểu nhiều bộ môn khác, từ ẩm thực, đến dưỡng
sinh, khí công, đạo dẫn, thổ nạp. Đó là chưa kể
một số bàng môn khác, tuy không trực tiếp liên quan
đến sức khỏe nhưng lại giúp cho con người sống đạt
quan hơn như mệnh lý, phong thủy, thiên văn, lịch
số. Tất cả các môn đó đều từ một nguồn, từ một quan
điểm mà người ta cho là mọi thứ trong trời đất đều
cùng một thể và nếu như nhất pháp thông, thì vạn
pháp thông. Chính đó là tâm điểm nở ra thành nền
văn minh Trung Hoa. Trong bài này, chúng tôi chỉ
làm nhiệm vụ biên khảo rất thô thiển, nhằm trình
bày một số dữ kiện hơn là đi vào lý luận của Đông
y.
Lịch sử
Y học Trung Hoa được hình thành do kinh nghiệm chữa
bệnh trong nhiều ngàn năm, bao gồm cả các loại thuốc
dân gian lẫn phương pháp lý luận. Sách vở về đông
y tổng cộng từ trước đến nay có đến 6000 quyển,
chép đầy đủ cả phòng bệnh, chữa bệnh. Ngoài việc
dùng thuốc, đông y còn bao gồm cả châm cứu, xoa
bóp, đạo dẫn (hô hấp, thổ nạp, khí công) và những
phương pháp ngoại khoa. Các loại dược vật cũng thật
phong phú, trong các loại sách bản thảo chép có
khoảng 2500 loại khác nhau và cho tới nay nhiều
học giả, y sĩ vẫn tiếp tục nghiên cứu để kết hợp
cả đông y lẫn tây y hình thành một khoa học tân
đông y, tân đông dược.
Cứ theo các học giả về Trung Hoa, ngay từ thời thượng
cổ, con người khi đấu tranh để sống còn đã phải
đối phó với những thiên tai, rắn độc, thú dữ và
phải quan tâm đến việc phòng và trị bệnh. Thời kỳ
đồ đá, người ta dùng những dụng cụ nhọn để mổ những
mụn nhọt, khởi đầu cho phương pháp châm thích. Đến
khi tìm ra lửa, dùng hơi nóng, để sưởi ấm, xoa bóp
và làm giảm đau khởi đầu cho phương pháp ngải cứu
và thôi nã. Những hiện tượng đó phát triển tự nhiên
không phải ở một nơi mà hầu như ở bất cứ dân tộc
nào trên thế giới. Chữa bệnh và dùng thuốc phát
triển tự nhiên theo con người. Chính vì liên hệ
trực tiếp đến đời sống, y dược có những điều kiện,
ảnh hưởng và hạn chế, theo hoàn cảnh xã hội, chính
trị, kinh tế, khoa học, văn hóa của mỗi thời đại.
Theo sử Tàu, thời viễn cổ, vì nhu cầu sinh tồn,
con người phải làm “tổ” trên cây để tránh mưa nắng,
gió bão và thú dữ. Sau đó, vì khí hậu và nóng lạnh,
di chuyển xuống hang động thiên nhiên, và biết cách
dùng da thú hay vỏ cây để che thân. Tới khi nhân
loại biết tập hợp thành bầy, việc sinh sống có tổ
chức hơn, nên tìm cách làm nhà để ở. Theo Họa Sách
trong Thương Quân Thư thì “vào thời vua Thần Nông,
đàn ông trồng tỉa để kiếm đồ ăn, đàn bà dệt vải
để làm quần áo”. Thời kỳ đó, việc làm sao có thể
sống còn là điều quan trọng hơn hết.
Ở thời kỳ hái lượm, con người đi tìm thức ăn bằng
cách thử các loại thảo mộc, thực và động vật. Từ
những kinh nghiệm thực tế, họ biết được loại nào
độc, loại nào không, loại nào ăn được, loại nào
không ăn được. Cũng như những loài thú khác, con
người còn có bản năng biết tìm đến những loại thực
phẩm thiên nhiên để trị bệnh và từ đó tích lũy thành
kiến thức về thuốc men. Trong Tu Vụ Huấn, sách Hoài
Nam Tử có chép: Vua Thần Nông nếm trăm loại cây
cỏ để xem tư vị ra sao, uống các loại nước suối
xem ngọt đắng thế nào, để cho dân biết cái nào nên,
cái nào tránh. Lẽ dĩ nhiên chuyện này không phải
thực mà chỉ để giải thích về quá trình kinh nghiệm
mà người ta nghĩ là thời thượng cổ, cách duy nhất
để tìm hiểu dược tính là dùng thử xem hậu quả ra
sao.
Khi xã hội chuyển từ thời hái lượm sang thời kỳ
bộ tộc, con người biết hợp quần thành nhóm, có tôn
ti trên dưới, biết sản xuất vật chất một cách hệ
thống hơn, của cải ngày một nhiều, sinh hoạt văn
hóa cũng theo đó mà dồi dào. Y học vì thế cũng tiến
bộ. Theo những tài liệu viết bằng lối chữ cổ viết
trên mai rùa và xương thú (giáp cốt văn) đào được
ở Hồ Nam vào năm 1899, đời Quang Tự nhà Thanh, thì
ngay từ thời Ân Thương người ta đã biết nhiều loại
bệnh chẳng hạn như đau đầu, đau tai, đau mắt, đau
mũi, đau răng … Xem một số chữ tượng hình có thể
hiểu được là thời đó người ta đã có một số ý niệm
về bệnh chứng. Tuy nhiên, cũng như những xã hội
thái sơ khác, người đời đó cho rằng bệnh tật là
do ma quỉ làm nên việc chữa bệnh luôn luôn gắn liền
với thần quyền, thể hiện bằng cầu cúng, trừ tà,
bắt ma, y học với tôn giáo cũng khó phân biệt, và
thời đó thầy thuốc với các pháp sư, đồng cốt là
một. Người ta cho rằng chữ shaman ngày nay dùng
để chỉ các thầy pháp trong những bộ lạc chính là
từ chữ phạn sramana để chỉ giai cấp tăng lữ, sau
chuyển sang Hán ngữ thành sa môn. Thời kỳ đó, những
pháp sư cũng là những người đi tiên phong về khoa
học và y thuật, sau này thành tầng lớp đạo sĩ.
Tới thời Xuân Thu Chiến Quốc, xã hội Trung Hoa đã
chuyển sang thời kỳ phong kiến. Vào thời kỳ này
nhiều mặt sinh hoạt và tư tưởng đã tiến bộ rõ rệt.
Chính trị, văn hóa, kinh tế biến đổi hẳn. Từ việc
sử dụng mai rùa, phiến đá, da thú để ghi chép, người
Trung Hoa đã biết dùng thanh tre, thanh gỗ và lụa
để viết. Nhiều tài liệu có liên quan đến y thuật
đã được các nhà khảo cổ tìm thấy trong thời gian
gần đây. Trong những khai quật năm 1972, 73, 74
ở Cam Túc và nhất là tại đồi Mã Vương, Trường Sa,
tỉnh Hồ Nam người ta đào được hơn 600 thanh tre
và gỗ, trên đó không những ghi chép một số bệnh
tật mà còn khoảng một trăm vị thuốc, cùng nhiều
phương pháp chữa bệnh bao gồm cả châm (accupunture)
và cứu (moxibustion). Đặc biệt nhất, trong hai trăm
thanh có ghi một số lý luận của Đông Y, viết theo
cùng một phong cách như Hoàng Đế Nội Kinh và Ngoại
Kinh. Ngoài ra, y thuật cũng có những bước ngoặt
mới. Theo lịch sử, thời đó những thầy thuốc đã thành
một nghề chuyên môn, chia ra nhiều ngành như nội
khoa, phụ khoa, trẻ con, ngũ quan và cả thú y nữa.
Y thuật lại cũng có nhiều phương pháp gồm cả châm
cứu, thảo mộc, và mạch lý. Thời Chiến Quốc, Biển
Thước[1] nước Tề đã nghiên cứu và lý luận về kinh
mạch. Cũng thời đó, thầy thuốc tách ra thành một
tầng lớp riêng, và đã phản đối phương thức trị bệnh
của bọn vu thuật (đồng cốt, pháp sư) coi đó là tà
môn không đúng đắn. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên,
Biển Thước Thương Công Liệt Truyện thì có sáu chứng,
nếu phạm vào thì lương y cũng không thể trị được,
trong đó “tin đồng cốt không tin thầy thuốc” là
một loại, tỏ ra rằng ngay từ thời bấy giờ người
ta đã muốn tách rời y thuật và phương thuật.
Vì chưng kinh nghiệm ngày một thêm nhiều, nên thời
Chiến Quốc, các y gia đã tổng kết lại, mượn danh
Hoàng Đế, soạn thành sách “Nội Kinh” bao gồm mười
tám quyển, gồm phần “Tố Vấn” chín quyển, và “Linh
Khu” chín quyển. Đây là bộ sách thuốc đầu tiên của
Trung Hoa, trong đó có đủ cả giải phẫu, sinh lý,
bệnh lý, chẩn đoán, và trị liệu. Những nguyên tắc
được xiển thuật trong sách này đến nay vẫn còn là
căn bản cho những ai muốn nghiên cứu về Đông y.
Bộ sách cũng đưa ra nhiều quan điểm rất hợp lý và
khoa học, chẳng hạn tương quan giữa con người và
thiên nhiên, sự biến chuyển của môi trường ảnh hưởng
đến sức khỏe như thế nào. Vì bệnh tật với thời tiết,
khí hậu có liên hệ chặt chẽ, nên mỗi địa phương,
mỗi hoàn cảnh cần những phương pháp trị liệu khác
nhau. Sách cũng nhấn mạnh vào việc trị bệnh từ khi
chưa phát (trị vị bệnh, trị bệnh tất cầu ư bản)
và khẳng định một nguyên tắc độc đáo là bệnh bị
coi là bất khả trị là do chưa biết rõ căn bệnh như
thế nào, hoặc người thầy thuốc chưa có đầy đủ kinh
nghiệm, hiểu biết đồng thời cũng phản đối trị bệnh
bằng hình thức mê tín, thiếu cơ sở.
“Nội Kinh” có từ bao giờ cho đến nay vẫn còn là
điều tranh cãi. Một thuyết cho là một sản phẩm tổng
kết kinh nghiệm của y gia kéo dài nhiều thế kỷ bắt
đầu từ thời Chiến Quốc tới thời Tây Hán thì hoàn
thành. Tuy nhiên, cũng như nhiều sách vở các ngành
khác, y thư đều không còn nguyên bản mà đời nào
cũng có người thêm thắt, san nhuận. Để cho thêm
mức khả tín, nhiều phương sĩ không tự mình viết
một quyển sách riêng mà sửa đổi và thêm vào sách
cũ những quan điểm của mình, thác danh là của tiền
nhân. Vì chưng không phải do một người làm nên lý
thuyết trong cũng có chỗ mâu thuẫn, nhưng đại để
đều là những diễn dịch từ triết học âm dương, ngũ
hành mà ra.
Âm dương, ngũ hành là một học thuyết giải thích
tự nhiên, nhằm phi bác quan điểm quỉ thần, làm cơ
sở cho việc phát triển của y học trong một mức độ
nào đó. Thế nhưng phương pháp lý luận đó chưa hoàn
toàn giải thích được mọi vấn đề nên vì thế y học
cũng bị giới hạn theo. Học thuyết này xuất phát
từ quan niệm Thiên Nhân Hợp Nhất, coi con người
là một vũ trụ thu nhỏ, cái gì trời có thì người
cũng có, áp dụng và suy diễn trong nhiều ngành mà
chúng ta thấy nhan nhản trong thiên văn, phong thủy,
tướng thuật, tử vi, tử bình … Người ta lý luận “đầu
tượng trời nên tròn, chân tượng đất nên vuông, trời
có nhật nguyệt, người có hai mắt, trời có bốn mùa,
người có tứ chi. Trời có mùa đông, mùa hạ, người
có hàn nhiệt, trời có tinh tú, người có răng xương
…” Ngoài ra, Nội Kinh cũng đem cả những hiện tượng
xã hội để giải thích y học, chẳng hạn như phân nội
tạng ra quí tiện, dùng quân, thần, tương, tướng
để mô tả các cơ năng, tạng tâm là quân (vua), đản
trung là thần (bầy tôi), can là tướng (quan võ),
phế là tương (quan văn). Nếu trên có minh chúa thì
bên dưới yên ổn, thiên hạ xương thịnh. Việc chữa
bệnh chủ yếu là tái tạo quân bình, bổ chỗ bất túc,
tả chỗ hữu dư v ... v ... đều rút ra từ quan điểm
hình nhi thượng học và xã hội học của Nho gia.
Sau Nội Kinh, nhiều tác phẩm khác cũng do tập hợp
những kinh nghiệm cũ và bổ túc bằng những đóng góp
mới mà thành. Đó là Bản Thảo Kinh, Thương Hàn Luận,
và Kim Quĩ Yếu Lược, cộng với Nội Kinh được coi
là bốn bộ kinh điển của y gia.
Bản Thảo Kinh tên nguyên thủy là Thần Nông Bản Thảo
Kinh, được hình thành vào khoảng cuối đời Đông Hán,
là của người sau thác danh họ Thần Nông sáng tác.
Tác phẩm này tập hợp những kinh nghiệm về dược vật
từ đời Hán trở về trước, tất cả 365 loại, trong
đó thực vật chiếm đa số (252 vị), kế là động vật
(67 vị) và sau cùng là khoáng thạch (46 vị) và có
thể coi là cuốn sách về dược học đầu tiên của Trung
Hoa. Dược thảo được chia làm ba loại, thượng đẳng,
trung đẳng và hạ đẳng. Thượng đẳng là những loại
thuốc ích khí, dùng lâu không có hại gồm 120 vị.
Trung đẳng là những vị thuốc bổ gồm 120 vị. Hạ đẳng
là thuốc chữa bệnh gồm 125 vị. Những món thuốc bắc
thông thường đến nay vẫn còn dùng chẳng hạn như
đại hoàng để thông tiện, lôi hoàn để sát trùng,
hoàng liên dùng trị bệnh kiết lỵ, đương qui để điều
kinh, thường sơn để trị sốt rét … đều có chép trong
bộ sách này.
Người ta thấy rằng ngay từ đời Hán người Tàu đã
có những nhận định chính xác về nhiều loại dược
vật, và cũng có những kinh nghiệm phong phú về việc
sử dụng những loại thuốc đó. Hoa Đà đời Hán đã biết
dùng những loại ma túy trong mổ xẻ, châm chích mụn
nhọt trong những môn ngoại khoa. Trong một ngôi
mộ đời Hán tại gò Mã Vương, Trường Sa người ta đã
đào được những loại dược vật đã bào chế tinh vi
chứng tỏ ngay từ hơn hai nghìn năm trước người Tàu
đã biết dùng thuốc để giữ cho thực phẩm khỏi hủ
nát. Tuy nhiên, trong Bản Thảo Kinh, cũng như bất
cứ sách vở nào của Trung Hoa còn truyền lại đều
không thiếu những thêm thắt của bọn phương, thuật
sĩ cho ly kỳ, dùng vào những mục tiêu không thiết
thực, chẳng hạn thuốc chống thối thì dùng để ướp
xác, thuốc bổ dùng vào việc phục vụ khoái lạc hay
trường sinh.
Thương Hàn Luận và Kim Quĩ Yếu Lược, trước đây là
cùng chung một bộ sách có tên là Thương Hàn Tạp
Bệnh Luận do Trương Cơ (Trọng Cảnh) hồi cuối đời
Đông Hán sáng tác. Cuốn sách tổng kết kinh nghiệm
trị bệnh, phòng bệnh, các lý luận y khoa thêm kinh
nghiệm định bệnh (lâm sàng) về thương hàn và tạp
bệnh. Sách này đưa ra biện chứng định và chữa bệnh
là một tác phẩm quan trọng trong tiến trình phát
triển của Trung Y, chuyển từ một bộ môn chỉ dùng
kinh nghiệm sang một khoa học lý luận có phương
pháp. Người ta thấy rằng tương quan giữa văn hóa
và y khoa rất mật thiết. Rất nhiều hệ luận và kết
quả của tư tưởng được đem vào y học.
Ngoài bốn bộ sách cổ nêu trên, trên phương diện
thảo dược học, đời nhà Lương có Đào Hoằng Cảnh chỉnh
đốn lại Thần Nông Bản Thảo Kinh, tu đính thành bộ
Danh Y Biệt Lục. Bộ sách này tăng số lượng dược
thảo lên tới 730 vị nghĩa là gần gấp đôi bộ Bản
Thảo Kinh. Cả hai được gộp lại thành bộ Bản Thảo
Kinh Tập Chú là bộ sách Trung dược đầu tiên có thêm
lời bình của y gia. Từ đó trở đi, bản thảo ngày
càng thêm nhiều, đời Đường có Tân Tu Bản Thảo do
triều đình tập trung các danh y lại soạn thành năm
659 và sau được in ra để sử dụng trên toàn quốc.
Đó là bộ sách thuốc đầu tiên do chính quyền ban
hành, cũng là bộ dược khoa từ điển đầu tiên của
thế giới.
Từ đời Đường tới đời Minh, về dược học, tại Trung
Hoa có bốn lần tu bổ và thêm thắt do nhiều người
thực hiện và bốn lần tu đính do công sức cá nhân.
Tập thể thì có Tân Tu Bản Thảo (Đường), Thục Bản
Thảo (Ngũ Đại), Khai Bảo Tân Bình Định Bản Thảo,
Khai Bảo Trùng Định Bản Thảo (Tống) Gia Hữu Bổ Chú
Bản Thảo (Tống). Về phần cá nhân có Bản Thảo Thập
di do Trần Tàng Khí đời Đường soạn, Nhật Hoa Tử
Chư Gia Bản Thảo do một người không rõ tính danh
đời Tống soạn, Kinh Sử Chứng Loại Bị Cấp Bản Thảo
do Đường Thận Huy đời Tống soạn, và Bản Thảo Diễn
Nghĩa do Khấu Tông Thích đời Tống soạn. Ngoài việc
càng ngày càng thêm những dược vật mới, cách dùng
cũng mỗi lúc một phong phú hơn, việc bào chế cũng
thêm đa dạng.
Đến đời Minh, một nhà dược thảo học vĩ đại của Trung
Hoa là Lý Thời Trân hoàn thành một công trình to
lớn chưa từng có. Ông đã tổng kết tất cả những sách
vở cũ, đem tất cả những điều thực dụng, đích thân
lên núi tìm kiếm những dược thảo mới, hỏi nông dân,
ngư dân, tiều phu, những nhà trồng thuốc, và các
thầy lang dân dã để thu thập kinh nghiệm, tìm hiểu
sự sinh trưởng, cách sao tẩm, cách dùng tất cả các
loại từ thân, rễ, củ, lá, hoa, các loại động vật
đem về giải phẫu quan sát, so sánh các loại khoáng
vật và cách bào chế. Ông cũng tìm hiểu cách trồng
tỉa, chế luyện, đọc hơn 800 cuốn sách thuốc, miệt
mài trong hai mươi bảy năm viết thành bộ Bản Thảo
Cương Mục, bao gồm 1892 dược phẩm đồng thời đưa
ra những cơ sở cho phân loại thực vật. Có thể nói
ông là một trong những thực vật gia đầu tiên làm
việc có phương pháp khoa học.
Sau khi Bản Thảo Cương Mục ra đời, những dược thảo
và y gia Trung Hoa tiếp tục nghiên cứu và tăng bổ
thêm nhiều vị thuốc mới. Đời Thanh, Triệu Học Mẫn
sáng tác Bản Thảo Cương Mục Thập Di, thu tàng 716
loại dược vật, phần lớn là những vị mà Bản Thảo
Cương Mục chưa hề đề cập đến. Đây là những loại
thuốc dân gian thường dùng như vạn niên thanh, nha
đản tử, thái tử sâm, đông trùng hạ thảo … là bộ
sách rất thực dụng trong quần chúng.
Về sách vở viết về các phương thuốc (formulas) Thương
Hàn Tạp Bệnh Luận gom góp nhiều thang thuốc được
coi như “phương thư chi tổ”. Đời Đường có Thiên
Kim Yếu Phương, Thiên Kim Dực Phương và Ngoại Đài
Bí Yếu, đời Tống có Thái Bình Thánh Huệ Phương,
đời Minh có Phổ Huệ Phương đều là những sách viết
về những thang thuốc tương đối phức tạp. Giản dị
thì có Thái Bình Huệ Dân và Tễ Cục Phương, Tễ Sinh
Phương đời Tống, tuy không có nhiều thang thuốc
nhưng dùng vào việc trực tiếp quan sát để chẩn bệnh
(lâm sàng) rất tiện lợi. Đời Thanh có Xuyên Nhã
Nội Ngoại Biên của Triệu Học Mẫn sưu tập rất nhiều
những phương thuốc dân gian của các thầy lang vườn
(linh y) rất đáng quí. Sách vở về Đông y hiện nay
đa số là sách chép các thang thuốc, và qua mỗi đời
lại thêm nhiều phương thuốc mới, do những thầy lang
thu thập mà thành là một kho tàng kinh nghiệm rất
quan trọng.
Về nguyên do bệnh, triệu chứng và chẩn đoán, người
xưa cũng gom góp được nhiều cả kinh nghiệm lẫn suy
luận. Đời Tấn có Vương Thúc Hòa viết Mạch Kinh,
kế thừa cơ sở Nạn Kinh (tương truyền do Tần Việt
Nhân tức Biển Thước soạn ra), chia mạch ra làm 24
loại, lại tổng kết toàn bộ ý nghĩa của các loại
chẩn. Các danh y đời sau như Cao Dương Sinh, Thôi
Tử Hư, Lý Thời Trân, Lý Sĩ Tài … cũng bổ túc và
đóng góp thêm về mạch học. Đời Tùy có Sào Nguyên
Phương soạn bộ Chư Bệnh Nguyên Hầu Luận, chép hơn
1700 loại bệnh tật, kỹ lưỡng chi li các triệu chứng
đủ cả về bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh, mẫn tính
phản ứng … có so sánh và phê bình từng loại một.
Đời Tống có Trần Vô Trạch viết Tam Nhân Cực Nhất
Bệnh Chứng Phương Luận, đưa ra ba loại nguyên nhân
sinh bệnh tật là nguyên nhân từ bên ngoài (ngoại
nhân), nguyên nhân từ bên trong (nội nhân) và không
do bên ngoài hay bên trong. Tuy họ Trần chia ra
làm ba loại nguyên nhân nhưng thực ra cũng đều là
nguyên nhân từ bên ngoài cả.
Về phương pháp xem lưỡi để coi bệnh (thiệt chẩn)
phát triển tương đối trễ, chỉ mới bắt đầu từ đời
Nguyên. Thời đó tuy đã có sách bàn về chẩn đoán
lưỡi nhưng chưa thành thục. Cho đến khi các thuyết
về ôn bệnh học phát triển, việc xem lưỡi mới trở
thành quan trọng và ngày càng thêm kinh nghiệm góp
vào. Sang đời Thanh, Diệp Thiên Sĩ viết Oân Nhiệt
Luận, trong đó tổng kết các phương pháp xem lưỡi,
đã được Vương Mạnh Anh nhận định là “phương pháp
vừa tinh (kỹ lưỡng) vừa tường (rõ ràng)”.
Về châm cứu học thì ngày nay còn bộ Châm Cứu Giáp
Ất Kinh là kỳ cựu nhất, do Hoàng Phủ Mật đời Tấn
theo những luận thuật về kinh lạc, huyệt vị, và
phương pháp châm trong Nội Kinh, sửa đổi lại và
thêm thắt những kiến thức của đời đó mà soạn thành.
Đời Tống, Vương Duy Nhất tổng hợp lại tất cả những
học thuật trong sách vở của người đi trước về châm
cứu, thêm kinh nghiệm của chính mình, soạn thành
cuốn “Đồng Nhân Thự Huyệt Châm Cứu Đồ Kinh”. Cuốn
này thống nhất tất cả những khác biệt của mọi phái,
kế thừa công trình của Hoàng Phủ Mật, là một công
trình đáng kể trong ngành châm cứu học. Họ Vương
cũng đúc hai người bằng đồng (đồng nhân), trên có
ghi những huyệt đạo và khởi thủy phương pháp huấn
luyện cho ngành này một cách có qui tắc. Đời nhà
Nguyên, Hoạt Bá Nhân theo thực tế mà nhận ra rằng
hai mạch nhâm đốc trong kỳ kinh bát mạch có những
huyệt riêng, nên xếp đồng đẳng với 12 kinh kia,
viết thành cuốn “Thập Tứ Kinh Phát Huy”. Ngày nay
người ta vẫn gọi “Thập Tứ Kinh” chính là khởi đầu
từ lúc này. Thời Minh, Dương Kế Châu, tập hợp tất
cả những công trình từ trước, thêm kinh nghiệm trị
liệu của chính mình viết thành bộ Châm Cứu Đại Thành.
Bộ này nội dung hết sức phong phú, quả thực đáng
gọi là đại thành và là một bộ sách tham khảo quí
giá cho đời sau.
Về phương diện ngoại khoa, cứ như sử sách, cuối
đời Đông Hán, Hoa Đà đã sử dụng thuốc gây mê toàn
thân để khoét mụn nhọt, mổ bụng, là tài liệu về
phẫu thuật sớm nhất của nhân loại. Hoa Đà là một
y gia lỗi lạc, ông có sự hiểu biết toàn diện, bao
gồm cả châm cứu, dược vật, chẩn đoán lâm sàng lẫn
phương pháp tập luyện cơ thể. Thành tựu lớn nhất
của ông thuộc phạm vi ngoại khoa, nhưng sách vở
ông soạn bị hủy hết nên không còn lưu truyền. Bộ
Trung Tàng Kinh của Hoa Đà hiện lưu truyền là tài
liệu người đời sau thác danh ông chứ không phải
thật.
Về phương diện ngoại thương, các phương thuốc cổ
nhất còn có được là những toa thuốc của Lưu Quyên
Tử do Cung Khánh Tuyên thu thập được. Sưu tập này
bao gồm nhiềm loại thuốc rịt vết thương (kim sang),
mụn nhọt, ngứa ngáy và các loại thuốc trị bệnh ngoài
da, cầm máu, giảm đau, giải độc … dùng hoàng liên,
hùng hoàng, thủy ngân là những vị dùng để tiêu độc,
giảm sưng được chế thành cao dán chỗ đau. Đời nhà
Đường, Lận đạo nhân soạn quyển Lý Thương Tục Đoạn
Bí Phương là cuốn sách chuyên khoa trị gãy xương
cổ nhất của Trung Quốc. Trong sách chỉ phương pháp
để làm liền xương bị gãy, có ghi cả các hoạt động
của từng loại khớp xương. Đời Nguyên, Nguy Diệc
Lâm soạn cuốn Thế Y Đắc Hiệu Phương, tổng kết tất
cả các kinh nghiệm chữa ngoại thương, có cả phép
trị gãy xương sống, so với những quốc gia khác đi
trước cả năm sáu trăm năm. Đời Minh có Trần Thực
Công viết Ngoại Khoa Chính Tông, đời Thanh có Vương
Hồng Tự viết Ngoại Khoa Toàn Sinh Tập, một bên chủ
trương ngoại trị, một bên chủ trương nội trị là
hai phái chính yếu của Trung y trong ngoại khoa,
đều có ảnh hưởng sâu rộng trong giới làm thuốc.
Về sản phụ khoa, Kim Quĩ Yếu Lược đã có ba thiên
đề cập đến chửa đẻ, sản hậu và các chứng tạp bệnh
của phụ nữ. Đến đời Đường, Tôn Tư Mạc lại càng đặt
nặng phụ khoa, trong Thiên Kim Yếu Phương, phụ nhân
phương đứng vào hàng đầu mặc dù không phải là sách
chuyên về đàn bà. Cho đến nay sách chuyên môn về
phụ khoa còn tồn tại có Cao Ân soạn quyển Kinh Hiệu
Sản Bảo là xưa nhất, nhưng ảnh hưởng sâu rộng hơn
cả lại là bộ Phụ Nhân Đại Toàn Lương Phương của
Trần Tự Minh đời Tống. Bộ này tổng hợp tất cả sách
vở viết về phụ khoa từ trước, là một bộ sách chuyên
môn có phương pháp và đầy đủ. Đời Minh có Vương
Khải Đường viết Nữ Khoa Chứng Trị Chuẩn Thằng và
Thông Hành viết Tế Âm Cương Mục, Vạn Mật Trai viết
Vạn Thị Nữ Khoa, rồi đời Thanh lại có Phó Sơn soạn
Phó Thanh Chủ Nữ Khoa đóng góp rất nhiều kiến thức
và kinh nghiệm cho cả bốn phương diện kinh (lý luận),
đới (bệnh đàn bà), thai (mang bầu), sản (sinh nở).
Về bệnh trẻ con (nhi khoa), thời Đường Tống còn
lưu truyền đến nay là bộ Lô Tín Kinh, nhưng ảnh
hưởng quan trọng lại là Tiểu Nhi Dược Chứng Chân
Quyết của Tiền Aãt và Tiểu Nhi Đậu Chẩn Phương Luận
của Trần Văn Trung (Tống). Về thuốc men thì trước
kia người ta chủ trương dùng những liều nhẹ (nhu
nhuận) để chữa trẻ con nhưng về sau thì nhiều y
gia lại chủ trương dùng thuốc ấm và bổ (ôn bổ) để
trợ lực cho bệnh nhân đối kháng với bệnh tật. Về
các loại thang thuốc (phương trị) thì thế kỷ thứ
16 về trước đã biết phương pháp tiếp chủng ngừa
bệnh đậu mùa (tương tự việc chủng đậu của Tây y).
Đối với bốn chứng chẩn, đậu, kinh, cam là bốn loại
bệnh thông thường của trẻ con, việc chẩn đoán và
trị liệu đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm qua
nhiều triều đại. Đời Minh có Vạn Mật Trai, đời Thanh
có Hạ Vũ Chú, Trần Phục Chính, Trang Tại Điền tất
cả đều dày công nghiên cứu và phát huy những chứng
bệnh của trẻ em.
Lược qua như thế chúng ta thấy y học của Trung Hoa
tích lũy do kinh nghiệm, dần dần thoát ra được những
phương pháp mê tín, thần quyền. Càng về sau, y gia
càng có thêm những phát huy mới, đời nào cũng có
những nhân tài nên Đông y mỗi lúc một thêm phong
phú. Thời cổ, do nhu cầu sinh hoạt và hoàn cảnh
thiên nhiên, người ta đặt nặng trị liệu và phương
dược ngoại thương nên những thành tựu ban đầu chú
trọng về chữa trị bên ngoài. Ta thấy có Hoa Đà và
Thương Hàn Luận của Trương Trọng Cảnh đời Hán, đời
Nguyên thì có Thế Y Đắc Hiệu Phương của Nguy Diệc
Lâm, đời Minh có Oân Dịch Luận của Ngô Hựu Khả đều
là y học chữa trị những chứng bệnh thông thường
mà quần chúng mắc phải.
Về phương diện phát triển, thoạt đầu y học và vu
thuật (chữa bệnh theo lối trừ tà) chen lẫn với nhau.
Thời đó, giới vu hích (tức pháp sư, đồng cốt) dùng
bùa chú, cúng tế và tà thuật, là giai cấp được coi
trọng nên thường xen lẫn pháp thuật với một số thuốc
men, trị bệnh cho người. Chính y gia cũng bị ảnh
hưởng của bọn thầy pháp nên y thuật thời đó cũng
mang một số dấu vết của đồng cốt. Tuy nhiên càng
ngày hai bên càng tách rời và những thầy thuốc chân
chính như Biển Thước, Trương Trọng Cảnh đều chống
lại bọn vu hích, không chấp nhận chữa bệnh bằng
thần quyền. Xã hội càng phát triển, vị thế của y
thuật càng lên cao.
Trong Hán Thư, Nghệ Văn Chí, y học được gọi là phương
kỹ (một kỹ thuật), chia làm bốn loại gồm y kinh
loại (phép lý giải và cơ sở luận đoán), kinh phương
loại (các thang thuốc, dược thảo), phòng trung loại
(phép giao tiếp nam nữ, thuật phòng the), và thần
tiên loại (phương pháp luyện đan, tu tiên, thuốc
trường sinh). Hai loại đầu là y học nhưng hai loại
sau mang tính chất huyền môn, phần lớn do bọn phương
sĩ bịa đặt và phóng đại, nhiều khi tưởng tượng ra
mà chưa được chứng nghiệm. Kiến thức và kinh nghiệm
y dược được dùng vào việc tìm thuốc trường sinh,
nên bên cạnh y dược học, lại thêm những phái luyện
đan tu tiên, bào chế các loại dược vật và sinh ra
nhiều môn ra khỏi hẳn ý nghĩa của y khoa. Trong
lịch sử y học, các y gia chân chính luôn luôn phải
đối phó với giới thuật sĩ, và chính vì sự cạnh tranh
này mà hai bên đều cố gắng tìm tòi và sách vở về
y thuật, phương thuật càng ngày càng nhiều. Chẳng
hạn như trong dược vật học, Bản Thảo Cương Mục của
Lý Thời Trân cũng đã phê phán các loại thảo mộc
do giới luyện đan tu tiên như Cát Hồng, Đào Hoằng
Cảnh đưa vào, đem khoa học phân tích và loại trừ
những loại thuốc men tà môn khiến cho ngành dược
thảo của Trung Hoa có màu sắc khoa học hơn.
Về phương diện lý luận, khi văn hóa Trung Hoa xoay
quanh thuyết thiên nhân tương dữ, một số nho gia,
đạo gia và phương sĩ đem luật âm dương ngũ hành
vào dùng giải thích cơ thể con người khiến cho y
học mất tính chất thực nghiệm mà trở thành thuần
lý, lại mang tính chất thần bí, huyền hoặc. Nội
Kinh đem trộn lẫn với hình nhi thượng học của Đổng
Trọng Thư khiến cho y học bị trói buộc trong mớ
lý luận tối mù không tìm ra lối thoát. Phải đến
đời Đông Hán, nhà y học trứ danh Trương Trọng Cảnh
trong tác phẩm Thương Hàn Tạp Bệnh Luận mới căn
cứ trên kinh lạc, tạng phủ và kinh nghiệm chữa trị,
chẩn đoán của ông phá vỡ được những lý giải huyền
học vốn dĩ làm bế tắc y khoa Trung Hoa. Có thể nói,
đây là một cuộc cách mạng lớn vì cho đến thời kỳ
này, người ta vẫn tin rằng thuyết âm dương ngũ hành
là một loại thánh thư mặc khải từ trời cao, một
chìa khóa có thể mở được mọi loại cánh cửa nếu chịu
suy ngẫm cho đến nơi đến chốn.
Một điều đáng nói là không phải riêng y khoa, nhiều
ngành học khác cũng không ra ngoài thông lệ là trừu
tượng hóa mà quên đi phần thực nghiệm nên đi quá
trớn. Cụ thể nhất, học thuyết ngũ vận lục khí (gọi
tắt là vận khí học thuyết), tin tưởng rằng có thể
tính toán, ngày giờ, can chi để suy diễn ra nguyên
nhân và phương pháp trị liệu bệnh tật, đến nay vẫn
còn được nhiều người tin theo, coi như một trình
độ cao của y học, dùng hình nhi thượng học để tìm
đáp số cho hình nhi hạ. Những y gia có quan điểm
khoa học hơn đều chống lại phương pháp này. Đời
Minh ta thấy có Mục Trọng Thuần coi thuyết ngũ vận
lục khí là hoang đường, không phải con đường chính
đáng của y gia, những người nổi tiếng như Tần Việt
Nhân (Biển Thước), Trương Trọng Cảnh, Hoa Đà đều
không nói gì đến số học.
Về dược học, từ đời Tống trở về sau, có nhiều học
phái, học thuật chẳng hạn như Lưu Hà Gian (Hoàn
Tố) chủ trương “Lục Khí đều do Hỏa hóa thành”, “Ngũ
Chí đi đến cực độ đều sinh Hỏa” nên khi dùng thuốc
lấy các vị có tính mát, tính hàn làm chủ, là đại
biểu cho hàn lương phái, Trương Tử Hòa thì đề xướng
“Đuổi được tà thì an được chính”, trị bệnh chủ trương
làm sao ra mồ hôi, nôn, hay đại tiểu tiện là chủ
yếu là đại biểu của công hạ phái, Lý Đông Viên thì
đề xuất “Thổ là mẹ của muôn loài”, trị bệnh lấy
bổ tì vị là căn bản, là đại biểu cho bổ tì phái,
Chu Đan Khê (Chấn Hanh) cho là “con người thường
thừa dương mà thiếu âm” nên trị bệnh lấy tư âm làm
chính, đại biểu cho tư âm phái. Đó là bốn phái chính
trong việc chữa trị, người ta gọi là Tứ đại gia.
Nói chung thì cả bốn phái đều có chỗ đặc sắc riêng,
cho rằng “toa thuốc cũ không chữa được bệnh mới
(cổ phương bất năng trị kim bệnh)”, nên đưa ra được
nhiều cách giải thích khác nhau khiến cho y học
thêm phong phú. Chẳng hạn như hàn lương phái đã
thay thế phương pháp trước đây trị cảm mạo từ tân
ôn chuyển sang các vị tân lương là một chuyển biến
quan trọng và thay đổi quan niệm về các chứng ôn
bệnh, và phương pháp nhận bệnh cũng thêm độc đáo.
Bổ tì về sau biến thành ôn bổ phái, những danh y
như Triệu Dưỡng Quỳ, Trương Cảnh Nhạc đã đưa mệnh
môn học thuyết, là cơ sở chính yếu về lý luận tạng
phủ của y học Trung Hoa.
Phong khí học thuật đó ngày thêm phát triển, thêm
tiến bộ. Đời Minh, Ngô Hựu Khả đưa ra lý thuyết
là nguyên nhân của bệnh truyền nhiễm là do một loại
khí có tên là “lệ khí”, không thuộc vào những loại
cũ như phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa mà người
xưa đã phân loại. Bệnh thuộc về loại này xâm nhập
do miệng và mũi, không do bì phu (da dẻ) mà vào.
Đó cũng là một nhận thức mới mẻ so với thời trước,
gần với Tây y hơn. Đời Thanh, Vương Thanh Nhiệm
lại coi trọng việc giải phẫu, viết bộ “Y Lâm Cải
Thác”, đính chính lại những sai lầm của sách cũ
về mặt mổ xẻ, đưa ra lý luận mới về các chứng ung
sang, ứ huyết. Hai quan điểm đó tuy chỉ mới khái
quát nhưng quả là một đóng góp có giá trị về phương
diện thực tiễn cho khoa Đông y.
Tuy nhiên, vì khoa học tự nhiên chưa phát triển,
chưa có những phương tiện để nghiên cứu sâu xa hơn
nên đông y bị ngừng lại tại đây mà không tiến vào
khoa vi trùng học hay cơ thể học như Tây y được.
Ngoài ra, chưa ai nghĩ đến y tế đại chúng và những
vấn đề mang tính chất xã hội cũng không được nghiên
cứu đến nơi đến chốn, khoa dinh dưỡng cũng chỉ hoàn
toàn khái niệm chứ không cụ thể. Tuy Lý Đông Viên
có nhận định là việc ăn uống đói no thất thường
có ảnh hưởng đến tì vị, nhất là làm việc quá độ
sẽ gây ra nội thương, nhưng cũng chỉ đi đến kết
luận “thổ là mẹ của vạn vật” (tì thuộc thổ), nên
chữa các bệnh lao dịch phải dùng thuốc bổ tì, chứ
không đưa ra những phương pháp ăn uống hay sinh
hoạt nào sâu xa hơn, vẫn chỉ nằm trong một mớ lý
luận trừu tượng, không thiết thực.
Còn “tư âm học thuyết” của Chu Đan Khê tuy trên
phương diện y học là tập hợp các sở trường của cả
Lưu Khả Gian, Lý Đông Viên nhưng lối lý luận “dương
động âm tĩnh, con người dương thường có thừa mà
âm không đủ” là mượn lối lý luận của Chu Hi trong
hình nhi thượng học của Tống nho, nghĩa là cũng
như nhiều ngành khác chỉ tưởng tượng mà không so
sánh đối chiếu với thực tế, nhất là hoàn toàn không
dựa trên phương pháp thống kê xã hội để hỗ trợ cho
quan điểm của mình. Đó cũng là một khuyết điểm chung
của nhiều ngành Đông phương học, thuần suy diễn
mà thiếu hẳn phần thực nghiệm, thích đưa ra những
khẳng định mà không đưa ra cơ sở nào để bảo chứng.
Những ai nghiên cứu về phong thủy, tướng thuật,
tử vi, tử bình đều thấy điểm này.
Chu Hi cho rằng thái cực là lý, có trước khi khí
sinh ra, nên thái cực sinh âm dương, một động một
tĩnh, tuần hoàn không ngừng, rồi từ đó sinh sinh
hóa hóa ra ngũ hành, vạn vật. Chu Đan Khê soạn bộ
“Cách Chí Dư Luận” cũng do quan điểm này mà ra.
Chu Đan Khê còn còn đem hiện tượng “âm hư dương
kháng” trong y học để suy rộng ra xã hội, cho là
lý luận “chủ hỏa” trong Nội Kinh cũng không khác
gì quan điểm “ngũ tính cảm động” của phái lý học,
“âm đạo hư” trong Nội Kinh cũng giống như “dưỡng
âm” trong Lễ Ký. Nếu như con người phải hành động
có chừng mực (động giai trúng tiết) thì cũng đó
cũng là theo đạo “trung dung” của Khổng tử. Ông
chủ trương tu tâm dưỡng tính, không nên “tương hỏa”
nghĩa là vọng động, lại phải đem quan điểm “an thiên
mệnh” áp dụng vào y học. Quan điểm này cũng có điểm
hay gần giống như quan điểm sống cho phù hợp với
thiên nhiên ngày nay, nhưng cũng đôi khi đi vào
chỗ hủ, câu nệ và cứng nhắc.
Từ đó trở đi, một thành phần y gia mới xưng là Nho
Y, là những người học hành thất chí, không thành
đạt chuyển sang làm nghề thuốc (bất vi lương tướng,
tiện vi lương y), đem phương pháp lý luận và nguyên
tắc của nhà nho vào y khoa. Chính vì thế mà một
số nhà nghiên cứu đã lên tiếng chỉ trích, vì những
thầy thuốc nửa mùa này hoàn toàn không có kinh nghiệm
chữa bệnh mà chỉ hoàn toàn thuần túy lý luận mà
thôi. Những người này lại đem quan điểm từ chương
vào y học, nghĩa là tôn Nội Kinh và Thương Hàn Luận
lên thành những “thánh kinh hiền truyền” coi đó
là những chân lý tuyệt đối phải theo, không dám
thay đổi một chữ một nét. Thành ra những gì gọi
là thay đổi hay mới mẻ đều bị lên án là “ly kinh
phản đạo” hay “dị đoan tà thuyết”, và chính từ đó
làm cản trở bước tiến của y thuật Trung Hoa. Không
cứ gì ngành thuốc, nhiều ngành khác cũng lâm vào
hoàn cảnh tương tự và một đám hủ nho luôn luôn chống
đối những gì khác với lối suy nghĩ của họ. Cái tệ
nạn “duy ngã độc tôn” ấy không phải chỉ có ở Trung
Hoa mà cho đến nay ở đâu cũng có người vẫn không
chấp nhận một lối suy nghĩ khác với suy nghĩ của
mình. Cho nên mặc dầu Tống nho đóng góp nhiều công
lao cho việc xiển dương tư tưởng Nho gia, hậu thế
vẫn lên án họ và những người theo đường lối của
họ vì thái độ câu nệ và bài xích đó.
Chính vì sự phức tạp của nhiều môn phái và đường
hướng trong y thuật Trung Hoa, hậu nhân cần phải
phân biệt và tìm hiểu thêm, ấn chứng với tân học
cũng như loại trừ những “cặn bã”, phần lớn không
do kinh nghiệm và y án cụ thể mà chỉ thuần túy do
lý luận mà ra. Mỗi môn phái đều có chỗ độc đáo,
nhưng không môn phái nào giải quyết được mọi vấn
đề và những người có quan niệm chín chắn bao giờ
cũng tham bác nhiều phương pháp khác nhau cũng như
phải dựa theo số liệu và khảo sát của phương pháp
khoa học. Phái hàn lương cho ta phương pháp trị
ngoại cảm, phái công hạ có những phương pháp trị
cấp tính về đường ruột, mệnh môn học thuyết và thận
âm thận dương, có thể áp dụng trong việc định bệnh
liên quan đến các tuyến biến dưỡng và nội tiết.
Cho đến nay, phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho
rằng một sự dung hợp hai đường lối Tây y và Đông
y có thể đem lại những kết quả tốt. Một số thảo
mộc dùng trong Đông y nay cũng đã thịnh hành ở Tây
phương và nhiều môn như châm cứu, chỉ áp (ấn huyệt
bằng ngón tay) đã được công nhận như những phương
pháp trị liệu bổ túc. Một số hình thức dưỡng sinh
của Đông phương như nhập định (meditation), khí
công, án ma (xoa bóp), Thái Cực Quyền … cũng được
nhiều y gia nghiên cứu tìm tác dụng tích cực của
những môn này trong sinh hoạt hàng ngày, để ngừa
hay trị bệnh. Ngược lại, Đông y cũng áp dụng những
phương pháp đo lường, máy móc thử nghiệm mà Tây
y vẫn dùng vào việc khám nghiệm để gia tăng hiệu
năng và sự chính xác. Nhiều ngành trước đây phải
đòi hỏi một thời gian thực hành lâu để có kinh nghiệm
như thiệt chẩn (xem bệnh bằng lưỡi), thiết chẩn
(xem mạch bằng cổ tay) đã được đo lường bằng máy
móc và đem lại kết quả chính xác hơn lối cũ. Một
số ngành mới tuy khởi nguyên từ Đông y nhưng lại
được khai triển và phát huy bằng kỹ thuật Tây phương
như nhĩ châm (auriculotherapy), tức phương pháp
châm vào các huyệt ở tai để trị bệnh. Châm cứu (acu-moxatherapy)
cũng được dùng để trị một số bệnh sau khi được chẩn
đoán bằng phương pháp Tây y. Tuy nhiên, cái gì cũng
có giới hạn của nó và làm thế nào khai thác sao
cho kết quả nhiều nhất bằng phương tiện ít nhất
vẫn là một vấn đề, vì thực tế mỗi người phải tự
tìm lấy con đường cho chính mình hơn là tuân theo
những qui luật bất biến.
Trong những năm gần đây, tại Hoa Kỳ, một số đông
người Mỹ đã quan tâm đến những phương pháp của Đông
phương và dùng vào việc trị bệnh luân chuyển (alternative
medicine) bên cạnh những phương pháp trị liệu của
Tây y. Người Việt chúng ta dẫu sao cũng bị ảnh hưởng
nhiều của văn hóa Trung Hoa nên việc dung nạp không
mấy khó khăn và thường gia đình nào cũng phối hợp
cả thuốc tây và thuốc nam, thuốc bắc, cả nội khoa
lẫn ngoại khoa, nhất là trong việc phòng và trị
bệnh thông thường.
Phương pháp và biện chứng của y thuật Trung Hoa
Đông y bao gồm cả hai phần thực nghiệm lẫn lý luận.
Thực nghiệm do kinh nghiệm mà có, còn lý luận do
suy đoán mà nên. Cơ sở lý luận bao gồm âm dương,
ngũ hành, khí huyết tân dịch, kinh lạc, tạng phủ
…, xiển thuật kết cấu cơ thể và tổ chức của con
người, nhận định công năng của mỗi bộ phận, tìm
hiểu nguyên nhân rồi đề ra một phương thức chữa
trị.
Cho nên Đông y bao gồm pháp (phép tắc trị bệnh)
và phương (toa thuốc chữa), tùy từng y gia, có người
chuyên về phép tắc, có người chỉ đặt nặng về phương,
nghĩa là sưu tầm một số toa thuốc nhất định, ai
đau bệnh gì thì dùng toa đó, và cũng có người phối
hợp cả hai. Căn bản việc định bệnh bao gồm tứ chẩn
(bốn phép chẩn bệnh), bát cương (tám cách biện luận),
phân khí huyết, tạng phủ, bệnh tà, nội ngoại. Về
phương, có các cách bào chế và phối hợp thuốc men,
gia giảm loại này loại khác để đưa ra toa thuốc
chữa từng loại bệnh. Giản thuật những phương pháp
trên như sau:
Âm dương ngũ hành: Âm dương ngũ hành là nguyên tắc
mà người xưa dùng để phân loại và nhận định thiên
nhiên, dùng làm cơ sở để suy luận trong đông y.
Đối với cơ thể con người, âm dương được dùng để
phân khí huyết, tạng phủ, ngũ hành tương ứng với
ngũ tạng và lẽ tương sinh tương khắc dùng giải thích
liên quan giữa bộ phận này với bộ phận khác. Về
bệnh lý, âm dương phân bệnh ra hàn nhiệt, hư thực,
và lẽ ngũ hành sinh khắc được dùng để giải thích
bệnh này liên quan đến bệnh kia, và luôn cả giải
thích các loại dược vật để chữa bệnh.
Khí huyết tân dịch: là bốn loại lưu chất hoạt động
trong cơ thể. Về phương diện lý luận, y gia Trung
Hoa đưa ra lý luận về sự sinh thành của các loại
và nếu như thất điệu sẽ đưa đến bệnh tật. Tạng phủ:
bao gồm ngũ tạng và lục phủ. Ngũ tạng gồm tâm, can,
tì, phế, thận còn lục phủ là đảm, vị, đại trường,
tiểu trường, bàng quang và tam tiêu.
Kinh lạc: là hệ thống liên lạc giữa các cơ quan
trong cơ thể con người, từ trong ra ngoài, gân,
da, thịt, xương để thành một khối thống nhất. Lý
luận kinh lạc đưa ra các nguyên lý và tuần hoàn
các lộ tuyến, công năng và tác dụng, và các chứng
bệnh thể hiện do các bế tắc của kinh lạc.
Nguyên nhân bệnh tật: chỉ các nguyên nhân gây ra
bệnh mà Trung y đề ra bao gồm cả nguyên lý và nguyên
nhân của bệnh tật. Về nguyên lý, y học Trung Hoa
nhấn mạnh vào việc quân bình âm dương, coi việc
tăng cường sức mạnh nội tại để chống lại ngoại tà
là việc hết sức quan trọng. Trong khi Tây y chủ
trương dùng thuốc để trợ lực con bệnh, hoặc thay
thế con bệnh chống với vi trùng, thì Đông y chủ
trương làm mạnh con bệnh để tự mình chống lại bệnh.
Dĩ chính tại nội, tà bất khả can (nếu chính ở bên
trong thì tà không thể xâm nhập) hay tà chi sở thấu,
kỳ khí tất hư (nếu như tà có thể đến ắt là khí đã
hỏng). Phương pháp làm tăng cường hệ thống miễn
nhiễm hiện nay cũng đã được Tây y đề cao và đang
được nghiên cứu trong việc chống lại bệnh ung thư
Tứ chẩn: là những phương pháp của y gia dùng để
chẩn đoán bệnh (lâm sàng) gồm có vọng (inspectio,
nhìn), văn (ausculatio et olfactio, ngửi và nghe),
vấn (interrogatio, hỏi) và thiết (palpatio, bắt
mạch bằng tay hay nhìn lưỡi). Những phương pháp
này không được sắp xếp một cách khoa học vì bị hạn
chế bởi thời đại và tiến bộ trong các ngành khác
nên phần lớn do kinh nghiệm và trực quan của y gia.
Tuy nhiên, trong bốn phép vọng quan vấn thiết, mạch
chẩn (bắt mạch) và thiệt chẩn (nhìn lưỡi) là những
phương pháp hết sức tinh tế, và ngoài việc coi bệnh
do trực tiếp ghi nhận, còn một phần lý luận biện
chứng rất phức tạp.
Bát cương biện chứng: chủ yếu của bát cương biện
chứng bao gồm phân biệt âm dương, biểu lý (bên ngoài,
bên trong), hàn nhiệt, hư thực. Âm dương là tổng
cương, còn biểu, nhiệt, thực là các chứng dương,
còn lý, hàn, hư là các chứng âm. Y gia dùng biểu
lý để xem bệnh nặng nhẹ, dùng hàn nhiệt để xem tình
trạng, còn hư thực để xem chính tà xem mạnh yếu
thế nào.
Khí huyết biện chứng: là phương pháp xem bệnh thuộc
khí hay thuộc huyết để biết là khí hư hay huyết
hư, khí trệ hay huyết ứ, huyết nhiệt … ngõ hầu xem
bệnh sẽ biến chuyển ra sao mà tìm cách chữa.
Tạng phủ biện chứng: Người thầy thuốc căn cứ trên
nhận định và chẩn đoán con bệnh bao gồm đặc điểm
và tương quan giữa các bộ phận, xem bệnh tình sẽ
biến hóa ra sao, xem xét âm dương, khí huyết rồi
đưa ra phương pháp chữa trị.
Bệnh tà biện chứng: Căn cứ vào hiện tượng con bệnh,
những đặc điểm mà phân ra ngoại tà (bệnh từ ngoài
xâm nhập) hay thể nội (bệnh từ trong cơ thể mà ra)
rồi từ đó đưa ra một đường lối tổng quát để chữa
bệnh.
Ngoại cảm nhiệt bệnh biện chứng: Là phương pháp
trị những bệnh mà ngày xưa người ta cho là do tà
khí xâm nhập, chẳng hạn như cảm mạo, ôn dịch. Về
các chứng này y gia sử dụng thương hàn học thuyết
và lục kinh biện chứng cùng vệ khí và doanh huyết
để chữa.
Trị tắc và trị pháp: Trị tắc là nguyên tắc chữa
bệnh lấy từ quan điểm “trị bệnh tất cầu ư bản (chữa
bệnh phải chữa ở gốc)” để xem bệnh hoãn hay cấp
(đến chậm hay đến mau), chính tà thịnh suy ra sao,
âm dương cường nhược thế nào để dùng một trong những
cách thức cấp trị, hoãn trị, khử tà, phù chính,
điều chỉnh âm dương mà áp dụng. Trị pháp là phép
cụ thể dùng trị bệnh, áp dụng ngay cho người bệnh
để thực hiện những nguyên tắc mà người thầy thuốc
đưa ra chẳng hạn như hãn (sudatio, làm chảy mồ hôi),
thổ (vomitio), tả (purgatio), thanh (làm mát cơ
thể), hòa (composio), ôn (tepefactio), bổ (suppletio),
tiêu (dispulsio), khai khiếu, trấn nạp …
Để có cái nhìn rõ ràng về y thuật của người Trung
Hoa, chúng ta cần biết qua một vài khái niệm:
Quan niệm chỉnh thể: Có người cho là quan niệm chỉnh
thể của Đông phương rất cao siêu, có người lại cho
rằng quá đơn sơ và ấu trĩ. Quan niệm đó bao gồm
hai phần:
Trong cùng một con người, có hai phần âm dương
và chính từ những cơ bản của tính chất âm dương,
mà phân ra thành trên dưới, trong ngoài, biểu lý.
Cũng do âm dương mà phân các bộ phận trong con người
thành tạng và phủ, khí và huyết … Tất cả sự vận
động trong con người không ngoài các nguyên lý tương
sinh tương thừa của âm dương, ngũ hành mà ra. Cho
nên hiểu được thuyết âm dương ngũ hành là có thể
đoán định được sự vận hành của cơ thể. Cái lẽ âm
dương tiêu trưởng, khí huyết sinh hóa đó đều do
sự mâu thuẫn đối đãi mà hình thành, nếu như không
đúng cách sẽ đưa đến sự phá hoại và sinh ra bệnh
tật. Thành thử âm dương thất điệu, huyết khí bất
hòa là căn nguyên của mọi chứng bệnh.
Về phương diện tương quan giữa con người và thiên
nhiên, con người với trời đất tuy khác biệt nhưng
vẫn cùng một thể, con người phải sống thuận theo
lẽ tự nhiên và tùy theo hoàn cảnh mà thay đổi cho
hợp với tiết điệu của vạn vật. Con người được coi
như một tiểu vũ trụ trong đó bao gồm mọi hình tướng
mà vũ trụ hiển hiện. Chính vì cá nhân là một tiểu
thiên địa nên tự nó có những cơ năng điều chỉnh
một khi bị lệch lạc. Y sư là người giúp cho sự tái
lập quân bình ấy được mau chóng và đúng đắn hơn,
nhưng chính bản thân con bệnh là yếu tố tích cực
nhất để chữa bệnh. Người thầy thuốc hoàn toàn không
có khả năng cải tử hoàn sinh nếu bệnh nhân đã mất
đi cơ năng phục hồi.
Biện chứng trị liệu: là phương thức suy luận cụ
thể khi gặp con bệnh, bao gồm hai phần, phần lý
luận (biện chứng) và phần áp dụng những suy luận
đó trong phương pháp chữa trị (thi trị). Biện chứng
là tiền đề của thi trị, còn thi trị là mục đích
tối hậu của biện chứng. Tứ chẩn là phương pháp đi
tìm các yếu tố để luận đoán, tức sưu tầm dữ kiện,
sau đó dùng bát cương, tạng phủ, và nguyên nhân
gây ra bệnh để phân định rồi theo những cách thức
tương ứng mà chữa trị. Tuy nhiên như đã nói ở trên,
thuốc men chỉ là một phần của việc trị liệu. Trên
nguyên tắc trị bệnh từ khi chưa có bệnh, một đời
sống lành mạnh làm giảm thiểu tối đa những mầm bệnh
là phương thuốc hay nhất. Aên uống, dưỡng sinh,
thể dục, và sinh hoạt tinh thần đều là những phương
thuốc để ngăn ngừa bệnh tật. Chính vì thế mà việc
dùng thuốc, đau đâu chữa đó được coi là bá đạo nghĩa
là hạ sách trong việc trị bệnh, đứng sau đế đạo
(trị bệnh từ lúc chưa bệnh nghĩa là sống hợp với
lẽ tự nhiên, ăn uống sinh hoạt cho phải phép) và
vương đạo (trị bệnh bằng cách dùng thuốc tái lập
quân bình).
Kết luận
Khi tìm hiểu về Đông phương, hầu như bất cứ ngành
nào cũng có những phần thật cao, nhưng cũng không
hiếm những điều thật thấp. Chính vì thế một sự lựa
chọn và cân nhắc là điều cần thiết, vì ở đâu cũng
có nhiều góc cạnh khác nhau mà tùy theo mỗi người,
chúng ta có cảm quan riêng về ngành đó. Y thuật
cũng vậy, một phần được nghiên cứu và lưu truyền
bằng những huyền thoại, mà người ta nghĩ rằng do
những siêu nhân để lại, bằng kinh nghiệm hay bằng
trước thuật, nhưng mặt khác lại có rất nhiều phương
thuốc, chữa mẹo, bằng lá lảu của dân gian, do những
thầy lang vườn sưu tầm, lại cộng thêm những ngoại
khoa, pháp thuật, có khi cả một chút tâm lý học
giản dị mà người ta gọi là chữa mẹo. Thành ra, khi
nghiên cứu về phương thức trị và chữa bệnh, ngừa
bệnh, hầu như chúng ta bị rơi vào một mê lộ trùng
điệp giữa khen và chê, giữa bênh và chống.
Trước đây trong ngành y khoa lại không có một chương
trình huấn luyện có cơ sở, mà tùy theo cái cơ duyên
mỗi người. Người vì thất bại trên đường khoa cử
nên xoay sang làm thuốc, người khác có một vài phương
thuốc gia truyền nên tiếng lành đồn xa, nhiều người
đến nhờ cậy và nghiễm nhiên thành một ông lang.
Chính cái thực tế đó đã khiến cho những nhà khoa
học phương Tây vốn trọng những cơ bản trường ốc
không khỏi nghi ngờ về giá trị của những khoa học
Đông phương. Ngay chính người Tàu trong một giai
đoạn mà họ bị choáng mắt trước nền văn minh vật
chất và sức mạnh của súng đạn cũng phủ nhận nền
y học truyền thống và phương pháp cổ điển. Thời
Dân Quốc, chính quyền Trung Hoa đã ban hành một
đạo luật bãi bỏ việc dùng thuốc bắc trên toàn quốc
nhưng phải thu hồi vì họ chưa có một hệ thống và
mạng lưới y tế hoàn chỉnh cho mọi người. Đối với
Âu Tây, người ta không quan tâm tới những gì ngoài
thế giới của chính họ. Chỉ mới gần đây, khi một
số nhà nghiên cứu đi tìm những căn nguyên khoa học
của Á châu mới ý thức rằng đây là một trong những
nền văn minh có chiều sâu mà trước đây người ta
chỉ nhận định một cách hời hợt bề ngoài.
Hơn một trăm năm trước, khi Tây phương tìm ra được
vi trùng là đầu mối của nhiều chứng bệnh truyền
nhiễm, họ đã tin tưởng rằng khoa vi trùng học (bacteriology)
sẽ là chìa khóa mở được nhiều, nếu không nói là
mọi cánh cửa trong việc chống lại bệnh tật. Quả
thực nhiều bệnh dịch trước đây là mối đe dọa lớn
cho nhân loại nay gần như hoàn toàn biến mất, nhiều
bệnh hiểm nghèo cũng đã hoàn toàn kiểm soát được
trong những quốc gia có một hệ thống vệ sinh và
y khoa khả quan. Những con số thống kê về y tế đại
chúng đã chứng minh điều đó. Số tử vong của trẻ
em sơ sinh tụt hẳn đi, và đời sống con người cũng
kéo dài ra nhiều. Quan niệm “thất thập cổ lai hi”
không còn đúng vì tuổi thọ trung bình đã kéo dài
trên 70 tại nhiều quốc gia. Tuy nhiên việc loại
trừ tất cả mọi bệnh tật vẫn còn là một niềm mơ ước,
vì tuy một số căn bệnh không còn đe dọa con người
thì một số chứng khác – không do vi trùng gây ra
mà do đời sống con người mất quân bình – lại có
nguy cơ nảy nở nhanh trong một số khu vực. Trong
khi tại những quốc gia nghèo đói, tình trạng thiếu
dinh dưỡng (undernutrition) đã đưa đến nhiều bệnh
suy nhược như lao phổi, còi xương, chậm lớn, đần
độn … thì tại những quốc gia giàu có những căn bệnh
liên quan đến việc thất điệu và dinh dưỡng không
đúng cách (malnutrition) như ung thư, tim mạch,
tiểu đường … lại gia tăng. Tuy những tiến bộ y khoa
hiện đại có làm chậm lại một số triệu chứng và kéo
dài sự hấp hối cho một số bệnh nhân nhưng đó chưa
phải là câu trả lời đích thực nếu mục tiêu cuộc
đời phải là sống vui, sống mạnh. Trong tác phẩm
Y Khoa Trong Khủng Hoảng Của Thời Đại Chúng Ta (Medicine
In The Crisis Of Our Times), bác sĩ Arthur Jores
đã thấy rằng Tây y phải bó tay và “nhiều trường
hợp chỉ giữ cho con bệnh khỏi chết mà không phục
hồi sức khỏe cho họ và đó là nguyên nhân chính của
những bệnh kinh niên (In many cases medical science
prevents the patient from dying without restoring
him to health. It is thus a primary cause of chronic
illness)”. Cuộc chiến chống bệnh tật chuyển hướng
từ những bệnh truyền nhiễm sang những bệnh do sự
rối loạn của hệ thống sinh lý và tim mạch, mà sự
chuyển hướng này đã gây ra sự tốn phí nhiều hơn,
và sự thành công mỗi lúc một mơ hồ. Ngoài những
nguyên do kinh tế và tài chánh, việc quay về với
một số phương pháp chữa trị, cũng phần nào do sự
thất vọng hay tuyệt vọng của bệnh nhân trong phương
pháp y khoa hiện đại. Đó là chưa kể nhiều chứng
vẫn bị coi là có thể trị nhưng không thể chữa (treatable
but incurable, nghĩa là dùng thuốc có thể giúp cho
người bệnh sống còn nhưng không trị được dứt hẳn)
lại có thể chữa lành bằng những phương pháp được
mệnh danh là “không chính thống (unconventional)”.
Chắc chắn không ai trong chúng ta phủ nhận những
đóng góp và tiến bộ hết sức vĩ đại của Tây y trong
một trăm năm qua, nhưng không phải vì thế mà không
nhìn lại nhiều vấn đề, nhất là trong một thời kỳ
mà nhiều thành tựu to lớn của Tây phương đang bị
thách đố, trong đó có cả những vấn đề xã hội, kinh
tế hay chính trị.
Phải nói là Đông y đã tạo được những sắc thái hết
sức độc đáo trong cả lý luận về cơ năng con người,
biến hóa của bệnh lý, và cách chẩn đoán bệnh tật,
phương pháp trị liệu. Mà đó không phải chỉ riêng
y khoa, nhiều ngành khác người Trung Hoa cũng đã
có những kho tàng hết sức phong phú mà mãi gần đây
người Âu châu mới khám phá ra được. Càng ngày người
ta càng tìm ra được những tài liệu khoa học rất
sớm ở Trung Hoa và hiện nay nhiều học giả đang tìm
cách giải thích tại sao một nền văn minh bề thế
như vậy bỗng dưng đứng chựng lại trong nhiều ngàn
năm. Những ai nghiên cứu về Trung Hoa không thể
không để ý tới bộ sách vĩ đại về khoa học và văn
minh do Viện Nghiên Cứu Needham liên tục ấn hành
từ gần 50 năm qua (The Science and Civilisation
in China, Cambridge University Press) để nghiên
cứu chuyên về những khoa học mà người Tàu đã phát
triển. Tất cả học thuật và văn minh của người Trung
Hoa xoay quanh học thuyết âm dương, ngũ hành biến
hóa và học thuyết này lại không ra ngoài quan niệm
thiên địa vạn vật đồng nhất thể, thiên nhân tương
dữ. Người phương đông coi cá nhân là một phần của
vũ trụ, của thiên nhiên nên việc sống hòa hợp với
thiên nhiên là chân lý tối hậu của đời sống. Việc
tìm hiểu về y học Đông phương sẽ giúp cho chúng
ta mở một cánh cửa mới nhìn con người như một thực
thể toàn diện hơn là chia cắt cơ thể thành những
mảnh mún li ti. Khi tách rời một bộ môn thành một
khoa học riêng rẽ để phán đoán, người Tây phương
không khỏi có cái nhìn cục bộ và phiến diện. Người
ta vẫn nghĩ rằng khi nghiên cứu về Trung Hoa thì
trọng tâm phải nghiên cứu là Nho giáo và các học
thuyết chính trị. Thực ra, căn bản chính yếu của
cả nền văn minh Hán tộc nằm trong hệ thống Đạo giáo
(Taoism) vì từ đó nảy sinh ra tất cả mọi chi lưu,
từ cao tới thấp, từ trong đến ngoài. Đời sống người
Tàu đi rất gần gới những sinh hoạt và tập tục bắt
nguồn từ Đạo giáo mà dù ở đâu, giai cấp nào họ cũng
vẫn áp dụng một cách nghiêm túc. Đó là những chỉ
dấu họ dùng làm cái áo lót mình, gắn chặt với đời
sống riêng của họ dẫu rằng cái tên đã đổi hẳn vì
nhu cầu sinh tồn và vươn lên.
Ngày hôm nay, chúng ta cần có một quan điểm dung
hợp Đông Tây, áp dụng sự tiến bộ to lớn của Tây
Y để chữa trị những bệnh tật liên quan đến vi trùng,
mổ xẻ nhưng cũng đừng quên cái áo diệu của Đông
phương trong việc tạo một đời sống quân bình, và
trị bệnh từ khi chưa có bệnh. Chúng ta cần đánh
giá một cách sáng suốt những kinh nghiệm và biện
chứng trong Đông y, đồng thời biết gạn đục khơi
trong, tìm ra được những gì còn thực dụng để khai
triển đồng thời cũng loại trừ những suy luận có
tính chất thuần lý, dựa vào một số tín điều của
hình nhi thượng học, mà quên rằng bất cứ ngành nào
cũng có những giới hạn riêng của nó. Trong một thế
giới đa nguyên ngày hôm nay, trong bất cứ một bộ
môn nào, kể cả những khu vực lấy tín niệm làm nền
tảng như tôn giáo cũng phải tái thẩm định nhiều
vấn đề, huống chi một bộ môn mang màu sắc được coi
là khoa học và thực nghiệm như y khoa. Cho đến giờ
phút này, con người càng ngày càng đi sâu vào những
tổng hợp mới, trong đó đời sống được coi là một
mô hình đa phương dung chứa nhiều quan niệm, nhiều
nguồn văn hóa, nhiều xu thế, lắm khi hoàn toàn đối
nghịch nữa. Những quan điểm cứng nhắc, bất biến
không những bị xem là lỗi thời mà còn khó có thể
được chấp nhận trong một xã hội văn minh.
Tháng 12/1998
[1] Theo nhiều tài liệu khác nhau ghi chép về Biển Thước, nhân vật này xuất hiện tại nhiều nơi. Cái tên sau cùng Tần Việt Nhân là tác giả Nạn Kinh. Vì thế người ta cho rằng Biển Thước không phải là một người mà là nhiều nhân vật khác nhau trong một thời gian dài khoảng 400 năm.
XEM
TIẾP
|