







|
|
BUỔI NÓI CHUYỆN CHUYÊN ĐỀ VỀ “NGÀNH THÁI-Y Ở TRUNG
QUỐC VÀ VIỆN THÁI-Y DƯỚI THỜI CHẤP CHÍNH CỦA TỪ HI THÁI
HẬU”
Tây Thái-hậu Từ Hi (1860-1908) của nhà
Măn Thanh (1644-1911) ở Trung Quốc là một gương mặt nổi bật và vô
cùng tai tiếng vào thời kỳ cuối của triều đại này. Bà bị hậu thế phê
phán v́ cách nh́n thiển cận, thái độ hủ lậu, tính tham lam và ích
kỷ, cũng như sự độc đoán và những điều tàn bạo trong cách cai trị
của bà. Bà c̣n bị nhiều tiếng thị phi do lối sống cực kỳ xa xỉ và
thói dâm đăng “vô tiền khoáng hậu”. Một người đàn bà như thế đương
nhiên là phải rất quan tâm đến sức khỏe và sự trường thọ của bản
thân ḿnh. Do đó, những toa thuốc bổ và thuốc chữa bệnh mà Thái-Y
Viện đă viết riêng cho Từ Hi Thái-hậu là một trong những chuyện
“thâm cung bí sử” hấp dẫn nhất của Thanh Triều. Vậy th́ thực hư ra
sao? Đầu năm 1980, Viện Hàn-Lâm Y-Học Cổ Truyền tại Bắc Kinh đă
được phép mở lại kho thư tịch của triều đại Măn Thanh liên quan đến
việc chăm sóc sức khỏe cho Từ Hi Thái-hậu, vốn từng bị niêm phong
suốt gần một thế kỷ. Trong những tài liệu vô giá ấy, các học giả đă
đặc biệt chú ư đến những toa thuốc bổ, toa thuốc trị bệnh, và cả
những toa đặc chế mỹ-phẩm mà Viện Thái-Y đă biên soạn dành riêng cho
bà. Những kết quả bước đầu của công tŕnh nghiên cứu này đă được
Viện Hàn-Lâm Y-Học Cổ Truyền Trung Quốc công bố vào tháng 11 năm
1981. Dựa trên
những tài liệu đă được công bố về công tŕnh nghiên cứu nói trên,
đồng thời dựa trên các nguồn sử liệu khác nhau về các triều đại ở
Trung Quốc nói chung, và về triều đại Măn Thanh nói riêng, anh Trần
Chính của Voyages Saigon, cùng phối hợp với B.S. Hoàng Huy (Y Khoa
Trị-liệu Tổng-hợp), đă tổ chức một buổi thuyết tŕnh gồm hai chủ đề:
1/ “Ngành Thái-Y ở Trung Quốc và Viện Thái-Y dưới thời Từ Hi
Thái-hậu” và 2/ “Đông-Y dưới cái nh́n của Tây-Y” vào ngày
chủ nhật 29 tháng 02 năm 2004 vừa qua tại Pḥng Sinh Hoạt của Nhật
Báo Viễn Đông (thành phố Westminster, quận Cam, Nam
California). Buổi thuyết tŕnh bắt đầu vào đúng 4 giờ chiều, và
đă diễn ra trong bầu không khí hào hứng, với sự có mặt của khoảng
350 khách dự thính. Ở đây, chúng tôi chỉ tường tŕnh lại
một cách cô đọng phần thuyết tŕnh của anh Trần Chính (Voyages
Saigon) về đề tài “Ngành Thái-Y ở Trung Quốc và Viện Thái-Y dưới
thời Từ Hi Thái-hậu”. Bài tóm lược phần thuyết tŕnh của B.S.
Hoàng Huy về đề tài “Đông-Y dưới cái nh́n của Tây-Y” sẽ được
đăng trên trang CLUB EsPRESSO trong thời gian sắp tới. Thuyết
tŕnh viên (Trần Chính) đă chia bài nói chuyện của ḿnh ra làm 6
phần, với 6 tiêu đề, mà dưới đây là nội dung tóm
lược:
Phần Một: DÂN-Y VÀ
THÁI-Y. Nh́n vào toàn bộ di sản Văn hóa đồ sộ mà lịch sử
mấy ngh́n năm của Trung Quốc để lại, chúng ta thấy Đông-Y, hay Bắc-Y
– mà ở Trung Quốc người ta gọi là Trung-Y – giống như một viên ngọc
quư với giá trị vô cùng lớn. Đó là một nền Y-học được xây dựng trên
một hệ thống lư luận độc nhất, đồng thời trên cả một kho tàng thực
nghiệm phong phú. Đông-Y có 2 đặc điểm lớn: thứ nhất, nó bao gồm cả
Y-học lẫn Dược-học, nói đến Đông-Y là nói đến Y-Dược kết hợp, người
thầy thuốc Đông-Y vừa là Y sĩ vừa là Dược sĩ; Thứ hai, do tính chất
đặc thù của xă hội phong kiến Trung Quốc, Đông-Y chia làm hai ngành
phục vụ hai đối tượng giai cấp khác biệt: ngành Dân-Y phục vụ quảng
đại nhân dân, và ngành Thái-Y phục vụ giới quư tộc sống trong cung
cấm. Hai nghành Đông-Y này về căn bản giống nhau bởi v́ chúng
cùng áp dụng những nguyên lư về Y-Dược giống nhau, cùng phát triển
hệ thống lư luận của ḿnh dựa trên các học thuyết về âm dương ngũ
hành, phủ tạng, kinh mạch và khí huyết, và dựa trên hai quan điểm
chính trong Y lư là quan điểm “chính thể” và quan điểm “vận động
biến hóa”. Ba tác phẩm kinh điển về lư luận, đại diện cho 3 học phái
lớn trong Y-học Trung Quốc là “Thương Hàn luận” của Trương
Trọng Cảnh (đời Hán), “Ôn Dịch luận” của Ngô Hựu Khả (đời
Minh), và “Tỳ Vị luận” của Lư Quả (đời Tống-Kim) cùng được cả
hai ngành trọng thị và đưa vào thực tiễn chữa trị. Tuy nhiên, trải qua hàng ngh́n năm cùng tồn tại và phát triển
song song, việc học tập để bổ sung kinh nghiệm lẫn nhau giữa hai
ngành Dân-Y và Thái-Y ở Trung Quốc trên thực tế chỉ xẩy ra một
chiều, có nghĩa là chỉ có nghành Thái-Y là có điều kiện nghiên cứu
và học tập cách chữa bệnh của các thầy thuốc dân gian trên cả hai
mặt lư luận và thực tiễn (bởi v́ có rất nhiều vị quan Thái-Y vốn
xuất thân là thầy thuốc trong dân gian, do có chuyên môn và kinh
nghiệm giỏi mà được tiến cử vào Thái-Y Viện), trong khi ngành Dân-Y
th́ lại không có điều kiện tiếp cận với nghành Thái-Y để học tập
những kinh nghiệm chữa bệnh của các thầy thuốc cung
đ́nh. Tại sao lại có hiện tượng ấy? Trong chế
độ phong kiến ở Trung Quốc, việc chăm sóc sức khỏe cho các hoàng đế
và hậu phi là công việc tối hệ trọng, cần được bảo mật một cách
tuyệt đối. Hồ sơ bệnh án của hoàng gia được xem là bí mật quốc gia,
và được lưu trữ trong những điều kiện nghiêm ngặt nhất. Tất cả những
thầy thuốc, y tá và dược tá làm việc trong Viện Thái-Y đều phải tuân
thủ một quy tắc chung là tuyệt đối giữ bí mật về những công việc mà
họ làm, cũng như những tài liệu và thư tịch mà họ được xử lư liên
quan đến việc chăm sóc sức khỏe cho hoàng gia. Những ai vi phạm quy
định này đều bị kết tội rất nặng và h́nh phạt thường là rất nghiêm
khắc. V́ lư do đó mà trải qua nhiều triều đại, hoạt động của nghành
Thái-Y hầu như không hề bị tiết lộ ra ngoài, và nó đă trở thành một
trong những chuyện “thâm cung bí sử” hấp dẫn nhất!
Phần Hai: NGHÀNH THÁI-Y QUA CÁC TRIỀU
ĐẠI. Từ rất sớm, các thư tịch cổ đă bắt đầu nói đến sự tồn
tại và hoạt động của nghành Thái-Y ở Trung Quốc. Sách “Nghệ Văn
Chí” trong Hán Thư có nói về những thầy thuốc thuộc về
những gia đ́nh làm nghề Y-Dược gia truyền được chính thức bổ nhiệm
để làm việc cho triều đ́nh, tuy không bàn ǵ đến cách tổ chức và
hoạt động của Viện Thái-Y. Sách “Tam Quốc Chí”, phần “Ngụy
Chí” – “Hoa Đà truyện” th́ kể rằng vào thời kỳ Đông Hán
(đầu Công Nguyên), người ta bắt đầu định chế hóa việc tổ chức và
điều hành Thái-Y Viện, trong đó có việc tuyển chọn những thầy thuốc
giỏi trong dân gian và bổ nhiệm họ vào làm việc cho ngành
Thái-Y. Sách “Nghệ Văn Chí” trong
Tùy Thư là trước tác sử học đầu tiên ghi chép một cách chi
tiết về tổ chức và hoạt động của Viện Thái-Y; Cũng trong Tùy Thư,
sách “Kinh Tập Chí” c̣n kết tập hơn 10,000 toa thuốc do các
Viện Thái-Y biên soạn, chia thành 256 nhóm toa khác nhau gồm có
thuốc bổ và thuốc chữa bệnh; Khoảng 16,000 toa thuốc liên quan đến
phụ khoa và sản khoa th́ được ghi chép vào một sách riêng bàn về
Ngũ-hành, qua đó chúng ta thấy đội ngũ phi tần đông đảo trong nội
cung của các vua nhà Tùy là một đối tượng phục vụ quan trọng của
Viện Thái-Y. Sách Đường Thư th́ chép rằng Viện Thái-Y của các
vua nhà Đường có đội ngũ chuyên môn vào khoảng 200 người, gồm các y
sĩ, y tá, dược tá, những người trợ tá cho các y sĩ trong việc giảng
dạy và đào tạo, những chuyên viên tẩm quất và chuyên viên thú y để
chăm lo sức khỏe cho bầy ngựa và chó của triều đ́nh; Thái-Y Viện đời
Đường được tổ chức một cách có hệ thống, gồm có một y viện, một dược
viện, một trường đào tạo y sĩ và một cơ quan quản lư hành chính và
thư tịch; Ngoài ra, Viện Thái-Y c̣n quản lư một hệ thống trang trại
chuyên trồng các loại dược thảo nhằm cung cấp dược liệu cho nó.
Ngành Thái-Y đời Đường tuy phát triển khá mạnh nhờ vào tính tổ chức
cao và cơ sở vật chất được trang bị đầy đủ, nhưng do nhận thức về
khoa học vào thời đại ấy c̣n hạn chế, cộng thêm với tư tưởng mê tín
siêu h́nh của Lăo-giáo vốn rất thịnh hành trong giới quư tộc, nên
hoạt động thực tiễn của ngành Thái-Y đời Đường bị chi phối nặng nề
bởi các thuật dưỡng sinh, tu tiên và luyện đan dược (nhằm mục đích
trường sinh và cải lăo hoàn đồng). Hai đời Tống và Nguyên trên
căn bản vẫn giữ nguyên cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của
ngành Thái-Y đời Đường. Khi nhà Tống mất Biện Kinh (Khai Phong) và
một nửa nước vào tay nhà Kim (đầu thế kỷ thứ 12), hai vua Tống cùng
với hơn 3,000 cung quyến – trong đó có toàn bộ nhân sự của Viện
Thái-Y – bị nhà Kim đưa lên tận miền đông-bắc của Trung Quốc để cầm
giữ; Trong khi các hậu phi và cung nhân của Tống triều bị người Kim
đày ải và làm nhục, th́ các thầy thuốc của Viện Thái-Y lại được
người Kim đưa về kinh đô Hội Ninh của họ (trong tỉnh Hắc Long Giang)
và trọng dụng, bởi v́ người Nhữ-Chân rất trọng thị và muốn học tập
Y-học của người Hán. Gần 300 năm của triều
đại nhà Minh là thời kỳ Trung-hưng lớn của chế độ phong kiến ở Trung
Quốc. Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh vào thời kỳ ấy là hệ thống cung đ́nh
lớn và phức tạp nhất trên thế giới, với dân số đông đảo (có khi lên
đến 20,000 người), và với cơ cấu dân số rất đặc biệt, bao gồm phần
lớn là hậu phi (phụ nữ) và các cung nhân (đàn ông bị thiến). Trong
những điều kiện ấy, Viện Thái-Y của Minh triều đă được tổ chức thành
một cơ quan lớn, với cơ cấu tổ chức và bộ máy hành chính cồng kềnh,
và với đội ngũ chuyên môn đông đảo, được đào tạo một cách chính quy.
Đặc điểm lớn nhất của ngành Thái-Y đời Minh là hoạt động của nó bắt
đầu được chuyên môn hóa, có nghĩa là phân thành nhiều chuyên khoa
với nhiệm vụ và chức năng rơ rệt. Các phân khoa có thể bị tách ra
hoặc sát nhập lại tùy theo t́nh h́nh thực tế, dựa trên những phát
triển về lư luận cũng như về thực tiễn hoạt động của ngành Y-học
cung đ́nh.
Phần Ba: THÁI-Y VIỆN VÀO ĐỜI MĂN THANH Nhờ bộ sách “Y
Gia Loại” trong “Tứ Khố Toàn Thư Tổng Mục”, biên soạn vào
đời Càn Long (1736-1796), mà chúng ta biết được cơ cấu tổ chức và
hoạt động của ngành Thái-Y đời Măn Thanh. Nh́n chung th́ Thái-Y Viện
của Thanh Triều có cơ cấu tổ chức giống như Thái-Y Viện vào đời
Minh, với một bộ máy hành chính ít cồng kềnh hơn. Kể từ đời Khang Hi
(1662-1723) trở đi, Thái-Y Viện được đặt dưới sự quản lư trực tiếp
của Bộ Lễ. Viện Thái-Y của Thanh Triều được tổ chức thành 4 cơ
cấu, gồm có một y viện hoạt động trên cả hai lănh vực nghiên cứu và
điều trị, một dược viện, một trường đào tạo và một cơ quan hành
chính. Về nhân sự, Viện Thái-Y có 3 bộ phận: bộ phận lănh đạo (gồm
có một Viện trưởng, một Viện phó và 13 quan Thái-Y được mang phẩm
hàm ngang với các vị Đại thần), bộ phận chuyên môn (gồm có 40 y sĩ,
30 y tá và dược tá) và bộ phận hành chính (gồm có 30 người phụ trách
công việc hành chính và quản lư thư tịch). Phần đông các y sĩ, y tá,
dược tá và tất cả những người phụ trách về hành chính đều là những
hoạn quan được chọn ra từ đám Nội thị, là những người được phép sống
và làm việc thường trực trong Cấm Thành. Tất cả đội ngũ chuyên
môn của Viện Thái-Y đều phải “tốt nghiệp” từ Trường đào tạo y sĩ, y
tá và dược tá của Viện Thái-Y hoạt động ngay trong Cấm Thành. Bộ
sách giáo khoa về Y-Dược do vua Ung Chính (1723-1736) khâm định vào
năm 1725, gọi là “Tam Thư”, gồm có “Loại Kinh Chú
Thích” (của Trương Kính Nhạc đời Minh), “Bản Thảo Cương
Mục” và “Thương Hàn Luận” (của Trương Trọng Cảnh đời Đông
Hán). Phần lớn các thầy thuốc Cung đ́nh của
Thanh Triều đều làm việc theo chuyên khoa. Vào đời Khang Hi, Thái-Y
Viện được chia thành 11 Phân khoa, mỗi phân khoa do một quan Thái Y
phụ trách, gồm có: Khoa Đại-kinh-mạch (tim, phổi, gan, thận, lá
lách), Khoa Tiểu-kinh-mạch (bao tử, ruột già và ruột non, mật và
bọng đái), Khoa Thương hàn (các bệnh nóng sốt), Phụ Khoa (bệnh phụ
nữ), Khoa Châm-cứu, Khoa Ung nhọt và nấm, Nhăn Khoa (mắt), Nha Khoa
(răng), Khoa Cổ họng, Khoa Xương và Khoa Đậu-mùa; Đến đời Càn Long,
Khoa Đậu-mùa được sát nhập vào Khoa Tiểu-kinh-mạch và Khoa Cổ họng
được sát nhập vào Khoa Nha; Đến đời Gia Khánh (1796-1821), Phụ Khoa
và Khoa Thương hàn được sát nhập vào Khoa Đại-kinh-mạch; Đến đời Hàm
Phong (1850-1860), Khoa Ung nhọt và nấm được đặt tên lại là Khoa
Trị-liệu Ngoài da. Đến đời Quang Tự (thời kỳ chấp chính của Từ Hi
Thái Hậu (1875-1908), Viện Thái-Y được tái cấu trúc lại, và chỉ c̣n
5 Phân khoa, gồm có: Khoa Đại-kinh-mạch, Khoa Tiểu-kinh-mạch, Khoa
Trị-liệu Ngoài da, Nhăn Khoa và Nha Khoa.
Phần Bốn: CÔNG TR̀NH NGHIÊN CỨU VỀ NGHÀNH THÁI-Y CỦA THANH
TRIỀU. Trải qua hàng ngh́n năm của chế độ phong kiến ở
Trung Quốc, những kinh nghiệm mà ngành Thái-Y thu thập và tích lũy
được là cả một kho tàng vô giá mà thực ra cho đến nay người ta mới
chỉ khai thác được một phần rất nhỏ để làm giàu thêm cho hoạt động
của ngành Đông-Y, cả về lư luận lẫn trong thực tiễn. Có hai lư do để
giải thích hiện trạng này. Thứ nhất, do
Thái-Y là ngành Y-học cung đ́nh nên tất cả những văn bản, hồ sơ và
tài liệu liên quan đến hoạt động của nó đều được lưu trữ và bảo mật
trong Nội Cung. Ngoại trừ một số quan Thái-Y và Nội thị cao cấp,
không một ai có quyền mở và đọc các tài liệu ấy hay tiết lộ nội dung
của chúng ra bên ngoài, và h́nh phạt dành cho những ai vi phạm rất
nghiêm khắc (thường là án tử!). Do đó mà trải qua nhiều triều đại
phong kiến ở Trung Quốc, hoạt động của ngành Thái-Y đă trở thành
chuyện “thâm cung bí sử” thật sự dưới mắt của ngành Dân-Y nói riêng
và của quần chúng nhân dân nói chung. Thứ hai, những biến động
chính trị và những cuộc binh biến lớn trong lịch sử Trung Quốc đă là
nguyên nhân của việc hủy hoại và làm cho thất tán kho tàng thư tịch
của các triều đại, trong đó một phần quan trọng là hồ sơ lưu trữ của
ngành Y-học Cung Đ́nh, bao gồm những hồ sơ Y án, những toa thuốc và
những tài liệu khảo cứu về Y-Dược. Kể từ khi
triều đại Măn Thanh cáo chung với cuộc Cách Mạng Tân Hợi năm 1911
cho đến khi kết thúc cuộc Cách Mạng Văn Hóa của những người Cộng Sản
Mao-ít vào năm 1976, kho thư tịch cổ tàng trữ trong Cấm Thành ở Bắc
Kinh đă bị niêm phong và gần như rơi vào quên lăng. Người đầu tiên
đề xuất việc mở lại kho thư tịch ấy để nghiên cứu những tài liệu
liên quan đến hoạt động của ngành Thái-Y đời Thanh là giáo sư - bác
sĩ Nhạc Mỹ Trung; Ông đă đề xuất việc này trong Hội nghị Khoa học
của Viện Hàn-Lâm Y-học Cổ truyền Trung Quốc họp tại Bắc Kinh vào năm
1978. Trong các thập niên 1950, 60 và 70, giáo sư - bác sĩ Nhạc Mỹ
Trung là tổ trưởng của một “tổ công tác đặc biệt”, không có tên gọi
và chỉ mang bí số, thực chất là một nhóm bác sĩ Đông-Y chuyên trách
việc chăm lo sức khỏe cho giới lănh đạo cao cấp nhất trong Đảng Cộng
Sản Trung Quốc (nói cách khác, “tổ công tác đặc biệt” ấy mang chức
năng của một Thái-Y Viện của Mao Triều!). Một trong những thành tích
nổi bật nhất của nhóm bác sĩ này là việc điều trị bệnh tiểu đường
cho ông Chu Ân Lai, Thủ Tướng Quốc Vụ Viện của Trung Quốc, giúp cho
họ Chu sống khỏe mạnh, sinh hoạt và làm việc b́nh thường trong nhiều
thập niên. Đầu năm 1980, Viện Hàn-Lâm Y-học
Cổ truyền Trung Quốc đă thành lập “Nhóm đặc nhiệm” để tiến hành công
tŕnh khảo cứu về “Hoạt động của ngành Thái-Y vào đời Măn
Thanh”, do giáo sư - bác sĩ Trần Khả Kí chủ tŕ. Nhóm đặc nhiệm
này đă được Chính phủ Trung Quốc cho phép mở lại kho thư tịch của
Thanh Triều để nghiên cứu những tài liệu nguyên bản vốn đă bị niêm
phong suốt gần một thế kỷ, và họ đă phân loại các tài liệu ấy thành
bốn nhóm: những hồ sơ Y-án của các hoàng đế và hậu phi nhà Thanh,
những toa thuốc viết cho các hoàng đế và hậu phi nhà Thanh, những hồ
sơ lưu trữ của Thái Dược Viện và những tài liệu chính sử liên quan
đến cuộc sống riêng tư của các hoàng đế và hậu phi nhà
Thanh. Sau gần 2 năm làm việc, đến tháng 11
năm 1981, Nhóm đặc nhiệm đă chính thức công bố kết quả bước đầu từ
công tŕnh nghiên cứu của họ qua 3 tập tài liệu mà họ đă đúc kết,
gồm có tài liệu “Thanh Cung Y-Án Nghiên Cứu” (Nghiên cứu
những bệnh án trong Cung đ́nh vào đời Thanh), tài liệu “Thanh
Cung Phối Phương Nghiên Cứu” (Nghiên cứu những toa thuốc trong
Cung đ́nh vào đời Thanh) và tài liệu “Từ Hi Quang Tự Y-Phương
Tuyển Nghị” (Bàn về những toa thuốc của Từ Hi Thái-hậu và Vua
Quang Tự). Cho đến thời điểm cuối năm 1981, mặc dù công tŕnh nghiên
cứu ấy mới chỉ đạt được những kết quả bước đầu của nó, nhưng chúng
cũng đă làm giàu thêm cho nền Y-học cổ truyền của Trung Quốc cả về
mặt phát triển lư luận lẫn về kinh nghiệm chữa trị. Bên cạnh đó,
công tŕnh nghiên cứu này c̣n giúp rọi những tia sáng mới vào những
điều bí ẩn từng gây nhiều tranh căi về những biến cố trong lịch sử
của Thanh Triều; Thí dụ như có phải vua Đồng Trị, con trai của Từ Hi
Thái-hậu, đă chết v́ bệnh giang mai hay do bị mẹ đầu độc, phải chăng
Từ Hi đă bức tử cháu của ḿnh là vua Quang Tự, và Từ Hi chết trước
hay Quang Tự chết trước?
Phần Năm: TIỂU SỬ CỦA TỪ HI THÁI HẬU. Bà sanh năm 1835
trong tỉnh An Huy, tên Măn-tộc là Yehonala. Bà được tuyển vào cung
năm Hàm Phong thứ hai (1851), lúc bà 16 tuổi. Năm 1855, nhờ sự tiến
cử của người em họ tên Niuhuru, lúc bấy giờ là Hiếu Trinh Hoàng hậu,
Yehonala được cơ hội gần gũi với vua Hàm Phong. Tuy không đẹp nhưng
nhờ sự sắc sảo và nhanh nhẹn, lại biết khéo léo mua chuộc bọn hoạn
quan gần gũi với vua Hàm Phong nên Yehonala đă nhanh chóng chiếm
được cảm t́nh của nhà vua. Cùng năm, bà được phong là Lan Quư Nhân
và tiếp theo là Ư Tần. Năm 1857, sau khi sanh cho vua Hàm Phong một
con trai, Yehonala được tôn phong là Ư Quư Phi, nhờ đó địa vị của bà
lại được củng cố thêm một bước. Nhưng chỉ trong một thời gian ngắn,
Hàm Phong đă nh́n thấy rơ bản chất trí trá, đầy tham vọng và mưu
lược của bà. Năm 1860, khi liên quân Anh Pháp đánh vào Bắc Kinh,
vua Hàm Phong giao trách nhiệm cho người em trai là Cung thân Vương
Dịch Hân ở lại đối phó, c̣n ông th́ cùng Hoàng hậu Hiếu Trinh và Ư
Quư Phi vội vă lánh đi Nhiệt Hà (trong tỉnh Hà Bắc). Tháng 8 cùng
năm, Hàm Phong lâm trọng bệnh và đột ngột băng hà tại hành cung ở
Nhiệt Hà. V́ Hoàng hậu không có con nên nhà vua để lại di chiếu lập
Tải Thuần con trai của Ư Quư Phi lên kế vị, đồng thời chỉ định một
hội đồng phụ chính gồm có 8 vị đại thần. Ngay sau khi Hàm Phong qua
đời, Tải Thuần được lập lên ngôi Hoàng đế, là vua Đồng Trị; Hiếu
Trinh được tôn lập vào ngôi Hoàng Thái Hậu, c̣n Ư Quư Phi th́ được
tôn phong vào bậc Thái Phi. Yehonala lập tức
ra tay. Bà câu kết với em chồng là Cung thân vương Dịch Hân và một
số người tâm phúc để phát động một cuộc đảo chính cung đ́nh. Bà bí
mật trở về Bắc Kinh và giả di-mệnh của vua Hàm Phong để ra lệnh bắt
giam tất các vị đại thần trong hội đồng phụ chính, sau đó ghép họ
vào tội âm mưu phế lập và hạ lệnh xử tử. Sử Tàu gọi cuộc đảo chính
này là “Bắc Kinh chính biến”. Tiếp theo, Yehonala áp lực triều đ́nh
lập 2 ngôi Thái Hậu cùng một lúc, và đặt ra định chế “Lưỡng Cung
thùy liêm thính chính” chưa từng có tiền lệ trong lịch sử Trung
Quốc. Niuhuru được lập là Đông-cung Hoàng Thái-hậu Từ An, c̣n
Yehonala th́ lập là Tây-cung Hoàng Thái-hậu Từ Hi. Năm ấy Từ Hi mới
26 tuổi! Khi vua Đồng Trị bắt đầu có trí khôn
và nh́n thấy mẹ ruột lộng quyền và có những hành động xem thường
phép nước th́ rất bất b́nh; Năm 1873 ông đ̣i Lưỡng Cung phải trả lại
quyền chính cho ông. Từ Hi miễn cưỡng chấp thuận, nhưng ngay sau đó,
được sự ủng hộ của quan Đại nội thị Lư Liên Anh, bà đưa ra chiêu bài
“Mạc ngộ chính vụ” (“Tránh làm sai việc chính sự”) để cô lập nhà vua
và kiểm soát ông. Năm 1875, sau khi Đồng Trị chết, Từ Hi lập cháu là
Tải Điềm mới 4 tuổi lên ngôi, tức vua Quang Tự. Hai Cung vẫn tiếp
tục buông rèm nhiếp chính, nhưng thực quyền đều nằm trong tay của Từ
Hi. Năm 1881, Đông Thái-hậu Từ An đột ngột qua đời, khiến nhiều
người tin rằng đó lại là một thủ đoạn độc ác khác của Từ Hi nhằm
loại bỏ “cái gai” trước mắt của bà. Năm 1889, vua Quang Tự 18 tuổi,
bắt đầu muốn tự lập, Từ Hi tuyên bố trả quyền chính, nhưng trên thực
tế vẫn không chịu rời bỏ quyền lực; Từ đó trong triều đ́nh h́nh
thành hai thế lực ḱnh chống nhau: phe đảng của nhà vua và phe đảng
của Tây Thái-hậu. Năm 1898, Quang Tự cùng hai nhà duy tân là Lương
Khải Siêu và Khang Hữu Vi chủ trương thi hành “Biến Pháp”, và âm mưu
làm cuộc đảo chính để lật đổ Từ Hi. Âm mưu bị bại lộ, Từ Hi thẳng
tay trấn áp cuộc “Duy Tân 100 ngày” ấy và bắt giam Quang Tự trong
cung Ngọc Lăng ở Di Ḥa Viên. Năm 1908, Từ Hi Thái-hậu qua đời
sau khi bức tử vua Quang Tự và lập Phổ Nghi, cháu Quang Tự, lên ngôi
(tức vua Tuyên Thống, vị Hoàng đế cuối cùng của nhà Măn
Thanh).
Phần Sáu: THANH TRIỀU VÀ ĐÔNG-Y. Hầu hết các Hoàng đế nhà
Thanh đều ít nhiều hiểu biết về Đông-Y; Đặc biệt các vua Khang Hi,
Ung Chính và Càn Long c̣n là những thầy thuốc Đông-Y khá giỏi, có
thể tự chẩn định bệnh và viết toa thuốc. Các vua Khang Hi và Càn
Long đă cho thẩm định lại nội dung của những trước tác kinh điển về
Y-Dược học (“Bản Thảo Cương Mục”, “Lương Phương Tập Thành”),
đúc kết và hệ thống hóa những kinh nghiệm chẩn trị của những đời
trước (“Chẩn Trị Chuẩn Thắng”, “Y Tông Kim Giám”), và bản
thân nhà vua chủ tŕ công tŕnh này. Vua Ung Chính đặc biệt chú ư
đến việc đào tạo thầy thuốc cho nghành Thái-Y, và vào năm 1725 đă
khâm định bộ sách giáo khoa về Y-Dược, gọi là “Tam Thư”.
Trong cuốn hồi kư của vua Tuyên Thống (Phổ Nghi) nhan đề “Ngă
đích tiền bán sinh” (“Một nửa đời về trước của tôi”) xuất bản
năm 1962 tại Bắc Kinh, tác giả dành nhiều đoạn để bàn về Đông-Y,
chứng tỏ bản thân ông rất thích thú t́m hiểu về Y-Dược
học. Hồ sơ bệnh án và những toa thuốc của Từ
Hi Thái-hậu cho chúng ta biết thêm những ǵ về bà? Viện Thái-Y đă để
lại một khối lượng thư tịch khổng lồ liên quan đến việc chăm sóc sức
khỏe cho Từ Hi Thái-hậu trong những năm bà chấp chính. Sau khi tuyển
chọn và phân loại một số toa thuốc mà Từ Hi đă dùng và được ghi nhận
là có hiệu quả, nhóm nghiên cứu của bác sĩ Trần Khả Kí đă đúc kết
thành một tập tài liệu mang tên “Từ Hi Quang Tự Y-Phương Tuyển
Nghị”. Trong tài liệu ấy, người ta tuyển chọn 209 toa thuốc của
Từ Hi, chia thành 3 nhóm lớn gồm có các toa thuốc bổ, toa thuốc bệnh
và toa mỹ phẩm. Những toa thuốc này chẳng những cho chúng ta thêm
nhiều dữ kiện để t́m hiểu về t́nh trạng sức khỏe của bà trong những
năm bà cầm quyền, mà chúng c̣n rọi những tia sáng mới vào những biến
cố lịch sử liên quan đến cuộc đời và nhân cách chính trị của
bà. Toa thuốc bổ th́ có hai loại, thuốc “Ích-thọ” (có ích cho
tuổi thọ, có nghĩa là thuốc bổ toàn diện, nhắm vào hiệu quả lâu dài)
và thuốc “Cường-sinh” (để tăng cường sinh lực, công hiệu nhanh và có
tác dụng như thuốc kích thích. Từ Hi Thái-hậu bắt đầu dùng các
toa thuốc Ích-thọ một cách đều đặn từ năm 1875 (40 tuổi) đến năm
1905 (70 tuổi); Có tất cả 12 toa Ích-thọ khác nhau, tùy thuộc vào
thể trạng của bà, nhưng hầu hết đều chủ về bồi bổ Tỳ-Vị; Thuốc được
bào chế dưới dạng thuốc nước và thuốc viên để uống. Từ Hi bắt đầu dùng các toa thuốc Cường-sinh từ năm 1880 (45
tuổi) đến năm 1900 (65 tuổi); Có tất cả 16 toa Cường-sinh khác nhau,
hầu hết đều chủ về bồi bổ Thận và Khí; Thuốc được bào chế dưới dạng
thuốc viên để uống và thuốc cao để bôi trên da; Tuy Từ Hi mất vào
năm 1908 khi bà 73 tuổi, cũng không phải là thọ lắm đối với một
người tham sống như bà, nhưng thể trạng của bà nói chung là khỏe
mạnh cho đến tận những năm cuối đời. Qua những toa thuốc bệnh mà
Viện Thái-Y soạn cho Từ Hi, chúng ta biết bà có những vấn đề chính
về sức khỏe như sau: 1/Kinh nguyệt thất thường, đi kèm với ăn và ngủ
không ngon, hay hồi hộp; Những triệu chứng này xẩy ra vào năm 1869
và 1870, khi quan hệ giữa Từ Hi và Từ An trở nên căng thẳng, tiếp
theo vào năm 1873 khi Đồng Trị con bà muốn bà phải chấm dứt việc
thính chính để nhà vua trực tiếp nắm chính quyền, và vào năm 1875
khi Đồng Trị băng hà và bà đưa Quang Tự lên làm vua bù nh́n; Vào
những thời gian ấy, những toa thuốc Điều-kinh được biên soạn cho Từ
Hi kèm với những toa thuốc Dưỡng-tâm. 2/Tiêu hóa chậm và đầy hơi;
Triệu chứng này xẩy ra trong những năm 1880 và 1881, sau đó vào
những năm từ 1898 đến 1902. 3/Trĩ ngoại và chảy máu ở hậu môn; Những
toa thuốc trĩ không thấy ghi niên hiệu nên người ta không rơ Từ Hi
bị bệnh này vào những năm nào. 4/Co giật ở g̣ má phía dưới mắt bên
trái; Triệu chứng này bắt đầu xuất hiện vào năm 1888 (53 tuổi), sau
đó thường xuyên trở lại; Từ năm 1904 trở đi, g̣ má bên trái của bà
bị tê liệt hẳn; Viện Thái-Y đă viết rất nhiều toa thuốc để điều trị
bệnh này cho bà. Toa mỹ phẩm của Từ Hi
Thái-hậu có 3 loại chính: cao và phấn dùng để bôi trên mặt, trên tay
và trên người, thuốc gội đầu và nước tắm. Tùy thuộc vào trời nắng,
trời gió, trời mưa hay trời tuyết khi Từ Hi đi ra ngoài, Viện Thái-Y
bào chế các loại nước tắm và thuốc gội đầu khác nhau để bà dùng khi
hồi cung. Có một điều lư thú là khi nh́n vào những toa thuốc của
Từ Hi và Quang Tự, người ta thấy rằng nhiều vị thuốc với dược tính
mạnh từng bị vua Khang Hi loại bỏ khi ông khâm định lại sách “Bản
Thảo Cương Mục” và không cho dùng trong nghành Thái-Y, th́ đến
đời Đồng Trị, Từ Hi lại cho phép dùng lại, mặc dù kiến thức về
Y-Dược của bà rất hạn chế và hơn nữa bà lại là người cực kỳ thận
trọng trong việc dùng thuốc. Việc chăm sóc sức khỏe cho các vua
và hậu phi của Thanh Triều đă được đặt thành định chế từ đời Khang
Hi (giữa thế kỷ thứ 17), và vẫn được áp dụng không thay đổi cho đến
hết đời Măn Thanh. Ngay cả khi các Hoàng đế nhà Thanh đi tuần du ra
khỏi Cấm Thành và Bắc Kinh th́ hoạt động của Thái-Y Viện (với một
đội ngũ chuyên môn và một nhà thuốc lưu động cùng đi theo nhà vua)
vẫn phải giữ đúng các định chế ấy; Đến mỗi tỉnh th́ Tuần Phủ của
tỉnh ấy phải bảo đảm đầy đủ phương tiện vật chất để Viện Thái-Y có
thể hoạt động một cách b́nh thường theo đúng định chế như ở trong
Nội Cung. Từ Hi Thái-hậu chữa bệnh như thế
nào? Trong một loạt bài viết nhan đề “Những chuyện thật về đời tư
của Tây Thái-hậu” của tác giả là Đức Linh công chúa (bà này là
một người cháu của vua Hàm Phong, và được Từ Hi Thái-hậu sủng ái và
cho ở kề cận, cho nên những câu chuyện mà bà kể hoàn toàn có thể tin
được) đăng trên tờ Thượng Hải Nhật Báo vào năm 1936, có đoạn kể lại
một cách chi tiết việc chữa bệnh cho Từ Hi. Tác giả kể rằng, một lần
Từ Hi cảm thấy khó ở trong người, quan Đại-nội-thị Lư Liên Anh liền
cho triệu 4 vị Thái-Y đến. Từng người một được vào chẩn bệnh cho Từ
Hi; Sau đó cả 4 người phải họp lại để hội chẩn và tham khảo ư kiến
của nhau, xong mỗi người đề nghị một toa thuốc khác nhau. Cả 4 toa
thuốc được đưa cho hoạn quan Lư Liên Anh để ông này dâng lên cho Từ
Hi xem. Một vị hoạn quan phụ trách về thư tịch của Thái-Y Viện được
gọi đến để thẩm định từng vị thuốc, căn cứ vào hai bộ sách “Chẩn
Trị Chuẩn Thắng” và “Bản Thảo Cương Mục”; Sau khi lọt qua
ṿng “xét duyệt” này, 4 toa thuốc được chuyển qua hội đồng 15 vị
Thái-Y để các vị này tổng hợp thành một toa thuốc thứ 5. Toa thuốc
thứ 5 này lại được dâng lên Từ Hi một lần nữa, và lần này người ta
giải thích cho bà rơ về dược tính, dược năng của từng vị thuốc ghi
trong toa. Sau khi Từ Hi phê duyệt th́ toa thuốc mới được đưa đi bào
chế. Cùng một toa thuốc, người ta luôn luôn bào chế 2 liều lượng
giống nhau, dưới sự giám sát trực tiếp của hai vị Thái-Y. Và sau khi
thuốc bào chế xong, hai vị này phải nếm trước rồi mới dâng lên cho
Từ Hi dung.
Kết luận: Thái-Y vốn là
ngành Y-học chỉ dành để phục vụ riêng cho một thiểu số người thuộc
một tầng lớp đặc biệt trong xă hội phong kiến Trung Quốc: những
người sống nhàn hạ, ăn uống thừa mứa và được tẩm bổ thường xuyên,
nhưng đồng thời là những người không sống gần gũi với thiên nhiên,
ít hoạt động, hơn nữa lại ăn uống và sinh hoạt t́nh dục một cách một
cách bừa băi không điều độ, cũng như phải sống dưới áp lực thường
xuyên của nhiều sự căng thẳng về tâm lư. Nghiên cứu những tài liệu
lưu trữ của ngành Thái-Y giúp cho chúng ta t́m ra giải đáp cho một
số câu hỏi về mặt lư luận cũng như thực tiễn liên quan đến các vấn
đề sức khỏe và tuổi thọ của chính chúng ta, những người “may mắn
mà không may mắn” – giống như giai cấp quư tộc phong kiến ngày
xưa – sống trong thế giới hiện đại của đầu thế kỷ thứ 21, cái thế
giới tuy đầy đủ về vật chất nhưng quá máy móc và ngày càng ô nhiễm
hiện nay. Cuối phần thuyết tŕnh của ḿnh, anh Trần Chính đă dành
một ít thời gian để bàn về những toa thuốc bổ của Từ Hi Thái-hậu,
lấy từ tài liệu “Từ Hi Quang Tự Y Phương Tuyển Nghị”. Nhân
đây, và cũng theo yêu cầu của các thính giả tham dự buổi thuyết
tŕnh nói trên, chúng tôi xin phổ biến một vài toa thuốc bổ từng
được đánh giá là có hiệu quả nhất. [xem
các toa thuốc Ích-thọ
của Từ Hi Thái-hậu] CLUB EsPRESSO. (Mar 30,
2004)
[Voyages Saigon xin chân thành cảm ơn Nhật Báo
Viễn Đông cùng với ông Tống Hoàng đă tạo những điều kiện tốt nhất để
chúng tôi thực hiện thành công buổi thuyết tŕnh chuyên đề này; V.S.
cũng xin chân thành cảm ơn Sing Sing Bakery cùng bà Uyên Thi, và anh
Kenneth Quân Đào của Morgan Stanley đă yểm trợ một phần ẩm thực cho
buổi sinh hoạt]
Ảnh bên trái [từ trên xuống
dưới]: 1/Bích chương (poster) về buổi nói chuyện chuyên đề
của Voyages Saigon ngày 29 tháng 2, 2004; 2/ Một bản y-án của vua
Quang Tự vào thời gian cuối trước khi nhà vua băng hà; 3/Từ Hi
Thái-hậu năm bà 46 tuổi (1881); 4/Vua Khang Hi (1662-1723); 5/Vua
Càn Long (1736-1796); 6/B́a của tập tài liệu “Từ Hi Quang Tự
Y-Phương Tuyển Nghị”; 7/Từ Hi năm bà 72 tuổi (1907); 8/Mộ của Từ Hi
Thái-hậu trong Đông Định Lăng (Hà Bắc); 9/B́a cuốn Y-án của vua
Quang Tự vào năm 1908.
|