| SỨC
KHOẺ & DINH DƯỠNG


Vitamin
C có tính năng chống ung thư?
Một
nghiên cứu mới đây đã đề cập lại về thắc mắc từng
gây tranh cãi: vitamin C có hiệu quả trong việc
chống bệnh ung thư hay không? Tiến sĩ Marc Levine
thuộc trường đại học British Columbia (Canada) đã
nghiên cứu tác động của vitamin này trong suốt nhiều
năm khẳng định rằng vitamin C có tính năng chống
ung thư.
Tiến sĩ Levine đã thử nghiệm tác động của vitamin
C đối với các tế bào ung thư trong ống nghiệm và
ghi nhận rằng với một số liều vitamin này, các tế
bào ung thư có thể bị tiêu diệt. Năm 2000, ông cũng
đã từng khẳng định rằng việc tiêm vitamin với liều
cao có thể giúp điều trị bệnh ung thư.
Trong vài thập kỷ trước đây, nhà hóa học đoạt giải
Nobel Linus Pauling cũng đã đưa ra kết luận này.
Năm 1971, bác sĩ nguời Anh Erwan Cameron đã thử
nghiệm tính hiệu quả của vitamin C đối với bệnh
ung thư: ông đã cho các bệnh nhân ung thư tiêm mỗi
ngày 10 g vitamin C. Bốn năm sau, đa số các bệnh
nhân đã cải thiện tình trạng sức khỏe của họ.
Tuy nhiên một số nghiên cứu khác khẳng định rằng
vitamin C không có tác dụng đối với bệnh ung thư.
Từ đó cuộc tranh cã đã bùng nổ.
Cuối những năm 80, tiến sĩ Pauling tiếp tục khẳng
định rằng vitamin C có vai trò trong việc phòng
ngừa bệnh ung thư. Ông đã thực hiện những nghiên
cứu mới và đưa ra những kết luận đầy ấn tượng. Phương
pháp của ông là tiêm acid ascorbic qua đường tĩnh
mạch với liều cao.
20 năm sau, ông Pauling lại tiếp tục tranh cãi
và đưa ra chứng minh là nghiên cứu của tiến sĩ Levine
vào năm ngoái cho rằng nếu tiêm vitamin C qua đường
tĩnh mạch, hàm lượng của vitamin này trong huyết
thanh sẽ tăng cao hơn so với dùng qua đường miệng.
Mới đây tiến sĩ Levine lại đề cập đến tầm quan
trọng tiềm ẩn của vitamin C trong việc điều trị
bệnh ung thư. Các nghiên cứu mới đang được tiếp
tục thực hiện để đưa ra kết luận cuối cùng. V.S
(Journal Santé)
Ăn
thỏa thích mà không tăng cân?
Ai
lại không mơ ước được ăn thỏa thích mà không tăng
cân?
Ai lại không mơ ước được ăn thỏa thích mà không
tăng cân? Một nhóm nhà khoa học Mỹ đang nghiên cứu
về dự án đầy tham vọng này đã trở thành hiện thực…
ở loài chuột. Các kết quả được đăng trên tạp chí
Science đã tỏ ra đầy hứa hẹn tuy chưa đầy đủ. Tiến
sĩ Ronald Kahn và các cộng sự thuộc Trung tâm Jolsin
Diabetes ở Boston đã làm việc ở những con chuột
biến đổi gien với mô mỡ thiếu tế bào tiếp nhận insulin.
Kết quả đã tỏ ra ngoài mong đợi.
Các tác giả đã ghi nhận hai điều: không những loài
chuột biến đổi gien được ăn thỏa thích mà không
hề tăng 1gr mỡ, mà tuổi thọ của chúng còn kéo dài
hơn so với những con chuột cùng lứa làm đối chứng.
Việc còn lại là tìm hiểu xem phương pháp này có
thể áp dụng cho người hay không?
Tiến sĩ Kahn cho biết: “Nếu chúng tôi phát hiện
được một loại thuốc có khả năng ngăn chặn hoạt động
của insulin trong các tế bào mỡ của người, thì sẽ
có thể ngăn chặn bệnh béo phì, bệnh tiểu đường týp
2 và những căn bệnh chuyển hóa khác. Biết đâu những
bệnh nhân này cũng có thể sống lâu hơn".
Bài
thuốc đông y giúp ổn định bệnh tiểu đường type 2
Bệnh viện Y học cổ truyền đã thực hiện thành công
bài thuốc đông y trị bệnh tiểu đường type 2. Sau
90 ngày điều trị, đa số bệnh nhân ổn định sức khỏe.
Bài thuốc đang thu hút sự quan tâm của nhiều người.
Bác sĩ chuyên khoa cấp 2 Vũ Thị Kê - Trưởng khoa
Nội A (Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương) là Chủ
nhiệm đề tài "Đánh giá tác dụng thuốc hỗ trợ
điều trị bệnh tiểu đường type 2" bằng bài "Bát
vị tri bá gia giảm".
Bác sĩ Kê cho biết, bài thuốc là đề tài khoa học
do Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương thực hiện
năm 2003 - 2004. Đề tài đã được Hội đồng khoa học
nghiệm thu ngày 4-6-2005 .Trên thực tế đây là đề
tài nhánh nằm trong đề tài cấp Nhà nước "Điều
tra dịch tễ học bệnh tiểu đường" do Tiến sĩ
Tạ Văn Bình - Giám đốc BV Nội tiết T.Ư làm chủ nhiệm
đề tài.
Được biết, bài thuốc trên dựa trên bài thuốc cổ
chữa bệnh tiểu đường đã có trong sách y học của
Việt Nam từ thời xưa để lại. Tuy nhiên, bài thuốc
này mới chỉ được thử nghiệm độc tính trên chuột
bạch và thỏ trong mấy năm gần đây. Kết quả cho thấy
thuốc không có phản ứng phụ, không xảy ra tai biến
trong suốt thời gian điều trị. Trước khi được thử
nghiệm tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương,
năm 2002, bài thuốc trên đã được áp dụng thử tại
Viện Y học Cổ truyền Việt Nam trên vài trăm bệnh
nhân trong thời gian 90 ngày cho kết quả tốt. Chủ
nhiệm đề lài là PGS.TS Dương Trọng Hiếu, lúc đó
là Trưởng phòng Kế hoạch Tổng hợp (Bệnh viện Y học
cổ truyền Việt Nam) đã cho phép bác sĩ Vũ Thị Kê
áp dụng công thức của bài thuốc "Bát vị tri
bá gia giảm" vào công tác điều trị bệnh tiểu
đường tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương.
Năm 2003, bác sĩ Kê thử nghiệm điều trị cho 71
bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường type 2 tại Bệnh viện
Y học cổ truyền Hải Dương. Thời gian điều trị trung
bình 46 ngày/bệnh nhân. Bệnh nhân cao tuổi nhất
là 71 và ít tuổi nhất là 38. Trong số 71 người thử
nghiệm thuốc đợt đầu tiên, người có chỉ số đường
huyết cao nhất là 15, thấp nhất là 8. Sau 90 ngày
điều trị, kết quả có 36 bệnh nhân (50,7%) ổn định
bệnh, 35 bệnh nhân (49,3%) đỡ bệnh. Trong quá trình
điều trị bệnh nhân được kết hợp chế độ ăn kiêng
và không dùng các loại thuốc khác. Sau khi kết thúc
giai đoạn thử nghiệm, Bệnh viện Y học cổ truyền
Hải Dương tiếp tục điều trị được trên 70 bệnh nhân
góp phần giảm số người mắc bệnh tiểu đường type
2 ở tỉnh Hải Dương - một tỉnh có nhiều người mắc
tiểu đường type 2 tại Việt Nam.
Tuy nhiên, bác sĩ Kê cũng khẳng định, bệnh tiểu
đường type 2 không thể chữa khỏi, chỉ dừng lại ở
mức ổn định vì nếu người bệnh ăn uống không kiêng
khem bệnh sẽ tái phát vì đây là dạng bệnh do rối
loạn chuyển hóa. Người bệnh có trọng lượng lớn,
đặc biệt là người bị béo phì thuốc sẽ có tác dụng
tốt hơn người có thể trạng gầy.
Bác sĩ Kê cho biết, sau khi bệnh nhân đã điều trị
ổn định bệnh, chỉ số đường huyết trở về mức 7, người
bệnh nên duy trì uống thuốc thêm 1 -2 tháng. Đặc
biệt, người bệnh tiếp tục chế độ ăn kiêng để tránh
tái phát bệnh. Ăn nhiều ổi, bí xanh, táo nho và
hoa quả không chứa nhiều đường là biện pháp hữu
hiệu để duy trì sự ổn định của bệnh tiểu đường.
Bên cạnh đó, người bệnh nên hạn chế ăn nhiều chất
bột và tuyệt đối kiêng bia rượu.
Hiện nay thuốc đã được sản xuất đại trà và bán
rộng rãi tại Hải Dương. Bác sĩ Kê cho hay, Bệnh
viện Y học cổ truyền Hải Dương đang chuẩn bị hợp
tác với một cơ sở sản xuất trong TP Hồ Chí Minh
để sản xuất loại thuốc này.
Bài thuốc gồm các vị: Sinh địa 12 g,, Sinh hoàng
kỳ 12 g,, Sơn thủ nhục 8 g,Tri mẫu 10 g,,Bạch linh
8 g, Thiên hoa phấn 8 g, Ngũ vị tứ 8g, Đan bì 8g,
Trạch tá 8g, Thạch cao 12g , Mạch môn 12g.
Các vị thuốc trên được lựa chọn dược liệu và bào
chế theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam III và được
bào chế dạng thuốc sắc ngày 1 thang lấy 300ml nước
uống chia làm 2 lần/ngày, uống trước bữa ăn 1 giờ;
Thuốc còn được sản xuất trên dạng cao lỏng 100ml/túi,
ngày uống 2 túi trước bữa ăn 1 giờ. Giá thuốc sắc
là 10.000 đồng/thang, thuốc cao có giá 14.000 đồng/túi.
Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương điều chế thuốc
dưới dạng cao trên hệ thống máy của Hàn Quốc. Thuốc
dạng cao lỏng cần được bảo quản trong tủ lạnh để
bảo đảm chất lượng.
Bệnh nhân có thể mua thuốc trực tiếp tại Bệnh viện
Y học cổ truyền Hải Dương, phường Hải Tân, TP Hải
Dương.Hoặc liên lạc qua điện thoại để được tư vấn
theo số (0320) 861436 hoặc (0320) 854756.
Yoga
tạo hòa hợp giữa thần và xác
Theo
Phạn ngữ, Yoga có nghĩa là sự kết hợp hoặc hòa hợp.
Nó tạo sự hài hòa giữa tinh thần và thể xác con
người, giúp tái lập sự cân bằng cho những người
đang mệt mỏi và căng thẳng vì nhịp sống hiện đại.
Yoga bao gồm một hệ thống triết lý và những phương
thức dắt con người đi đến sự hòa hợp: giữa thể xác,
tình cảm và trí tuệ, giữa bản thân và môi trường
và cuối cùng là giữa “cái tôi” và vũ trụ. Trong
thời đại ngày nay, khi con người phải đối mặt với
nhiều áp lực, Yoga được biết đến như một phương
pháp thể dục khá hoàn hảo, giúp vô hiệu hóa stress.
Mặt khác, nếu quan niệm “tuổi già là một quá trình
xơ cứng” thì những động tác Yoga có tác dụng làm
mềm dẻo cơ thể, duy trì sự trẻ trung, thon thả và
linh hoạt.
Các tư thế Yoga được gọi là Asanas, gồm nhiều bài
tập do các đạo sư xây dựng từ hàng nghìn năm trước,
giúp đạt được sức khỏe cả về tinh thần lẫn thể xác.
Từ Asanas hàm nghĩa là những tư thế thoải mái. Sự
thoải mái không phải đợi đến một thời gian sau khi
tập mà có thể cảm nhận được ngay sau khi thực hành
mỗi động tác. Đây là điều khác biệt cơ bản giữa
các bài tập Yoga và một số phương pháp thể dục thể
thao khác. Nếu các phương pháp thể dục thông thường
chú tâm phát triển cơ bắp và sức mạnh bằng những
động tác nhanh, mạnh và liên tục, thì Yoga được
thực hành chậm rãi, mềm dẻo, phối hợp với nhịp thở
sâu và thời gian nghỉ ngơi giữa mỗi tư thế. Cách
tập này không tạo áp lực cho tim mà còn có thể cung
cấp thêm nhiều dưỡng khí cho máu và sinh lực cho
các cơ quan, giúp năng lực được tích lũy nhiều hơn
là tiêu tán.
Hình thức dễ nhận thấy ở Yoga là những tư thế vặn
người, cúi gập hoặc kéo giãn cơ thể. Chúng gây sức
căng thích hợp trong thời gian nhất định trên một
nhóm cơ, khớp hoặc dây chằng, đặc biệt là đối với
những vùng mà sinh hoạt thường ngày không đủ tác
động tới như cổ, vai, bụng. Sự căng giãn này làm
tăng lưu lượng máu đến từng tế bào, kể cả các mạch
máu ngoại biên, khiến ta có cảm giác ấm người, năng
lượng lan tỏa, dễ đưa cơ thể vào tình trạng thư
giãn sâu sau đó. Đây cũng là lý do các đạo sư Yoga
khuyên người tập nên giữ cơ thể ở tư thế xác chết
sau mỗi Asanas để có thể cảm nhận trọn vẹn lợi ích
thư giãn của mỗi tư thế.
Các tư thế Yoga cũng gây ra sức ép cần thiết trên
những cơ quan nội tạng và các tuyến nội tiết, có
tác dụng xoa bóp nội tạng và điều hòa việc xuất
tiết các kích thích tố, qua đó có thể tăng cường
chuyển hóa, kiểm soát những cảm xúc và giúp cân
bằng tâm lý. Khi được thực hành nhuần nhuyễn, các
Asanas sẽ làm mạnh cơ bắp, giúp các dây chằng đỡ
bị căng cứng, kích thích tuần hoàn huyết, hoạt hóa
các khớp và nhất là làm cho cột sống được dẻo dai,
một điều kiện cần thiết để cơ thể giữ được sự trẻ
trung linh hoạt. Có hàng nghìn Asanas khác nhau
(có tài liệu nói đến 50.000 tư thế). Tuy nhiên,
tùy theo nhu cầu và điều kiện cơ thể riêng, mỗi
người chỉ cần tập một số động tác nhất định.
Một số Asanas không những có tác dụng trên hệ thần
kinh, tuyến nội tiết mà còn tác động đến những vị
trí dọc theo cột sống, được gọi là những Luân xa.
Việc hoạt hóa và khai mở những Luân xa này có liên
quan đến hoạt động của những dòng năng lượng trong
cơ thể và cả việc bổ sung cho những dòng năng lượng
đó. Nếu kích hoạt mà không biết cách kiểm soát,
những dòng năng lượng này có thể gây ảnh hưởng không
tốt cho người tập. Do đó, một số Asanas, kể cả một
số phép thở cần được hướng dẫn bởi người thầy có
kinh nghiệm. Tuy nhiên, vẫn có một số tư thế phổ
thông hữu ích cho sức khỏe mà mọi người đều có thể
tự tập luyện được.
Những lưu ý khi tập Yoga
Không tập các Asanas trên nệm dày để cột sống dễ
được giữ thẳng. Không tập trực tiếp trên nền đất
để cơ thể khỏi nhiễm hơi ẩm từ đất. Nên tập trên
sàn hoặc ván có lót qua một lớp chăn, chiếu hoặc
nệm mỏng.
Không tâp Yoga trong vòng 2 giờ sau khi ăn để khỏi
ảnh hưởng tới sự tiêu hóa. Hơn nữa, khi bụng trống,
cơ thể sẽ dễ thực hành các tư thế hơn. Không tập
Yoga trong vòng 1/2 giờ trước khi ăn để giúp nội
tạng và các tuyến nội tiết có thể hấp thu tối đa
sinh lực do các bài tập mang lại.
Mỗi tư thế chỉ cần tập một vài lần. Giữa mỗi tư
thế, nên hít thở sâu và nghỉ ngơi, thư giãn để bảo
đảm cho cơ thể được thoải mái và năng lực được tích
lũy.
Một tư thế có thể dễ với người này nhưng khó với
người khác. Đối với người lớn tuổi lại càng khó.
Tư thế càng khó đối với một người thì khi thực hành
được, hiệu quả cải thiện sức khỏe sẽ càng cao. Các
động tác cần thực hiện chậm để tránh gây trẹo gân,
sai khớp hoặc những tổn thương khác. Việc tập luyện
cần đều đặn, mỗi ngày tập một hoặc hai lần. Qua
thời gian, cơ, khớp sẽ linh hoạt dần và tư thế sẽ
hoàn chỉnh.
Hầu hết các tư thế căng giãn đều ảnh hưởng tới
tử cung, nên những phụ nữ trong thời kỳ có kinh
hoặc trong vòng 6 tháng trước và sau khi sinh không
nên tập, ngoại trừ tư thế xác chết.
Ngưng thở và giữ nguyên tư thế một thời gian là
đặc điểm của các Asanas. Yêu cầu này nhằm gia tăng
sự trao đổi chất và phát huy hiệu lực căng giãn
để hóa giải xơ cứng. Thời gian này dài ngắn tùy
thuộc vào khả năng của mỗi cá nhân. Ngưng thở nhưng
phải bảo đảm không nhức đầu, chóng mặt hoặc tim
đập nhanh. Sau mỗi tư thế, phải tạo được sự thoải
mái thay vì đau nhức, khó chịu. Kinh nghiệm cho
thấy, trong khi hít vào sâu và dài, đến gần cuối
của thì hít vào chỉ cần cố kéo dài thêm một chút.
Kéo dài bằng cách dùng ý hơn là cố hít thêm vào.
Điều này có mục đích kéo dài hơi thở, vẫn giữ được
thanh quản mở, đáp ứng được yêu cầu dài hơi, giữ
yên tư thế một thời gian mà không làm đỏ mặt, không
gây khó chịu cho tim do thanh quản đóng vì nín thở.
Tập Yoga là thực hành sự hòa hợp. Trước nhất là
sự hòa hợp giữa tinh thần và thể xác. Do đó, người
tập cần tập trung chú ý vào từng động tác trong
suốt quá trình luyện tập. Được như vậy, tự thân
việc thực hành các tư thế cũng chính là hành Thiền.
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)
TRỞ VỀ TRANG SỨC KHOẺ

|