Nhân
ngày mất của HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG LÊ HỮU TRÁC ( 17-02-
1791)
I Thượng
Kinh Ký Sự
II . Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720 - 1791)
Lê
Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn ông (1). Sinh ngày 12
tháng 11 năm Canh Tý (11-12-1720) tại thôn Văn Xá, làng
Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải
Dương. Nay là xã Hoàng Hữu Nam huyện Yên Mỹ, tỉnh Hải
Dương. Tuy nhiên, ông sống nhiều (từ năm 26 tuổi đến
lúc mất) ở quê mẹ xứ Bầu Thượng, xã Tĩnh Diệm, huyện
Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, nay là xã Sơn Quang, huyện
Hương Sơn và cũng qua đời ở đây vào ngày rằm tháng giêng
năm Tân Hợi (1791) thọ 71 tuổi. Mộ ông nay còn nằm ở
Khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc huyện Hương Sơn
(cách phố Châu huyện lỵ Hương Sơn 4 cây số).
Lê Hữu Trác là con thứ bảy của Lê Hữu Mưu và bà Bùi
Thị Thưởng.
Dòng họ của ông có truyền thống khoa bảng; ông nội,
bác, chú (Lê Hữu Kiều), anh và em họ đều đỗ tiến sĩ
và làm quan to. Cha Lê Hữu Trác đỗ đệ tam giáp tiến
sĩ làm Thị lang Bộ Công triều Lê Dụ Tông, gia phong
chức ngự sử, tước bá, khi mất được truy tặng Thượng
thư.
Năm Kỷ Mùi (1739) Lê Hữu Trác 20 tuổi thì cha qua đời,
ông rời kinh thành về nhà, vừa trông nom gia đình vừa
chăm chỉ đèn sách, thi vào tam trường, sau đó không
thi nữa.
Năm 1739 cũng là năm mở ra quy mô lớn của phong trào
nông dân nổi dậy chống phong kiến, chỉ một năm sau (1740)
nghĩa quân của Hoàng Công Chất đánh sát huyện ông. Chàng
thư sinh trẻ tuổi Lê Hữu Trác đang mê mải đèn sách phải
lánh đi nơi khác đọc sách. Có người thấy thế đã bảo
ông "Binh lửa khắp nơi, con trai thời loạn há chịu
già đời ở trong phòng sách mãi sao?" và khuyên
ông nên theo nghề võ. Từ đó ông vừa dùi mài kinh sử
vừa nghiên cứu binh thư. Sau nhờ ẩn sĩ họ Vũ ở Đặng
Xá dạy vũ thuật âm dương (phép bói toán độn số), ông
"nghiên cứu trong vài năm cũng biết được đại khái,
mới đeo gươm tòng quân để thí nghiệm sức học của mình"
(Tựa "Tâm lĩnh").
Chiến tranh phong kiến đã gây đau thương chết chóc
cho biết bao nhiêu gia đình làng xóm, nó không đem lại
gì cho nhân dân, cho đất nước; đã làm cho Lê Hữu Trác
chán nản muốn ra khỏi quân đội, nên ông đã nhiều lần
từ chối sự đề bạt của tướng nhà Trịnh. Ông nhận ra theo
Lê hay Trịnh cũng là chí theo đuổi chiến tranh "cốt
nhục tương tàn"; cái chí mạnh "xung Ngưu Đẩu"
của ông cũng hóa "ngông cuồng" mà thôi. (Đọc
bài thơ trong lời tựa bộ "Tâm lĩnh"). Cho
nên năm 1746 khi người anh ở Hương Sơn mất, ông liền
viện cớ về nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh, để xin ra
khỏi quân đội, thực sự "bẻ tên cởi giáp" theo
đuổi chí hướng mới.
Lê Hữu Trác bị bệnh từ lúc ở trong quân đội, giải ngũ
về phải gánh vác công việc vất vả "trăm việc đổ
dồn vào mình, sức ngày một yếu" (Lời tựa "Tâm
lĩnh"), lại sớm khuya đèn sách không chịu nghỉ
ngơi, sau mắc cảm nặng, chạy chữa tới hai năm mà không
khỏi. Sau nhờ lương y Trần Độc, người Nghệ An là bậc
lão nho, học rộng biết nhiều nhưng thi không đỗ, trở
về học thuốc, nhiệt tình chữa khỏi.
Trong hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông
đọc sách thuốc "Phùng thị cẩm nang" hiểu được
chỗ sâu xa của sách thuốc. Ông Trần Độc thấy lạ, muốn
đem hết cái hiểu thấu về y học truyền cho ông. Vốn là
người thông minh học rộng, ông mau chóng hiểu sâu y
lý, tìm thấy sự say mê ở sách y học, nhận ra nghề y
không chỉ lợi ích cho mình mà có thể giúp người đời,
nên ông quyết chí học thuốc.
ở Hương Sơn, ông làm nhà cạnh rừng đặt tên hiệu Lãn
ông (ông lười) ý nói lười biếng, chán ghét công danh,
tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, của
quyền thế, tự do nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng
mà mình yêu thích gắn bó.
Giữa cảnh thiên nhiên tĩnh mịch của núi rừng Hương
Sơn, sớm khuya mê mải đọc các sách thuốc: Y học nhập
môn, Cảnh nhạc toàn thư, Nam dược thần hiệu (của Tuệ
Tĩnh), Bảo sinh diệu toản yếu... thật là:
Sá chi vinh nhục việc đời,
Đem thân đạo nghĩa vào nơi lâm tuyền.
(Bất can vinh nhục sự
Bảo đao nhập cùng lâm.
An bần - Y lý thâu nhàn)
Hải Thượng Lãn ông muốn tìm thầy, tìm bạn để học thêm
nhưng nơi núi rừng hẻo lánh "trên không có thầy
giỏi để học, dưới không có bạn hiền giúp, chỉ một mình
nói với mình, tự hỏi tự đáp mò mẫm tưởng tượng đủ thứ"
(Lời tựa "Tâm lĩnh") để tìm ra chân lý. Sau
ông nhờ một ông lang ở làng bên đi lại thân mật, giúp
ông giải đáp những mắc mớ, vài ba năm sau ông đã chữa
được một số bệnh thông thường trong gia đình và làng
xóm.
Mùa thu năm Bính Tý (1754) Lê Hữu Trác ra kinh đô mong
tìm thầy để học thêm vì ông thấy y lý mênh mông nhưng
không gặp được thầy giỏi, ông đành bỏ tiền mua một số
phương thuốc gia truyền, trở về Hương Sơn "từ khước
sự giao du, đóng cửa để đọc sách" (Tựa "Tâm
lĩnh"), vừa học tập và chữa bệnh. Mười năm sau
tiếng tăm của ông đã nổi ở vùng Hoan Châu (Nghệ An).
Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng
Lãn ông đã nghiên cứu rất sâu lý luận Trung y qua các
sách kinh điển: Nội kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim
quỹ; tìm hiểu nền y học cổ truyền của dân tộc; kết hợp
với thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thống
hóa tinh hoa của lý luận Đông y cùng với những sáng
tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổ điển vào điều
kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc.
Sau hơn chục năm viết nên bộ "Lãn ông tâm lĩnh"
gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y
đức - Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Phần quan trọng
nữa của bộ sách phản ảnh sự nghiệp văn học và tư tưởng
của Hải thượng Lãn ông.
Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43 (1782) Lãn ông
nhận được lệnh chúa triệu về kinh. Lúc này ông đã 62
tuổi, sức cũng yếu lại là người chăm lo chữa bệnh cho
trăm họ, nhất là ông đã quyết chí xa lánh công danh,
theo đuổi nghiệp y đã mấy chục năm nên ông nhận chiếu
chỉ của chúa Trịnh với tâm trạng vừa lo lắng, vừa chán
nản; mãi sau nghĩ đến bộ "Tâm lĩnh" chưa in
được, mà ông "không dám truyền thụ riêng ai, chỉ
muốn đem ra công bố cho mọi người cùng biết, nhưng việc
thì nặng sức lại mỏng, khó mà làm được" (Thượng
kinh ký sự), nên ông hy vọng lần đi ra kinh đô có thể
thực hiện việc in bộ sách, phần "con cái trong
nhà cũng hết sức van nài", ông tạm làm vui từ giã
gia đình, học trò rời Hương Sơn lên đường.
Ra kinh vào phủ chúa xem mạch và kê đơn cho thế tử
Trịnh Cán, ông được Trịnh Sâm khen "hiểu sâu y
lý" ban thưởng cho ông 20 xuất lính hầu, và bổng
lộc ngang với chức quan kiểm soát bộ Hộ để giữ ông lại.
Nhưng Lãn ông thấy nếu nhận thưởng chịu ơn thì khó lòng
rời kinh đô trở lại Hương Sơn được, nên ông giả ốm không
vào chầu, sau lại viện cớ tuổi già mắt hoa, tai điếc
thường ốm yếu để được trọ ở ngoài.
Bọn ngự y ghen tỵ với Lãn ông không chịu chữa theo
đơn của ông, nên thế tử không khỏi, ông biết thế nhưng
không hề thắc mắc với bọn thầy thuốc thiếu lương tâm
này, mặt nữa ông không thật nhiệt tình chữa, kết quả
để sớm thoát khỏi vòng cương tỏa của quyền thần, danh
lợi.
Thời gian ở kinh đô, Lãn ông muốn về thăm cố hương
Hải Dương của mình, nhưng mãi đến tháng 9 năm 1782,
sau chúa Trịnh mới cho phép ông về. Sau hơn 20 năm xa
cách, được trở về mảnh đất "chôn nhau cắt rốn".
Đang sống giữa quê hương, ông lại có lệnh triệu về
kinh vì Trịnh Sâm ốm nặng. Nhận được lệnh triệu, ông
đành phải rời quê hương.
Về kinh ông chữa cho Trịnh Sâm khỏi và cũng miễn cưỡng
chữa tiếp cho Trịnh Cán. Trịnh Sâm lại trọng thưởng
cho ông. Ông bắt buộc phải nhận nhưng bụng nghĩ: "Mình
tuy không phải đã bỏ quên việc ẩn cư, nhưng nay hãy
tạm nhận phần thưởng rồi sau vứt đi cũng được"
(Thượng kinh ký sự).
Trịnh Sâm chết vì bệnh lâu ngày sức yếu, Trịnh Cán
lên thay, nhưng Trịnh Cán cũng ốm dai dẳng nên "khí
lực khô kiệt", khó lòng khỏe được, lại nóng lòng
trở về Hương Sơn, Lãn ông đang tìm kế thoái lui, thì
may có người tiến cử một lương y mới, ông liền lấy cớ
người nhà ốm nặng rời kinh.
Hải Thượng Lãn ông trở về Hương Sơn bằng đường thủy,
nhưng sợ triều đình bắt trở lại ông phao tin đi đường
bộ. Thoát khỏi kinh đô ông sung sướng như "chim
sổ lồng, cá thoát lưới", lòng chỉ muốn "bay
nhanh" về quê nhà:
Lên đường từ giã long lâu
Gươm đàn nửa gánh ra ngay đô thành,
Ngựa quen đường cũ về nhanh,
Quay thuyền khó lúc lênh đênh giữa dòng.
Mây qua đường để bớt nồng
Núi non mở mặt như lòng vì ai
Xanh xanh một dải non đoài
Giống non ta cũ chỉ vài hòn thôi.
(Thượng kinh ký sự).
Ngày 2 tháng 11 (năm 1782) Lãn ông về đến Hương Sơn.
Gần một năm sống giữa kinh đô phong kiến biết bao công
danh phú quý lôi kéo, nhưng ông "thung dung"
ra đi lại "ngất ngưởng" trở về, lòng trong
không hề đục, chí lớn không hề sờn.
Năm 1783 ông viết xong tập "Thượng kinh ký sự"
ghi lại tỉ mỉ chuyến đi kinh, tập ký ấy là một tác phẩm
văn học vô cùng quý giá. Mặc dầu tuổi già, công việc
lại nhiều: chữa bệnh, dạy học, nhưng ông vẫn tiếp tục
chỉnh lý, bổ sung, viết thêm (tập Vân khi bí điển, năm
1786) để hoàn chỉnh bộ "Tâm lĩnh". Hải Thượng
Lãn ông Lê Hữu Trác không chỉ là danh y có cống hiến
to lớn cho nền y học dân tộc, ông còn là một nhà văn,
nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của thời đại.
--------------------------------------------------------------
(1) Hải Thượng Lãn ông: Hải Thượng là hai chữ đầu của
tỉnh Hải Dương và phủ Thượng Hồng quê cha và cũng là
xã Bầu Thượng quê mẹ. Lãn ông nghĩa là "ông lười",
ngụ ý lười biếng với danh lợi.

Kết luận:
Ông là nhà y học có học vấn uyên bác, nhà dược học
nổi tiếng, nhà thơ, nhà văn xuất sắc, nhà tư tưởng tiến
bộ, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân đạo, có ý chí
độc lập sáng tạo trong nghiên cứu.
Phát huy truyền thống của Tuệ Tĩnh, ông đã sưu tầm
phát hiện thêm 300 vị thuốc nam (Lĩnh Nam bản thảo)
đồng thời tổng hợp thêm 2854 phương thuốc kinh nghiệm
phổ biến cho nhân dân áp dụng "Hành giản trân nhu
và Bách gia trân tàng". Ông cũng đã có những sáng
tạo đặc sắc trong việc vận dụng lý luận y học vào thực
tiễn Việt Nam.
Cái quý nhất trong việc đào tạo lớp lương y mới, Lãn
Ông chú trọng xây dựng y đức người thầy thuốc, ông thường
nói
"Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo vệ
sinh mạng con người, phải lo cái lo của người, vui cái
vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm
nhiệm vụ của mình không nên cầu lợi kể công"
Những lời răn
của Hải Thượng Lãn Ông
"Đạo làm thuốc là một nhân thuật chuyên bảo
vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người, vui
cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người
làm nhiệm vụ của mình không nên cầu lợi kể công...
"Thường thấy kẻ làm thuốc, hoặc nhân bệnh
cha mẹ người ta ngặt nghèo, hoặc bắt bí người ta lúc
đêm tối, trời mưa, có bệnh nguy cấp; bệnh dễ chữa bảo
là khó chữa, bệnh khó chữa bảo là không chữa được, giở
lối quỉ quyệt ấy nhằm thoả mãn yêu cầu, rắp tâm như
thế là bất lương. Chữa cho nhà giàu sang, thì tỏ tính
sốt sắng, mong được lợi nhiều, chữa cho nhà nghèo hèn
thì ra ý lạnh nhạt, sống chết mặc bay. Than ôi, đem
nhân thuật làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng
buôn bán. Như thế thì người sống trách móc, người chết
oán hờn không thể tha thứ được...
"Nghề làm thuốc là nhân thuật, thầy thuốc
hẳn phải lấy việc giúp người làm điều hay. Cứu được
một người thì khoa chân, múa tay cho mọi người biết)
nhỡ có thất bại thì giấu đi. Thường người ta hay giấu
các điều xấu của mình mà không đem sự thực nói với người
khác. Riêng tôi dám nói là thoát khỏi những thói đó
chăng, là vì tôi không theo con đường khoa cử nối dõi
nghiệp nhà, chuyển hướng ra làm thuốc nên chỉ muốn hết
sức làm những việc đáng làm, may ra khỏi hổ thẹn với
đất trời, đâu dám e ngại sự chê khen, để phải hối hận
với bổn phận...
"Nghĩ thật sâu xa, tôi hiểu rằng thầy thuốc
là người bảo vệ sinh mạng con người. sống chết trong
tay mình nắm, họa phúc trong tay mình giữ. Thế thì đâu
có thể kiến thức không đầy đủ, đức hạnh không trọn vẹn,
tâm hồn không rộng lớn, hành động không thận trọng mà
làm liều lĩnh học đòi cái nghề cao quí đó chăng".
8 tội người
thầy thuốc cần tránh:
- Có bệnh xem xét đã rồi mới cho thuốc, vì ngại đêm
mưa vất vả không chịu thăm mà đã cho phương, đó là tội
lười.
- Có bệnh cần dùng thứ thuốc nào đó mới cứu được nhưng
sợ con bệnh nghèo túng không trả được vốn nên chỉ cho
thuốc rẻ tiền, đó là tội bủn xỉn.
- Khi thấy bệnh chết đã rõ, không bảo thực lại nói
lơ mơ để làm tiền, đó là tội tham lam.
- Thấy bệnh dễ chữa nói dối là khó chữa, dọa người
ta sợ để lấy nhiều tiền, đó là tội lừa dối.
- Thấy bệnh khó đáng lẽ nói thực rồi hết lòng cứu chữa
nhưng lại sợ mang tiếng không biết thuốc, vả lại chưa
chắc chắn đã thành công, không được hậu lời nên không
chịu chữa đến nỗi người ta bó tay chịu chết, đó là tội
bất nhân.
- Có trường hợp người bệnh ngày thường có bất bình
với mình khi mắc bệnh phải nhờ đến mình liền nghĩ ra
ý nghĩ oán thù không chịu chữa hết lòng, đó là tội hẹp
hòi.
- Thấy kẻ mồ côi goá bụa, người hiền, con hiếm mà nghèo
đói ốm đau cho là chữa mất công vô ích không chịu hết
lòng, đó là tội thất đức.
- Lại như xét bệnh còn lơ mơ, sức học còn non đã cho
thuốc chữa bệnh, đó là tội dốt nát.
Hải Thượng Lãn ông đã
đề ra 9 điều dạy trong "Y huấn
cách ngôn" để rănn dạy người thây thuốc mà hiện
nay vẫn còn nguyên giá trị, thí dụ:
- Phàm người mời đi thăm bệnh, nên tùy bệnh kíp hay
không mà sắp đặt thăm trước hay sau. Chớ nên vì giàu
sang hay nghèo hèn mà nơi đến trước, chỗ tới sau hoặc
bốc thuốc lại phân biệt nơi hơn kém.
- Khi đến xem bệnh ở nhà nghèo túng, hay những người
mồ côi, goá bụa hiếm hoi, càng nên chǎm sóc đặc biệt;
vì những người giàu sang không lo không có người chữa;
còn người nghèo hèn, thì không đủ sức đón được thày
giỏi, vậy ta để tâm một chút, họ sẽ được sống một đời,
còn những người con thảo, vợ hiền, nghèo mà mắc bệnh,
ngoài việc cho thuốc mà không có ăn, thì vẫn đi đến
chỗ chết.
- Khi chữa bệnh cho ai khỏi rồi, chớ có mưu cầu quà
cáp, vì những người nhận của người khác cho thường hay
sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang,
tính khí thất thường mà mình cầu cạnh thường hay bị
khinh rẻ. Còn việc tâng bốc người ta để cầu lợi thường
hay sinh chuyện. Cho nên nghề thuốc là nghề thanh cao,
ta càng phải giữ khí tiết cho trong sạch ( VIET SCIENCES
)
Di tích - danh
thắng : Y Miếu Thăng Long
Y
Miếu Thăng Long, khởi dựng từ thế kỷ 18, là nơi thờ
phụng hai vị danh y của Việt Nam - Tuệ Tĩnh và Lê Hữu
Trác tôn vinh những giá trị sâu sắc của nền Nho Y. Y
Miếu ngày nay đã được xếp hạng là di tích lịch sử quốc
gia.
Thời kỳ ban đầu, Y Miếu còn được gọi là Viện Thái
y, sau thì được gọi là Y Miếu Thăng Long. Sang thời
Nguyễn, Y Miếu Thăng Long được trùng tu lớn và nằm trong
tổng Hữu Nghiêm sau đổi gọi là tổng Yên Hòa huyện Thọ
Xương, phủ Hoài Đức. Từ năm 1942 thì Y Miếu Thăng Long
thuộc địa phận Hà Nội. Di tích Y Miếu hiện nay mang
biển số nhà 90A phố 224, phường Văn Miếu, quận Đống
Đa, Hà Nội.
Y Miếu Thăng Long vừa để thờ vừa là nơi tưởng niệm
hai danh y lớn của nước ta, là Tuệ Tĩnh thiền sư và
Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác. Tuệ Tĩnh thiền sư, tên
thật là Nguyễn Bá Tĩnh, pháp hiệu là Tráng Tử vô vật.
Ông sinh tại hương Nghĩa Phú, tổng Văn Thai huyện Cẩm
Giàng, phủ Thượng Hồng, Hải Dương. Ông sống thời Trần
Dụ Tông (1341 - 1379). Là người học rất giỏi, năm 22
tuổi đã đỗ Hoàng Giáp, nhưng ông không ra làm quan mà
đi tu và nghiên cứu y học. Tuệ Tĩnh đã từng xây dựng
74 ngôi chùa làm nơi chữa bệnh cho dân. Ông chuyên chú
thu thập các bài thuốc trong dân gian, nghiên cứu các
vị thuốc nam và viết sách truyền bá y học. Năm ông 55
tuổi, được vua cử đi sứ nhà Minh, Trung Quốc. Vua Minh
đã phong hiệu Đại y Thiền sư cho ông. Sau, ông mất tại
Giang Nam, Trung Quốc. Chưa thấy thư tịch nào ghi năm
ông qua đời. Tuệ Tĩnh đã để lại một di sản lớn về y
học, dược học, trong đó có bộ sách Nam dược thần hiệu
gồm 11 quyển, ghi về 580 vị thuốc nam, 3.873 phương
thuốc dân tộc và cách điều trị 184 loại bệnh của 10
khoa lâm sàng. Ông có viết bộ sách Hồng Nghĩa giác tư
y thư, đề cập đến lý luận đông y. Có thể nói, Tuệ Tĩnh
là một người đặt nền móng cho nền y học cổ truyền Việt
Nam một cách toàn diện, bao gồm lý, pháp và phương dược.
Ông là người nêu cao khẩu hiệu Thuốc nam chữa cho người
Nam . Ngay từ đương thời, người đời đã tôn vinh Tuệ
Tĩnh là Ông thánh thuốc Nam. Và rồi, gần bốn thế kỷ
sau, Hải Thượng Lãn Ông đã kế tục xứng đáng sự nghiệp
y học của Tuệ Tĩnh. Lê Hữu Trác sinh năm 1724, quê làng
Liêu Xá, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương. (Có tài liệu
ghi ông sinh năm 1720 hoặc 1721).
Ông học giỏi, đã thi đỗ nhưng không ra làm quan từng
nghiên cứu về binh thư, có thời đã tòng quân và lập
được chiến công. Nhưng sau đã bỏ hết, đổ tâm sức vào
nghiên cứu y, dược để chữa bệnh giúp đời. Ông qua đời
năm 1791 , để lại một di sản lớn về y, dược học dân
tộc. Ông đã phát hiện và sưu tầm thêm 305 vị thuốc nam,
đồng thời, tổng hợp thêm 2.854 nghiệm phương dược dân
tộc, nghiên cứu và phổ biến cho nhân dân áp dụng. Hải
Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác còn mở trường dạy nghề thuốc
để truyền bá y học. Ông để lại nhiều tác phẩm y dược,
trong đó có Hải Thượng Lãn Ông y tông tâm lĩnh là bộ
sách lớn gồm 28 tập, 66 quyển. Sách đề cập tới nhiều
vấn đề khoa học, biện chứng luận trị, về nghiên cứu
khoa học...
Ngày nay, trong Y Miếu vẫn còn các hoành phi, câu
đối ca ngợi sự nghiệp cao đẹp của hai vị danh y Tuệ
Tĩnh, Lê Hữu Trác, cùng những giá trị sâu sắc của nền
Nho y.
Năm 1834, Y Miếu Thăng Long được trùng tu lớn, mở
rộng thêm nhiều. Miếu được xây gần như hình vuông, hai
lớp nhà ba gian kiểu tường hồi bít đốc, hướng đông nam.
Nhà được làm hai tầng mái để tạo sự thông thoáng, mái
trên tạo các đầu đao cong mềm mại; chính giữa bờ nóc
đắp nổi đôi rồng chầu mặt trời. Bên trong, có khám thờ
Tuệ Tĩnh cùng Lê Hữu Trác. Các gian bên thờ Thần Nông
và những danh Nho. Trong những năm Pháp chiếm đóng Hà
Nội, Y Miếu Thăng Long không được tu bổ, mà còn bị phá
hủy nhiều.
Từ khi Nhà nước giao cho Hội Đông y Việt Nam quản
lý, Y Miếu lại được trùng tu, làm trụ sở của Hội Y dược
Việt Nam. Y Miếu ngày nay đã được xếp hạng di tích lịch
sử, chỉ còn tổng thể kiến trúc trong diện tích 747 m2.
Hàng năm, vào ngày rằm tháng Giêng, là ngày hội, Y Miếu
Thăng Long là nơi tụ hội, giao lưu của những người làm
công tác đông y cả nước, và có nhiều du khách trong
nước và quốc tế đến thăm tỏ lòng ngường mộ các danh
y lớn của dân tộc Việt Nam.
Lê Hữu Trác- nhà y học, nhà
văn, nhà thơ
Nhà y học lớn nhất nước ta thời xưa Lê Hữu Trác cũng
là một nhà văn, nhà thơ xuất sắc ở thế kỷ XVIII. Lê
Hữu Trác có một cuộc đời khá đặc biệt. Ông sinh năm
1720 trong một gia đình cha là tiến sĩ làm quan tới
chức thị lang bộ Công được truy phong Thượng thư, quê
làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương. Lê Hữu
Trác là con thứ bảy nên người ta thường gọi ông là "cậu
Chiêu Bảy". Lê Hữu Trác lớn lên trong bối cảnh
xã hội cuối triều Lê đầy biến động. Ôm hoài bão "trị
quốc, bình thiên hạ", Lê Hữu Trác theo học binh
pháp, võ nghệ rồi tòng quân và có khá nhiều chiến tích
trong trận mạc.
Con người đầy chí lập công ấy bỗng mắc bệnh nặng và
trong mấy năm liền ông đã đấu tranh với bệnh tật, tìm
thầy thuốc chữa trị, đồng thời học lấy nghề thuốc để
tự chữa bệnh cho mình, chữa bệnh cho người. Lê Hữu Trác
đã thành công lớn, trở thành một thầy thuốc nổi tiếng.
Ông không dừng lại ở mức độ đã đạt được mà quyết tâm
"làm cho hết sức mình, dựng lên một lá cờ trong
y giới". Lê Hữu Trác dành toàn bộ tâm lực trong
26 năm nghiên cứu, nghiền ngẫm, tổng kết kinh nghiệm,
viết xong bộ sách đồ sộ về y học mang nhan đề Lãn Ông
tâm lĩnh, tức Hải Thượng y tông tâm lĩnh, trong đó chứa
đựng nhiều tư tưởng y học sâu sắc và cả tư tưởng triết
học. Bộ Tâm lĩnh được nhiều người truyền nhau sao chép
để học. Không chỉ viết sách, chữa bệnh, Lê Hữu Trác
còn mở trường dạy nghề thuốc, đào tạo học trò, truyền
bá y đạo. Năm 1780, chúa Trịnh Sâm sai triệu Lê Hữu
Trác vào kinh chữa bệnh cho Chúa và cho thế tử Trịnh
Cán. Trong ngót một năm ở Thăng Long, Lê Hữu Trác đã
viết cuốn Thượng kinh ký sự nổi tiếng, là quyển 65 trong
bộ Tâm lĩnh. Lê Hữu Trác qua đời năm 1790, thọ 70 tuổi.
Trong văn học sử Việt Nam, Lê Hữu Trác được đánh giá
là một tác giả xuất sắc về văn xuôi và cả về thơ. ở
nước ta thời xưa nếu như loại hình tiểu thuyết chương
hồi có quy mô lớn, không có truyền thống thì loại hình
tản văn như truyện chí, ký, lục, tùy bút... lại phát
triển mạnh và có những thành tựu đặc sắc. Thượng kinh
ký sự của Lê Hữu Trác là một tác phẩm tiêu biểu nhất
ở thế kỷ XVIII thuộc loại hình ký, lục (ghi việc, kể
chuyện). Thượng kinh ký sự vừa có giá trị văn học lớn,
vừa có giá trị sử liệu cao.
Trong Thượng kinh ký sự có ghi chép một số bài thơ
của Lê Hữu Trác viết từ khi ông khởi hành đi Thăng Long
đến lúc trở về Hương Sơn. Những bài thơ này là tiếng
nói của một trái tim thi sĩ đích thực:
Nhạn bay như múa thân thiết vẻ tiễn đưa,
Cá bơi nhanh muốn đuổi theo
Cây núi Hương Sơn ở trong mây
Quá nửa đã nhuộm bóng chiều.
Những xúc cảm nồng nàn giàu ý vị như thế thấm đậm khắp
trong thơ Lê Hữu Trác. Thơ ông luôn luôn có cái đẹp
thanh tú, diễm lệ của sông, núi, của gió, trăng và ẩn
chứa đường nét, hình vẻ của những phong cảnh thuỷ mặc:
Một dòng sông nước như khói tĩnh lặng,
í tứ trong lòng lữ khách đầy cảnh núi sông.
No gió cánh buồm đi gấp,
Sương dày nhạn bay thấp
Núi lạnh đêm có khách đến,
Bến xa vang lên tiếng hát dân chài...
Lê Hữu Trác có một bài thơ nói về mối tình lỡ dở của
mình rất hay và đây có lẽ là bài thơ tình yêu độc nhất
trong thơ cổ Việt Nam từ thế kỷ XI đền giữa thế kỷ XVIII:
Vì vô tâm thành chuyện làm nhầm lỡ cho người,
Ngày nay nhìn nhau đắng cay than thở
Một nụ cười bao tình cảm, lệ tuôn chảy,
Hai tròng mắt đã hết xuân bỗng hiện hình hoa.
Kiếp này nguyện làm anh em kết nghĩa,
Kiếp sau xin sẽ thành vợ chồng.
Ta không phụ người mà người phụ ta,
Nếu phỏng kiến như thế thì làm thế nào đây?
|