|
Lịch sử
Đại Việt Sử Ký Toàn
Thư
Bản kỷ thực lục Q6
Nhà Hậu Lê. Nhà Mạc (1533 - 1572
K ỷ N h à L ê
Phụ: Họ Mạc (Đăng Doanh 8 năm, Phúc Hải 6 năm,
Phúc Nguyên 2 năm)
Trang Tông Dụ Hoàng Đế
Tên húy là Ninh, lại húy là Huyến, ở ngôi 16 năm,
thọ 34 tuổi. Vua gặp vận gian truân phải đi lánh
nạn, nhờ được bề tôi cũ tôn lập, bên ngoài liên
kết với nước láng giềng, bên trong dùng được các
tướng giỏi, cho nên mọi người đều vui lòng gắng
sức, nền móng trung hưng bắt đầu từ đấy.
Vua là con của Chiêu Tông2386 , cháu xa đời của
Thánh Tông, mẹ là Phạm thị, tên húy là Ngọc Quỳnh,
người sách Cao Trĩ, huyện Thụy Nguyên2387 . Khi
Đăng Dung cướp ngôi, tiếm hiệu, vua tránh về Thanh
Hóa. Thái sư Hưng quốc công Nguyễn Kim sai người
dò tìm, đón vua sang nước Ai Lao tôn lập.
Quý Tỵ, [Nguyên Hòa] năm thứ 1 [1533], (Mạc Đại
Chính năm thứ 4; Minh Gia Tĩnh năm thứ 12). Mùa
xuân, tháng giêng, vua lên ngôi ở Ai [1b] Lao, đặt
niên hiệu là Nguyên Hòa, tôn Đại tướng quân Nguyễn
Kim là Thượng phụ thái sư Hưng quốc công, chưởng
nội ngoại sự, lấy trung nhân Đinh Công2388 làm Thiếu
Úy Hùng Quốc Công, còn lại, người nào cũng được
phong thưởng để họ đồng lòng khuông phù. Lại liên
kết với vua Ai Lao Xạ Đẩu, nhờ họ giúp binh khí,
lương thực để mưu việc đánh lấy lại nước.
Vua sai Trịnh Duy Liêu sang nhà Minh tâu rằng vì
Mạc Đăng Dung tiếm loạn, chiếm giữ kinh thành, ngăn
trở đường đi nên bỏ lâu việc tiến cống2389 .
Giáp Ngọ, [Nguyên Hoà] năm thứ 2 [1534] , (Mạc
Đại Chính năm thứ 5 Minh Gia Tĩnh năm thứ 13). Nhà
Minh nghe tin Mạc Đăng Dung cướp ngôi, đặt quan
lại nguỵ, chiếm giữ Kinh thành, ngăn trở đường tiến
cống, tự tiện làm bài Đại cáo, tiềm xưng là thượng
hoàng, tội trạng đã rõ, bèn sai Hàm Ninh hầu Cừu
Loan làm tổng đốc quân vụ, Binh bộ thượng [2a] thư
Mao Bá Ôn làm tham tán quân vụ, đem quân sang hỏi
đánh2390 .
Ất Mùi, [Nguyên Hoà] năm thứ 3 [1535] , (Mạc Đại
Chính năm thứ 6; Minh Gia Tĩnh năm thứ 14). Nhà
Mạc mở khoa thi Hội, lấy bọn Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Bùi Khắc Đốc, Nguyễn Thừa Hưu đỗ tiến sĩ cập đệ;
bọn Nguyễn Di Lượng 7 người đỗ tiến sĩ xuất thân;
bọn Nguyễn Trùng Quang 22 người đỗ đồng tiến sĩ
xuất thân.
Bính Thân, [Nguyên Hoà] năm thứ 4 [1536] , (Mạc
Đại Chính năm thứ 7 - Minh Gia Tĩnh năm thứ 15).
Vua sai Trịnh Viên sang nhà Minh trình bày việc
họ Mạc cướp ngôi giết vua, và vua phải xiêu giạt
vào Thanh Hoa2391 .
Họ Mạc sai Đông quân đô đốc phủ tả đô đốc Khiêm
quận công Mạc Đình Khoa trùng tu Quốc tử giám.
Đinh Dậu, [Nguyên Hoà] năm thứ 5 [1537] ; (Mạc
Đại Chính năm thứ 8; Minh Gia Tĩnh năm thứ 16).
Mùa xuân, tháng giêng, họ Mạc thăm nhà Thái học.
[2b] Mùa hạ, tháng 4, gió to, gãy cây, tốc nhà,
nước biển dâng tràn, làm chết nhiều người và súc
vật.
Tây An hầu Lê Phi Thừa của họ Mạc khởi quân cướp
lấy của cải của ba ty rồi thu quân chạy vào nước
Ai Lao đầu hàng vua.
Họ Mạc phong cho con là bọn Kinh Điển làm vương,
ngoài ra đều theo thứ tự bậc mà được nhận phong.
Mậu Tuất, [Nguyên Hoà] năm thứ 6 [1538] , (Mạc
Đại Chính năm thứ 9; Minh Gia Tĩnh năm thứ 17).
Mùa xuân, họ Mạc mở khoa thi Hội, cho bọn Giáp Hải,
Trần Toại, Hoàng Sầm đỗ tiến sĩ cập đệ; bọn Phan
Cảo 8 người đỗ tiến sĩ xuất thân; bọn Hoàng Thuyên
25 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.
Họ Mạc tuyển hoàng dinh.
Họ Mạc sai Nguyễn Văn Thái sang nhà Minh dâng biểu
xin hàng và xin phân xử2392 .
Kỷ Hợi, [Nguyên Hoà] năm thứ 7 [1539] , (Mạc Đại
Chính năm thứ 10; Minh Gia Tĩnh năm thứ 18). Vua
phong đại tướng quân Trịnh Kiểm làm Dực [3a] quận
công, (người làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc2393 ),
Trịnh Công Năng làm Tuyên quận công, Lại Thế Vinh2394
làm Hoà quận công. Bọn Hiệp quận công, Tường quận
công, Từ quận công, Trấn quận công, Tây quận công,
Dương quận công, Thuỵ quận công, Nghi quận công
đều được ban ấn coi quân, sai đem quân bản bộ tiến
đánh các nơi để lo lấy lại Tây Kinh, khí thế quân
sĩ mạnh thêm. Sau tiến đánh huyện Lôi Dương, quân
Mạc phần nhiều bị thua, rồi đem quân về.
Đại hạn.
Mùa đông, tháng 10, động đất.
Canh Tý, [Nguyên Hoà] năm thứ 8 [1540] , (Mạc Đại
Chính năm thứ 11; Minh Gia Tĩnh năm thứ 19). Mùa
xuân, tháng giêng, ngày 15, Mạc Đăng Doanh chết.
Con trưởng là Phúc Hải lên ngôi, lấy năm sau làm
Quảng Hoà năm thứ 1.
Mùa đông, tháng 11, Mạc Đăng Dung cùng với cháu
là Văn Minh và bề tôi là bọn Nguyễn Như Quế, Đỗ
Chế Khanh, Đặng Văn Tri, Lê Thuyên, Nguyễn Tổng,
Tô Văn Tốc, Nguyễn Kinh Tế, Dương Duy
Nhất, Bùi [3b] Trí Vĩnh, qua Trấn Nam Quan, mỗi
người đều cầm thước, buộc dây ở cổ2395 , đi chân
không đến phủ phục trước mạc phủ của quân Minh2396
quỳ gối, cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết
sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước
để chờ phân xử, dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ
Sâm, Liễu Cát, An Lương2397 , La Phù của châu Vĩnh
An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châu.
Lại xin ban chính sóc, cho ấn chương, để kính cẩn
coi giữ việc nước và chờ lệnh thay đổi hay quyết
định khác. Lại sai bọn Văn Minh và Nguyễn Văn Thái,
Hứa Tam Tỉnh mang biểu đầu hàng sang Yên Kinh.
Thái sư Hưng quốc công Nguyễn Kim đem quân về đánh
Nghệ An, hào kiệt phần nhiều theo về, thanh thế
rất lừng lẫy, đến đâu là gần xa đều hàng phục.
Tân Sửu, [Nguyên Hoà] năm thứ 9 [1541] . (Mạc Quảng
Hoà năm thứ 1; Minh Gia Tĩnh năm thứ 20). Họ Mạc
mở khoa thi Hội. Cho bọn Nguyễn Kỳ, Phạm [4a] Công
Sâm, Nguyễn Thế Lộc đỗ tiến sĩ cập đệ; bọn Ngô Quang
4 người đỗ tiến sĩ xuất thân; bọn Phạm Nguyên 23
người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.
Bấy giờ, Tây An hầu Lê Phi Thừa có ý bất bình,
thường nói ra những lời phẫn uất, càng ngày càng
kiêu căng; ngang ngược. Thái sư Nguyễn Kim sai người
bóp cổ chết. Trước kia, Phi Thừa xuất thân là xá
nhân, thờ Mạc Đăng Dung, được Đăng Dung khen ngợi,
cho cai quản quân dân bảy huyện thuộc đạo ấy2398
. Đến năm Đại Chính, Thừa quy thuận triều đình,
vua vẫn cho giữ chức cũ. Đến đây lại oán hận, kiêu
căng bạo ngược nên bị giết.
Tháng 8, ngày 22, Mạc Đăng Dung chết.
Tháng 10, ngày 20, bọn Mao Bá Ôn nhà Minh kính
dâng bản tâu về Yên Kinh nói rằng: Mạc Đăng Dung
tự trói mình đầu hàng ở cửa ải, xin kính theo chính
sóc2399 , xoá bỏ tiếm hiệu, trả lại đất bốn động
đã chiếm, [4b] xin nội thuộc xưng thần, xin hàng
năm ban lịch Đại Thống2400 và bù đủ lễ vật tiến
cống hàng năm, cúi mình cung kính thuận phục. Nếu
như coi Đăng Dung là kẻ có tội đầu hàng, chưa kể
khinh xuất trao cho chức tước, đất đai, thì cháu
của y là Mạc Phúc Hải nay đang đợi mệnh, nếu được
đội ơn khoan thứ, cũng có thể cho làm các chức khác
như đô hộ, tổng quản theo như lệ cũ của nhà Hán,
nhà Đường2401 , hàng năm quan Bố chính ty Quảng
Tây ban cấp lịch Đại Thống, cho y đến Trấn Nam Quan
kính nhận, những lễ vật tiến cống các năm trước
còn thiếu, thì tra xét bắt bù đủ, từ năm sau chiếu
sổ nộp dần. Còn như Lê Ninh tuy tự xưng là con cháu
họ Lê, nhưng cứ theo các ty tra xét, thì ngọn ngành
tung tích khó biết rõ ràng. Trịnh Duy Liêu trước
có lén lút tới các đồng trại ở châu Thạch Lâm nước
ta, sát vùng thổ quan Quảng Tây, nhưng mặt mũi Lê
Ninh ra sao cũng không được biết, cho nên khi thì
gọi là [5a] Lê Ninh, khi thì gọi là Lê Hiến, lúc
thì gọi là Quang Hoà, có lúc lại bảo là họ Trịnh
trá xưng. Còn Trịnh Viên thì khai rằng ở động Tất
Mã Giang2402 có Lê Ninh thực, nhưng lại lịch tông
phái không biết được rõ; những điều trình bày về
tuổi tác, nét mặt, lại khác với lời khai cũ của
Trịnh Duy Liêu, đều khó dựa vào đó mà nghe được.
Hãy cho Ninh ở lại Tất Mã Giang, những vùng đã lấy
được đều thuộc quyền y quản thúc, có thể bàn trao
chức tước, cho thực thuộc về Vân Nam. Nếu không
phải là con cháu nhà Lê thì thôi không bàn nữa.
Còn Trịnh Duy Liêu thì cho sở thuộc Quảng Đông tuỳ
nghi sắp xếp, cấp cho ruộng đất, nhà ở, đừng để
y phải bơ vơ. Xử phân như vậy, ngõ hầu mới được
chu tất. Vua Minh bèn phong cho Mạc Đăng
Dung làm An Nam Đô thống sứ ty đô thống sứ, ban
ấn bạc và cho thế tập2403 . Còn đất 13 lộ2404 [5b]
thì cứ chiếu theo tên đất cũ, mỗi lộ đều đặt ty
Tuyên phủ, đặt các chức tuyên phủ đồng tri, phó
sứ, thiêm sự mỗi chức 1 viên, đều thuộc quản hạt
của đô thống sứ sai khiến mà triều cống. Lễ cống
lên vua và Đông cung thì theo lệ cũ.
Nhâm Dần, [Nguyên Hoà] năm thứ 10 [1542] , (Mạc
Quảng Hoà năm thứ 2; Minh Gia Tĩnh năm thứ 21).
Vua lấy Thuỵ quận công Hà Thọ Tường làm Ngự doanh
đề thống ngự giá để mưu việc tiến đánh, sai Thái
sư Hưng quốc công Nguyễn Kim thống đốc tướng sĩ
các dinh đi trước, tiến đánh các nơi ở Thanh Hoa,
Nghệ An. Tướng lĩnh cũ và hào kiệt hai trấn này
phần nhiều theo về, thế quân càng thêm mạnh (Thọ
Tường người xã Cổ Lũng, huyện Cẩm Thuỷ2405 ).
Tháng 2, ngày mồng 8, Mạc Phúc Hải phong tước vương
cho các em là bọn Kính Điển và các con.
Bấy giờ, quan quân giao chiến với tướng Mạc, cầm
cự nhau đến vài tháng.
[6a] Tháng 3, ngày 22, Mạc Phúc Hải lên Trấn Nam
Quan chịu khám nghiệm và nhận 1.000 bản lịch Đại
Thống của nhà Minh ban cho. Lại lĩnh một đạo sắc
mệnh cũ phong Mạc Đăng Dung làm An Nam đô thống
sứ ty đô thống sứ và một quả ấn bạc.
Tháng 8, ngày mồng 3, họ Mạc sai bọn Nguyễn Điển
Kính, Nguyễn Công Nghi, Lương Giản sang tạ ơn nhà
Minh; bọn Nguyễn Chiếu Huấn, Vũ Tuân và Tạ Định
Quang sang tuế cống.
Tháng 12, ngày 15, nhà Minh phong Mạc Phúc Hải
làm An Nam đô thống sứ ty đô thống sứ.
Quý Mão, [Nguyên Hoà] năm thứ 11 [1543] , (Mạc
Quảng Hoà năm thứ 3; Minh Gia Tĩnh năm thứ 22).
Mạc sai sứ sang tuế cống nhà Minh. Vua Minh raệnh
ban cấp cho sứ giả theo như lệnh cũ, nhưng bãi việc
ban yến, giảm bớt cỗ bàn để tỏ ra không phải là
[6b] lễ tiếp bồi thần2406 .
Vua tiến quân ra từ thành Tây Đô, tướng Mạc là
Trung Hậu hầu (không rõ tên) dẫn con em đến trước
quân lạy chào ở cửa nam thành Tây Đô. Ba quân sôi
nổi mừng rỡ. Bấy giờ, Thái sư Hưng quốc công Nguyễn
Kim còn ở Ai Lao chưa theo đi2407 . Vua sai Tuyên
quận công Trịnh Công Năng mang chiếu thư về gọi.
Kim bèn chỉnh đốn bộ ngũ lên đường ngày, bái yết
vua ở hành tại sông Nghĩa Lộ2408 . Vua cả mừng,
gia thăng Kim làm thái tể, sai làm đô tướng, tiết
chế tướng sĩ các dinh, chia đường cùng tiến, bình
định vùng tây nam, đánh là thắng.
Tuyên quận công Trịnh Công Năng nổi quân làm phản,
chiếm giữ đầu nguồn Quảng Bình2409 , dựng đất đặt
doanh trại. Vua sai Dực quận công Trịnh Kiểm đi
đánh, giết được Năng.
[7a] Giáp Thìn, [Nguyên Hoà] năm thứ 12 [1544]
, (Mạc Quảng Hoà năm thứ 4 - Minh Gia Tĩnh năm thứ
23). Mùa xuân, họ Mạc mở khoa thi Hội. Cho bọn Vũ
Kính 3 người đỗ tiến sĩ xuất thân, bọn Nguyễn Hữu
Dục 14 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.
Ất Tỵ, [Nguyên Hoà] năm thứ 13 [1545] , (Mạc Quảng
Hoà năm thứ 5; Minh Gia Tĩnh năm thứ 24). Tháng
4, vua lấy Thiếu uý Hùng quốc công Đinh Công làm
thái uý, sai coi giữ ngự dinh. Vua thân hành đem
các tướng đi đánh miền Sơn Nam, đến huyện Yên Mô
đóng dinh.
Tháng 5, ngày 20, hàng tướng Mạc là Trung Hậu hầu
ngầm chứa hai lòng, mời Thái tể Nguyễn Kim đến dinh
của hắn, bỏ ngầm thuốc độc trong quả dưa dâng lên
trước mâm cỗ, Kim tin thực ăn dưa, bị trúng độc,
đến khi về thấy trong người khó chịu rồi mất, Trung
Hậu hầu đêm ấy trốn đi, lại quay về [7b] với họ
Mạc2410 . Trước kia, Trung Hậu hầu xuất thân là
hoạn quan, trải thờ Mạc Đăng Dung, làm quan đến
chức chưởng bộ, nghe tin vua nổi quân khôi phục
bờ cõi, liền bàn mưu với họ Mạc dùng kế trá hàng,
thường muốn hại vua.
Việc đó không thành, mới bỏ ngầm thuốc độc để hại
Thái tể Kim, Kim không để ý, bị trúng độc. Vua xuống
chiếu truy tặng Kim làm Huân Tĩnh công, thuỵ là
Trung Hiến, sai người rước về Bái Trang2411 , huyện
Tống Sơn để hậu táng. Phong con trưởng của Kim là
Uông làm Lãng quận công, con thứ là Hoàng làm Hạ
Khê hầu, sai đem quân đi đánh giặc.
Tháng 8, vua sai Dực quận công Trịnh Kiểm làm đô
tướng tiết chế các dinh quân thuỷ bộ các xứ kiêm
tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự, Thái
sư Lượng quốc công. Mọi binh quyền ngoài khổn, công
việc trong nước, trù tính mưu lược, phong tước bổ
quan xa gần đều được [8a] tuỳ mình quyết định, rồi
sau mới tâu vua. Lượng quốc công càng dốc lòng trung
trinh, mọi việc đều quyết đoán rõ ràng, công việc
đều đâu ra đấy cả.
Bính Ngọ, [Nguyên Hoà] năm thứ 14 [1546] , (Mạc
Quảng Hoà năm thứ 6; Minh Gia Tĩnh năm thứ 25).
Vua lập hành điện ở sách Vạn Lai2412 . Mỗi khi có
đánh dẹp, đều giao cả cho Thái sư Lượng quốc công
thống lĩnh, đánh đâu được đấy. Do vậy, hào kiệt
các châu Hoan, Diễn, Ô, Quảng2413 đua nhau tới cửa
đình, ai nấy đều vui lòng gắng sức, cõi đất Ái Châu2414
yên dần.
Tháng 5, ngày mồng 8, Mạc Phúc Hải chết. Con trưởng
là Phúc Nguyên mới lập, lấy năm sau làm năm Vĩnh
Định thứ 1.
Đinh Mùi, [Nguyên Hoà] năm thứ 15 [1547] , (Mạc
Vĩnh Định năm thứ 1; Minh Gia Tĩnh năm thứ 26).
Mùa xuân, họ Mạc mở khoa thi Hội, cho bọn Dương
[8b] Phúc Tư, Phạm Du, Nguyễn Tế đỗ tiến sĩ cập
đệ, bọn Nguyễn Kính Chỉ 8 người đỗ tiến sĩ xuất
thân; bọn Vũ Hiệu 19 người đỗ đồng tiến sĩ xuất
thân.
Tháp Báo Thiên bị đổ.
Tướng Mạc là Tứ Dương hầu Phạm Tử Nghi2415 mưu
lập người họ Mạc là Hoằng Vương Chính Trung2416
làm chúa, không xong, bèn nổi loạn, bức dời Chính
Trung về xã Hoa Dương2417 , huyện Ngự Thiên. Họ
Mạc sai Khiêm Vương Kính Điển2418 cùng bọn Tây quận
công Nguyễn Kính đem quân đi bắt, bị Tử Nghi đánh
bại. Sau Tử Nghi nhiều lần đánh không được, mới
ép Chính Trung ra chiếm cứ vùng Yên Quảng. Dân hạt
Hải Dương bị nạn binh lửa luôn luôn, nhiều người
phải lưu vong. Tử Nghi lại chạy vào đất nhà Minh,
thả quân đi bắt người cướp của Quảng Đông, Quảng
Tây. Người Minh không kiềm chế nổi. (Tử Nghi người
huyện An Dương).
[9a] Mậu Thân, [Nguyên Hoà] năm thứ 16 [1548] ,
(Mạc đổi Vĩnh Định thành Cảnh Lịch năm thứ 1; Minh
Gia Tĩnh năm thứ 27). Mùa xuân, tháng giêng, ngày
29, vua băng, Thái tử Huyên lên ngôi, lấy năm sau
làm Thuận Bình năm thứ 1. Dâng tôn hiệu cho Đại
Hành Hoàng Đế là Trang Tông.
Họ Mạc phong Phạm Quỳnh làm Vinh quận công, và
con là Dao làm Phú xuyên hầu. (Quỳnh người xã Thịnh
Liệt2419 , huyện Thanh Trì).
Họ Mạc sai bọn Lê Tiên Quý sang tuế cống nhà Minh.
Trung Tông Hoàng Đế
(Tên húy là Huyên, là con trưởng của Trang Tông,
ở ngôi 8 năm, thọ 22 tuổi)
Phụ: Họ Mạc (Phúc Nguyễn 8 năm)
Vua uỷ nhiệm bậc trung thần mưu lược, đánh giết
kẻ tiếm hiệu cướp ngôi, có thể gọi là có tài lược
đế vương, song hưởng thọ không lâu, đất đai của
tiên vương chưa thu phục được hết, tiếc thay!
Kỷ Dậu, [Thuận Bình] năm thứ 1 [1549] , (Mạc Cảnh
Lịch năm thứ 2; Minh Gia Tĩnh năm thứ 28). Họ Mạc
lấy tướng Đông đạo (không rõ tên) làm Thiệu quốc
công, tướng Bắc đạo Mạc Đình Khoa làm Gia quốc công,
tướng Tây đạo Nguyễn Kính làm [9b] thái uý Tây quốc
công, Nguyễn Khải Khang làm thái uý Đoan quốc công,
đều cho họ Mạc; tướng Nam đạo Lê Bá Ly2420 làm thái
tể Phụng quốc công, cùng các thần thuộc trên dưới
đều được phong để mưu giữ đất đai bờ cõi.
Mạc Phúc Nguyên bỏ chính điện ở thành Thăng Long,
dời ra ở ngoại thành, trong cõi rối loạn.
Tháng 3, lấy Phạm Đốc làm Kinh ngô vệ chưởng vệ
sự, phong Quảng quận công (Đốc người xã Thổ Sơn,
huyện Vĩnh Phúc2421 ).
Canh Tuất, [Thuận Bình] năm thứ 2 [1550] , (Mạc
Cảnh Lịch năm thứ 3; Minh Gia Tĩnh năm thứ 29).
Họ Mạc mở khoa thi Hội. Cho bọn Trần Văn Bảo, Trần
Văn, Nguyễn Minh Dương đỗ tiến sĩ cập đệ; bọn Lê
Khâm 4 người đỗ tiến sĩ xuất thân, bọn Nguyễn Thừa
Hưu 18 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.
Bấy giờ Mạc Phúc Nguyên nghe lời dèm pha của cha
con Phạm Quỳnh, Phạm Dao2422 , cho nên tướng Nam
đạo, Thái tể [10a] Phụng quốc công Lê Bá Ly và con
là Phổ quận công Lê Khắc Thận; văn thần là Lại bộ
thượng thư ngự sử đài đô ngự sử, Đông các đại học
sĩ nhập thị kinh diên Thư quận công Nguyễn Thiến2423
và con là Nguyễn Quyện, Nguyễn Phủ, mỗi người đem
hơn trăm quân bản bộ đi đêm trốn vào cửa ải Thanh
Hoa xin hàng. Vua cho hàng. Bọn họ đến cửa khuyết
lạy chào. Vua cả mừng, ban thưởng và uý lạo cho.
Từ đó, hào kiệt các nơi kéo đến hưởng ứng như mây
trời quần tụ, ai cũng vui lòng.
Tân Hợi, [Thuận Bình] năm thứ 3 [1551] , (Mạc Cảnh
Lịch năm thứ 4; Minh Gia Tĩnh năm thứ 30). Họ Mạc
sai bọn Kinh Điển đốc quân đi đánh Mạc Chính Trung
và Phạm Tử Nghi ở Yên Quảng. Đuổi đánh và bắt được
Tử Nghi đưa về Kinh sư chém lấy đầu gửi sang nước
Minh. Người Minh không nhận, trả lại. Chính Trung
chạy vào đất Minh rồi chết ở [10b] đấy. ( Bản kỷ
viết: Trước kia, Phạm Tử Nghi vẫn
định lập Hoằng Vương Chính Trung làm người nối
ngôi họ Mạc, nhưng các thân vương trong họ và đại
thần của họ Mạc lại mưu lập Phúc Nguyên. Chính Trung
không được lập, mới cùng với Tử Nghi nổi loạn, và
cướp bên nước Minh, người Minh bị nhiều tai hoạ.
Đến đấy, nhà Minh trách họ Mạc là phiên thần vô
lễ, dung túng bọn cướp nước sang cướp bóc đại quốc,
sẽ phải đem quân sang, họ Mạc rất sợ, liền ngầm
sai kẻ tiểu tốt đi bắt được Tử Nghi, chém đầu sai
người đưa sang nhà Minh. Nhưng hễ đi tới đâu là
hay sinh ôn dịch ở đó, làm chết hại nhiều người
và súc vật, nên người Minh phải trả lại).
Thái sư Lượng quốc công sai hàng tướng của họ Mạc
là Lê Bá Ly cùng với bọn Vũ Văn Mật2424 tiến quân
sát đến Kinh sư. Mạc Phúc Hải chạy về Kim Thành2425
, để Mạc Kính Điển làm đô tổng soái ở lại cầm quân
chống giữ.
Nhâm Tý, [Thuận Bình] năm thứ 4 [1552] , (Mạc Cảnh
Lịch năm thứ 5; Minh Gia Tĩnh năm thứ 31). Thái
sư Trịnh Kiểm đem quân đi đánh dẹp miền tây nam.
Tướng Tây đạo thái uý đoan quốc công của họ Mạc
là Nguyễn Khải Khang đem quân về hàng, đến Yên Trường2426
[11a] vua uý lạo, ban thưởng, vẫn cho giữ chức tước
như cũ.
Quý Sửu, [Thuận Bình] năm thứ 5 [1553] , (Mạc Cảnh
Lịch năm thứ 6; Minh Gia Tĩnh năm thứ 32). Vua dời
hành tại đến Yên Trường.
Họ Mạc mở khoa thi Hội, cho bọn Nguyễn Lượng Thái,
Hoàng Tuân, Trần Vĩnh Tuy đỗ tiến sĩ cập đệ; bọn
Nguyễn Nghĩa Lập 5 người đỗ tiến sĩ xuất thân, bọn
Nguyễn Công Tộc 12 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.
Giáp Dần, [Thuận Bình] năm thứ 6 [1554] , (Họ Mạc
đổi niên hiệu Cảnh Lịch thành Quang Bảo năm thứ
1; Minh Gia Tĩnh năm thứ 33). Thái sư Lượng quốc
công Trịnh Kiểm dời hành dinh đến Biện Thượng2427
. Thế quân thêm mạnh, hiền sĩ bốn phương nhiều người
quy phụ.
Mở chế khoa2428 , chọn kẻ sĩ. Cho bọn Đinh Bạt
Tuy 5 người đỗ đệ nhất giáp chế khoa xuất thân2429
; bọn Chu Quang Trứ2430 8 người đỗ đệ nhị giáp đồng
chế khoa xuất thân.
[11b] Tháng 10, ngày mồng 1, lấy Kim ngô vệ chưởng
vệ sự Quảng quận công Phạm Đốc làm thái bảo.
Ất Mão, [Thuận Bình] năm thứ 7 [1555] , (Mạc Quang
Bảo năm thứ 2; Minh Gia Tĩnh năm thứ 34). Tháng
8, họ Mạc sai Khiêm Vương Mạc Kính Điển đem quân
vào cướp Thanh Hoá; lấy Thọ quận công (không rõ
tên) tiết chế quân Nam đạo, đem hơn 100 chiếc thuyền
làm tiên phong, tiến đến cửa biển Thần Phù đóng
dinh.
Hôm sau, Kính Điển đem quân đến hội ở sông Đại
Lại2431 , sai Thọ quận công đốc suất quân bản bộ
đi trước, đóng dinh ở núi Kim Sơn2432 .
Thái sư Lượng quốc công Trịnh Kiểm đại hội các
tướng bàn rằng: Giặc cậy đông khinh ta, ta dùng
kế mai phục đợi chúng, thế nào cũng bắt được. Bèn
sai người dặn trước dân chúng hai bờ sông không
được kinh động, ai nấy cứ vững yên như cũ. Lại sai
[12a] trung quan là Thái uý Hùng quốc công Đình
Công đốc suất bọn hàng tướng Lê Bá Ly, Nguyễn Khải
Khang, Nguyễn Thiến, Lê Khắc Thận cùng binh tướng
bản bộ mai phục sẵn ở phía nam sông, trên từ núi
Yên Định, dưới đến núi Quân Yên2433 . Thái sư Trịnh
Kiểm đích thân đốc suất đại quân mai phục ở phía
bắc sông, trên từ núi Bạch Thạch2434 , dưới đến
núi Kim Sơn, lại chọn 50 con voi phục ở chân núi
Kim Sơn2435 . Lại sai Quảng quận công Phạm Đốc đem
thuỷ quân và chỉ huy bọn hàng tướng Nguyễn Quyện
đem hơn 10 chiếc thuyền chiến chiếm cứ mạn thượng
lưu từ sông Hữu Chấp đến sông Kim Bôi2436 , đi đi
lại lại làm thế ỷ dốc.
Hôm sau, giờ Tỵ, thuyền giặc qua Kim Sơn, đến chợ
Ông Cung2437 . Trong chiến thuyền, nghe tiếng đàn
sáo ca hát, như vào chỗ không người. Gần trưa, nghe
một tiếng súng nổ ở núi Quân Sơn, dọc hai bờ sông
[12b] liên tiếp có bảy tiếng súng đáp lại. Thái
sư Trịnh Kiểm tung quân đánh lớn, voi ở hạ lưu đã
qua sông. Binh thuyền của bọn Phạm Đốc, Nguyễn Quyện
đã thuận dòng mà xuống. Binh tượng hai bên bờ hăng
hái tranh nhau tiến lên trước. Quân giặc quay ngược
giáo, vứt bỏ áo giáp, chiến thuyền, nhảy xuống sông
trốn chạy. Thọ quận công tự liệu không thể thoát
được, nhảy xuống sông trốn, bị Triều quận công Vũ
Sư Thước bắt sống. Quân Mạc bị bắt rất nhiều. Trói
Thọ quận công trên lưng voi đem nộp ở cửa dinh cùng
với mấy chục viên tướng giặc lớn nhỏ đã bắt được.
Quân giặc chết nhiều, xác nghẹn cả sông, nước sông
đỏ lòm. Thu được khí giới nhiều không kể xiết. Mấy
vạn quân giặc chết gần hết. Kính Điển sợ vỡ mật,
thu nhặt tàn quân quay về Kinh sư. Thái sư dâng
biểu báo tin thắng trận, vua sai chém hết vài chục
tên tướng giặc như bọn Thọ quận công ở núi Đồng
Lộc.
Bính Thìn, [Thuận Bình] năm thứ 8 [1556] , (Mạc
Quang Bảo năm thứ 3; Minh Gia Tĩnh năm thứ 35).
Mùa xuân, tháng giêng, ngày 24. Vua băng, không
có con nối. Thái sư Lượng quốc công Trịnh Kiểm bàn
với các đại thần rằng: Nước không thể một ngày không
có vua. Liền sai người đi tìm con cháu họ Lê lập
lên, tìm được cháu bốn đời của Lam quốc công Lê
Trừ là Lê Duy Bang ở hương Bố Vệ2438 , huyện Đông
Sơn, đón về lập làm vua. Đại xá, lấy năm sau làm
năm Thiên Hựu thứ 1. Dâng tôn hiệu cho Đại Hành
Hoàng Đế và Vũ Hoàng Đế, miếu hiệu là Trung Tông.
Lấy Thái bảo Quảng quận công Phạm Đốc làm Binh
bộ thượng thư chưởng bộ sự.
Họ Mạc mở khoa thi Hội. Cho bọn Phạm Trấn, Đỗ Uông
và Nguyễn Nghiêu Tá đỗ tiến sĩ cập đệ; [13b] bọn
Phạm Viết Mậu 4 người đỗ tiến sĩ xuất thân; bọn
Nguyễn Nhân An 7 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.
Anh Tông Tuấn Hoàng Đế
(Tên húy là Bang, ở ngôi 16 năm, thọ 42 tuổi)
Phụ: Họ Mạc (Phúc Nguyên 5 năm, Mậu Hợp 11 năm)
Vua là dòng dõi đế thất, nhờ huân thần tôn lập,
mưu cuộc trung hưng, thực là mệnh trời trao cho
vậy. Song sự nghiệp chưa xong một nửa, lòng nghi
hoặc dần nảy sinh, chỉ tin lời gièm pha mà xiêu
giạt ra ngoài. Thương thay!
Trước kia, anh thứ hai của Thái Tổ là Trừ (tặng
Lam quốc công, nay tôn phong là Hoằng Dụ Vương).
Trừ sinh ra Khang (tặng Quỳ quốc công, nay tôn phong
là Hiển Công Vương). Khang sinh ra Thọ (nay tôn
phong là Quang Nghiệp Vương), Thọ sinh Duy Thiệu
(nay tôn phong là Trang Giản Vương), Duy Thiệu sinh
Duy Khoáng (nay tôn phong là Hiếu Tông Nhân Hoàng
Đế), Duy Khoáng lấy vợ người hương Bố Vệ, huyện
Động Sơn, sinh ra vua. Bấy giờ, Trung Tông băng,
không có con nối, Thái sư Lượng quốc công Trịnh
Kiểm và các đại thần đón lập lên.
[14a] Đinh Tỵ, [Thiên Hựu] năm thứ 1 [1557] , (Mạc
Quang Bảo năm thứ 4; Minh Gia Tĩnh năm thứ 36).
Họ Mạc lấy Khiêm Vương Kính Điển kiêm chức Tông
nhân phủ Tông nhân lệnh.
Tháng 7, họ Mạc sai Kính Điển đem quân xâm phạm
Thanh Hoa, đến sông Thần Phù và vùng Tống Sơn2439
, Nga Sơn2440 , đốt phá cầu phao. Thái sư Lượng
quốc công Trịnh Kiểm sai Thanh quận công2441 giữ
Nga Sơn, Thuỵ quận công Hà Thọ Tường giữ Tống Sơn,
ai nấy đều đem tinh binh đi chống giữ, quân Mạc
không tiến lên được. Thái sư đích thân chỉ huy binh
tượng, ngầm tiến đến chân núi Yên Mô2442 thẳng tới
cửa biển, gặp giặc, tung quân ra đánh, lại đánh
úp phía sau, tiếng súng liên hồi, trên dưới đánh
kẹp vào. Thái sư sai người huyện Hoằng Hoá là Vũ
Lăng hầu lao thuyền xông vào đánh, gặp thuyền Mạc
Kinh Điển, Vũ Lăng hầu tung người nhảy qua, vung
gươm chém người cầm dù đứt làm hai đoạn rớt [13b]
xuống sông. Kinh Điển trở tay không kịp, nhảy xuống
sông trốn thoát. Quân Mạc đại bại, bỏ thuyền chạy
trốn vào núi rừng. Kính Điển chỉ thoát được thân,
vào hang núi ẩn náu 3 ngày, đói quá, ban đêm thấy
cây chuối trôi qua cửa hang, liền ôm chuối trôi
theo dòng để tìm đường về. Vài ngày sau, đến sông
Yên Mô, gặp người đánh cá ở xã Trà Tu2443 cứu thoát.
Đến khi về, Kính Điển bảo cử người ấy làm Phù Nghĩa
hầu.
Tháng 7 nhuận, lấy Thái bảo Quảng quận công Phạm
Đốc làm thái phó.
Tháng 8, Thái sư sai Phạm Đốc đi cứu Nghệ An2444
. Bấy giờ họ Mạc nghe tin Thái sư thừa thắng tiến
đánh, bèn trốn về Kinh.
Năm này, hàng tướng Mạc là Lê Bá Ly, Nguyễn Thiến
chết. Con của Thiến là bọn Nguyễn Quyện, Nguyễn
Phủ [15a] lại trốn về với họ Mạc. Họ Mạc phong Quyện
làm Văn Phái hầu, Phủ làm Phù Hưng hầu, đem con
gái tông thất gả cho.
Tháng 9, Thái sư Trịnh Kiểm đem 5 vạn quân thuỷ
bộ đánh ra miền giữa Sơn Nam. Đến sông Phụng Xí2445
bắc cầu phao qua sông, phá tan quân Mạc, bắt sống
tướng Mạc là Khánh quốc công trên thuyền, quân Mạc
tan vỡ. Thái sư Trịnh Kiểm để Khánh quốc công trên
voi, sai đi theo quân để hiến kế. Sau Khánh quốc
công mưu phản, việc tiết lộ, bị giết.
Quan quân đánh dẹp huyện Giao Thuỷ ở mạn dưới Sơn
Nam. Thái sư Trịnh Kiểm tự mình chỉ huy bộ binh,
sai bọn Phạm Đốc chỉ huy thuỷ quân, lấy Vũ Lăng
hầu làm Tiền Thuỷ đội2446 , tung quân đánh lớn.
Họ Mạc sai Nguyễn Quyện chống giữ ở sông Giao Thuỷ.
Quyện và Vũ Lăng hầu đánh nhau to. Vũ Lăng hầu [15b]
rướn mình nhảy sang mui thuyền của Quyện trước.
Quyện cầm gươm chém, Vũ Lăng hầu nhảy xuống sông
lặn đi. Quyện vội nhảy sang thuyền của Vũ Lăng hầu,
chém được đầu của người cầm dù rồi hô lớn: "Đầu
Vũ Lăng hầu đây, lũ chúng mày địch sao nổi ta".
Các quân nghe nói thế, không kịp ngoảnh lại nhìn,
nhảy cả xuống sông. Toàn quân tan vỡ, bỏ thuyền
nhảy lên bờ tháo chạy. Quân Mạc thừa thắng đuổi
đánh. Nhân dân các huyện đều hưởng ứng theo. Thái
sư kíp bàn rút quân. Họ Mạc sai tướng đem quân chặn
lối về, quân sĩ phần lớn bị hại, chiến tướng bị
giết đến vài chục viên, thuyền bè, khí giới phải
vứt bỏ hết, sĩ tốt chạy thoát được còn độ một nửa.
Tháng 10, Thái sư đem quân về Thanh Hoa, sai ác
tướng vỗ nuôi quân lính, chế tạo chiến khí, sai
tuyển tráng đinh biên chế vào quân ngũ cho đủ số
quân để lại mưu đánh lần sau.
[16a] Mưa to kéo dài hàng tháng không tạnh. Ở Thanh
Hoa, Nghệ An lúa đồng phần lớn bị ngập nước, mùa
màng bị mất, do vậy vua xuống chiếu đổi năm sau
thành năm Chính Trị2447 thứ nhất.
Mậu Ngọ, [Chính Trị] năm thứ 1 [1558] , (Mạc Quang
Bảo năm thứ 5; Minh Gia Tĩnh năm thứ 37). Thái sư
thân đốc đại quân lại ra miền giữa trấn Sơn Nam,
lừa đánh lúc giặc bất ngờ, bắt sống tướng Mạc là
Anh Nhuệ hầu đưa về hành tại Yên Trường, sai đem
chém.
Năm này, lập trường thi Hương ở xã Đa Lộc, huyện
Yên Định.
Tháng 8, ngày Mậu Ngọ 14, Thái phó Quảng quận công
Phạm Đốc chết2448 , thọ 46 tuổi. Được truy tặng
Đặc tiến khai phủ thái uý Tĩnh quốc công, thuỵ là
Trung Nghị.
Tháng 9, Thái sư Trịnh Kiểm thân đốc đại binh lại
ra miền trên trấn Sơn Nam chiếm đất rồi [16b] trở
về, để hàng tướng Nguyễn Khải Khang ở lại trấn thủ
để chiêu tập dân chúng. Sau họ Mạc dùng mưu sai
người địa phương trá hàng để dụ. Khải Khang lại
phản bội, quay về với họ Mạc. Họ Mạc dùng xe xé
xác Khang.
Tháng 10, Thái sư Trịnh Kiểm vào chầu, dâng biểu
tâi xin sai con thứ của Chiêu Huân Tĩnh công2449
là Đoan quận công Nguyễn Hoàng đem quân vào trấn
thủ xứ Thuận Hoá để phòng giặc phía đông2450 cùng
với Trấn quận công (không rõ tên) ở Quảng Nam cứu
viện cho nhau2451 . Mọi việc của xứ này, không cứ
lớn hay nhỏ, và các ngạch thuế đều giao cả cho,
hàng năm đến kỳ hạn thì thu nộp.
Kỷ Mùi, [Chính Trị] năm thứ 2 [1559] , (Mạc Quang
Bảo năm thứ 6; Minh Gia Tĩnh năm thứ 38). Mùa xuân,
họ Mạc mở khoa thi Hội. Cho Đặng Thì Thố đỗ tiến
sĩ cập đệ; bọn Nguyễn Đạt Thiệu 4 người đỗ tiến
sĩ xuất thân; bọn Nguyễn Thầm 14 người đỗ đồng tiến
sĩ xuất thân.
[17a] Bấy giờ quân Mạc bị thua luôn, Phúc Nguyên
hoang mang lo sợ, bỏ thành Thăng Long dời ra ở ngoài
cửa Nam.
Tháng 3, Thái sư Trịnh Kiểm sai Hộ bộ đạc chi Văn
Toàn tử Lê Trọng Nguyên đi khám đo ruộng đất công
và tư ở Thanh Hoa để định ngạch thuế.
Tháng 8, ở Thanh Hoa, Nghệ An, nước lũ tràn ngập,
đê điều, đường sá bị vỡ lỡ, trôi mất vài trăm nhà.
Trong thành Tây Đô do vậy bị ngập, kho tàng phần
nhiều ngập nước, nhân dân đói kém.
Tháng 9, Thái sư bảo cử viên tướng cùng họ là Phong
quận công Trịnh Quang2452 trông coi ngự bình, Phù
quận công Lê Chủng làm tổng trấn đạo Thanh Hoa,
trấn giữ binh dân, bọn Triều quận công Vũ Sư Thước,
An quận công Lại Thế Khanh2453 cùng đem tinh binh
trấn giữ cửa biển để phòng chống giặc. Thái sư chỉ
huy hơn 6 vạn đại quân, nói phao là 12 vạn, đích
thân đi đánh [17b] miền bắc để mưu việc khôi phục.
Đại quân từ Thiên Quang2454 ra miền thượng lộ Sơn
Tây2455 . Quân đi đến đâu, không mảy may xâm phạm
của dân, dân chúng đều thuận lòng hàng phục, yên
ổn như xưa, mọi người tranh nhau đem rượu thịt lúa
gạo cấp cho quân. Khi đến Tuyên Quang, Hưng Hoá,
tướng Tây đạo là Định quận công2456 đem quân đến
hội. Lại bàn tiến quân, vượt sông2457 đánh chiếm
các xứ Thái Nguyên, Lạng Sơn, Kinh Bắc. Viên thổ
tướng Gia quận công2458 cũng quy thuận triều đình,
nguyện xin cấp quân đánh giặc. Lại sai Định quận
công trấn giữ An Tây và Đại Đồng2459 để củng cố
cõi phiên trấn và mở đường từ Thiên Quang nối liền
với Hưng Hoá, Tuyên Quang, thông đến Kinh Bắc để
vận tải lương thực cung cấp cho quân.
Tháng 10, Thái sư Trịnh Kiểm thống lĩnh binh tướng
đi đánh dẹp các xứ Kinh Bắc, đóng dinh ở [18a] phủ
Thuận An2460 , cầm cự với quân Mạc, sau lại dời
đến đóng ở núi Tiên Du2461 .
Tháng 11, Thái sư Trịnh Kiểm chia quân đi đánh
các phủ Khoái Châu, Hồng Châu2462 các huyện Siêu
Loại, Văn Giang2463 quân đi đến đâu, giặc đều vỡ
chạy.
Tháng 12, Thái sư Trịnh Kiểm lại chia quân tiến
đánh các phủ Khoái Châu, Hồng Châu, Nam Sách2464
quân Mạc nghe tin đều bỏ chạy.
Canh Thân, [Chính Trị] năm thứ 3 [1560] , (Mạc
Quang Bảo năm thứ 7; Minh Gia Tĩnh năm thứ 39).
Tháng giêng, Thái sư Trịnh Kiểm sai các tướng đem
quân đi đánh phá các phủ Hồng Châu, Khoái Châu,
Tiên Hưng2465 , đánh đâu được đấy.
Năm này được mùa lớn. Hạ lệnh cho dân địa phương
đã quy thuận ở các huyện thuộc trấn Kinh Bắc nộp
lúa để cung cấp cho quân lính.
Tháng 2, Mạc Phúc Nguyên sai tướng đem quân giữ
thành Thăng Long, bên ngoài đóng đồn một dải từ
dọc [18b] sông về phía tây, trên từ Bạch Hạc, dưới
đến Nam Xang2466 , dinh trại liền nhau, thuyền ghe
san sát, ban ngày thì phất cờ dóng trống báo nhau,
ban đêm thì đốt lửa làm hiệu cho nhau để chống giữ
với quan quân. Thái sư Trịnh Kiểm bàn chia quân
cho các tướng đi đánh các huyện Đông Triều, Giáp
Sơn2467 , Chí Linh, An Dương ở miền đông, đều lấy
được cả. Họ Mạc bèn dời ra ở huyện Thanh Đàm.
Tháng 3, Thái sư Trịnh Kiểm sai bọn Vinh quận công
Hoàng Đình Ái đem quân trấn giữ Lạng Sơn. Vị quận
công Lê Khắc Thận trấn giữ Thái Nguyên, Gia quận
công2468 trấn giữ Tuyên Quang. Quân đóng liền nhau
để cứu viện cho nhau, ngày đêm tiến công các phủ
huyện Phú Bình, Văn Lan2469 . Lại sai Định quận
công trấn giữ Hưng Hoá, chiêu tập vỗ yên cư dân
mười châu An Tây, tư cấp binh lương. Từ Thiên Quang
đến Kinh Bắc đường liền không dứt.
[19a] Tháng 4, Thái sư Trịnh Kiểm đóng quân ở phía
nam núi Lãm Sơn2470 . Bấy giờ, quan quân cầm cự
nhau với tướng Mạc liền năm không dứt. Thái sư Trịnh
Kiểm lại chia quân đi đánh phá các vùng Thanh Miện,
Gia Phúc2471 , Hồng Châu, Khoái Châu. Các huyện
ở Hải Dương do vậy mà chấn động.
Tân Dậu, [Chính Trị] năm thứ 4 [1561] , (Mạc Quang
Bảo năm thứ 8; Minh Gia Tĩnh năm thứ 40). Tháng
3, họ Mạc sai tướng đem quân đến Kinh Bắc chống
nhau với Thái sư Trịnh Kiểm; rồi ngầm sai Mạc Kính
Điển đem quân vào đánh cướp Thanh Hoa, đến tận các
cửa biển. Bấy giờ, các tướng trấn giữ là Triều quận
công Vũ Sư Thước và An quận công Lại Thế Khanh đều
bỏ dinh trại rút về; Phù quận công Lê Chủng thì
quân vỡ, tháo chạy, đem quân chạy vào sách Vạn Lại,
cửa Yên Trường. Gia thuộc của Thái sư và vợ con
của các tướng chạy vào sách Thuỷ Đả2472 để lánh
nạn. Thế giặc hung hăng, dân chúng phần nhiều phải
lưu tán.
[19b] Tháng 9, quân Mạc đánh vào cửa Yên Trường,
đến sách Vạn Lại, sắp lấy được kho công. Bọn Vũ
Sư Thước, Lại Thế Khanh hợp sức cố đánh, tung quân
mai phục đánh thắng liền mấy trận, chém được hơn
trăm thủ cấp giặc. Quân Mạc tan vỡ tháo chạy. Quan
quân thừa thắng đuổi theo. Mạc Kính Điển phải rút
quân về Kinh. Thái sư Trịnh Kiểm liền đem quân về
Thanh Hoa, lạy chào vua ở hành tại Yên Trường, cáo
thắng trận xong, đóng quân ở Cao Mật, phía nam thành
Tây Đô, thưởng chiến công đánh giặc.
Phù quận công Lê Chủng chết.
Tháng 12, Mạc Phúc Nguyên chết, con là Mậu Hợp
lên ngôi, đổi niên hiệu là Thuần Phúc.
Nhâm Tuất, [Chính Trị] năm thứ 5 [1562] , (Mạc
Thuần Phúc năm thứ 1; Minh Gia Tĩnh năm thứ 41).
Tháng giêng, Mạc Mậu Hợp tuổi còn nhỏ lên nối ngôi,
lấy Ứng Vương Mạc Đôn Nhượng làm nhập nội phụ chính
ẵm Mậu Hợp ra coi chầu, tôn ông chú là [20a] Khiêm
Vương Kính Điển là Khiêm Đại Vương, Hoa quận công
(không rõ tên) là chưởng Triều Đông vệ, Phò mã đô
uý Ngạn quận công Mạc Ngọc Liễn làm chưởng Phù Tây
vệ, Thạch quận công Nguyễn Quyện là chưởng Phù Nam
vệ, Phò mã tông chính thái bảo Ninh quận công (không
rõ tên) là chưởng An Bắc vệ. Ngoài ra, từng người
đều được phong chức tước để hiệp lực phò tá nhà
Mạc.
Họ Mạc mở khoa thi Hội. Cho bọn Phạm Duy Quyết,
Trương Lỗ, Ngô Khiêm đỗ tiến sĩ cập đệ; bọn Vũ Văn
Thiện 5 người đỗ tiến sĩ xuất thân; bọn Nguyễn Vĩnh
Miện 10 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân.
Tháng 2, vua sai Lộc quận công đem quân đánh dẹp
mười châu2473 , sau Nhân Khê hầu cùng đi để chiêu
tập, phủ dụ dân chúng.
[20b] Tháng 8, vua lập trường thi Hương ở cửa nam
thành Tây Đô.
Tháng 9, Thái sư thân hành đốc suất đại quân đi
đánh dẹp lộ Sơn Nam2474 , sai thế tử2475 cùng đi.
Quân đến vùng Thanh Trì, Thượng Phúc, sai lập đại
dinh ở huyện Sơn Minh2476 , hạ lệnh thu thóc lúa
chứa để làm kế lâu dài.
Tháng nay, Hùng quốc công Đinh Công chết, cho hậu
táng. Công là người Quảng Bình2477 .
Tháng 10, Mạc Mậu Hợp ngờ Thái bảo Văn quốc công
Phạm Dao có lòng khác, sai giết.
Tháng 11, thái sư rút quân về Thanh Hoa, sai Nghĩa
quận công Đặng Huấn giữ dinh. Huấn làm phản về với
họ Mạc. (Đặng Huấn người làng Lương Xá, huyện Chương
Đức2478 ).
Giáp Tý, [Chính Trị] năm thứ 7 [1564] , (Mạc Thuần
Phúc năm thứ 3; Minh Gia Tĩnh năm thứ 43). Bấy giờ,
con trưởng của Mạc Kính Điển là Đoan Hùng Vương
Kính Chỉ [21a] ngầm tư thông với vợ lẽ của Kính
Điển. Việc bị phát giác, Kính Chỉ phải giáng làm
thứ nhân. Lấy con thứ của Kính Phu làm Đường An
Vương và trao cho binh quyền. Đến khi Kính Điển
chết, họ Mạc lại lấy Kính Chỉ làm Hùng Lễ công nhưng
không trao binh quyền.
Bấy giờ Sạ Đẩu nước Ai Lao sai bề tôi sang cống
phẩm vật địa phương và 4 con voi đực. Vua sai Thái
sư đem con gái nuôi gả cho Sạ Đẩu để kết hoà hảo
với nước láng giềng.
Tháng 9, Thái sư đốc suất đại quân đi đánh dẹp
miền giữa lộ Sơn Nam, đánh phá các huyện ở phủ Trường
Yên2479 . Khi đến cửa Chu Tước đóng quân thì Nghĩa
quận công Đặng Huấn lại đem quân bản bộ đến cửa
dinh quân xin chịu tội. Thái sư Trịnh Kiểm tha tội,
cho giữ tước cũ, lại sai Huấn ra miền Hoài An, Sơn
Minh2480 để mưu việc tiến đánh.
[21b] Tháng 10, Thái sư Trịnh Kiểm sai Xá nhân
ty Hoa Dương hầu đốc thúc dân chúng đã đầu hàng
ở các phủ Trường Yên, Thiên Quan2481 sửa đắp đê
điều, mở rộng đường xá, từ Phố Cát2482 thẳng đến
Bình Lương2483 , thông đến Hoài An, Sơn Minh để
vận chuyển lương thực, đi lại thông suốt. Từ đấy,
lộ Sơn
Nam, từ sông Cái về phía tây, đất đai và nhân dân
các huyện đều thuộc về triều đình, quân thanh lừng
lẫy, đánh đâu được đấy.
Tháng 12, Thái sư đem quân về Thanh Hoa.
Ất Sửu, [Chính Trị] năm thứ 8 [1565] , (Mạc Thuần
Phúc năm thứ 4; Minh Gia Tĩnh năm thứ 44). Đặt chế
khoa chọn kẻ sĩ. Cho bọn Lê Khiêm 4 người đỗ đệ
nhất giáp chế khoa xuất thân; bọn Lê Nghĩa Trạch
6 người đỗ đệ nhị giáp đồng chế khoa xuất thân.
[22a] Họ Mạc mở khoa thi Hội. Cho Phạm Quang Tiến
đỗ tiến sĩ cập đệ, bọn Phạm Hoành Tài 3 người đỗ
tiến sĩ xuất thân; bọn Lại Mẫn 12 người đỗ đồng
tiến sĩ xuất thân.
Tháng 4, thái sư đốc quân đánh ra miền giữa lộ
Sơn Nam, Thế tử Trịnh Cối, Trịnh Tùng cùng đi theo.
Quân đến phủ Trường Yên, đánh phá các huyện Gia
Viễn, Yên Mô, Yên Khang.
Tháng 9, Thái sư mưu chia quân sai bọn Vũ Sư Thước,
Lại Thế Khanh trấn giữ các cửa biển để phòng sự
bất ngờ. Lại sai cháu gọi bằng cậu là Văn Uyên hầu
giữ vững doanh trại, cùng trấn giữ cư dân với bọn
Sư Thước, tự mình đốc suất đại quân đánh dẹp các
huyện ở Sơn Nam. Quân đi tới đâu, đều lấy được đấy.
Mạc Mậu Hợp thấy quan quân đánh gấp quá, hỏi mưu
kế đánh lui. Mạc Kính Điển trả lời: Quân họ tinh
nhuệ, khó [22b] tranh với họ, sợ địch không nổi.
Trịnh Kiểm thân đốc đại quân đến đây đánh dẹp lô
Sơn Nam, chưa dễ đã qua được sông. Thanh Hoa là
đất căn bản của họ, nay đã suy yếu, dẫu có để quân
ở lại chia giữ đất ấy, chẳng qua cũng chỉ là một
hai tướng mà thôi. Thần xin sai vài viên đại tướng
đem quân đi giao chiến với họ để kìm giữ thế quân
của họ, rồi chia mấy vạn quân cho thần ngày đêm
thẳng tiến. Tới nơi, sẽ tung kỳ binh ra để bắt tướng
họ. Đó là phép tất thắng, là kế bỏ chỗ chắc, đánh
chổ hở, bất ngờ đánh vào chỗ giặc không phòng bị.
Đó là ước nguyện của thần. Mậu Hợp nghe theo.
Tháng 11, Kính Điển tiến quân đánh Thanh Hoa, vượt
biển, vào cửa Linh Trường2484 , đánh phá các huyện
Thuần Hựu2485 , Hoằng Hoá, lấn cướp cư dân. Bọn
Sư Thước sai người cáo cấp với Thái sư. Thái sư
bèn sai [23a] Lộc quận công đem quân về cứu Thanh
Hoa. Về tới hành dinh, cũng bàn mưu với bọn Sư Thước,
Thế Khanh hợp quân tiến đánh, giao chiến với quân
Mạc ở Du Trường2486 . Quân Mạc phục sẵn ở chỗ hiểm
yếu, cho kỳ binh ra khiêu chiến, rồi giả cách thua
chạy. Bọn Sư Thước đem binh tượng đuổi theo, dấn
sâu vào đất hiểm. Kính Điển liền tung phục binh
ra, bốn mặt cùng nổi dậy, đánh kẹp lại vây thành
mấy lớp. Bọn Sư Thước, Thế Khanh tự liệu quân ít
không địch nổi nhiều, liền đột phá lớp vòng vây,
cố sức đánh thoát chạy vào rừng núi. Lộc quận công
đánh một mình bị quân Mạc đâm chết trên lưng voi.
Quan quân chết đến hàng nghìn. Tướng Mạc định mưu
tiến đánh, nhưng nghe tin Thái sư đã rút quân về
đến Thạch Thành, Kính Điển bèn đem quân về.
Tháng 12, truy phong Lộc quận công làm Nghiêm quốc
công, vì giữ trọn tiết với việc vua.
[23b] Bính Dần, [Chính Trị] năm thứ 9 [1566] ,
(Mạc Thuần Phúc năm thứ 5; Minh Gia Tĩnh năm thứ
45). Mùa xuân, tháng giêng, vua Minh băng, Thái
tử Cứ lên ngôi, tức là Văn Tông, đổi niên hiệu là
Long Khánh.
Họ Mạc đổi niên hiệu là Sùng Khang năm thứ 1, dời
ra ở quán Bồ Đề.
Ngày 25, họ Mạc sai bọn Lại bộ thượng thư kiêm
Đông các đại học sĩ Kế Khê bá Giáp Hải và Đông các
hiệu thư Phạm Duy Quyết lên đầu địa giới Lạng Sơn
đón tiếp sứ thần Lê Quang Bí về nước. Quang Bí phụng
mệnh đi sứ năm Gia Tĩnh thứ 27, bị nhà Minh giữ
lại 18 năm, đến nay trở về.
[24a] Đinh Mão, [Chính Trị] năm thứ 10 [1567] .
(Mạc Sùng Khang năm thứ 2; Minh Long Khánh năm thứ
1). Bấy giờ, Thái sư đang ốm, ngồi kiệu đi đánh
dẹp vùng tây nam, nhiều lần thắng trận, quân sĩ
càng thêm tinh nhuệ. Quân Mạc thường đánh không
được, mới thu quân không ra nữa.
Lấy Lại bộ thượng thư kiêm Ngự sử đài đô ngự sử
Trương Quốc Hoa làm Thiếu phó Văn Khê Hầu.
Mậu Thìn, [Chính Trị] năm thứ 11 [1568] , (Mạc
Sùng Khang năm thứ 3, Minh Long Khánh năm thứ 2).
Mùa xuân, họ Mạc mở khoa thi Hội. Cho Vũ Hữu Chính
đỗ tiến sĩ cập đệ; bọn Đỗ An 4 người đỗ tiến sĩ
xuất thân; bọn Giáp Phong 12 người đỗ đồng tiến
sĩ xuất thân.
Bấy giờ bọn Thanh hình hiến sát sứ Hoàng Chấn và
Hiến sát phó sứ Nguyễn Hà ở Quảng Nam [24b] dâng
biểu tạ ơn nói: "Kính vâng thánh dụ ban khen
vì đã dốc lòng trung thành, vỗ yên biên giới. Nay
bọn thần thiết nghĩ mình là thư sinh, dựa vào uy
đức của triều đình mới có thể làm nên việc, mà được
ban ân huệ e không xứng đáng, dám xin trình bày
rườm rà lên trên".
Tháng 3, viên thổ quan Quảng Nam là Trấn quận công2487
chết. Thái sư Trịnh Kiểm lấy người Nghệ An là Nguyên
quận công Nguyễn Bá Quýnh2488 làm tổng dinh, giữ
đất ấy.
Mùa hạ, tháng 4, Thái sư đương ốm, cố gượng ra
trận, đánh phá các huyện Yên Mô, Yên Khang, Phụng
Hoá, Gia Viễn, hạ lệnh thu thóc lúa rồi về.
Kỷ Tỵ, [Chính Trị] năm thứ 12 [1569] , (Mạc Sùng
Khang năm thứ 4; Minh Long Khánh năm thứ 3). Tháng
2, vua gia phong Thái sư Lương quốc công Trịnh Kiểm
làm Thượng tướng Thái quốc công, tôn làm thượng
phụ2489 .
[25a] Mùa hạ, tháng 4, em vua là Lê Duy Hàn ngầm
có chí khác, lẻn vào trong cung lấy trộm ấn báu,
bị bắt, lại được tha. Sau Hàn lại phạm pháp giết
người, sai giao xuống nghị tội. Vua nói với Thượng
tướng rằng: "Kẻ ít tuổi này may nhờ thượng
phụ và các quan văn võ cùng tôn làm quân trưởng,
vẫn muốn hữu ái từ người ruột thịt đến nhà, đến
nước, cho đến cả thiên hạ, cùng hưởng an toàn. Nay
Duy Hàn với ta, cùng sinh một bọc, cha mẹ đều mất,
dạy bảo không nghe, vẫn thường vụng trộm làm trò
nhơ bẩn, nào ngờ bẩm tính ngoan ngu, lại còn phạm
pháp, vô cớ giết người, đáng phải giam lại".
Đến ngày 25 tháng 7, bọn Thiếu phó Văn Khê hầu Lương
Quốc Hoa vâng thánh chỉ, bẩm xin ý kiến của Thượng
tướng, dựa theo luật pháp xử tội, thích vào mặt
6 chữ, phế làm thứ nhân, giao cho Hình bộ tuân hành.
[25b] Mùa thu, tháng 9, trấn thủ Thuận Hoá là Đoan
quận công Nguyễn Hoàng vào chầu, lạy chào ở hành
tại; lại đến phủ thượng tướng2490 lạy mừng, giãi
bày tình cảm anh em2491 , rất thương yêu quý mến
nhau. Bấy giờ có viên phó tướng trung cơ là Bút
Xuyên hầu thấy thượng tướng bị ốm, ngầm chứa mưu
gian, việc bị phát giác, bỏ trốn, nhưng bị đuổi
theo bắt về. Thượng tướng định tha tội, Hoàng cố
can, mới giết.
Trước kia, Chiêu Huân Tĩnh công Nguyễn Kim biết
Thượng tướng tài lược hơn người, yêu quý như con,
đem con gái thứ là Ngọc Bảo gả cho. Ngọc Bảo là
chị ruột của Hoàng. Đến khi Kim chết, vua trao cho
Thượng tướng trông coi việc nước, nên sai Hoàng
làm trấn thủ Thuận Hoá, thu nộp tô thuế để chi dùng
vào việc nước. Đến đây vào chầu. Ngọc Bảo sinh con
là Trịnh Tùng, tài đức hơn người, anh hùng nhất
đời, có thể nối được chí cha, giúp nên nghiệp đế.
Công trung hưng của triều Lê [26a] thực dựng nền
từ đấy.
Mùa đông, tháng 10, ngày Giáp Tý, ban đêm động
đất, núi lở, cây cỏ chết khô. Thượng tướng tự biết
mình bệnh nặng, liền dâng biểu xin thôi giữ binh
quyền, lời lẽ rất khẩn thiết. Vua nói: "Trẫm
hãy tạm theo lời xin. Đặc cách sai con trưởng của
Thượng tướng là Tuấn Đức hầu Trịnh Cối đốc lĩnh
các dinh
quân thuỷ bộ, con thứ là Phú Lương hầu Trịnh Tùng
cùng bọn tướng tá đều phải theo mà đánh giặc để
yên thiên hạ, cho thoả lòng mong đợi của trẫm".
Tháng 11, có sao băng dài 5 trượng sa xuống đất,
tiếng kêu như sét đánh.
Họ Mạc lấy Bắc quân đô đốc phủ tả đô đốc thự phủ
sự Lâm quận công làm Binh bộ thượng thư chưởng bộ
sự.
[26b] Canh Ngọ, [Chính Trị] năm thứ 13 [1570] ,
(Mạc Sùng Khang năm thứ 5; Minh Long Khánh năm thứ
4). Tháng giêng, Thượng tướng dâng biểu tâu vua
cho Nguyễn Hoàng đi các xứ Thuận Hoá và Quảng Nam,
thống suất binh tượng, thuyền bè, và trấn phủ dân
địa phương để cõi phiên trấn được vững mạnh. Thượng
tướng khuyên răn Hoàng rằng: "Nhà nước trao
cho khanh chức nhiệm nặng nề này, khanh nên trước
sau một tiết, dốc hết tâm sức như xưa để phò tá
nhà vua". Hoàng cảm tạ vâng mệnh đến trấn.
Gọi Tổng binh Quảng Nam là Nguyên quận công Nguyễn
Bá Quýnh về.
Tháng 2, ngày 18, Thượng tướng Thái quốc công Trịnh
Kiểm ốm nặng, ngày hôm ấy mất. Truy tôn là Minh
Khang Thái Vương, thuỵ là Trung Huân. Có chiếu cho
con trưởng là Tuấn Đức hầu Trịnh Cối thay lĩnh binh
quyền, cầm quân đánh giặc. Bấy giờ Cối buông thả
mình trong tửu sắc, ngày càng rông rỡ kiêu ngạo,
không [27a] thương gì đến quân lính. Do đó, các
tướng hiệu đều có ý lìa bỏ, kẻ giúp đỡ ngày một
ít đi, lòng người thay đổi, ai cũng nghĩ đến chuyện
sinh biến, mầm hoạ đã thành.
Tháng 4, ngày mồng 2, Đoan Vũ hầu Lê Cập Đệ, Văn
Phong hầu Trịnh Vĩnh Thiệu2492 , Vệ Dương hầu Trịnh
Bách cùng bọn Lương quận công, Phổ quận công và
Lai quận công Phan Công Tích2493 đang đêm đem con
em và binh lính tới chỗ Phúc Lương hầu Trịnh Tùng
bàn định kế sách, ép Tùng phải hành động. Tùng bất
đắc dĩ phải cùng với bọn Cập Đệ, Vĩnh Thiệu thu
thập binh tướng, đang đêm chạy về hành tại Yên Trường.
Hôm sau, đến dinh Kim Thành, ép Nghĩa quận công
Đặng Huấn cùng đi đến cửa khuyết vào bái yết vua.
Bọn Tùng khóc nói rằng:
"Anh thần là Cối say đắm tửu sắc, mất lòng
mọi người, sớm muộn thế nào cũng sinh loạn, lại
đêm ngày mưu đoạt binh tượng và ấn báu của thần,
nên bọn thần [27b] phải nửa đêm trốn vào cửa khuyết,
đau xót báo tin, xin thánh thượng thương tình thu
nạp!"
Vua nói: "Khi thượng phụ còn sống không đến
nỗi thế, làm thế nào bây giờ?"
Phúc Lương hầu cùng bọn Cập Đệ, Vĩnh Thiệu, Bách
mật tâu vua dời hành tại vào trong cửa ải Vạn Lai,
chia quân chiếm giữ cửa luỹ để phòng bị quân bên
ngoài.
Hôm sau, Trịnh Cối tự mình đốc suất bọn Phúc quận
công Lại Thế Mỹ2494 , An quận công Lại Thế Khanh,
Lâm quận công Nguyễn Sư Doãn, Thạch quận công Vương
Trân, Vị quận công Lê Khắc Thận, Dương quận công
Nguyễn Hữu Liêu2495 , Hùng Trà hầu Phạm Văn Khoái2496
, Hoành quận công (không rõ tên), và hơn 1 vạn quân,
đuổi đến ngoài cửa quan, đóng dinh ở đấy. Cối đóng
quân vài ngày, các tướng ở trong cửa ải cũng đóng
cửa giữ không ra. Hai bên sai người đưa thư qua
lại, bên này nói xấu bên kia, lời lẽ rất ngạo mạn.
Ngày mồng 7, vua sai sứ ra chiêu dụ các tướng ở
ngoài cửa quan, bảo họ giảng hoà. [28a] Bọn Lại
Thế Khanh nói: "Không ngờ ngày nay bọn chúng
ta thành ra ở dưới người khác", rồi không chịu
hoà, nói là đem quân đánh vào cửa khuyết, rồi bày
chiến trận.
Lại Thế Mỹ dùng giáo trỏ vào cửa quan: "Bao
giờ bắt được người ở trong cửa quan thì việc mới
hoà được".
Vua biết ý không hoà giải được, bèn sai các tướng
đốc quân chống lại, suốt ngày đêm không nghỉ.
Cối thấy đánh mãi không được, trong lòng ngần ngại,
tự lui quân về Biện Dinh, hội các tướng tá dưới
quyền và nói: "Trong cửa quan có quân2497 ,
ngoài cõi có giặc2498 , ta ở quãng giữa, nếu có
tai biến khẩn cấp thì khó mà chống đỡ được".
Bèn hạ lệnh chia quân chiếm giữ những nơi xung yếu,
Vũ Sư Thước thì giữ cửa biển Linh Trường và Hội
Triều2499 , Lại Thế Khanh giữ cửa biển Chi Long2500
và Thần Phù, Nguyễn Sư Doãn giữ cửa biển Du Xuyên2501
và Ngọc Giáp2502 đề phòng quân Mạc vào đánh. Bọn
Lại Thế Mỹ, Lê Khắc Thân, [28b] Nguyễn Hữu Liêu,
Phạm Văn Khoái chỉnh đốn binh tượng, thuyền bè,
khí giới, ngày đêm đóng đồn dọc bờ sông đề phòng
các tướng trong cửa quan xông ra đánh. Lại sai Nguyên
quận công Nguyễn Bá Quýnh trấn thủ Nghệ An để vỗ
yên dân miền ấy.
Tháng 8, người châu Bố Chính là Lập quận công (không
rõ tên)2503 thấy Thái vương mất và Tuấn Đức hầu
Trịnh Cối anh em bất hoà, Thanh Hoa rối loạn, mới
dẫn con em đầu hàng họ Mạc. Họ Mạc ban tước Tiên
quận công, sai đem quân đi trước dẫn đường.
Ngày 16, họ Mạc sai Kính Điển đốc suất các thân
vương và tướng tá, đem hơn 10 vạn quân, 700 chiếc
thuyền chiến, đánh cướp Thanh Hoa. Khi đến cõi,
liền chia quân sai Đôn Nhượng2504 cùng với tướng
Bắc đạo là Gia quận công Mạc Đình Khoa và phó tướng
là Mậu quận công (không rõ tên) đem quân giữ [29a]
cửa biển Thần Phù. Sau khi đã tiến vào, chia sai
tướng bản đạo là Hoằng quận công (không rõ tên)
làm đội thứ nhất đi tiên phong, tướng Nam đạo là
Thạch quận công Nguyễn Quyện làm đội thứ 2, tướng
Tây đạo là Ngạn quận công Mạc Ngọc Liễn làm đội
thứ 3, tướng Đông đạo là Hoa quận công và Kỳ quận
công (đều không rõ tên) làm đội thứ 4, Kính Điển
từ đốc đại quân trung dinh làm đội thứ 5, các thân
vương tông thất họ Mạc thống đốc quân của vệ Triều
Đông và các nội vệ làm đội thứ 6, ngay hôm ấy, cùng
tiến vào các cửa biển Linh Trường, Chi Long, Hội
Triều, hội quân ở Bút Cương2505 . Đến Hà Trung,
đóng dinh ven sông. Hai bên bờ khói lửa mù mịt che
khuất đến 10 dặm.
Trịnh Cối tự liệu không chống nổi, thế quân ngày
càng cô lập, liền đem bọn Lại Thế Mỹ, Vũ Sư Doãn,
Trương Quốc Hoa và vợ con đón hàng họ Mạc. Kinh
Điển tiếp nhận, phong cho Cối [29b] tước Trung Lương
hầu, lấy Lại Thế Mỹ làm Khánh quận công, Nguyễn
Sư Doãn làm Lý quận công, Vương Trân làm Sơn quận
công, sai các tướng này dẫn quân bản bộ tiến trước.
Duy có Vũ Sư Thước2506 định bỏ doanh trại vào cửa
quan Yên Trường theo vua, nhưng quân lính muốn hàng
họ Mạc, không chịu theo. Sư Thước bất đắc dĩ phải
về theo họ Mạc với mọi người, họ Mạc ban tước là
Thuỷ quận công. Lại Thế Mỹ bỏ dinh
đem quân trốn vào Vĩnh Ninh2507 quan huyện Cẩm
Thuỷ, vào cửa quan Yên Trường. Bấy giờ Hoàng Đình
Ái đóng quân ở sông Kim Bôi, đem quân bản bộ dời
đến giữ sách Đa Nẫm, rồi dẫn Lê Khắc Thận, Nguyễn
Hữu Liên và Hùng Trà hầu cùng đem quân vào cửa quan
Yên Trường hội quân. Hoành quận công tự đem quân
bản bộ về Nghệ An cùng với Nguyễn Bá Quýnh chia
giữ đất ấy.
Ngày 20, vua sắc phong Trịnh Tùng làm trưởng quận
công, tiết chế [30a] các dinh thuỷ bộ, cầm quân
đánh giặc. Hôm ấy, Tiết chế Trịnh Tùng hội các tướng,
mở tiệc uý lạo quân sĩ. Võ tướng Vinh quận công
Hoàng Đình Ái, Tấn quận công Trịnh Mô2508 , Lương
quận công (chưa rõ tên), Đoan Vũ hầu Lê Cập Đệ,
Vệ Dương hầu Trịnh Bách, Văn Phong hầu Trịnh Vĩnh
Thiệu, Nghĩa quận công Đặng Huấn, Lai quận công
Phan Công Tích, Vị quận công Lê Khắc Thận, Dương
quận công Nguyễn Hữu Liêu, Hùng Trà hầu Phạm Văn
Khoái, Tây Hưng hầu Hà Thọ Lộc cùng 30 viên tướng
hiệu, văn thần là bọn Lại bộ thượng thư Từ quận
công Nguyễn Đình2509 12 viên, đều chỉ trời mà thề,
đồng lòng chung sức, ngày đêm bàn kế đánh giặc,
chia quân chiếm giữ cửa luỹ các xứ, đào hào đắp
luỹ, đặt phục binh giữ nơi hiểm yếu để phòng quân
Mạc.
Ngày 25, họ Mạc ra quân lớn, các đạo cùng tiến,
dọc sông mã từ Ưng Quan2510 trở [30b] xuống, dọc
sông Lam từ Bổng Luật2511 trở xuống khói lửa mù
trời, cờ xí rợp đất. Nhân dân Thanh Hoa dắt già
cõng trẻ, chạy nhớn nhác ngoài đường, không biết
nương tựa vào đâu, tiếng kêu khóc vang trời, bao
nhiêu tiền của, đàn bà con gái đều bị quân Mạc lấy
cả.
Bấy giờ, họ Mạc cậy có tướng nhiều quân mạnh định
thôn tính cả đất Ái Hoan2512 , đánh vào ngoài luỹ
Yên Trường ngày đêm không ngớt. Quan quân thế yếu,
chỉ đắp luỹ cao, đào hào sâu, giữ chỗ hiểm để chờ
thời.
Tháng 6, bọn Đoan Vũ hầu Lê Cập Đệ dùng mẹo sai
quân lính ban đêm dựng luỹ tầng ngoài kéo dài đến
hơn 10 dặm, lấy nhiều vách nhà2513 để che chắn,
dùng bùn trát bên ngoài, trên thả chông tre, chỉ
một đêm mà thành giả làm xong. Hôm sau, Mạc Kính
Điển trông thấy, cho là thành thật, sợ lắm, không
dám đến gần, bàn với các tướng rằng: "Không
[31a] ngờ ngày nay quân Lê vẫn còn kỷ luật, pháp
lệnh nghiêm minh như vậy. Chỉ một đêm mà đắp thành
luỹ đâu ra đấy! Hẳn là số quân lính liều chết còn
nhiều, nên mới dốc sức đắp xong chóng thế, khiến
lòng ta không yên. Không dồn hết công sức, thì chưa
dễ dẹp được. Nếu ta không đánh gấp diệt trừ đi,
thì tất sẽ trở thành mối lo sau này". Bèn tự
ình đốc suất tướng sĩ, ngày đêm đánh gấp, hẹn phải
lấy được mới thôi. Do vậy, bên tả sông từ Da Châu,
Tàm Châu, bên hữu sông, từ đầu nguồn hai huyện Lôi
Dương, Nông Cống đều là chiến trường, hầu như mất
hết vào tay giặc. Bấy giờ nhân dân các huyện ở Thanh
Hoa tan tác tháo chạy, ruộng đồng bỏ không cày cấy,
nhiều người bị chết đói.
Tháng 9, sai Hà Khê hầu đem quân ra giữ luỹ Ai
ở huyện Cẩm Thuỷ, nhân dịp này, y làm phản đầu hàng
họ Mạc. Vua lấy Tây Hưng hầu Hà Thọ Lộc thay giữ
đất ấy.
[31b] Tháng 10, tướng Mạc đem quân giao chiến với
quan quân, chống nhau ở sông Bảo Lạc, Long Sùng2514
. Các tướng hay dùng kỳ binh, ban ngày thì cố thủ,
ban đêm thì đánh cướp doanh trại, quấy rối quân
địch. Từ đấy, quân Mạc phấp phỏng kinh sợ, lính
thủ ngự bị đâm chém nhiều. Mỗi khi chém cắt được
tai giặc thì được thưởng bạc, nên quân lính nhiều
kẻ tự nguyện xông ra, liều sức đánh quân Mạc về
ban đêm. Quân Mạc tuy nhiều, nhưng có nhiều người
bỏ trốn. Mạc Kính Điển thấy đánh mãi không được,
liền lui giữ dinh Hà Trung, hạ lệnh cấm không được
mang muối lên bán ở đầu nguồn mà liên lạc với quan
quân. Sau có người gánh trộm muối vào luỹ, bị bắt
chém để thị chúng.
Tháng ấy, Vũ Sư Thước mật sai người ngầm vào trong
luỹ dùng thư đầu hàng, xin mang tội về chầu. Vua
nhận được thư của Sư Thước, liền hội các tướng bàn
đem đại quân tiến đánh để lấy lại [32a]2515 đất
nước, chia quân thành ba đạo cả tiến. Sai bọn An
quận công Lại Thế Khanh, Đoan Vũ hầu Lê Cập Đệ,
Văn Phong hầu Trịnh Vĩnh Thiệu, Tấn quận công Trịnh
Mô đem quân ra phía tả, từ huyện Yên Định qua huyện
Vĩnh Phúc, đánh lấy huyện Tống Sơn.
Gia phong Trường quận công Trịnh Tùng làm tả tướng,
tiết chế tướng sĩ các dinh quân thuỷ bộ các xứ.
Vua tự làm đô tướng, thống đốc đại quân ra đường
giữa, từ huyện Thuỵ Nguyên, qua huyện Yên Định thẳng
đến đóng quân ở huyện Đông Sơn. Bọn Vinh quận công
Hoàng Đình Ái, Nghĩa quận công Đặng Huấn, Lại quận
công Phan Công Tích, Vệ dương hầu Trịnh Bách đem
quân ra đường phía hữu, qua các huyện Lôi Dương
và Nông Cống, đánh lấy miền Quảng Xương. Vua đến
đóng dinh ở huyện Đông Sơn, Vũ Sư Thước đem 500
quân bản bộ, nửa đêm, hồi canh ba bỏ dinh đi, sáng
hôm sau đến ngự dinh ở Đông Sơn [32b] lạy xin chịu
tội. Vua dùng lời an ủi, cho giữ chức cũ, vỗ về
các tướng sĩ, ba quân đều cả mừng. Sư Thước lại
đến dinh tả tướng, khóc kể lại tình nghĩa xưa, các
quân đều rất vui vẻ. Từ đấy, quan Thanh lừng lẫy,
quân Mạc hễ đánh là thua, không dám tiến đánh nữa,
lui về giữ dinh sông Bút Cương.
Ngày 20, vua sai người làm cầu phao ở phía hạ lưu
sông An Liệt2516 , qua Kim Bôi. Vua cùng tả tướng
đem đại binh qua sông, đến xã Kim Tử2517 , đi tắt
qua huyện Thuần Hựu2518 để tiến đánh các dinh quân
Mạc. Sai Vũ Sư Thước chiêu tập quân cũ của huyện
ấy, được hơn 1000 người, cho làm tiên phong khiêu
chiến quân Mạc ở bến sông Lôi Tân2519 . Bọn Lại
Thế Khanh và Lê Cập Đệ đánh Tống Sơn và Nga Sơn,
lấy được, đi đến đâu quân Mạc tan chạy đến đó, nhân
dân được trở về yên nghiệp.
Tháng 12, bọn Mạc Kính Điển thấy2520 [33a] đánh
mãi không được, bàn rằng:
"Tiến quân đánh giặc mạnh đã trải 9 tháng
trời mà chưa thành công. Hơn nữa, bây giờ mùa đông
rét mướt, sông nước vơi cạn, lại thêm mưa xuân sắp
đến, chướng khí sẽ sinh, quân không đủ ăn, người
nào cũng nhớ quê, còn ai đồng lòng gắng sức với
ta nữa. Huống chi, quân ta lại dần dần trễ biếng,
chi bằng hãy tạm rút quân về, lần sau sẽ đánh tới
toàn thắng. Nếu cứ giữ mãi chỗ này, sợ không có
ích gì, chỉ khiến quân địch cười cho thôi".
Bèn hạ lệnh nhổ trại mà về.
Bất ngờ Trịnh Cối và mẹ là Thái Vương phu nhân
cùng vợ con và bọn Lại Thế Mỹ, Trương Quốc Hoa,
đã trót đầu hàng họ Mạc, không dám trở về nữa, bèn
đem con em trai gái hơn 1000 người ra biển theo
Kính Điển về Kinh sư, đến lạy chào họ Mạc. Thạch
quận [33b] công2521 đem quân đến cửa khuyết rập
đầu xin chịu tội. Nguyễn Sư Doãn đem con em về
chiếm giữ huyện Ngọc Sơn2522 , cậy chỗ núi cao sông
sâu, không chịu quy thuận. Vua sai Lê Cập Đệ cùng
các tướng đem quân tinh nhuệ đi đường tắt đến huyện
Ngọc Sơn đánh úp. Sư Doãn đã biết trước, đang đêm
xuống thuyền trốn đi đầu hàng họ Mạc.
Năm ấy phủ Hà Trung được mùa to, nhà nào cũng thừa
thóc.
Tân Mùi, [Chính Trị] năm thứ 14 [1571] , (Mạc Sùng
Khang năm thứ 6; Minh Long Khánh năm thứ 5). Mùa
xuân, tháng 2, vua xét công đánh giặc và phong quan
tước.
Gia phong Tả tướng Trường quận công Trịnh Tùng
làm thái uý Trường quốc công; Đoan Vũ hầu Lê Cập
Đệ vì dũng cảm, quyết đoán, và có nhiều kế sách
được thăng làm thái phó; bọn Vệ Dương hầu Trịnh
Bách, Văn Phong hầu Trịnh Vĩnh Thiệu, Lương quận
công (không rõ tên), Tấn quận công Trịnh Mô, An
quận công Lại Thế [34a] Khanh, Nghĩa quận công Đặng
Huấn, đều được thăng làm thiếu phó, ngôi thứ ở hàng
dưới. Lại phong em ruột của tả tướng là Trịnh Đỗ
làm thiếu bảo Phúc Diễn hầu; Trịnh Đồng làm Vĩnh
Thọ hầu, Trịnh Ninh làm Quảng Diên hầu, đều sai
đem quân đánh giặc để mưu khôi phục.
Họ Mạc mở khoa thi Hội. Cho Nguyễn Miễn, Nguyễn
Cung đỗ tiến sĩ cập đệ; bọn Nguyễn Hoàng 2 người
đỗ tiến sĩ xuất thân; bọn Hoa Hữu Mô 12 người đỗ
đồng tiến sĩ xuất thân.
Ra lệnh cho những người xiêu tán trong cơn binh
lửa ở các huyện, xã xứ Thanh Hoa trở về quê quán
yên ổn làm ăn.
Tháng 7, họ Mạc sai Kính Điển đốc suất quân lính
vào cướp đánh các huyện ở Nghệ An. Bấy giờ, dân
Nghệ An sợ uy giặc đã lâu, địa thế lại xa cách,
quan quân không thể cứu giúp được, phần nhiều đầu
hàng họ Mạc. Vì thế, từ sông Cả2523 vào Nam đều
là đất của giặc. Viên thổ tướng Nguyên quận công
Nguyễn [34b] Bá Quýnh nghe tin giặc đến giật mình
kinh hãi, chưa thấy bóng đã bỏ chạy. Hoàng quận
công chống nhau với giặc Nguyễn Quyện, sức không
địch nổi, bỏ cả thuyền chạy vào Hoá Châu, bị giặc
bắt sống. Từ sông Cả về Bắc, lại thành đất của giặc.
Từ đó, thế giặc lại mạnh, đi đến đâu, dân đều bỏ
chạy.
Năm ấy, người huyện Khang Lộc, Thuận Hoá là Mỹ
quận công2524 đem quân bản bộ mưu đánh Đoan quận
công Nguyễn Hoàng, thôn tính quân lính của Hoàng
rồi về hàng họ Mạc. Hoàng biết được, đem quân đánh
giết chết. Đất Thuận Hoá tạm yên. Sau các thổ tướng
ở Quảng Nam đánh giết, thôn tính lẫn nhau, Hoàng
đều đánh dẹp được cả, giao cho tỳ tướng là Dũng
quận công2525 ở lại giữ đất và thu nhặt quân lính
còn sót lại.
Tháng 9, vua bàn với tả tướng Trịnh Tùng chia quân
cho Tấn quận công Trịnh Mô là Lai quận [35a] công
Phan Công Tích đi cứu Nghệ An. Quân Mạc rút về,
Nghệ An lại yên.
Tháng 10, vua sai Thái phó Đoan Vũ hầu Lê Cập Đệ
đem quân vào đánh dẹp miền Thiên Quan, đều dẹp yên.
Bấy giờ, chúa nước Ai Lao là Sạ Đẩu dâng 4 con
voi đực và vật báu để cầu hôn. Vua muốn hoà hảo
với nước láng giềng, bèn đem con gái riêng của vợ
mình, phong làm Ngọc Hoa công chúa gả cho.
Năm ấy đất Thanh Hoa mất mùa, dân đói to, nhiều
người xiêu giạt.
Bấy giờ, người sách Thái Lai, huyện Thuỵ Nguyên
là Lê Cảnh Thuần tự xưng là Si Nhân2526 hầu.
Nhâm Thân, [Hồng Phúc] năm thứ 1 [1572] , (Mạc
Sùng Khang năm thứ 7; Minh Long Khánh năm thứ 6).
Mùa xuân, tháng gêng, vua tế trời đất ở đàn Nam
Giao. Khi làm lễ, vua bưng lư hương khấn trời xong,
bỗng lư hương rơi xuống đất. [35b] Vua biết là điềm
chẳng lành, bèn xuống chiếu đổi niên hiệu thành
Hồng Phúc2527 năm thứ 1.
Tháng 3, Lê Cập Đệ ngầm có chí khác, mưu giết Tả
tướng để đoạt binh quyền, từng rủ Tả tướng đi thuyền
ra giữa sông để giết. Tả tướng biết được, mưu ấy
không thành. Từ đấy, hai nhà thù oán nhau, bên ngoài
thì giả vờ hiệp sức để lo đánh giặc, nhưng bên trong
thì đều ngờ nhau, đề phòng ám hại nhau.
Mùa thu, tháng 7, họ Mạc sai Kính Điển đốc suất
quân lính xâm lấn các xứ Thanh Hoa, Nghệ An. Vua
bàn với các tướng, ra lệnh cho quân dân dọc sông
của các huyện2528 di chuyển của cải, súc vật tránh
vào rừng núi để phòng quân giặc.
Tháng 8, quân Mạc quả nhiên kéo đến bắt người cướp
của, nhưng dân chúng các huyện ven sông đã di tản
đi cả, chỉ còn lại một vùng đất bỏ không.
Bấy giờ, viên tướng vong mệnh2529 ở Bố Chính là
Tiên quận công [36a] dẫn đường cho tướng Hải Dương
là Lập quận công2530 đem hơn 60 binh thuyền đi đường
biển vào cướp các xứ Thuận Hoá và Quảng Nam. Dân
địa phương nhiều người đầu hàng. Từ đấy, thế giặc
lại mạnh. Trấn thủ Nguyễn Hoàng dùng mưu dụ Lập
đến, chém ở giữa sông, quân giặc tan vỡ, vượt biển
trở về, bỗng gặp gió bão, chết hết ở ngoài khơi2531
. Tiên quận công trốn về châu Bố Chính, lại về với
họ Mạc. Đất Thuận Quảng lại được yên. Hoàng vỗ trị
mấy chục năm, chính lệnh khoan hoà, thưởng ban ân
huệ, dùng phép công bằng, chấn chỉnh, khuyên răn
tướng sĩ bản bộ. Cấm chỉ, trừ bỏ bọn hung ác, dân
hai trấn đều cảm mến nhân đức, thay đổi phong tục,
chợ búa không nói thách, dân chúng không làm giặc,
cổng ngoài không phải đóng, thuyền buôn nước ngoài
đều tới buôn bán trao đổi phải giá, quân lệnh nghiêm
cẩn, người người gắng sức. Do vậy, [36b] họ Mạc
không dám dòm ngó, trong cõi được an cư lạc nghiệp.
Thái phó Vi quận công Lê Khắc Thận làm phản, vượt
luỹ về hàng họ Mạc. Tả tướng Trịnh Tùng bắt các
con của Tuân, Khoái, Thầm đều giết cả.
Tháng 9, vua sai bọn An quận công Lại Thế Khanh,
Tấn quận công Trịnh Mô, Lai quận công Phan Công
Tích đem quân đi Nghệ An. Đến nơi thì quân Mạc rút
lui, Nghệ An lại yên.
Năm ấy, các huyện ở Nghệ An, đồng ruộng bỏ hoang,
không thu được hạt thóc nào, dân đói to, lại bị
bệnh dịch, chết đến quá nửa, nhiều người xiêu giạt,
kẻ thì lần vào Nam, người thì giạt ra Bắc, trong
hạt rất tiêu điều.
Mùa đông, tháng 11, vua sai Lai quận công Phan
Công Tích đi kinh lược xứ Thuận Hoá, uý lạo [37a]
các tướng sĩ. Khi đến xứ đó, rất chú ý đến Nguyễn
Hoàng. Hoàng cũng đem quân đến hội, đặt tiệc thết
đãi, giãi bày tình xưa nghĩa cũ rất là vui vẻ. Khi
Công Tích về, Hoàng thân hành đi tiễn.
Ngày 21, Lê Cập Đệ từng có chí khác, định mưu hại
Tả tướng Trịnh Tùng. Tả tướng giả vờ không biết,
gửi biếu nhiều vàng. Khi Cập Đệ tới tạ ơn, Tùng
sai đao phủ phục ở dưới trướng bắt giết đi rồi sai
người nói phao lên rằng Cập Đệ mưu làm phản, vua
sai ta giết chết, tướng phản thì phải giết cả họ.
Thế là quân lính đều khiếp sợ, không ai dám hành
động2532 .
Bấy giờ, Cảnh Hấp và Đình Ngạn nói với vua rằng:
"Tả tướng cầm quân, quyền thế rất lớn, bệ hạ
khó lòng cùng tồn tại với ông ta được". Vua
nghe nói vậy, hoang mang nghi hoặc, đương đêm, bỏ
chạy ra ngoài, đem theo bốn hoàng tử cùng chạy đến
thành Nghệ An và ở lại đó. Tả [37b] tướng bàn với
các tướng rằng: Nay vua nghe lời gièm của kẻ tiểu
nhân, phút chốc khinh suất đem ngôi báu xuôi giạt
ra ngoài. Thiên hạ không thể một ngày không có vua,
bọn ta và quân lính sẽ lập công danh với ai được?
Chi bằng trước hết hãy tìm hoàng tử lập lên để yên
lòng người, rồi sau sẽ đem quân đi đón vua cũng
chưa muộn. Bấy giờ hoàng tử thứ năm là Đàm ở xã
Quảng Thi, huyện Thuỵ Nguyên, bèn sai người đi đón
về tôn lập làm vua, đó là Thế Tông2533 .
Chú thích:
2386 Tức là Lê Y, con trưởng của Cẩm Giang Vương
Lê Sùng, cháu của Kiến Vương Lê Tân, cháu bốn đời
của Lê Thánh Tông. Như vậy, Trang Tông là cháu năm
đời (huyền tôn) của Lê Thánh Tông.
2387 Sách Cao Trĩ : thuộc châu Ngọc Lặc, nay là
huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
2388Trung nhân : hoạn quan. Đinh Công là viên hoạn
quan người Thanh Hóa.
2389Minh sử , Q.321, và Cương mục đều chép việc
bọn Trịnh Duy Liêu sang nhà Minh vào năm Gia Tĩnh
thứ 16, tức là năm Nguyên Hoà 5 (1537). Đoàn này
đi thuyền buôn từ Chiêm Thành, vượt biên, sau hai
năm mới tới Yên Kinh.
2390 Theo Minh sử , Q.321, việc này xảy ra vào các
năm Gia Tĩnh thứ 16 (1537), 17 (1538) và 19 (1540).
2391 Sau chuyến đi của Trịnh Duy Liên, vua tôi nhà
Lê thấy lâu không được tin gì, lại sai Trịnh Viên
đi (CMCB27, 27).
2392 Nguyễn Văn Thái mang tờ biểu đầu hàng sang
nhà Minh. Tờ biểu đại ý nói nhà Lê không còn ai
nối dõi, Đăng Dung được trao ấn chương để nối coi
việc nước... Vì Trần Cung chiếm giữ Lạng Sơn, nên
chưa dâng biểu và sang tiến cống được... Bọn vua
tôi nhà Minh không nghe, sai Cừu Loan và Mao Bá
Ôn gấp đến Quảng Tây chiêu tập binh mã tiến đánh
nhà Mạc.
2393Huyện Vĩnh Phúc : nay là huyện Vĩnh Lộc, tỉnh
Thanh Hoá. Trịnh Kiểm hồi còn nhỏ phải đi ở chăn
trâu, đến nương nhờ dưới trướng Nguyễn Kim, được
Kim tin cậy, phong Dực Nghĩa hầu và gả con gái lớn
là Ngọc Bảo cho.
2394Lại Thế Vinh : người xã Quang Lãng, huyện Tống
Sơn. Nay là huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.
2395Cầm thước, buộc dây ở cổ : biểu thị sự tự trói
mình và chịu nhận trừng phạt.
2396 Mạc phủ do bọn Mao Bá Ôn dựng trấn ở Trấn Nam
Quan để xâm lược nước ta. Số quân chúng điều động
gồm 20 vạn chính binh và kỳ binh.
2397Khâm Châu chí của nhà Thanh chỉ ghi 5 động,
không có động An Lương. Cương mục dẫn Quảng Yên
sách cho rằng động An Lương sau là phố An Lương,
thuộc châu Vạn Ninh nước ta và cho là Toàn thư chép
lầm.
2398 Tức đạo Thanh Hoa, nay là tỉnh Thanh Hoá.
2399 Theo lịch của nhà Minh.
2400Lịch Đại Thống : lịch của nhà Minh.
2401 Nhà Hán, nhà Đường thôn tính nước ta, chia
cắt nước ta thành châu quận của chúng. Theo lệ đời
Hán, đời Đường, tức là bắt ta nội thuộc.
2402Cương mục , có chỗ ghi là Mã Giang, có lẽ động
này nằm ở vùng thượng lưu sông Mã.
2403Thế tập : là được truyền từ đời nọ sang đời
kia.
240413 lộ : năm 1466, Lê Thánh Tông đặt 13 đạo thừa
tuyên, có lẽ là 13 lộ này.
2405 Nay thuộc huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá.
2406Bồi thần : là bề tôi của vua chư hầu. Không
theo lễ tiếp bồi thần có nghĩa là không coi họ Mạc
là vua chư hầu.
2407 Năm trước đã có việc Nguyễn Kim thống suất
các quân tiến đánh Thanh Hoa, năm nay lại chép Nguyễn
Kim còn ở Ai Lao. Sách Cương mục (CMCB27, 40) cho
là Toàn thư chép lầm.
2408Sông Nghĩa Lộ : chưa rõ ở đâu.
2409Quảng Bình : tên huyện, nay là vùng đất phía
tây bắc huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
2410 CMCB27, 39, 40 ghi rõ tên của viên quan Trung
Hậu hầu này là Dương Chấp Nhất.
2411Bái Trang : tức là Gia Miêu Ngoại trang, đời
Nguyễn gọi là Quý Hương, nay ở huyện Hà Trung, tỉnh
Thanh Hoá.
2412Sách Vạn Lai : nay là xã Vạn Lại, huyện Thọ
Xuân, tỉnh Thanh Hoá.
2413Hoan Diễn : là vùng đất các tỉnh Nghệ An, Hà
Tĩnh ngày nay. Ô : là chỉ miền đất tỉnh Bình Trị
Thiên ngày nay, Quảng : là chỉ miền đất tỉnh Quảng
Nam-Đà Nẵng ngày nay.
2414Ái Châu : tức là đất tỉnh Thanh Hoá ngày nay.
2415Phạm Tử Nghi : người xã Trung Hành, huyện An
Dương, trấn Hải Dương, nay thuộc Hải Phòng.
2416Chính Trung : là con thứ của Mạc Đăng Dung.
2417Hoa Dương : tên xã, sau là của Mạc Phúc Hải.
2418Mạc Kính Điển : là em của Mạc Phúc Hải.
2419Thịnh Liệt : tục gọi là làng Sét, ở phía dưới
xã Bạch Mai và Hoàng Mai; thuộc Hà Nội ngày nay.
2420Lê Bá Ly : người làng Cổ Phạm, huyện Đông Sơn,
tỉnh Thanh Hoá ngày nay.
2421Huyện Vĩnh Phúc : sau là huyện Vĩnh Lộc, tỉnh
Thanh Hoá.
2422Phạm Quỳnh, Phạm Dao : người làng Thịnh Liệt,
huyện Thanh Trì, nay thuộc ngoại thành Hà Nội.
2423Nguyễn Thiến : người làng Canh Hoạch, huyện
Thanh Oai, nay thuộc tỉnh Hà Tây, đỗ tiến sĩ khoa
Nhâm Thìn (1532) đời Mạc.
2424Vũ Văn Mật : là em Vũ Văn Uyên, người xã Ba
Động, huyện Gia Phúc (nay là huyện Gia Lộc tỉnh
Hải Hưng). Khi họ Mạc cướp ngôi nhà Lê thì Vũ Văn
Uyên cát cứ vùng Tuyên Quang chống lại nhà Mạc.
Văn Uyên chết, Vũ Văn Mật nối nghiệp anh, được vua
Lê phong tước Gia quốc công.
2425Kim Thanh : tên huyện, thuộc tỉnh Hải Dương,
nay là tỉnh Hải Hưng.
2426Yên Trường : tên xã, thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh
Thanh Hoá ngày nay.
2427Biên Thượng : tức làng Bồng Thượng, huyện Vĩnh
Lộc, tỉnh Thanh Hoá.
2428Chế Khoa : theo Kiến văn tiểu lục của Lê Quý
Đôn thì lệ thi cử thời Lê như sau: Những năm Tý,
Mão, Ngọ, Dậu là khoa thi Hương; những năm Sửu,
Thìn, Mùi, Tuất là khoa thi Hội. Nhưng có khi nhà
vua có bài chế ban xuống cho mở khoa thi đặc biệt
không theo lệ trên thì gọi là chế khoa . Phép thì
chế khoa cũng giống khoa thi Hội (thi kinh nghĩa,
tứ lục, thơ, phú và văn sách).
2429Đinh Bạt Tuy : người làng Bùi Khổng, huyện Hưng
Nguyên, nay thuộc tỉnh Nghệ An.
2430 Chu Quang Trứ: người xã Nam Hoa Thượng, huyện
Thanh Chương, Nghệ An.
2431Sông Đại Lại : tức sông Lèn, một nhánh của sông
Mã ở Thanh Hoá.
2432Kim Sơn : có tên là núi Biện hay núi Bồng. Động
Kim Sơn là một danh thắng.
2433Yên Dịch và Quân Yên : tên hai ngọn núi thuộc
huyện Yên Định, Thanh Hoá.
2434Bạch Thạch : tên một ngọn núi ở phía tây bắc
huyện Đông Sơn, Thanh Hoá.
2435 Chi tiết chọn voi mai phục này không thấy có
trong Bản dịch cũ .
2436Sông Hữu Chấp : ở xã Hữu Chấp; Sông Kim Bôi
: ở xã Kim Bôi. Hai xã Hữu Chấp và Kim Bôi đều thuộc
huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá.
2437Chợ Ông Cung : hay chợ Ông, ở làng Bồng Thượng,
huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá.
2438Bố Vệ : tên xã, ở phía nam thị xã Thanh Hoá
ngày nay.
2439Tống Sơn : nay là huyện Hà Trung, tỉnh Thanh
Hoá.
2440Nga Sơn : tên huyện, nay thuộc tỉnh Thanh Hoá.
2441Thanh quận công : tên quan tước, chưa rõ họ
tên thực.
2442 Yên Mô: tên huyện, thuộc tỉnh Ninh Bình.
2443Trà Tu : tên xã, thuộc huyện Yên Mô, tỉnh Ninh
Bình.
2444 Khi Kính Điển vào đánh Thanh Hoá thì Mạc Phúc
Nguyên sai bọn Phạm Quỳnh, Phạm Dao vào đánh Nghệ
An. Trịnh Kiểm phá tan quân của Mạc Kính Điển, tước
lấy chiến thuyền, giả làm quân Mạc kéo vào đánh
quân Phạm Quỳnh, Phạm Dao ở Nghệ An. Bọn Quỳnh,
Dao không đề phòng, bị đại bại.
2445Sông Phụng Xí : có lẽ là sông Phượng Tường ở
huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định cũ, nay thuộc huyện
Nam Ninh, tỉnh Nam Hà.
2446 Tức Phạm Đức Kỳ, người xã Tào Xuyên, huyện
Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
2447Chính Trị : có nghĩa là sửa sang việc trị nước.
2448Phạm Đốc : là con nuôi của Trịnh Kiểm, có tài
dùng binh.
2449 Tức Nguyễn Kim.
2450 Trịnh Kiểm tuy đã lấy được đất Thuận Hoá, nhưng
nhiều người ở đó vẫn theo họ Mạc, hoặc vượt biển
đi theo họ Mạc, hoặc đưa quân Mạc đến phá phía sau
của quân Lê - Trịnh.
2451 Sau khi Nguyễn Kim chết, binh quyền về tay
Trịnh Kiểm. Hai người con trai của Nguyễn Kim thì
một người là Lãng quận công tả tướng Nguyễn Uông
đã bị Trịnh Kiểm mưu sát. Đoan quận công Nguyễn
Hoàng lo cho số phận của mình, nhờ chị là Trưởng
công chúa Ngọc Bảo (vợ Trịnh Kiểm) xin cho vào trấn
thủ Thuận Hoá. Trịnh Kiểm cũng muốn trừ bỏ mối lo
bên cạnh mình, nên đồng ý cho đi. Nguyễn Hoàng đem
quân thủ hạ của mình vào Thuận Hoá, đóng dinh ở
gò Phù Sa, xã Ái Tử, trên sông Ái Tử.
2452Trịnh Quang : người xã Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc
(sau là huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá).
2453Lại Thế Khanh : người xã Quang Lăng, huyện Tống
Sơn (sau là huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá).
2454Thiên Quang : nay là huyện Nho Quan, tỉnh Ninh
Bình.
2455 Trịnh Kiểm, trong chiến dịch này, dùng viên
tướng Hoàng Đình Ái, người xã Vân Lũng, huyện Thạch
Thành (Thanh Hoá) làm tiên phong.
2456Định quận công : tên thực là Đặng Định.
2457 Tức vượt sông Hồng.
2458 Tức Lê Duy Mật, một viên tướng cát cứ vùng
Tuyên Quang khi ấy.
2459Đặng Định : Trước theo Nguyễn Kim sang Ai Lao,
sau khi Trang Tông trung hưng, được sai đi trấn
thủ 10 châu của phủ An Tây, trấn Hưng Hoá. Còn Đại
Đồng vốn do anh em Vũ Văn Uyên, Vũ Văn Mật chiếm
giữ từ trước. Vì thế, CMCB 28, 13 chép là: Lại sai
Vũ Văn Mật trấn giữ Đại Đồng, Đặng Định trấn giữ
An Tây, thì đúng hơn.
2460Phủ Thuận An : nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Phủ
lỵ phủ Thuận An ở khoảng Dâu Keo.
2461Núi Tiên Du : ở huyện Tiên Du cũ, nay là huyện
Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
2462Phủ Khoái Châu : gồm các huyện Đồng Yên (sau
là huyện Khoái Châu), Kim Động, Tiên Lữ, Thiên Thi
(sau là huyện Ân Thi), Phù Dung (sau là Phù Cừ),
tỉnh Hưng Yên cũ, nay thuộc tỉnh Hải Hưng. Phủ Hồng
Châu : gồm các huyện Đường Hào (sau là Mỹ Hào),
Đường Yên (sau là Bình Giang), Cẩm Giàng, Thanh
Miện, Tứ Kỳ, Vĩnh Lại (sau là Ninh Giang), đều thuộc
tỉnh Hải Dương ngày nay.
2463Huyện Siêu Loại : nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Huyện
Văn Giang : sau sát nhập vào huyện Văn Lâm, nay
thuộc tỉnh Hưng Yên.
2464Phủ Nam Sách : gồm các huyện Thanh Lâm (sau
là Nam Sách), Chí Linh, Thanh Hà thuộc tỉnh Hải
Dương và huyện Tiên Minh (nay là huyện Tiên Lãng,
Hải Phòng).
2465Phủ Tiên Hưng : gồm phần đất của các huyện Hưng
Hà, Đông Hưng, tỉnh Thái Bình ngày nay.
2466Nam Xang : sau là huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam,
nay thuộc tỉnh Nam Hà.
2467Giáp Sơn : sau là huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
2468 Tức Vũ Văn Mật.
2469Phủ Phú Bình : gồm phần lớn tỉnh Thái Nguyên
cũ (nay thuộc tỉnh Bắc Thái) và huyện Bình Xuyên,
tỉnh Vĩnh Phú bây giờ. Huyện Văn Lan : tương đương
với các huyện Bằng Mạc và Điềm He, tỉnh Lạng Sơn
ngày nay.
2470Núi Lãm Sơn : ở xã Nam Sơn, huyện Quế Võ, tỉnh
Bắc Ninh.
2471Gia Phúc : tên huyện, sau là huyện Gia Lộc,
tỉnh Hải Dương cũ, nay là tỉnh Hải Hưng.
2472Sách Thuỷ Đả : sách ở miền thượng du Thanh Hoá,
có lẽ ở khoảng huyện Ngọc Lặc ngày nay.
2473Mười châu : tức là 10 châu của phủ An Tây, miền
thượng du sông Đà. Theo CMCB 28, 16 thì 10 châu
ấy là: Chiêu Tân, Quỳnh Nhai, Lai Châu, Tung Lăng,
Hoàng Nham, Hợp Phi, Lê Tuyền, Khiêm Châu, Tuy Phụ,
Luân Châu.
2474Lộ Sơn Nam : là một vùng rộng gồm các tỉnh Nam
Hà, Ninh Bình và tỉnh Thái Bình ngày nay.
2475Thế tử : chỉ con trưởng của Trịnh Kiểm, tức
Trịnh Cối.
2476Thượng Phúc : tên huyện, nay là huyện Thường
Tín. Sơn Minh : tên huyện, nay là huyện Ứng Hoà,
tỉnh Hà Tây.
2477Quảng Bình : tên huyện, nay là vùng tây bắc
huyện Thạch Thành, Thanh Hoá.
2478Chương Đức : tên huyện, sau là huyện Chương
Mỹ, nay thuộc tỉnh Hà Tây.
2479Phủ Trường Yên : gồm các huyện Gia Viễn, Yên
Mô, Yên Khang (nay là Yên Khánh), thuộc tỉnh Ninh
Bình. Phủ lỵ Trường Yên ở thị xã Ninh Bình ngày
nay.
2480Hoài An : tên huyện gồm vùng đất phía nam huyện
Ứng Hoà và một phần huyện Mỹ Đức ngày sau. Sơn Minh
: tên huyện, gồm phần lớn huyện Ứng Hoà ngày sau.
2481Phủ Thiện Quang : gồm các huyện Phụng Hoá (sau
là huyện Nho Quan), Yên Hoà (nay là vùng Xích Thổ)
của tỉnh Ninh Bình, huyện Lạc Thổ, sau là huyện
Lạc Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
2482Phố Cát : thuộc huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh
Hoá.
2483Bình Lương : tên xã thuộc huyện Lạc Thuỷ trên
sông Bôi, gần Châu Sơn, tỉnh Hoà Bình ngày nay.
2484Cửa biển Linh Trường : nay ở cửa Lạch Trường,
thuộc huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
2485Thuần Hựu : tên huyện, nay là huyện Hậu Lộc,
tỉnh Thanh Hoá.
2486Du Trường : tên xã, thuộc huyện Hậu Lộc, Thanh
Hoá.
2487 Tên là Bùi Tá Hán.
2488 Nguyễn Bá Quýnh: người xã Thượng Xá, huyện
Chân Lộc (sau là Nghi Lộc), tỉnh Nghệ An.
2489 Thượng phụ: Thượng phụ là Lã Thượng, làm tướng
cho Chu Vũ Vương lấy được thiên hạ, được Vũ Vương
tôn làm thầy. Tôn làm thượng phụ có nghĩa là tôn
lên làm bậc thầy.
2490Phủ thượng tướng : phủ đệ của Trịnh Kiểm.
2491 Trịnh Kiểm lấy chị ruột của Nguyễn Hoàng.
2492Trịnh Vĩnh Thiệu : người xã Biện Thượng, huyện
Vĩnh Lộc, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa, nay thuộc
huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
2493Phan Công Tích : người xã Thái Xá, huyện Đông
Thành, tỉnh Nghệ An.
2494Lại Thế Mỹ : người xã Quang Lãng, huyện Tống
Sơn, nay thuộc huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.
2495Nguyễn Hữu Liêu : người xã Tây Tựu, huyện Từ
Liêm, ngoại thành Hà Nội.
2496Phạm Văn Khoái : người xã Tiêu Phấn, huyện Thượng
Nguyên, phủ Thiên Trường, trấn Sơn Nam, nay thuộc
tỉnh Nam Hà.
2497 Chỉ quân của Trịnh Tùng.
2498 Chỉ quân của họ Mạc.
2499Linh Trường : là cửa Lạch Trường. Hội Trường
: là cửa sông Mã, đều thuộc tỉnh Thanh Hoá.
2500Cửa Chi Long : hay cửa Bạch Câu, là cửa sông
Nga Giang hay sông Lèn, ở huyện Nga Sơn, Thanh Hoá.
2501Cửa Du Xuyên : là cửa Bạng bây giờ, ở xã Du
Xuyên, huyện Ngọc Sơn, nay là huyện Tĩnh Gia, tỉnh
Thanh Hoá.
2502Cửa Ngọc Giáp : sau là cửa Hãn, nay là cửa Chép,
ở tỉnh Thanh Hoá.
2503 CMCB 28, 25 ghi tên của viên tướng nay là Lập
Bạo.
2504Đôn Nhượng : là con út của Đăng Doanh.
2505Bút Cương : theo Cương mục, chú là tên xã, thuộc
huyện Vĩnh Phúc (tức huyện Vĩnh Lộc; tỉnh Thanh
Hoá) (CMCB28, 29). Bản dịch cũ cho là xã Bút Sơn,
huyện Hoằng Hoá ngày nay.
2506Vũ Sư Thước : người huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh
Hoá.
2507Vĩnh Ninh : tên huyện, sau là huyện Vĩnh Lộc,
tỉnh Thanh Hoá.
2508Trịnh Mô : người xã Nông Sơn, huyện Nam Đường
(sau là Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), trước họ Nguyễn,
tên là Cảnh Hoan. Sau được chúa Trịnh ban cho họ
Trịnh, đổi tên là Mô.
2509Nguyễn Đình : người xã Hoàng Xá, huyện Từ Liêm
(nay thuộc ngoại thành Hà Nội).
2510Ưng Quan : Cương mục chú làở tổng Cổ Lũng, huyện
Cẩm Thuỷ. Ưng Quan là cửa quan trên sông Mã, ở khoảng
mường Ông, tổng Thiết Ông sau này.
2511Bổng Luật : có sách chép là Bổng Tân, tức bến
Bổng, ở phía thượng lưu Bái Thượng, trên sông Chu.
Sông Lam nói ở đây là đoạn sông Chu chảy qua huyện
Thuỵ Nguyên, phủ Thiệu Hoá (nay là huyện Thiệu Hoá,
tỉnh Thanh Hoá).
2512Ái Hoan : trước là tên hai châu. Chỉ vùng đất
Thanh Hoá sau này.
2513Cương mục chép là "phên nứa" (CMCB28,
26).
2514Bảo Lạc, Long Sùng : là tên 2 xã thuộc huyện
Thuỵ Nguyên, phủ Thiệu Hoá. Sông Bảo Lạc, Long Sùng
tức là đoạn sông Chu chảy qua hai xã đó.
2515 Nguyên văn (bản Chính Hoà) mất tờ 32, chúng
tôi dịch theo bản A3 (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán
Nôm) để bổ sung vào.
2516An Liệt : tên xã, Sông An Liệt tức đoạn sông
chảy qua xã An Liệt, huyện Vĩnh Phúc (nay là huyện
Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá).
2517Kim Tử : tên xã, cũng thuộc huyện Vĩnh Phúc.
2518Thuần Hựu : tên huyện, nay là huyện Hậu Lộc,
tỉnh Thanh Hoá.
2519Sông Lôi Tân : theo CMCB28, 29 thì Lôi Tân là
tên xã, thuộc huyện Vĩnh Phúc (nay là huyện Vĩnh
Lộc, Thanh Hoá).
2520 Từ đây lại dịch theo bản Chính Hoà.
2521Thạch quận công : tức Vương Trân, trước theo
Trịnh Cối.
2522Ngọc Sơn : tên huyện, nay là huyện Tĩnh Gia,
tỉnh Thanh Hoá.
2523Sông Cả : tức sông Lam.
2524Mỹ quận công : CMCB18 chép là Mỹ Lương: Mỹ Lương
cùng hai em là Văn Lan và Nghĩa Sơn đều vì dâng
thóc cho họ Trịnh, được chuyện việc trưng thu tô,
thuế. Bởi có công lao, Mỹ Lương được làm tham đốc,
Văn Lan và Nghĩa Sơn làm thự vệ. Khi quân Mạc vào
đánh Nghệ An, đất Thuận Hoá bị dao động, Mỹ Lương
định đánh úp Vũ Xương rồi thu lấy cả quân ở đó về
hàng họ Mạc.
2525Cương mục chép: Sai thuộc tướng là Mai Đình
Dũng ở lại trấn thủ Quảng Nam (CMCB28, 30).
2526 Si Nhân có nghĩa là "thằng ngốc".
2527 Niên hiệu trước là Chính Trị có nghĩa là sửa
sang việc trị nước. Còn Hồng Phúc có nghĩa là "phúc
lớn".
2528 Nên sửa theo câu dưới "... dân chúng các
huyện ven sông" đúng hơn.
2529Vong mệnh : có nghĩa là "bỏ cả chức tước
mà chạy trốn". Đây là viên tướng của Nguyễn
Hoàng, bỏ theo về với họ Mạc.
2530Lập quận công : Cương mục chép là Lập Bạo (CMCB28).
2531 Nguyễn Hoàng dùng kế mỹ nhân, sai Ngô Thị đem
nhiều vàng lụa đến biết Lập Bạo, khuyên Bạo về với
Nguyễn Hoàng. Lập Bạo nghe theo, đem mấy chiếc thuyền
đến chỗ hội thề, phục binh của Hoàng nổi lên. Lập
Bạo chạy xuống thuyền nhưng thuyền đã rời khỏi bờ,
bèn lao mình nhảy theo, bị quân của Nguyễn Hoàng
bắn chết (Xem CMCB28, 32).
2532 Cương mục dẫn Lê triều trung hưng lục của Hồ
Sĩ Dương: Lê Cập Đệ bí mật bàn với vua, bố trí đâu
vào đấy, hẹn với nhau là ban đêm, khi nghe tiếng
pháo nổ thì nhà vua qua sông để cử sự. Tùng biết
rõ chuyện đó, nhưng vẫn cứ biếu Cập Đệ nhiều vàng
bạc. Khi Cập Đệ đến tạ ơn, thì Tùng cho đao phủ
mai phục sẵn xông ra giết chết.
2533 Lúc ấy Hoàng tử Lê Duy Đàm mới lên 7 tuổi,
được nuôi dưỡng ở xã Quảng Thi, một xã ở phía dưới
Lam Sơn, thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá ngày
nay.
-

XEM
TIẾP
|