|
Lịch sử
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
Quyển III
Kỷ Thuộc Hán (110 TCN - 226)
K ỷ T h u ộ c T â y H á n
Tân Mùi, [110 TCN], (Hán Nguyên Phong năm thứ 1).
Nước Việt ta đã thuộc về nhà Hán. Nhà Hán cho Thạch
Đái làm Thái Thú 9 quận. (Chế độ nhà Hán lấy châu
lãnh quận, trừ hai quận Châu Nhai, Đạm Nhĩ đều ở
giữa biển, còn 7 quận thuộc về Giao Châu, Đái làm
châu Thái thú63 . Thời Tây Hán, trị sở của Thái
Thú đặt tại Long Uyên, tức là Long Biên, thời Đông
Hán đặt tại Mê Linh tức là Yên Lăng64 . Đến khi
Đái chết, Hán Chiêu Đế lấy Chu Chương thay. Đến
cuối đời Vương Mãng, châu mục Giao Châu là Đặng
Nhượng cùng các quận đóng chặn bờ cõi để tự giữ.
Tướng nhà Hán là Sầm Bành vốn quen thân với Nhượng,
gửi thư cho Nhượng bày tỏ uy đức của nhà Hán. Thế
rồi [Nhượng] bảo Thái thú Giao Chỉ là Tích Quang
và Thái thú các quận là bọn Đỗ Mục sai sứ sang cống
hiến nhà Hán. Nhà Hán đều phong cho những người
ấy tước hầu. Bấy giờ là năm Kỷ Sửu thời Hán Quang
Vũ năm Kiến Vũ thứ 5 [29]. Tích Quang người quận
Hán Trung, khi ở [1b] Giao Chỉ, lấy lễ nghĩa dạy
dân. Lại lấy Nhâm Diên làm Thái thú Cửu Chân. Diên
là người Uyển [huyện]. Tục người Cửu Chân chỉ làm
nghề đánh cá, đi săn, không biết cày cấy. Diên mới
dạy dân khai khẩn ruộng đất, hàng năm cày trồng,
trăm họ no đủ. Dân nghèo không có sính lễ cưới vợ,
Diên bảo các trưởng lại trở xuống bớt bổng lộc ra
để giúp đỡ, cùng một lúc lấy vợ có đến 2.000 người.
Diên coi việc được 4 năm thì bị gọi về. Người Cửu
Chân làm đền thờ. Những người đẻ con đều đặt tên
là Nhâm. Phong tục văn minh của đất Lĩnh Nam bắt
đầu từ hai thái thú ấy.
Kỷ Hợi, [39], (Hán Quang Vũ Lưu Tú, Kiến Vũ năm
thứ 15) . Thái thú Giao Chỉ là Tô Định chính sự
tham lam tàn bạo, Trưng Nữ Vương dấy binh đánh.
Trở lên là [kỷ] thuộc nhà Hán, từ năm Tân Mùi đến
năm Kỷ Hợi, cộng 149 năm [110 TCN - 39].
[2a]
K ỷ T r ư n g N ữ V ư ơ n g
Trưng Vương
Ở ngôi 3 năm.
Vua rất hùng dũng, đuổi Tô Định, dựng nước xưng
vương, nhưng vì là vua đàn bà, không thể làm nên
công tái tạo.
Tên húy là Trắc, họ Trưng. Nguyên là họ Lạc, con
gái của Lạc tướng huyện Mê Linh65 , Phong Châu,
vợ của Thi Sách ở huyện Chu Diên66 . (Thi Sách cũng
là con Lạc tướng, con hai nhà tướng kết hôn với
nhau. Sách Cương mục tập lãm lấy Lạc làm họ là lầm).
Đóng đô ở Mê Linh.
Canh Tý, năm thứ 1 [40], (Hán Kiến Vũ năm thứ 16).
Mùa xuân, tháng 2, vua khổ vì Thái thú Tô Định dùng
pháp luật trói buộc, lại thù Định giết chồng mình,
mới cùng với em gái là Nhị nổi binh đánh hãm trị
sở ở châu. Định chạy về nước. Các quận Nam Hải,
Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng, lấy được
[2b] 65 thành ở Lĩnh Nam, tự lập làm vua, mới xưng
là họ Trưng.
Tân Sửu, năm thứ 2 [41], (Hán Kiến Vũ năm thứ 17).
Mùa xuân, tháng 2, ngày 30, nhật thực. Nhà Hán thấy
họ Trưng xưng vương, dấy quân đánh lấy các thành
ấp, các quận biên thùy bị khổ, mới hạ lệnh cho Trường
Sa, Hợp Phố và Giao Châu ta sắp sẵn xe thuyền, sửa
sang cầu đường, thông các núi khe, chứa thóc lương,
cho Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Phù Lạc hầu
Lưu Long làm phó sang xâm lược.
Nhâm Dần, năm thứ 3 [42], (Hán Kiến Vũ năm thứ
18). Mùa xuân, tháng giêng, Mã Viện theo ven biển
mà tiến, san núi làm đường hơn nghìn dặm, đến Lãng
Bạc (ở phía tây Tây Nhai của La Thành, gọi là Lãng
Bạc)67 đánh nhau với vua. Vua thấy thế giặc mạnh
lắm, tự nghĩ quân mình ô hợp, sợ không chống nổi,
lui quân về giữ Cấm Khê (Cấm Khê, sử chép là Kim
Khê). Quân cũng cho vua là đàn bà, sợ không đánh
nổi địch, bèn tan chạy. Quốc thống lại mất.
[3a] Lê Văn Hưu nói: Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn
bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam,
Hợp Phố, cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng,
việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có
thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp
bá vương. Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến trước
họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông
chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương
Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là
đàn bà hay sao? Ôi ! Có thể gọi là tự vứt bỏ mình
vậy.
Trở lên là Trưng Nữ Vương, bắt đầu từ năm Canh
Tý đến năm Nhâm Dần thì hết, tất cả 3 năm [40-42].
K ỷ T h u ộ c Đ ô n g H á n
Quý Mão, [Trưng Vương, năm thứ 4], [43], (Hán Kiến
Vũ năm thứ 19). Mùa xuân, tháng giêng, Trưng Nữ
Vương cùng em gái là Nhị chống cự lại với quân nhà
Hán, [3b] thế cô, đều thua chết. Mã Viện đuổi theo
đánh quân còn sót là bọn Đô Dương. Đến huyện Cư
Phong thì [bọn Đô Dương] đầu hàng, [Viện] bèn dựng
cột đồng làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán. (Cột
đồng tương truyền ở trên động Cổ Lâu68 châu Khâm.
Viện có câu thề: "Cột đồng gãy thì Giao Châu
diệt". Người Việt ta đi qua dưới cột ấy, thường
lấy đá chất vào, thành như gò đống, vì sợ cột ấy
gãy. Mã Tổng nhà Đường lại dựng hai cột đồng ở chỗ
cũ của nhà Hán ghi công đức của Mã Viện để tỏ ra
mình là dòng dõi của Phục Ba, nay chưa rõ ở chỗ
nào. Hai sông Tả Giang, Hữu Giang mỗi nơi có một
cột). Viện thấy huyện Tây Vu có 3 vạn 3 nghìn hộ,
xin chia làm hai huyện Phong Kê và Vọng Hải, vua
Hán nghe theo. Viện lại đắp thành Kiển Giang ở huyện
Phong Khê. Thành đắp tròn như hình cái kén, cho
nên lấy [chữ Kiển]69 làm tên. Nước Việt ta lại thuộc
vào nhà Hán. Ba năm sau, Viện trở về. Người địa
phương thương mến Trưng Nữ Vương, làm đền thờ phụng
(đền ở xã Hát Giang, huyện Phúc Lộc70 , ở đất cũ
thành Phiên Ngung cũng có).
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Họ Trưng giận thái thú
nhà Hán bạo ngược, vung tay hô một tiếng mà [4a]
quốc thống nước ta cơ hồ được khôi phục, khí khái
anh hùng há chỉ lúc sống dựng nước xưng vương, mà
sau khi chết còn có thể chống ngăn tai họa. Phàm
gặp những việc tai ương hạn lụt, đến cầu đảo không
việc gì là không linh ứng. Cả bà Trưng em cũng thế.
Vì là đàn bà mà có đức hạnh kẻ sĩ, cái khí hùng
dũng trong khoảng trời đất không vì thân chết mà
kém đi. Bọn đại trượng phu há chẳng nên nuôi lấy
cái khí phách cương trực chính đại ấy ư ?
Giáp Thìn, [44], (Hán Kiến Vũ năm thứ 20). Từ đây
về sau, trải các đời Hán Minh Đế, Chương Đế, Hòa
Đế, Thượng Đế, An Đế, gồm 5 đời, cộng 82 năm, duy
thời Minh Đế có Lý Thiện người huyện Nam Dương làm
Tháu thú Nhật Nam, làm việc chính sự có ân huệ yên
dân, khiến cho người khác phong tục cũng mến chuộng
tìm đến. Sau Thiện đổi làm Thái thú Cửu Chân.
Bính Tý, [136], (Hán Thuận Đế Bảo, Vĩnh Hòa năm
thứ 1). Thái thú Chu Xưởng cho là Giao Châu ở ngoài
chín châu [4b], ở rìa Bách Việt, dâng biểu xin đặt
phương bá71 . Vua Hán để cho Xưởng làm Thứ sử72
, cai quản các quận huyện.
Đinh Sửu, [137], (Hán Vĩnh Hòa năm thứ 2). Người
man ở huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam (ở địa giới
nước Việt Thường xưa), là bọn Khu Liên đánh phá
quận huyện, giết trưởng lại. Thứ sử Giao Châu là
Phàn Diễn đem quân châu và quân Cửu Chân hơn vạn
người đi cứu ứng, nhưng quân lính ngại đi xa. Mùa
thu, tháng 7, quân hai quận làm phản đánh phủ trị,
thế chuyển thành mạnh.
Mậu Dần, [138], (Hán Vĩnh Hòa năm thứ 3). Mùa hạ,
tháng 5, Thị ngự sử Giả Xương cùng với các châu
quận hợp sức đánh bọn Khu Liên không được, bị Khu
Liên vây đánh hơn một năm, binh lương không thể
tiếp tế được. Vua Hán gọi các công khanh và thuộc
lại bốn phủ để hỏi phương lược, các quan đều bàn
nên sai tướng phát 4 vạn quân của bốn châu Kinh,
Dương, [5a] Duyện, Dự đi đánh. Lý Cổ bác đi, nói
rằng: "Các châu Kinh, Dương giặc cướp tụ họp
chưa tan; Trường Sa, Quế Dương đã nhiều lần bị thu
thuế bắt lính, nay lại làm rối động, ắt lại sinh
họa nữa. Người các châu Duyện, Dự phải đi xa muôn
dặm, chiếu thư thúc bách, tất phải bỏ trốn. Nam
Châu73 thì trời nắng nực, ẩm thấp lại thêm lam chướng
dịch lệ, 10 phần phải chết đến 4, 5 phần. Đường
xa muôn dặm, quân lính mỏi mệt, đến lúc tới Lĩnh
Nam thì đã không kham nổi chiến đấu. Quân đi mỗI
ngày 30 dặm mà Duyện, Dự cách quận Nhật Nam hơn
9 nghìn dặm, phải 3 trăm ngày mới đến. Tính lương
một người ăn mỗI ngày 5 thăng, thì phải dùng đến
60 vạn hộc gạo, đó là không kể lương thực của tướng
lại và lừa ngựa. Đặt quân ở đấy, chết chóc tất nhiều,
đã không đủ quân chống giặc, lại phải bắt thêm.
Thế là xẻo cắt lòng bụng để chắp vá cho chân tay.
Cửu Chân và Nhật Nam chỉ cách nhau 1 nghìn dặm,
lại dân ở đó đi đánh còn không kham nổi, huống chi
lại làm khổ quân lính ở bốn châu [5b] để cứu nạn
xa muôn dặm? Trước đây Trung lang tướng Doãn Tựu
đánh người Khương làm phản ở Ích Châu, người Ích
Châu có ngạn ngữ rằng: "Lỗ lai thượng khả,
Doãn lai sát ngã" (Giặc đến còn khá, Doãn đến
chết ta). Sau Tựu bị đòi về, đem quân giao cho Phán
châu là Trương Kiều, Kiều vẫn dùng tướng lại của
Tựu, chỉ trong khoảng mười hôm, diệt hết giặc cướp.
Thế là bằng chứng tỏ rằng sai tướng đi là vô ích,
mà châu quận có thể dùng được. Nay nên chọn người
nào có dũng lược nhân huệ, có thể làm tướng súy
được, cho làm Thứ sử, Thái thú, dời lại dân ở Nhật
Nam đến nương dựa vào quận Giao Chỉ ở Bắc, trở lại
chiêu mộ người Man Di, khiến họ đánh lẫn nhau, chuyển
vận hàng lụa đến để cấp cho, kẻ nào có thể phản
gián dụ hàng thì cắt đất phong cho. Thứ sử Tính
Châu trước là Chúc Lương dũng mãnh quyết đoán, Trương
Kiều trước ở Ích Châu có công phá giặc, đều có thể
dùng được. Bốn phủ đều theo lời bàn của Cố. Bèn
cho Lương làm Thái thú Cửu Chân, Kiều làm Thứ sử
Giao Châu. [6a] Kiều đến nơi, lấy lòng thành thật
dỗ bảo, dân chúng đều hàng phục. Lương đi một xe
đến Cửu Chân, tỏ rõ uy tín, người ra hàng đến vài
vạn.
Giáp Thân, [144], (Hán Kiến Khang năm thứ 1). Mùa
thu, tháng 8, vua Hán mất. Mùa đông, tháng 10, người
Nhật Nam lại đánh đốt quận ấp. Thứ sử Cửu Chân là
Hạ Phương gọi những kẻ ra hàng dỗ bảo họ. Sau Phương
đổi làm Thái thú Quế Dương, lấy Lưu Tảo thay.
Canh Tý, [160] (Hán Hoàn Đế Chí, Nguyên Gia năm
thứ 2). Mùa đông, tháng 11, người quận Cửu Chân
lại đóng giữ quận Nhật Nam, quân chúng trở nên mạnh
hơn. Khi ấy Hạ Phương đã đổi làm Thái thú Quế Dương,
lại giao cho làm Thứ sử. Phương vốn có tiếng về
uy đức, khi đến Nhật Nam, dân chúng tụ họp hơn vạn
người đem nhau đến đầu hàng Phương.
Mậu Ngọ, [178], (Hán Linh Đế Hoành, Quang Hòa năm
thứ 1). Mùa hạ, tháng 4, người trong châu và bọn
Man Ô Hử74 làm loạn đã lâu, mục [6b] thú là Chu
Ngung không ngăn được, người châu là bọn Lương Long
nhân đấy dấy binh đánh phá quận huyện, quân đến
vài vạn người.
Tân Dậu, [181], (Hán Quang Hòa năm thứ 4). Vua
Hán sai Huyện lệnh Lan Lăng là Chu Tuấn, người Thượng
Ngu quận Cối Kê, sang cứu Ngung. Đường đi qua quê
nhà, Tuấn mộ thêm gia binh cùng với binh đem đi
theo cộng 5 nghìn người, theo hai đường tiến vào.
Trước hết sai xem xét hư thực, tuyên dương uy đức
để lay động lòng người rồi quân bảy quận75 tiến
bức, giết được Lương Long, kẻ đầu hàng đến vài vạn
người.
Giáp Tý, [183], (Hán Trung Bình năm thứ 1). Đồn
binh người châu bắt Thứ sử Chu Ngung giết đi, sai
người đến cửa khuyết kể tội trạng của Ngung. Vua
Hán nghe tâu, xuống chiếu chọn kỹ quan lại có tài.
Hữu ty tiến cử Giả Tông là người Liêu thành Đông
Quận làm Thứ sử (Tông trước làm Ngự sử). Trước đây
những người làm Thứ sử thấy [7a] đất châu có các
thứ ngọc trai, lông trả, tê, voi, đồi mồi, hương
lạ, gỗ tốt, nhiều người không liêm khiết, vơ vét
của cải cho đầy, rồi lại xin đổi đi, cho nên lại
dân đều làm phản cả. Kịp khi Tông đến bộ76 , xét
hỏi tình trạng làm phản, người ta đều nói rằng chính
lệnh trước thuế má nặng quá, trăm họ không ai không
khốn khổ túng thiếu, Kinh sư thì xa, không biết
tố cáo vào đâu, dân không sống nổi, nên tụ họp nhau
để chống, chứ không thực sự làm phản. Tông mới sai
người chia đi các nơi để khuyên dỗ, khiến đều yên
nghiệp làm ăn, dụ dỗ những kẻ lưu vong, tha bớt
thuế khóa. Rồi giết kẻ bạo ngược đầu sỏ, chọn quan
lại tốt cho giữ quận huyện. Trăm họ được yên, trên
đường ngõ người ta có câu rằng: "Giả phụ lai
vãn, sử ngã tiên phản. Kim kiến thanh bình, bất
cảm phục bạn". (Bố Giả đến muộn, khiến ta phản
trước; Nay thấy thanh bình, không dám phản nữa).
Tông coi việc 3 năm, được gọi về làm chức Nghị Lan.
Lý Tiến thay. (Lý Tiến là người Giao Châu ta).
[7b] Bính Dần , [186], (Hán Trung Bình năm thứ
3)77
Lê Văn Hưu nói: Xem sử đến thời nước Việt ta không
có vua, bị bọn thứ sử người Bắc tham tàn làm khổ.
Bắc Kinh đường xa, không biết kêu vào đâu, bất giác
xen lẫn cảm thương hổ thẹn, muốn tỏ lòng thành như
Minh Tông nhà Hậu Đường, thường thắp hương khấn
trời: xin trời vì nước Việt ta sớm sinh thánh nhân,
tự làm đế nước nhà, để khỏi bị người phương Bắc
cướp vét.
Trở lên là thời thuộc Hán, từ năm Quý Mão đến năm
Bính Dần, tất cả 144 năm [43- 186].
K ỷ S ĩ V ư ơ n g
Sĩ Vương78
Ở ngôi 40 năm, thọ 90 tuổi.
Vương là người khoan hậu khiêm tốn, lòng người
yêu quý, giữ vẹn đất Việt để đương đầu với sức mạnh
của Tam quốc, đã sáng suốt lại mưu trí, đáng gọi
là người hiền.
[8a] Họ Sĩ, tên húy là Nhiếp79 , tự là Ngạn Uy,
người huyện Quảng Tín, quận Thương Ngô. Tổ tiên
người Vấn Dương nước Lỗ, hồi loạn Vương Mãng ở Bắc
triều, tránh sang ở đất Việt ta, đến vương là sáu
đời. Cha là Tứ, thời Hán Hoàn Đế làm Thái thú Nhật
Nam. Khi còn ít tuổi, vương du học ở kinh đô nhà
Hán, theo học Lưu Tử Kỳ người Dĩnh Xuyên, chuyên
trị sách Tả thị Xuân Thu, có làm chú giải: được
cử hiếu liêm, bổ làm Thượng thư lang, vì việc công
bị miễn chức; hết tang cha, lại được cử mậu tài,
bổ làm Huyện lệnh Vu Dương, đổi làm Thái thú Giao
Châu, được tước Long Độ Đình hầu, đóng đô ở Liên
Lâu (tức là Long Biên)80 . Sau nhà Trần truy phong
làm Thiên Cảm Gia Ứng Vũ Đại Vương.
Đinh Mão, năm thứ 1 [187], (Hán Trung Bình năm
thứ 4). Vương có ba em trai tên là Nhất, Vĩ81 và
Vũ. Bấy giờ Thứ sử Chu [8b] Phù bị giặc Di giết
chết, châu quận rối loạn, vương bèn dâng biểu cử
Nhất làm Thái thú Hợp Phố, Vĩ làm Thái thú Cửu Chân,
Vũ làm Thái thú Nam Hải. Vương độ lượng khoan hậu,
khiêm tốn, kính trọng kẻ sĩ, người trong nước yêu
mến, đều gọi là vương. Danh sĩ nhà Hán tránh nạn
sang nương tựa có hàng trăm người.
Canh Thìn, năm thứ 14 [200], (Hán Hiến Đế Hiệp,
Kiến An năm thứ 5). Thứ sử Lý Tiến dâng lời tâu
lên vua Hán rằng: "Khắp cả thiên hạ đều là
bề tôi của vua, thế mà nay làm quan ở triều đình
đều là sĩ phu ở Trung Châu82 cả, chưa từng khuyến
khích người xa". Lời lẽ thiết tha cảm động,
lại viện dẫn nhiều bằng chứng. Vua Hán xuống chiếu
cho người châu ta ai được cử hiếu liêm mậu tài thì
cho phép được bổ trưởng lại trong châu, không được
bổ ở Trung châu. Tiến lại dâng sớ nói: "Người
được cử làm hiếu liêm xin cho được như bác sĩ ở
mười hai châu, căn cứ theo nhân tài mà đối xử".
[9a] Nhưng hữu ty sợ rằng người phương xa khoác
lác mà chê bai bắt bẻ triều đình, nên không chuẩn
cho. Bấy giờ người nước Việt ta là Lý Cầm làm túc
vệ ở đài, bèn rủ người đồng hương là bọn Bốc Long
5, 6 người, giữa ngày đầu năm các nước triều hội,
đến quỳ lạy ở sân điện tâu rằng: "Ơn vua ban
không đều". Hữu ty hỏi vì cớ gì? Cầm nói: "Nam
Việt ở xa không được trời che, đất chở, cho nên
mưa ngọt không xuống, gió mát không đến". Lời
ý khẩn thiết đau đớn. Vua Hán xuống chiếu an ủi,
lấy một người mậu tài nước ta làm Huyện lệnh Hạ
Dương, một người hiếu liêm làm Huyện lệnh Lục Hợp
(Cầm là người Giao Châu). Sau Lý Cầm làm quan đến
Tư lệ hiệu úy, Trương Trọng làm Thái thú Kim Thành.
Như thế nhân tài nước Việt ta được cùng tuyển dụng
như người Hán là mở đầu từ Lý Cầm, Lý Tiến vậy.
(Trọng người quận Nhật Nam, khi trước đến Lạc Dương,
gặp hội lớn tết Nguyên Đán, Tấn Minh Đế83 hỏi: "Ở
quận Nhật Nam hướng về phía bắc để trông mặt trời
phải không?" Trọng đáp rằng: "Nay trong
các quận, có quận gọi là Vân Trung (trong mây),
là Kim Thành (thành vàng), không hẳn phải có thật.
Còn như phong khí ấm áp, mặt trời đứng bóng trên
đầu sinh dân [9b] thì vẫn có thế". Xét: Khoảng
niên hiệu Nguyên Gia [424-454] đời Tống Văn Đế,
[quân Tống] đi đánh Lâm Ấp ở phương nam, tháng năm,
dựng nêu để đo bóng, thấy mặt trời ở về phía bắc
cây nêu 9 tấc 1 phân84 Giao Châu thì bóng ở về phía
nam cây nêu 3 tấc 3 phân. Giao Châu cách Lạc Thủy
hơn 6,7 nghìn dặm. Chỗ dựng nêu tính đường dây thẳng
thì nên bớt đi nghìn dặm. Năm Khai Nguyên thứ 12
[724] thời Đường, đo ở Giao Châu vào ngày hạ chí,
bóng ở phía nam cây nêu 3 tấc 3 phân, cũng giống
số đo năm Nguyên Gia. Sách Luận Hành của Vương Sung
nói: "Quận Nhật Nam ở cách Lạc [Dương] gần
vạn dặm về phía nam mặt trời." Lý Thuyên nói:
"Từ phủ An Nam đến Trường An cách 7.250 dặm".
Mạnh Quán nói: "Lấy bốn phương mà đo thì An
Nam đứng vào đất cuối cùng của Trung Quốc").
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Người quân tử đối với
lời nói không thể cho qua được. Ngày xưa Tông Miệt85
nếu không có lời nói thì cùng với cỏ cây mục nát
mà thôi. Lý Cầm không có lời nói thì sao được dùng
ở đời, mà người tài giỏi của nước Việt ta, người
phương bắc làm sao biết được? Lời nói không thể
cho qua là vì vậy. Tuy nhiên, đây chỉ nói riêng
về nhân tài thôi, còn như Nhan [Hồi], Mẫn [Tử Khiên]
thì không nói thế được.
[10a] Đinh Hợi, năm thứ 21 [207], (Hán Kiến An
năm thứ 12). Viên Huy nhà Hán gửi thư cho Thượng
thư lệnh là Tuân Úc rằng: "Giao Châu Sĩ phủ
quân86 đã học vấn sâu rộng lại thông hiểu chính
trị, trong thời buổi đại loạn, giữ vẹn được một
quận hơn 20 năm, bờ cõi không xảy ra việc gì, dân
không mất nghiệp, những bọn khách xa đến trú chân87
đều được nhờ ơn, dẫu Đậu Dung giữ đất Hà Tây cũng
không hơn được. Khi việc quan có chút nhàn rỗi thì
chăm xem các sách thư, truyện. Phàm những chỗ biên
chép không rõ ràng trong sách Xuân Thu Tả thị truyện,
[tôi] đem hỏi, đều được ông giảng giải cho những
chỗ nghi ngờ, đều có kiến giải của bậc thầy, ý tứ
rõ ràng, chặt chẽ. Lại như sách Thượng thư, cả cổ
văn và kim văn, những ý nghĩa to lớn, ông đều hiểu
biết tường tận, đầy đủ. Anh em ông làm quan coi
quận, hùng trưởng một châu, ở lánh ngoài muôn dặm,
uy tín không ai hơn. Khi ra vào thì đánh chuông
khánh, uy nghi đủ hết; kèn sáo thổi vang, xe ngựa
đầy đường, người Hồ88 đi sát bánh xe để đốt hương
thường có đến mấy mươi người; vợ cả, vợ lẽ đi xe
che kín, bọn con em cưỡi ngựa dẫn quân theo [10b]
hầu, người đương thời ai cũng quý trọng, các man
di đều sợ phục, dẫu Úy Đà cũng không hơn được".
(Huy bấy giờ ngụ ở Giao Châu). Sau vua Hán sai Trương
Tân làm Thứ sử. (Tân nhận chức năm Kiến An thứ 6
[221] thời Hán). Tân thích việc quỷ thần, thường
đội khăn đỏ, gảy đàn, đốt hương, đọc sách Đạo giáo,
nói rằng có thể giúp việc giáo hóa, [sau] bị tướng
là Khu Cảnh giết, châu mục Kinh Châu là Lưu Biểu
sai Huyện lệnh Linh Lăng là Lại Cung thay Tân. Vua
Hán nghe tin Tân chết, gửi cho vương [Sĩ Nhiếp]
bức thư có đóng dấu ấn nói rằng: "Giao Châu
ở cõi xa, một dải sông biển ở phía nam, ơn trên
không truyền đến, nghĩa dưới bị nghẽn tắc, thế mà
nghịch tặc Lưu Biểu lại sai Lại Cung dòm ngó đất
Nam89 , nay cho khanh làm Tuy Nam trung lang tướng
trông coi bảy quận, lĩnh Thái thú Giao Châu như
cũ". Vương sai thuộc lại là Trương Mân mang
đồ cống sang kinh đô nhà Hán. Bây giờ thiên hạ loạn
lạc, đường sá đứt nghẽn, nhưng vương vẫn không bỏ
việc nộp cống. Vua Hán lại xuống chiếu cho làm An
Viễn [11a] tướng quân, phong tước Long Độ Đình hầu.
Sau Thái thú Thương Ngô là Ngô Cự bất hòa với Cung,
đem binh đánh đuổi, Cung chạy về Linh Lăng.
Canh Dần, năm thứ 24 [210], (Hán Kiến An năm thứ
15). Ngô Vương là Tôn Quyền sai Bộ Chất làm Thứ
sử Giao Châu. Khi Chất đến, vương đem anh em đến
vâng theo mệnh lệnh. Ngô Vương cho vương làm Tả
tướng quân. Sau vương sai con là Ngẩm90 làm con
tin ở nước Ngô, Ngô Vương cho làm Thái thú Vũ Xương.
Các con của vương ở Nam đều cho làm Trung lang tướng.
Vương lại dỗ bảo thổ hào ở Ích Châu là bọn Ung Khải
đem dân chúng trong quận phụ thuộc xa với nước Ngô
ở miền đông. Ngô Vương càng khen, thăng làm Vệ tướng
quân, tước Long Biên hầu. Vương thường sai sứ sang
nước Ngô dâng các thứ hương liệu, vải mịn, kể số
hàng nghìn. Các thứ quý lạ như ngọc trai, ốc lớn,
lưu ly, lông trả, đồi mồi, sừng tê, ngà voi [11b]
cùng các thứ quả lạ như chuối, dừa, long nhãn, không
năm nào không tiến, lại cống ngựa hàng mấy trăm
con. Ngô Vương viết thư ban cho rất hậu để yên ủi
và đáp lại.
Lê Văn Hưu nói: Sĩ Vương biết lấy khoan hậu khiêm
tốn để kính trọng kẻ sĩ, được người thân yêu mà
đạt đến quý thịnh một thời. Lại hiểu nghĩa, thức
thời, tuy tài và dũng không bằng Triệu Vũ Đế, nhưng
chịu nhún mình thờ nước lớn, để giữ vẹn bờ cõi,
có thể gọi là người trí. Tiếc rằng con nối không
gánh vác nổi cơ nghiệp của cha, để cho bờ cõi nước
Việt đã toàn thịnh mà lại bị chia cắt, đáng buồn
thay !
Bính Ngọ, năm thứ 40 [226], (Hán Hậu Chúa Thiện,
Kiến Hưng năm thứ 4; Ngô Tôn Quyền, Hoàng Vũ năm
thứ 5). Vương mất. Trước vương ốm, đã chết đi 3
ngày, người tiên là Đổng Phụng cho một viên thuốc
hòa vào nước ngậm, rồi đỡ lấy đầu mà lay [12a] động,
mộc chốc lát mở mắt động tay, sắc mặt bình phục
dần dần, ngày hôm sau ngồi dậy được, 4 ngày lại
nói được, rồi trở lại bình thường. (Phụng tên tự
là Xương Dị, người huyện Hầu Quan, sự tích có chép
trong Liệt tiên truyện. Hầu Quan là tên huyện, thuộc
Phúc Châu).
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Nước ta thông thi thư,
học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ
Sĩ Vương, công đức ấy không những chỉ ở đương thời
mà còn truyền mãi đời sau, há chẳng lớn sao? Con
không hiền là tội của con thôi. Tục truyền rằng
sau khi vương chết đã chôn, đến cuối thời nhà Tấn
đã hơn 160 năm, người Lâm Ấp vào cướp, đào mộ của
vương, thấy mình mặt vẫn như sống, cả sợ lại đắp
lại, người địa phương cho là thần, làm miếu để thờ
gọi là "Tiên Sĩ Vương". Có lẽ là khí tinh
anh không nát, cho nên thành thần vậy. (Đền thờ
tại thành cũ Long Biên91 )
[12b] Trở lên là [kỷ] Sĩ Vương, từ năm Đinh Mão
đến năm Bính Ngọ, tất cả 40 năm [187-226].
Chú Thích:
63 Thạch Đái: làm thái thú 9 quận, Cương mục (TB2,
6b) sửa là thứ sử bộ Giao Chỉ. Nhưng thứ sử là chức
quan được đặt vào năm Nguyên Phong thứ 5 (106 TCN)
đời Hán Vũ Đế.
64 Yên Lăng: nay thuộc tỉnh Vĩnh Phú.
65 Huyện Mê Linh: thời thuộc Hán bao gồm phần đất
tỉnh Vĩnh Phú và một số huyện thuộc ngoại thành
Hà Nội ngày nay.
66 Huyện Chu Diên: thời thuộc Hán ở miền lưu vực
sông Đáy (thuộc một phần đất Hà Tây và Hà Nam Ninh).
67 Ở đây, Toàn thư cho Lãng Bạc là Hồ Tây (Hà Nội),
nhưng như vậy là lầm. Nhiều nhà nghiên cứu đã đoán
định Lãng Bạc ở vùng huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc
ngày nay.
68 Chuyện cột đồng Mã Viện được chép trong một số
tài liệu của Trung Quốc, nhưng đều không ăn khớp
với nhau. Cho cột đồng ở Cổ Lâu (Khâm Châu) chỉ
là một thuyết, CMTB2, 13b chép là Cổ Sâm (theo Nhất
Thống Chí của nhà Thanh).
69 Kiển: ổ kén.
70 Nay ở Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây.
71 Phương bá: gọi chung quan đứng đầu địa phương,
nhưng thường chỉ quan đứng đầu một châu như Thứ
sử, Quan sát sứ thời Hán, Bồ chính sứ thời Minh
- Thanh, v.v...
72 Về việc Chu Xưởng dâng biểu, Cương mục ghi rõ:
"Khoảng thời Hán Thuận Đế, Thái thú Giao Chỉ
là Chu Xưởng xin lập đất Giao Chỉ làm một châu,
triều đình bàn định không cho, nhưng phong cho Chu
Xưởng làm Thứ sử Giao Chỉ" (CMTB2, 17b, dẫn
Tấn Chí). Như vậy nhà Hán chỉ cho Xưởng làm Thứ
sử là chức quan chính thức của người cai quản một
châu, còn việc lập riêng một châu (lĩnh các quận)
thì mãi đến năm Kiến An thứ 8 (203) mới thực hiện.
73 Nam Châu: châu ở phương Nam, chỉ Giao Châu.
74 Ô Hử: tên tộc thiểu số ở vùng núi Ô Hử thuộc
huyện Hoành, tỉnh Quảng Tây (CMTB2, 24a dẫn Hậu
Hán Thư và Nam Châu Dị Vật Chí cũng ghi Ô Hử ở phía
nam Quảng Châu, phía bắc Giao Châu). Nguyên bản
in nhầm là Điểu Hử, chữ Ô dễ nhầm với chữ Điểu.
75 Nguyên bản in nhầm là: "thổ quận binh",
đúng ra là "thất quận binh" (theo Hậu
Hán Thư q.71, Chu Tuấn truyện), chữ thất dễ nhầm
với chữ thổ.
76 Tức là bộ Giao Chỉ.
77 Năm này chỉ ghi tên năm Can Chi và niên hiệu
nhà Hán, không thấy ghi việc.
78 Tác giả Toàn Thư theo quan điểm chính thống đương
thời đề cao nho học, coi Sĩ Nhiếp là người có công
đầu trong việc truyền dạy chữ Hán ở nước ta. Cương
mục (phàm lệ) có nhận xét: "Sĩ Nhiếp theo lệnh
triều đình Trung Quốc phái sang làm Thái thú, không
từng xưng vương bao giờ, thế mà sử cũ cũng chép
riêng thành một kỷ, nay tước bỏ đi, chỉ chép thẳng
công việc thời ấy để ghi lấy sự thực ...".
Để tôn trọng tác giả, chúng tôi vẫn giữ đúng nguyên
bản, nhưng chỉ phiên âm chữ "vương" chứ
không dịch là vua như đối với các đế vương khác:
hết kỷ Sĩ Vương thì dịch thẳng là Sĩ Nhiếp.
79 Nguyên bản in chữ ____ theo Khang Hy tự điển,
đó là lối viết không chính thức (tục tự) của chữ
_____. Các tự điển cổ dẫn trong tự điển nói trên
đều chua âm đọc hai chữ ấy là Tiếp (hoặc phiên:
tô hiệp thiết; hoặc phiên: tất hiệp thiết) CMTB2,
29a cũng chua âm là Tiếp (tô thiếp thiết). Nhưng
ở đây chúng tôi vẫn phiên là Nhiếp theo thói quen
lâu nay.
80 Liên Lâu: cũng thường đọc là Luy Lâu, ở Thuận
Thành, tỉnh Hà Bắc, nay còn di tích thành, theo
nhiều nhà khoa học, thành Liên Lâu không phải là
Long Biên.
81 Sĩ VĨ, Toàn thư chép với chữ ______; theo Tam
quốc chí [Sĩ Nhiếp truyện] tên đúng là chữ _______
(đều âm Vĩ).
82 Tức nội địa Trung Quốc.
83 Về việc Trương Trọng giải thích tên gọi quận
Nhật Nam, lời chú thích của Toàn Thư ở đây ghi là
trả lời câu hỏi của Tấn Minh Đế (323-326). Cương
mục căn cứ theo Lĩnh Nam di thư ghi là Trọng trả
lời câu hỏi của Hán Minh Đến (58-76) chứ không phải
Tấn Minh Đế. Do đó, nếu kể nhân tài nước ta được
tuyển dụng như người Hán thì phải kể Trương Trọng
là người mở đầu (CMTB2, 27).
84 Nguyên văn trong Toàn thư: "Nhật tại biểu
bắc cửu thốn nhất phân". Câu này vô nghĩa vì
mặt trời không thể ở phía Bắc nêu 9 tấc 1 phân.
Tân Đường thư, q.31, Thiên văn chỉ chép rõ là: "Mặt
trời ở phía bắc, bóng ở Giao Châu ở về phía nam
là 3 tấc, ở Lâm Ấp là 9 tấc 1 phân". Như vậy
các số đo ở đây là của bóng cây nêu. Ở Lâm Ấp cũng
như ở Giao Châu, trong tháng năm, mặt trời đều ở
phía bắc và bóng cây nêu đều đổ về phía nam. Nếu
cây nêu dùng để đo cùng một kích thước thì càng
ở xa về phía nam, như Lâm Ấp, bóng càng dài hơn.
85 Tông Miệt: tự Nhiên Minh, người nước Trịnh, thời
Xuân Thu, có tiếng là người hiền nhưng tướng mạo
xấu xí. Khi Thúc Hướng nước Tấn sang Trịnh, Miệt
đứng hầu dưới sân, chỉ nghe một lời bàn việc. Thúc
Hướng liền biết đó là Tông Miệt, bèn xuống thềm
dắt tay mời lên.
86 Phủ quân: tức Thái thú. Thời Hán, dinh Thái thú
gọi là phủ, do đó gọi Thái thú là phủ quân.
87 Nguyên văn: "ky lữ", chỉ người Hán
tránh loạn ở Trung Quốc chạy sang nước ta.
88 Hồ nhân: chỉ các nhà sư Ấn Độ, Trung Á đến truyền
đạo ở Liên Lâu, trị sở của bộ Giao Chỉ thời bấy
giờ.
89 Cuối đời Hán Hiến Đế, Lưu Biểu làm Thứ sử Kinh
Châu, không thần phục nhà Hán.
90 Lời chú của Cương mục nói: Con Sĩ Nhiếp là Hàm,
sử cũ (tức Toàn Thư) chép sai là Ngẩm.
91 Đền Sĩ Nhiếp ở thành Liên Lâu và Tam Á gần đó.
Toàn thư cho Liên Lâu là Long Biên nên chú như vậy.

XEM
TIẾP
|