|
Lịch sử
Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư
Bản kỷ thực lục Q5(a)
Nhà Hậu Lê. Nhà Mạc (1509 - 1532)
K ỷ N h à L ê
Tương Dực Đế
Tên húy là Dinh ____ lại húy là Trừu ____, là cháu
của Thánh Tông, con thứ hai của Kiến Vương Tân,
ở ngôi 8 năm, thọ 24 tuổi, bị quyền thần Trịnh Duy
Sản giết, táng ở Nguyên Lăng. Vua buổi đầu lên ngôi,
ban hành giáo hóa, thận trọng hình phạt, cũng đáng
coi là có công nghiệp. Song chơi bời vô độ, xây
dựng liên miên, dân nghèo thất nghiệp, trộm cướp
nổi lên, dẫn đến nguy vong là bởi ở đấy.
Mẹ vua là Huy Từ Kiến Hoàng thái hậu Trịnh thị,
tên húy là Tuyên, người làng Thủy Chú, huyện Lôi
Dương, con gái thứ tư của Đô đốc thiêm sự kiêm Tả
công chính [Trịnh] Trọng Phong, sinh vua vào năm
Hồng Đức thứ 26 [1495], tháng 6, ngày 25. Thời Hiến
Tông, được phong làm Giản Tu công. Đến khi Uy Mục
Đế giết hại người công thất, mới một mình [1b] trốn
vào Tây Đô. Tháng 10, năm Đoan Khánh thứ 5 [1509],
đem quân đến Đông Kinh giết Uy Mục Đế, tự lập làm
vua, lấy ngày sinh làm Thiên Bảo thánh tiết, tự
xưng là Nhân Hải động chủ. Đến khi bị hại, Trịnh
Duy Sản giáng phong làm Linh Ẩn Vương, sau được
truy tôn là Tương Dực Đế.
Canh Ngọ, Hồng Thuận năm thứ 2 [1510] , (Minh Chính
Đức năm thứ 5). Mùa xuân, tháng giêng, bàn luận
công trạng những người ứng nghĩa:
Lấy Nghĩa quận công Nguyễn Văn Lang làm Nghĩa quốc
công; gia phong Thiệu quận công Lê Quảng Độ là Thiệu
quốc công, Lượng quốc công Lê Phụ làm Thượng quốc
công, Uy quận công Lê Bá Lân làm Uy quốc công, Hộ
bộ thượng thư Trịnh Duy Đại2166 làm Văn quận công,
Điện tiền tô kiểm điểm Thuỵ Dương hầu Trịnh Hựu2167
làm Thọ quận công, Phò mã đô [2a] uý Lê Mậu Chiêu
làm Diên quận công; con Văn Lang là Nguyễn Hoằng
Dụ làm Yên Hoà hầu; Trịnh Duy Sản2168 làm Mỹ Huệ
hầu; Tổng binh thiêm sự Thanh Hoa Nguyễn Bá Tuấn2169
(đổi tên là Bá Thuyên) làm Lễ bộ thượng thư, Do
Lễ bá; Thừa tuyên sứ Thanh Hoa Lê Tung2170 làm Lại
bộ thượng thư, Đôn Thư bá; Tham chính Thanh Hoa
Nguyễn Thì Ung làm ngự sử đài đô ngự sử Lương Văn
bá; Đàm Thận Huy2171 làm Hình bộ thượng thư; Hàn
lâm viện thị độc tham chưởng Hàn lâm viện sự Lương
Đắc Bằng làm Lại bộ tả thị lang.
Bàn đặt quan đề lĩnh, có các chức chưởng đề lĩnh,
đồng đề lĩnh và phó đề lĩnh, trông nom việc quân
ở bốn mặt thành, chức trách là tuần phòng ở Kinh
sư, canh phòng các nơi, tìm bắt kẻ gian phi2172
.
[2b] Tháng 2, vua sai sang nhà Minh. Hình bộ thượng
thư Đàm Thận Huy, Đông các hiệu thư Nguyễn Văn Thái2173
, Binh khoa đô cấp sự trung Lê Thừa Hưu2174 , Thông
sự Nguyễn Phong, hành nhân 3 người, tòng nhân 8
người sang tâu việc; Lễ bộ tả thị lang Nguyễn Quýnh,
Thị thư Vũ Cán, Đề hình Nguyễn Doãn Văn, Thông sự
Nguyễn Hảo, hành nhân 3 người, tòng nhân 9 người
sang cầu phong. Bấy giờ, Thừa Hưu đi đến đầu địa
giới thì bị ốm, liền sai Binh khoa đô cấp sự trung
Nguyễn Văn Tuấn đi thay.
Vua tự xưng là Nhân Hải động chủ.
Ngày 27, lấy Đông các học sĩ Đỗ Nhân làm Hộ bộ
tả thị lang, đổi tên Nhân thành Nhạc, để tránh tên
hiệu của vua là Nhân Hải.
Trần miếu Thái Tổ bị sụt.
Mùa hạ, tháng 4, ngày 25, đêm canh ba, hoạn quan
Nguyễn Khắc Hài làm [3a] loạn, ép vua đến cung Trùng
Hoa, lại đến các điện Vạn Thọ, Cẩn Đức, Kính Thiên.
Vua làm thơ quốc ngữ, các đại thần văn võ vào chầu
kính hoạ lại, chỉ có Đông các hiệu thư Trần Dực
hoạ hợp cách, được ban 5 quan tiền.
Ban đêm có nội thần Nguyễn Lĩnh đón vua ngự đến
đầm sen. Bọn phản nghịch lẻn ra ngoài, đem kiệu
ngự đi đón Hoa Khê Vương Tòng làm nguỵ chúa. Vua
sai bọn Thọ quận công Trịnh Hựu đi đánh, đuổi đến
phường Đông Hà2175 , bọn phản nghịch bị giết quá
nửa, số còn lại vượt sông qua Bồ Đề trốn vào núi
Tam Đảo. Hựu sai tỳ tướng đuổi đánh2176 .
Ngày 26, đại xá.
Xuống chiếu đặt hai vệ Thiên vũ2177 và Thánh uy2178
, chức ở trên vệ Cẩm y và Kim ngô. Kiểu mũ dùng
mũ đỏ có cánh nạm vàng, thêu phụng đỏ.
Cục Mông nước Ai Lao sai [3b] sứ đến Nghệ An đệ
bản tâu trạm xin nộp cống quy phụ. Vua xuống chiếu
khước từ, vì mới lấy được nước, sợ họ nhòm ngó nước
ta.
Tháng 6, lấy ngày sinh làm Thiên Bảo thánh tiết.
Mùa thu, tháng 8, sao Thái Bạch đi ngang trời.
Đổi Hiệu lệnh lực sĩ thành Thể sát lực sĩ.
Tháng 9, ngày mồng 7, có thánh chỉ rằng: Khi ban
cấp các hạng ruộng đất, bãi dâu, ao đầm thì cho
phép các xứ cấp vào những chỗ còn lọt ở dân, chưa
vào sổ quan; cho quan Thái bộc tự xét mình đi tìm,
làm bản tâu lên, giao xuống Hộ bộ và Thừa ty xứ
đó cho khám xét, làm bản tâu lên, đợi nhận chỉ chuyển
giao cho Lễ bộ vâng mệnh thi hành, làm sắc cấp cho
các công, hầu, bá theo thứ bậc khác nhau.
[4a] Mùa đông, tháng 10, lấy Hộ bộ thị lang Đỗ
Nhạc làm Đông các đại học sĩ, nhập thị kinh diên.
Khởi phục Lại bộ tả thị lang Lương Đắc Bằng kiêm
Đông các học sĩ, nhập thị kinh diên [nhưng Đắc Bằng]
cố từ chối không nhận. Nhân đó, Đức Bằng dâng lên
14 kế sách trị bình, đại ý là "Thần nghe: Bậc
thánh nhân thuở trước, không vì thiên hạ đã trị
mà lơ là việc cảnh giác ngăn ngừa, người hiền thần
đời xưa không vì vua mình đã thánh mà quên lãng
niềm khuyên răn, can gián. Cho nên, đời Ngu Thuấn
đã thịnh vượng rồi mà Bá Ích2179 lúc bày mưu mô
thì nói chớ ham mê nhàn rỗi, chớ đắm đuối vui chơi,
không lười biếng, không trễ nải, phấp phỏng như
nguy vong sắp đến. Đế Thuấn nghe lời khuyên mà răn
ngừa những việc đáng răn, do đó đã trở thành bậc
đại thánh. Thời Hán Văn đã phú [4b] cường rồi, nhưng
Giả Nghị2180 khi dâng kế sách lại khuyên điều để
lửa gần của, đáng phải chảy nước mắt, đáng phải
khóc phải thương, lo lắng như hoạ hoạn đã thành.
Văn Đế nghe lời khuyên mà lo nghĩ việc đáng lo,
do đó đã trở nên bậc hiền nhân.
Vì là người bề tôi dâng lời khuyên không khẩn khoản,
không thiết tha thì không thể giúp vua sáng suốt
tiếp thu lời can gián. Vua nghe lời khuyên mà không
tiếp thu, không độ lượng thì không thể mở rộng đường
cho bề tôi dâng lời can gián. Nay bệ hạ khoan nhân
đại độ, không thích giết người, khôi phục cơ nghiệp
của Cao Tổ, cứu giúp sinh mệnh cho muôn dân. Khắp
trong bốn biển như gỡ được nạn treo ngược, ai cũng
vươn cổ kiễng chân, ngóng trông chính sự mới được
hoàn thành, hân hoan mừng thái bình thịnh trị.
Nhưng từ khi lên ngôi tới nay, hoà khí chưa thuận,
can qua chưa dứt, [5a] kỷ cương triều đình chưa
dựng đặt, việc quân, việc nước chưa sửa sang; tai
dị xảy ra luôn, sợ đạo trời chưa thuận, núi đá bị
sụt lở, e đạo đất chưa yên. Tệ tham nhũng ngầm ngầm
phát triển, bọn nghịch tặc lén lút manh nha, sợ
đạo người chưa ổn. Thế mà quan trong triều biết
mà không nói, họ tự lo cho mình thì được rồi, còn
lo cho nước thì ra sao? Thần thẹn là một bề tôi
cũ, nghĩa phải cùng vui buồn với nước, tuy còn trong
lúc xô gai, tang trở chưa hết, nhưng bệ hạ đã vì
nghĩa công nén tình riêng, cho làm chức thị tung,
có ý muốn thần bàn luận mưu kế lui tiến, hèn kém
theo người để dựa dẫm giữ lấy tước lộc, thì lòng
trung hiếu của thần đôi đường đều thiếu cả, lấy
gì báo đáp được ân đức của bệ hạ, làm trọn chức
phận của kẻ làm tôi? Thần mỗi khi nghĩ tới việc
ngày nay thì suốt đêm không ngủ, đến [5b] bữa không
ăn, tấm lòng khuyển mã trung thành không sao nguôi
được. Kính xin trình bày 14 kế sách trị binh tâu
lên như sau: 1- Phải cảnh giác, răn ngừa để chấm
dứt tai biến, 2- Dốc lòng hiếu thảo để khuyến khích
lòng trung hậu, 3- Xa thanh sắc để làm chân chính
gốc của tâm, 4- Đuổi tà nịnh để làm trong sạch ngọn
nguồn muôn việc, 5- Dè dặt trao quan tước để thận
trọng việc khuyến khích răn đe, 6- Tuyển bổ công
bằng để đường làm quan trong sạch, 7- Tiết kiệm
tiêu dùng để khuyến khích phong tục kiêm phác, 8-
Nêu khen người tiết nghĩa để coi trọng đạo cương
thường, 9- Cấm hối lộ để trừ bỏ thói tham ô, 10-
Sửa sang võ bị để vững thế thành đồng hào nóng,
11- Lựa chọn quan can gián để gây khí thế dám nói,
12- Nới nhẹ việc lực dịch để thoả lòng mong đợi
của dân, [6a] 13- Hiệu lệnh phải tín thực để thống
nhất ý chí của bốn phương, 14- Luật pháp, chế độ
phải thận trọng để mở nền thịnh trị thái bình.
Những kế sách trên đây, xin bệ hạ soi xét. Thần
lại nghe cổ ngữ có câu: "Lời nói của kẻ cắt
cỏ, kiếm củi, thánh nhân cùng cân nhắc lựa dùng"2181
. Kinh Thư nói: "Biết được không khó, làm được
mới khó"2182 . Thần xin bệ hạ đừng cho những
lời của thần là vu khoát, xin lựa chọn mà thi hành,
răn những điều đáng răn, lo những điều đáng lo,
may ra đạo trời có thể thuận, đạo đất có thể yên,
đạo người có thể ổn, có thể đạt đến thái bình".
Vua nghe theo.
Gia phong Thiệu quốc công Lê Quảng Độ làm Bình
chương quân quốc trọng sự, Tổng thống quốc chính.
Thái tể thái sư2183 .
Đặt lại chức thường xuyên xá nhân. Trước đây, vào
đời Cảnh Thống, thôi đặt chức thường xuyên xá nhân.
Đến nay, Chưởng vệ Minh Luân hầu Lê Niệm tâu [6b]
xin đặt lại chức ấy. Vua nghe theo.
Làm điện Thiên Quang.
Định lệ thưởng công cho những người đi theo ở Tiêu
Viên2184 , Bảo Đà2185 và trấn giữ điếm Hoàng thành.
Xuống chiếu rằng: Những viên nhân các xứ Sơn Nam
có dự theo nghĩa quân ở Tiêu Viên và theo nghĩa
quân doanh tại các huyện Yên Ninh2186 , Yên Mô2187
, Phụng Hoá2188 , Gia Viễn, ai có quan chức thì
thưởng 5 tư, ai chưa có quan chức thì tha không
phải tuyển lính, theo như lệ đòi bắt cũ, thay phiên
nhau tập luyện võ nghệ và túc trực. Người nào tạm
ở lại túc trực, thì tính công cũng như người túc
trực, đã có quan chức thì thăng 1cấp, chưa có quan
chức thì bổ chánh cửu phẩm. Người nào có túc trực
được tuyển vào hộ vệ mà không theo nghĩa quân thì
bổ tòng cửu phẩm. Các hạng vệ sĩ, tuấn sĩ, con cháu
công thần, nho sinh, giám sinh, văn thuộc, người
nào siêng năng, tài cán, mạnh khoẻ thì bổ làm hộ
vệ, người nào siêng năng, tài cán nhưng không khoẻ
mạnh thì bổ các chức bên ngoài. Quân lính [7a] và
nhân dân, ai có quân công, đều cho quan có trách
nhiệm tuỳ theo thứ bậc mà bổ dụng, con cháu đều
được tập ấm. Viên nhân các xứ, người nào có đến
thành Tây Đô theo xa giá, có công thì thưởng quân
công cũng như viên nhân xứ Thanh Hoa. Còn như nhân
viên các huyện Thanh Đàm (nay đổi thành Thanh Trì),
Thượng Phúc, Thanh Oai, Từ Liêm trấn giữ hoặc thay
phiên gác các điếm ngoài Hoàng thành, người đã có
quan chức thì thưởng 1 cấp, người chưa có quan chức
thì được tha tuyển lính phỏng theo lệ đòi bắt cũ,
thay nhau 20 phiên giữ các điếm ngoài Hoàng thành
và tập võ nghệ. Nếu là người thay phiên nhau túc
trực mà không trấn giữ thì thưởng 5 tư, thay nhau
20 phiên mà giữ điếm ngoài Hoàng thành. Các nho
sinh, sinh đồ được thưởng 5 tư.
Tháng 11, vua sai Ngự sử đài phó đô ngự sử Đỗ Lý
Khiêm, Hàn lâm [7b] viện thị độc kiêm sử quan Nguyễn
Bỉnh Hoà (người làng Vĩnh Thế, huyện Siêu Loại2189
, trước tên là Văn Hiến), Đề hình giám sát ngự sử
Nguyễn Đức Quang, Thông sự Nguyễn Minh, hành nhân
8 người, tòng nhân 25 người sang tuế cống nhà Minh.
Đặt ty Thiêm bảo đao trực ở điện Kim Quang.
Lấy Phí Vạn Toàn (người làng Xuân Trì, huyện Vĩnh
Lại) làm ngự sử đài phó đô ngự sử, Phạm Khiêm Bính
làm Thiêm đô Ngự sử; gia phong Lương Văn bá Nguyễn
Thì Ung làm Phụng trực đại phu, Thượng thư Ngự sử
đài đô ngự sử; Đỗ Nhạc làm Phụng trực đại phu, Thượng
thư Đông các đại học sĩ nhập thị Kinh diên; Do Lễ
bá Nguyễn Thuyên làm phụng trực đại phu, Lễ bộ thượng
thư; Trình Chí Sâm làm phụng trực đại phu, Công
bộ thượng thư; Vũ Quỳnh làm Triều liệt đại phu,
Binh bộ thượng thư; Phạm Hạo làm gia hành đại phu,
Hộ bộ [8a] tả thị lang; Đặng Minh Khiêm làm Triều
liệt đại phu, Lại bộ tả thị lang; Lê Đĩnh Chi làm
Hộ bộ hữu thị lang.
Tân Mùi, [Hồng Thuận] năm thứ 3 (1511) , (Minh
Chính Đức năm thứ 6). Mùa xuân, tháng giêng, ngày
mồng 1, có nhật thực.
Tháng 2, vua đi bái yết Lam Kinh. Bấy giờ Thân
Duy Nhạc2190 và Ngô Văn Tổng dấy quân ở các huyện
Yên Phú2191 , Đông Ngàn2184 . Gia Lâm xứ Kinh Bắc.
Có một nho sinh ở Yên Phú là Chu Thực, báo cho
lưu thủ Đông Kinh Thuỵ quận công Ngô Bính và Kim
Nguyên bá Trịnh Bá Quát, sai quân đi đánh phá được
bọn chúng, bắt sống được bọn Duy Nhạc, Văn Tổng
đóng cũi giải về Kinh sư, rồi đưa đến hành tại.
Trước kia, đời Đoan Khánh, Duy Nhạc đỗ tiến sĩ
xuất thân, làm quan đến Cẩm y vệ đoán sự, trực điện
Kim Quang. Đến khi vua dấy nghĩa quân, giết Mẫn
[8b] Lệ công, Duy Nhạc liền về nhà không làm quan
nữa, rồi khởi binh làm loạn, đến đây bị giết. Sau
thưởng công cho Chu Thực, bổ làm Phủ doãn phủ Phụng
Thiên (Duy Nhạc là người xã Đại Liễn, huyện Vũ Ninh).
Vua đi từ Kim Sơn, cùng với phi tần sáu cung ngự
đến chùa Kim Âu2193 , chiều dừng ở chùa Phi Lai2194
xem đua thuyền rồi ngự đến điện Hiền Nhân, sau lại
ngự đến điện Thịnh Mỹ. Ngự dinh đóng ở bến Thuý
Ái2195 , gặp gió lớn nổi lên, thuyền ngự đều bị
trôi giạt.
Tháng 3, thi Hội các sĩ nhân trong nước, lấy đỗ
bọn Nguyễn Thái Hoa 47 người (Thái Hoa người làng
Địa Dục, huyện Thanh Lâm2196 , thi Đình đỗ đồng
tiến sĩ xuất thân). Đến khi thi Đình, vua đích thân
ra đề văn sách, hỏi về đạo trị nước xưa nay. Sai
Thái tể thái sư Thiệu quốc công Lê Quảng Độ làm
đề điệu. Công bộ thượng thư Trình Chí Sâm làm tri
cống cử; Hộ bộ tả thị lang Phạm Hạo [9a] và Lại
bộ tả thị lang Đặng Minh Khiêm làm giám thí; Lễ
bộ thượng thư Nguyễn Bá Thuyên, Thượng thư Ngự sử
đài đô ngự sử Nguyễn Thì Ung và Thượng thư Đông
các đại học sĩ nhập thị kinh diên Đỗ Nhạc làm độc
quyển. Đến khi đọc quyển thi, vua thân hành xem
bài thi rồi định bậc cao thấp. Cho bọn Hoàng Nghĩa
Phú, Trần Bảo Tín, Vũ Duy Chu 3 người đỗ đệ nhất
giáp tiến sĩ cập đệ; bọn Bùi Doãn Hiệp 9 người đỗ
đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân; bọn Trần Doãn Minh
35 người đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân2197
.
Mùa hạ, tháng 4, sai Đô đốc đồng trì Lê Phong làm
đô tướng, Phạm Đức Bân làm tham tướng, Nguyễn Đốc
làm tổng đốc đi vào vùng Quảng Nam, Thuận Hoá bắt
voi công.
Lấy Lê Công Trừng làm tham chính Hải Dương, Phạm
Khiêm Bính làm hiến [9b] sát sứ Hải Dương.
Binh bộ thượng thư, Quốc tử giám tư nghiệp kiêm
sử quan đô tổng đài Vũ Quỳnh (người xã Mộ Trạch,
huyện Đường Yên2198 ) dâng bộ Đại Việt thông giám
thông khảo chép từ Hồng Bàng thị đến Mười hai sứ
quân về trước làm Ngoại kỷ , từ Đinh Tiên Hoàng
đến năm đầu Thái Tổ Cao Hoàng Đế bản triều đại định
thiên hạ làm Bản kỷ , đều chép tường tận theo lối
kỷ niên các triều đại, gồm 26 quyển2199 .
Tiến phong Thiên vũ vệ đô chỉ huy sứ Mạc Đăng Dung
làm Vũ Xuyên bá. Bấy giờ, các hào kiệt và thuật
sĩ đều nói là ở phương đông có khí sắc thiên tử.
Vua sai Nghĩa quốc công Nguyễn Văn Lang đem thuật
sĩ ra Đồ Sơn để trấn yểm. Đăng Dung cũng đi trong
chuyến đó mà không ai biết.
Ngày 27, ban sách Trị bình bảo phạm2200 cho cả
nước, gồm 50 điều. Dụ các quan văn võ [10a] và dân
chúng rằng: Nghĩ trời thương dân chúng, tất lập
vua lập thầy; vua vâng mệnh trời, phải lo nuôi dạy
trước. Thế là để lòng người hoà hợp, của dân dồi
dào, đưa nước nhà đến cõi thịnh trị bình yên lâu
dài. Xưa Nghiêu, Thuấn được hạnh phúc yên vui, vốn
gốc ở trọng Ngũ điển2201 , vui Cửu tự2202 ; Thang,
Vũ đến thái bình thịnh trị, do nền ở ban Ngũ giáo2203
, dùng Bát chính2204 . Xem vậy, các bậc thánh đế
minh vương thay trời trị nước, có bao giờ bỏ qua
việc nuôi dạy mà trở nên thịnh trị được đâu. Cao
Thái Tổ Hoàng Đế khai sáng cơ nghiệp, truyền lại
kỷ cương, dựng lập nhà học, khuyến khích nông tang,
để vỗ yên bốn phương; Thái Tông Văn Hoàng Đế nối
theo chí trước, noi việc người xưa, coi trọng giáo
hoá, chăm nuôi muôn dân để yên hoà muôn nước; Thánh
Tông Thuần Hoàng Đế kính nối mưu trước, làm hết
luân thường, hoàn thiện chế độ, ban Đại cáo để [10b]
bồi đắp gốc nền cho phong hoá, Hiến Tông Duệ Hoàng
Đế tỏ rạng công trước, sáng suốt yên vui, ban lời
dạy để khuyến khích thói hay tục tốt, lớp lớp yên
hoà, đức hoá xa rộng, hiệu quả trị bình, đến đây
là thịnh hơn cả. Đến đời Đoan Khánh [1505 - 1508],
hoạn quan can thiệp vào chính sự, ngoại thích chuyên
quyền, pháp luật phiền hà, kỷ cương rối loạn, nông
tang mất nghiệp, phong tục suy đồi, thực rất thương
tâm. Trẫm nghĩ công tổ tông gây dựng gian nan, thương
ức triệu dân cuộc đời đau khổ, vì tông miếu, xã
tắc và sinh dân, đã đại cử nghĩa bình, dẹp yên bốn
bể. Khi mới lên ngôi, ban hành giáo hoá, thận trọng
hình phạt để phòng giữ lòng người; thi hành chính
lệnh, ban ra nhân huệ để đón nối mệnh trời. Những
muốn cho điển chương chế độ hết thảy đổi mới, bèn
chọn lấy những điều có quan hệ đến chính trị, phong
tục, biên tập thành sách Trị bình [11a] bảo phạm
để ban hành trong nước. Từ quan đến dân các ngươi,
phải thể theo lòng trẫm, học lấy mà làm, để cùng
đạt đến thịnh trị, để hưởng phúc thái bình muôn
đời, để giữ vững cơ đồ mãi mãi. Các điều dạy bảo
kê ra như sau:
1- Bề tôi thờ vua, đều phải giữ lòng trung lương,
kính ẩn lo giữ chức vụ, vì nước quên nhà, lo việc
công, quên việc tư, cùng nhau cung kính hoà hiệp,
nói thẳng, can gián đến cùng, không được a dua phụ
hoạ, mong được yên thân, ăn hại bổng lộc, cầu may
giữ chức, tâu xin việc riêng, bán quan tước, buôn
ngục hình, đến nỗi làm phương hại tới đạo trị nước.
Kẻ nào vi phạm sẽ bị tội nặng.
2- Những tông thất công thần từ trong cung cấm
đến ngoài thế gia, cùng vui buồn với nước, phải
thể theo lòng yêu nuôi sinh dân của triều đình.
Ruộng đất, chằm ao, bãi dâu được ban cấp theo như
lệ đã định rõ, đợi khi khám xong, ban cấp cho và
dựng mốc ranh giới rồi mới được cày cấy. [11b] Nếu
chưa qua khám thực, chưa dựng cột mốc, thì không
được cướp đoạt mà thu thóc lúa. Không được dung
nạp kẻ gian ra vào, ức hiếp, lấy lạm ruộng đất của
dân, để cho dân mọn bị thất nghiệp. Phải dạy dỗ
con cháu, răn bảo nô tỳ cho chúng hiểu biết lễ phép,
không được cậy thế kiêu ngạo, đánh đập dân mọn,
không được phép phóng ngựa ngoài đường phố, làm
thương tổn mạng người, không được chắn ngang đường
sá, cướp bóc của dân. Kẻ nào vi phạm, thì cho người
bị hại cùng người trông thấy tố cáo lên quan khoa,
đài, hiến ty và phủ, huyện, châu, để làm bản tâu
lên giao cho Hình bộ trị tội. Nếu quan khoa đài,
hiến ty và phủ, huyện, châu sợ hãi, né tránh kẻ
quyền thế, không chịu xét hỏi thì cho người ấy đến
cửa khuyết tâu lên, bọn quan khoa, đài, hiến ty
đó đều nhất loạt bị trị tội.
3- Quan các nha môn trong ngoài phải nghiêm khắc
sửa mình, [12a] kính cẩn siêng năng làm chức phận
của mình, không được bừa bãi theo dục vọng riêng,
say đắm tửu sắc, sai khiến bậy người dưới quyền,
dắt mối gái điếm, nàng hầu, yêu sách cỗ bàn, liên
miên chè chén, đến nỗi lười nhác bỏ cả việc công,
làm hư hại tới phong hoá. Ai vi phạm sẽ bị trị tội
theo pháp luật.
4- Lại bộ phải kính giữ công bằng, cân nhắc bổ
dùng người, phải thận trọng dè dặt khi trao quan
tước, giữ trong sạch quan trường. Nếu có dẫn người
tuyển dụng thì mỗi lần 40 người, Lại bộ phải tư
trước cho các nha môn, đoan khai họ tên những người
đáng được thuyên bổ, rồi cùng với quan khoa, đài
hiệp đồng dẫn tuyển, làm bản tâu lên, đợi nhận được
sắc chỉ thì bổ dụng. Người nào lâu năm và trúng
trường nhiều thì bổ trước, người nào ít năm và trúng
trường ít thì bổ sau, người nào có quân công thì
theo như lệnh thưởng công đời Hồng Đức mà thuyên
bổ. Người ốm yếu hèn kém thì bổ chức tản quan, tạp
lưu. Ai dám hối lộ và riêng tư, [12b] tuyển bổ không
có thứ tự, thì cho quan đô, đài kiểm xét tâu lên,
theo luật trị tội. Quan đô, đài không biết kiểm
xét tâu lên cũng bị nhất loạt trị tội.
5- Giám sinh, nho sinh, sinh đồ cứ đến ngày mồng
1, ngày rằm hàng tháng đều phải mặc mũ áo đến điểm
mục theo phép đã định. Phải tuân theo học quy, luyện
tập văn bài, đợi khi thành tài để nhà nước sử dụng.
Người nào dám chạy chọt cầu may, rong chơi ngoài
đường, bỏ trễ việc học, thiếu 1 lần điểm mục thì
phạt 140 tờ giấy trung chỉ, thiếu 2 lần thì phạt
200 tờ giấy trung chỉ, thiếu 3 lần thì đánh 40 roi,
thiếu điểm mục 4 lần thì kiểm xét tâu lên giao cho
Hình bộ xét hỏi, thiếu điểm mục 1 năm thì tâu lên
bắt sung quân.
6- Trong kỳ thi Hương, các quan đề điệu, giám thí,
giám khảo, khảo thí, tuần xước, và các xã trưởng
phải thể theo đức ý của triều đình, phải giữ công
tâm, mong lựa chọn được người có thực tài [13a]
cho nhà nước sử dụng. Xã trưởng làm sổ khai nhận
cho học trò, cốt được kẻ có thực học, không hạn
chế số người nhiều hay ít, nộp lên quan huyện, châu
bản hạt, cho thi một kỳ ám tả, rồi quan phủ cho
thi ba đạo kinh nghĩa, quan thừa hiến hiệp đồng
khảo thí như lệ. Thi xong, ngay hôm đó, kê khai
hạng trúng tam trường là bao nhiêu người, hạng trúng
tứ trường là bao nhiêu người, lập thành danh sách,
rồi cùng với quan khảo thí ký tên vào để đề phòng
gian trá. Hạn trong 3 ngày, các quan đề điệu, giám
thí phải làm bản tâu lên, giao cho Hiến ty sát hạch.
Ai dám riêng tư xoay tiền, mua ơn trả oán, nghe
theo kẻ quyền thế mà lựa chọn không đúng người hoặc
nộp bản tâu chậm trễ thì cho quan khoa, đài tâu
lên để trị tội.
7- Đời Đoan Khánh, có nhiều kẻ gian phi ra vào
nhà bọn ác đảng ở các làng Phù Chẩn, Hoa Lăng, có
kẻ giả xưng là họ hàng của bọn ấy, có kẻ đi tìm
[13b] mua tờ thiếp, để xâm chiếm ruộng đất của dân,
cướp đoạt tiền tài của dân, đánh đập dân lương thiện,
trêu ghẹo đàn bà con gái, cũng có kẻ chứa chấp bọn
gian phi để chúng chia của cho mình, cậy thế lấn
hiếp, gây hại ngày một quá. Nay bọn ác đảng tuy
đã bị giết, nhưng bọn gian phi nói trên có kẻ nào
vẫn theo thói cũ, ngang ngược hung bạo, quấy nhiễu
dân mọn thì cho người bị hại và các phường, xã,
thôn trưởng áp giải bản thân nó đến cáo giác với
quan thừa, hiến, phủ, huyện, châu né sợ không chịu
xét hỏi, thì cho người bị hại đến cửa khuyết tâu
lên, nhất loạt giao cho Hình bộ trị tội cả.
Tháng 5, ngày mồng 5, vua ngự điện Kính Thiên,
quan Hồng lô truyền loa, xướng danh các tiến sĩ
là bọn Hoàng Nghĩa Phú. Các quan mặc triều phục
chúc mừng. Các tiến sĩ nhận ân mệnh, Lễ bộ đem [14a]
bảng vàng treo ngoài cửa nhà Thái học. Lại ban y
phục, đai mũ và ban yến.
Gia phong Lượng quốc công Lê Phụ làm Tả bình chương
quân quốc trọng sự, Nhập nội kiểm hiệu, Thượng tướng
thái uý: Nghĩa quốc công Nguyễn Văn Lang làm Khai
phủ nghi đồng tam ty, Bình chương quân quốc trọng
sự, Phụ quốc thượng tướng, Thượng tể thái phó; Uy
quốc công Nguyễn Bá Lâm làm Công bộ thượng thư chưởng
bộ sự, tri Hiển Phúc điện; Đàm Thận Huy làm Lại
bộ thượng thư, tri Chiêu Văn quán Tú lâm cục; Lê
Tán Tương làm Công bộ hữu thị lang.
Mùa đông, tháng 11, ngày 11, người làng Quang Bị,
huyện Bất Bạt là Trần Tuân nổi loại ở vùng Sơn Tây.
(Tuân là cháu của Lại bộ thượng thư Trần Cận trước
kia). Bấy giờ, nhân dân các phố xá ở kinh thành
[14b] náo động, đều đem vợ con về quê quán, đường
phố không còn một ai đi lại. Vua sai Hộ bộ hữu thị
lang Lê Đĩnh Chi, cùng các quan khoa, đài đi khám
xét các phố xá hàng chợ, xem người nào còn nhà ở,
người nào vợ con đã về quê quán, ra lệnh cấm rất
nghiêm ngặt, xử tội rất nặng [những người đã cho
vợ con về quê quán], dân chúng khó bè nhắc chân
động tay. Những người đã để vợ con về quê, thì phần
nhiều đem người khác đến, nói dối là vợ con mình
để đợi sai quan tới khám xét. Đến đây, lại sai xá
nhân đến tận nhà các đại thần và văn thần xem thực
hư ra sao, thì thấy vợ con của 5 người là bọn Lê
Đĩnh Chi, Nguyễn Tông Thốc, Nguyễn Lý Quang và Hàn
lâm kiểm thảo Ngô Tuy, Giám sát ngự sử Trần
Húc đều về nguyên quán. Vua sai giết bọn Đĩnh Chi
ở ngã ba phường Đông Hà, vì bọn Đĩnh Chi [15a] làm
quan đi khám xét mà vợ con lại trốn về quê trước,
cho nên xử tội.
Vua sai Mỹ Huện hầu Trịnh Duy Sản chỉ huy quan
quân đi đánh Trần Tuân. Bấy giờ quân của Tuân đã
bức sát đến Từ Liêm (tên huyện, thuộc phủ Quốc Oai2205
), quan quân bại trận, lui về đóng ở các xứ Đông
Ngạc, Nhật Chiêu2206 .
Thế quân của Tuân rất mạnh, muốn bức sát kinh thành.
Nghĩa quốc công Nguyễn Văn Lang sai quân sáu vệ
Điện tiền kéo thuyền Tiểu Thiên Quang xuống sông,
định đưa vua ngự về Thanh Hoa, giữ nơi hiểm yếu
rồi gọi hết bọn thợ của các sở ở Công bộ và thợ
thường ban, bày kỳ binh ở xứ Đông Hà để giữ. Đến
đêm, bọn chúng hoảng sợ trốn về cả. Vua sai Minh
Luân bá Lê Niệm, Tổng thái giám Lê Văn Huy và 2
người hoa văn học sinh đem lực sĩ của hai ty Hải
Thanh và Hà Thanh chèo hai chiếc thuyền nhẹ ra [15b]
xứ Từ Liêm để dò xét tình hình quân giặc. Niệm đến
chợ An Giang trước thấy phố xá bị thiêu trụi, quan
quân đã bại trận rút về, vượt sông vào xã Quả Hối.
Niệm lại chạy về, vào điện tâu trước mặt vua. Bấy
giờ, Duy Sản bị giặc đánh bại, thủ hạ chỉ còn hơn
30 người, xé áo làm hiệu, thề cùng nhau đánh giặc.
Giờ Dậu, Duy Sản thình lình xuất hiện, đột nhập
vào dinh của Tuân, thấy Tuân mặc áo đỏ ngồi trên
giường, liền dùng giáo đâm chết Tuân, bè đảng của
Tuân đều tan chạy cả. Bấy giờ quân lính của Tuân
đóng ở chổ khác, không biết là nghịch Tuân đã chết,
vẫn cứ đóng quân như trước.
Ngày 20, vua làm lễ tấu cáo ở Thái Miếu, rồi sai
Nguyễn Văn Lang đem tướng sĩ, voi ngựa của các doanh
đi đánh. Bấy giờ, Duy Sản đã giết Trần Tuân, liền
thừa thế bắn ba tiếng súng, các quân đánh trống
hò reo tiến vào, đánh [16a] tan quân giặc, đuổi
theo đến các xã Thuỵ Hương, Quả Động, Đông Ngạc2207
, đâm chết rất nhiều tên, xác giặc nằm đầy đồng,
chết đuối dưới sông không kể xiết. Sau này định
công ban thưởng, ban phong Trịnh Duy Sản là Nguyên
quận công, những người đi theo Duy Sản đâm chết
được nhiều giặc đều được trao chức đô chỉ huy đồng
tri2208 . Việc xét quân công có lệ người nào giết
được nhiều giặc thì được trao quan chức bắt đầu
từ đó.
Chém Hồ bả ở phường Diên Hưng. Trước đó, Đô lực
sĩ Hồ Bả đánh giặc lùi trở về, bẻ cánh mũ kim phụng
giấu đi, đến khi dẹp yên giặc, Hồ Bả bị xử chém.
Giết viên Hộ bộ tư vụ Lý Văn Tư. Trước đó, khi
có loạn Trần Tuân, ở Kinh thành, các thân vương,
công chúa và dân chúng ở phố xá, hàng chợ đều chạy
ra ngoài thành Đại La, trú ngụ tại các xã Hồng Mai,
Thịnh Liệt. Văn Tư cũng đi lánh nạn, nói vụng những
lời khinh miệt các đại thần, bọn Nguyễn [16a] Văn
Lang, Trịnh Duy Đại tâu lên vua, cho nên bị giết.
Thưởng bọn đại học sĩ Đỗ Nhạc 11 người. Trước đây,
Trần Tuân tiến quân sát đến Kinh thành, lòng người
sợ hãi, bọn Duy Nhạc vẫn làm việc ở triều đường.
Vua sai kê khai các đại thần văn thần, chỉ có 11
viên [còn ở lại]. Nay vâng sắc chỉ bàn định ban
thưởng để biểu dương lòng trung thành của họ.
Phân định lệ thuế vàng bạc. Lệ thuế vàng trong
nước: vàng mười hạng tốt là 449 lạng 5 phân, 6 ly,
4 hào, lệ cũ là 460 lạng; nộp thay voi công là 20
lạng nữa; vàng mười [hạng thường] là 2.901 lạng,
6 đồng cân, 9 phân, 5 ly, 1 ty, lệ cũ là 2.863 lạng.
Còn lệ thuế bạc, thì bạc tốt mười thành là 6.125
lạng, 9 đồng cân, 8 phân, [17a] 4 ty, 8 hào, lệ
cũ là 4.930 lạng.
Sai Nguyễn Văn Lang trung tu Sùng Nho điện ở Quốc
tử giám và hai giải vũ, sáu nhà Minh Luân, nhà bếp,
phòng kho, cùng làm mới hai nhà bia bên đông và
bên tây, mỗi gian đặt một tấm bia bên tả, một tấm
bên hữu. Năm này, dựng hai nhà bia đề tên các tiến
sĩ khoa Ất Sửu năm Đoan Khánh thứ 1 và khoa Mậu
Thìn năm Đoan Khánh thứ 4. Khi ấy, sau khi sai trùng
tu Quốc tử giám và làm mới nhà bia,
vua lại nghĩ hai khoa thi về đời Đoan Khánh chưa
dựng bia, liền sai Đông quan2209 khắc đá, Thượng
thư, Đông các đại học sĩ, Nhập thi kinh diên Đỗ
Nhạc soạn bài ký, Trung thư giám xá nhân Đỗ Như
Chi viết chữ tri thượng bảo giám Bùi Thị viết chữ
triện.
Xét bài ký của Đỗ Nhạc ghi : Vua thông minh xứng
đáng bậc vua, sáng suốt làm gương cả nước, khôi
phục [17b] quy mô xây dựng cơ nghiệp của Thái Tổ,
mở rộng nền móng văn giáo thịnh trị của Thánh Tông.
Ban đầu đặt kinh diên, lưu tâm điển tịch. Sáng vầng
sao Khuê2210 ngang trời dọc đất thì có tập Bảo thiên
thanh hạ ; mở gương trị giáo mẫu mực xưa nay thì
có tập Quang thiên thanh hạ2211 . Thánh học ngày
càng cao minh, thánh đức ngày càng thuần tuý. Hơn
nữa, đến nhà Thái học hỏi về đạo trị nước, ra nơi
điện đình thi chọn bọn học trò, then máy cổ võ lại
càng chu đáo lắm. Đã sai quan chọn bọn học trò,
then máy cổ võ lại càng chu đáo lắm. Đã sai quan
trùng tu Quốc tử giám và làm mới nhà bia, lại nghĩ
tới hai khoa Ất Sửu, Mậu Thìn chưa có dựng bia,
liền sai quan khắc bia soạn ký để dựng lên. Như
vậy có thể thấy được cái ý tôn sùng đạo học, khuyến
khích hiền tài sâu sắc dường nào!
Nhâm Thân, [Hồng Thuận] năm thứ 4 [1512] , (Minh
Chính Đức năm thứ 7). Mùa xuân, tháng giêng, sai
võ tướng thống lĩnh binh tượng và Đỗ [18a] Nhạc
làm tán lý quân vụ đi các vùng Sơn Tây và Hưng Hoá
để đánh dẹp bọn phản nghịch Nguyễn Nghiêm2212 .
Tháng 3, ngày mồng 3, có thánh chỉ rằng: Người
nào là con cháu công thần khai quốc mà còn phải
ở trong quân ngũ thì cho sắc mệnh phong tặng của
cha ông đến kêu ở cửa quan. Quan bản xứ xét thực,
người nào biết chữ thì được sung làm học sinh ở
Sùng Văn quán, người nào không biết chữ thì sung
làm tuấn sĩ của vệ Cẩm y.
Gia phong Lê Tung làm Thiếu bảo Lễ bộ thượng thư,
Đông các đại học sĩ kiêm Quốc tử giám tế tửu, Tri
kinh diên sự, Đôn Thư bá.
Mùa hạ, tháng 4, khảo thí con cháu các quan viên
về viết chữ và làm toán.
Người nào đỗ, cho sung làm nho sinh và lại điển
ở các nha môn.
Bọn Lê Hy, Trịnh Hưng, Lê Minh Triệt làm loạn ở
vùng Nghệ An. Vua sai bọn Khang quận công Trần Nghi
và Đông các hiệu thư Trần [18b] Dực đi đánh. Vào
đến địa phận Nghệ An, bọn Nghi đằng trước, đằng
sau đều bị giặc đánh. Quan quân vượt xa biển, bị
sóng gió đánh vỡ thuyền, toàn quân bị chết đuối.
Nghi và Dực cũng chết chìm ngoài biển. Bọn Hy,
Hưng tiến sát đến Lôi Dương2213 .
Tháng 5, ngày 16 vua sai Trịnh Duy Sản chỉ huy
quan quân, và Đỗ Nhạc làm Tán lý quân vụ đến Thanh
Hoa, Nghệ An đánh dẹp quân giặc, chém đầu Lê Minh
Triệt đưa về Kinh sư bêu ở phường Đông Tân; bắt
sống được Hy và Hưng đóng cũi giải về Kinh sư rồi
giết.
Thả các dân binh tứ chiếng2214 đã điều động tập
hợp khi trước cho trở về quê cũ. Trong lúc bối rối
nghe tin bọn Trịnh Hưng nổi dậy đánh đến Thanh Hoa,
bấy giờ, trời đã tối, cửa thành đã khoá, có lệnh
gọi các quan ở triều đường tới nghị bàn, lại có
sắc dụ ở ngoài cửa Đại Hưng sai các đại thần [19a]
đi bắt dân binh tứ chiếng tới các địa phương phân
chia vào làm lính nơi đó để phòng đánh giặc. Đến
đây, bọn giặc đã bị diệt, có lệnh thả cho về quê
quán.
Đặt các đội Tả kim đao và Hữu kim đao.
Hạn hán, trong nước đói to.
Làm điện lớn hơn trăm nóc. Trước đây, xã Minh Quyết,
huyện Cẩm Giàng có người thợ Vũ Như Tô (tức tên
đô Nhạn), ở nhà lấy cây nứa dựng thành kiểu điện
lớn trăm nóc, đến đây đem kiểu nhà ấy dâng lên,
khuyên vua xây dựng.
Mùa đông, tháng 10, tặng Dương Trực Nguyên làm
Ngự sử đài đô ngự sử.
Quý Dậu, [Hồng Thuận] năm thứ 5 [1513] , (Minh
Chính Đức năm thứ 8). Mùa xuân, Nghĩa quốc công
Nguyễn Văn Lang chết, tặng phong Nghĩa Huân Vương,
tang lễ theo nghi thức của tước vương, sai đúc vàng
làm tượng.
[19b] Tháng giêng, ngày 26, nhà Minh sai chánh
sứ là Hàn lâm viện biên tu Trạm Nhược Thuỷ, phó
sứ là Hình khoa hữu cấp sự trung Phan Hy Tăng sang
sách phòng vua làm An Nam Quốc Vương và ban cho
một bộ áo mũ quan võ bằng da, một bộ thường phục.
Hy Tăng trông thấy vua, bảo Nhược Thuỷ rằng: "Quốc
vương An Nam mặt thì đẹp mà người lại lệch, tính
háo dâm, là vua lợn, loạn vong sẽ không lâu đâu".
Đến khi về, vua tặng biếu rất hậu. Nhược Thuỷ và
Hy Tăng không nhận. Vua làm thơ tiễn Nhược Thuỷ
rằng:
Phụng chiếu chi thừa xuất cửu trùng, Hoàng hoa
đáo xứ tổng xuân phong. Ân đàm Việt điện sơn xuyên
ngoại, Nhân ngưỡng Nghiêu thiên nhật nguyệt trung.
Văn quỹ xa thư quy hỗn nhất, Uy nghi lễ nhạc ái
chiêu dung. Sứ tinh cảnh cảnh quang huy biến. Dự
hỷ Tam thai thuỵ sắc đồng. (Chiếu phượng ban cho
tự cửu phùng, Hoàng hoa2215 chốn chốn vẫn xuân phong.
Ân trùm cõi Việt non sông khuất, Người ngóng trời
Nghiêu nhật nguyệt chung. Lối xe cỡ chữ thâu về
một2216 , Lễ nhạc uy nghi rõ chữ đồng. Vằng vặc
sứ trời soi sáng khắp, Tam thai2217 ánh đẹp dự vui
cùng). Nhược Thuỷ [20a] hoạ vần đáp lại rằng:
Sơn thành thuỷ quách độ trùng trùng, Sơ tụng tân
thi kiến quốc phong. Nam phục mạc ngôn phân thổ
viễn, Bắc thần trường tại phổ thiên trung. Xuân
phong hạo đăng hoa đông vũ, Hoá nhật chiêu hồi hải
cộng dung. Ký đắc truyền tuyên thiên ngữ ý, Vĩnh
kỳ trung ngoại thái bình đồng. (Thành non, quách
nước trải bao trung, Thơ mới vừa ngâm thấy quốc
phong.
Chớ bảo Nam bang riêng đất lánh, Còn kia Bắc đẩu
khắp trời chung. Gió xuân lồng lộng hoa đua múa,
Trời sáng lâng lâng biển cùng đồng. Nhớ lúc truyền
ban lời thánh chỉ, Thái bình mọi chốn mãi mong cùng).
Bài thơ của vua tiễn Hy Tăng rằng:
Nhất tự2218 hồng vân giả án tiền, Sứ tinh quang
thái chiếu Nam thiên. Lễ quy nghĩa củ chu toàn tế,
Hoà khí xuân phong tiếu ngữ biên. Ân chiếu phổ thi
tân vũ lộ, Viêm phong vĩnh điện cựu sơn xuyên. Tình
tri viễn đại lư hiền nghiệp, Miễn phụ hoàng gia
ức vạn niên. (Từ chốn mấy hồng án đỏ xa, Trời nam
sao sứ rọi quang ba. Lễ nghi quy củ khi thù ứng,
Cười nói tươi vui buổi khí hoà. Ân chiếu rộng ban
mưa móc mới, Viêm bang vững mãi cựu sơn hà. Hiền
thần cơ nghiệp còn cao rộng, Muôn năm gắng sức giúp
hoàng gia). Hy Tăng hoạ vần đáp lại rằng:
Hoàng gia thanh giáo cổ vô tiền, Thử nhật xuân
phong động hải thiên. Long tiết viễn huy Nam đẩu
ngoại, Điểu tinh trường củng [20b] Bắc Thần biên.
Duy viên nghĩa tại tư phân thổ, Nạp hối tài sơ quý
tế xuyên. Lâm biệt hà tu phân trọng tệ, Tặng ngôn
thâm ý ức tha niên. Hoàng gia thanh giáo dậy phương
xa, Trời biển xuân về gợn ánh ba. Long tiết2219
sáng coi ngoài Nam đẩu, Điểu tinh2220 chầu mãi Bắc
thần hoà. Phong đất nghĩa nên làm vách giậu, Can
ngăn tài kém thẹn qua hà, Chia tay chi phải cho
nhiều thứ, Tặng lời thâm ý nhớ hoàng gia). Vua lại
có bài thơ tiễn Nhược Thuỷ rằng:
Thánh triều thị hoá chính văn minh, Nội tướng chí
thừa sứ tiết hành. Thịnh lễ ung dung chiêu độ số,
Chí nhân quảng đăng hoá ân vinh. Lưu thời dục tự
ân cần ý,
Tiễn nhật nan thăng khiển quyển tình. Thử hậu loạn
pha thừa cố vấn. Nam bang dân vật hựu thăng bình.
(Thánh triều trị hoá rất văn minh, Nội tướng vâng
sai ruổi sứ trình. Lễ hậu ung dung rành độ số, Chí
nhân rộng rãi tỏ ân vinh. Khi ở ân cần mong giãi
ý, Lúc xa tha thiết xiết bao tình. Hàn viện sau
này ban hỏi tới, Cõi Nam dân vật được thăng bình.)
Nhược Thuỷ hoạ vần đáp lại rằng:
Lương phú tòng đầu xuân nhật minh, Ngã ca thính
bãi ngã tương hành. Tự thiên tam tích nguyên thù
số, Bạc hải2221 chủ bang thục dữ vinh. Cánh cẩn
chức phương thù thánh đức, Mỗi tương nhân giám sát
quần tình. Lâm kỳ bất dụng trung quân phó, Vạn lý
minh uy [21a] đạo đăng binh. (Ngày xuân Lương Phú
tự bình minh, Ta ca vừa hết, sắp đăng trình. Ba
lượt mệnh trời âu số lạ, Muôn bang góc biển hỏi
đâu vinh. Chức cống càng lo đền thánh đức, Gương
soi năng liệu xét nhân tình. Buổi tiễn cần chi căn
dặn lắm, Muôn dặm minh uy rộng lối bình.) Vua lại
tặng Hy Tăng bài thơ rằng:
Càn khôn thanh thái thuộc tam xuân, Sứ tiết quang
lâm hỷ sắc tân. Bính hoán thập hàng ban Hán chiếu,
Uông dương tứ hải dật Nghiêu nhân. Hung trung băng
ngọc trần vô điểm, Bút hạ châu cơ cú hữu thần. Kim
nhật tinh thiều hồi Bắc khuyết, Tiễn diên bôi tửu
mạc từ tần. (Đất trời trong sáng cảnh đang xuân,
Sứ tiết qua thăm đẹp bội phần. Chói lọi mười hàng
đây Hán chiếu, Mênh mông bốn biển nọ Nghiêu nhân.
Băng ngọc trong lòng không điểm bụi, Châu cơ đầu
bút lắm câu thần. Ngày nay xe sứ quay về Bắc, Chuốc
chén luôn luôn chớ ngại ngần.) Hy Tăng hoạ vần đáp
lại rằng:
Vạn lý quan phong Bách Việt xuân, Chướng yên tiêu
tận vật hoa tân,
Xa thư bất dị Thành Chu chế, Phi dược nguyên đồng
đại tạo nhân. Sảo tự thượng minh lân hải thác, Vĩnh
hoài Chu điểu điện Viêm thần. Uý thiên sự đại vô
cùng ý, Tài nhập tân thi ký ngữ tần. (Muôn dặm ngắm
nhìn Bách Việt xuân, Chướng khí tiêu tan, sáng bội
phần. Xa thư chẳng khác Thành Chu trước, Bay nhảy
nguyên cùng tạo hoá nhân. Như lượng biển xanh dung
sản vật, Nhờ hoài Chu điểu dựng Viêm thần2222 .
Lòng kính sợ trời thờ nước lớn, Lời thơ gửi gắm
ý khôn ngần.) Gia phong Nguyễn Mậu làm Hộ bộ thượng
thư tri Chiêu Văn quán Tú lâm cục, Cẩn Lễ nam.
Tháng 2, ngày 27, vua sai Lại bộ hữu thị lang Nguyễn
[21b] Trang2223 , Hàn lâm viện kiểm khảo Nguyễn
Sư2224 (tức Nguyễn Sư Truyền), Lễ khoa cấp sự trung
Trương Phu Duyệt2225 sang nhà Minh tạ ơn sách phong
và tạ ơn ban mũ áo.
Ngày 28, sứ nhà Minh ở quán Bắc Sứ tìm người viết
chữ đẹp sai viết bạch bài2226 gửi về châu Bằng Tường
của họ, báo chuẩn bị binh phu đợi đón sứ Minh về
nước.
Hôm ấy, vua ngự điện Quang Trị xem voi đấu nhau
với hổ.
Lấy Tiền kim quang môn đãi chiếu Nguyễn Huệ làm
Lễ bộ tả thị lang hành Kim quang môn đãi chiếu,
tri Thượng bảo giám các cục.
Khi vua mới được nước, mất ấn Quốc bảo, không có
gì để khớp với phù khế của nhà Minh, có Kim quang
môn đãi chiếu Nguyễn Huệ biết làm ấn Quốc bảo, vua
sai khắc ấn để khớp với phù khế của nhà Minh, quả
nhiên khớp với ấn của nhà Minh đã ban cho. Lần này
nhà Minh sai bọn Nhược Thuỷ sang phong thì Huệ đã
lui về vì tuổi già. Vua nghĩ [22a] đến công của
ông, lại gọi ra để dùng.
Sông Cơ Xá2227 có rắn hiện ra 20 ngày.
Tháng 3, vua thân hành đến cầu tự ở điện Tường
Quang.
Gia phong Đỗ Nhạc làm Quang Nghiệp đại phu, Thượng
thư Đông các đại học sĩ nhập thị kinh diên.
Vua làm điện Mục Thanh và hai nhà giáp thất2228
đông, tây ở trước điện Phụng Tiên, đem thần chủ
từ Lương Vương Thuyên, Tống Vương Đĩnh trở xuống
phối tự ở đó. Trước kia, điện Phụng Tiên thờ Thái
Tổ Cao Hoàng Đế2229 ở giữa, Tuyên Tổ Hoàng Đế2222
ở bên tả, Hiển Tổ Hoàng Đế2223 ở bên hữu, Thái Tông,
Thánh Tông, Túc Tông thờ ở phía đông về bên tả
thần chủ Tuyên Tổ; Nhân Tông, Hiến Tông, Đức Tông
thờ ở phía tây về bên hữu thần chủ Hữu Hiền Tổ.
Hiếu Kính đường thì thờ Chiêu Hiếu Đại Vương2232
, Quận Ai Vương2233 ở phía đông, Trung Dũng Đại
Vương2234 ở phía tây. Đến đây, làm điện Mục Thanh,
nhà giáp thất phía đông gọi là Chương Đức đường,
để phối tự Chiêu [22b] Hiếu Đại Vương, Quận Ai Vương,
Lương Vương2235 , Đường Vương2236 , Diễn Vương (tên
là Cảo), Ứng Vương (tên là Chiêu), Triệu Vương (tên
là Thoan); nhà giáp thất phía tây gọi là Chiêu Huân
đường để phối tự Trung Dũng Vương (tên là Thạch),
Cung Vương2237 , Tống Vương2238 , Phúc Vương (tên
là Tranh), Quảng Vương (tên là Thuyên)2239 , Trấn
Vương (tên là Kinh), Nghĩa Vương (tên là Cạnh),
Kinh Vương (tên là Kiến).
Mùa hạ, tháng 6, ngày mồng 7, nước lũ, vỡ đê phường
Yên Hoa2240 thông vào hồ Tây.
Lấy Hàn lâm viện kiểm thảo Nguyễn Mậu2241 làm Hiến
sát sứ Thanh Hoa.
Vua thường sai người đi lấy hoa gạo. Mậu dâng sớ
can, trái ý vua, vua sai trung sứ bắt đánh đòn.
Mùa thu, tháng 8, ngày 30, có sắc chỉ rằng: Các
tuấn sĩ vệ Cẩm y, người nào bị sung quân thì khai
lại để đuổi về nguyên quán theo như lệ.
Dựng bia ghi tên tiến sĩ khoa Tân Mùi năm Hồng
Thuận thứ 3. Sai Công bộ thượng thư chưởng bộ sự,
tri Hiển Phúc điện Uy quận công [23a] Nguyễn Bá
Lân trông coi việc dựng bia, Thiếu bảo Lễ bộ thượng
thư, Đông các đại học sĩ kiêm Quốc tử giám tế tửu
tri kinh diên sự Đôn Thư bá Lê Tung soạn bi ký;
Trung thư xá nhân Ngô Ninh viết chữ chân, Tri thượng
bảo giám các cục Nguyễn Huệ viết chữ triện.
Mùa đông, tháng 10, ngày 13, sai Binh bộ hữu thị
lang Nguyễn Trọng Quỳ, Hàn lâm viện thị thư Hứa
Tam Tỉnh, Đề hình giám sát ngự sử Nguyễn Quý Nhã
sang tuế cống nhà Minh.
Phong Diên quận công Lê Nghĩa Chiêu làm Thái phó
Hùng quốc công, gia phong Nguyễn Lữ làm Hộ bộ thượng
thư Quỳnh Nham hầu.
Tháng 12, ngày mồng 3, bọn Thái phó Thọ quận công
Trịnh Hựu kính phụng sắc chỉ rằng: Các công thần
về đời Thuận Thiên có sắc mệnh ban phong và người
họ nhà vua được để tang vua, con cháu trước đã tập
[23b] ấm, sung làm tuấn sĩ vệ Cẩm y thì vẫn giữ
lại ở vệ cũ, người nào chưa được sung bổ thì tiếp
tục cho sung bổ như lệ trước, nếu có ai năm trước
bị đưa vào các vệ khác thì nay trả về ngạch tuấn
sĩ như trước, làm như vậy để khuyến khích, biểu
dương công thần, để tỏ rõ sự thân yêu trong họ.
Giáp Tuất, [Hồng Thuận] năm thứ 6 [1514] , (Minh
Chính Đức năm thứ 9). Mùa xuân, tháng 2, vua bái
yết Tây Kinh.
Vua cày ruộng tịch điền, cày bị gãy.
Tháng 3, thi Hội các sĩ nhân trong nước. Bấy giờ,
người dự thi là 5700 người. Lấy đỗ bọn Nguyễn Bỉnh
Đức (Bỉnh Đức trước tên là Giới, sau đổi thành Ninh
Chỉ, sau lại đổi là Ninh Bang, người phường Thịnh
Quang, huyện Quảng Đức2242 , thi Đình đỗ đồng tiến
sĩ xuất thân, triều Mã làm quan đến thượng thư thiếu
sư Liêm quận công, gồm 43 người.
Mùa hạ, tháng 4, ngày 27, vua thân hành ngự điện
ra đầu bài văn sách hỏi về nhân tài. Sai Tả bình
chương quân quốc trọng sự nhập nội kiểm hiệu thượng
tướng thái uý Lương quốc công [24a] Lê Phụ, Lại
bộ thượng thư tri Chiêu Văn quán Tú lâm cục Đàm
Thận Huy, Công bộ hữu thị lang Lê Tán Tương, Thiếu
bảo Lại bộ thượng thư Do Lễ bá Nguyễn Bá Thuyên,
Hộ bộ thượng thư tri Chiêu Văn quán Tú lâm cục Cẩn
Lễ nam Đoàn Mậu, Thiếu báo Lễ bộ thượng thư Đông
các đại học sĩ kiêm Quốc tử giám tế tửu tri kinh
diên sự Đôn Thư bá Lê Tung, Hình bộ thượng thư Đông
các đại học sĩ nhập thị kinh diên Đỗ Nhạc chia nhau
trông coi việc thi. Cho bọn Nguyễn Đức Lượng, Nguyễn
Chiêu Huấn, Hoàng Minh Tá 3 người đỗ đệ nhất giáp
tiến sĩ cập đệ; bọn Nguyễn Vu 20 người đỗ đệ nhị
giáp tiến sĩ xuất thân; bọn Nguyễn Bỉnh Di 20 người
đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân.
Tháng 5, có chiếu cho các tiến sĩ mới là bọn Nguyễn
Đức Lượng vào điện Thiên Quang làm bài ứng chế,
vua sai làm bài Thiên [24b] Quang điện ký .
Năm ấy có sao Kim mọc ban ngày.
Nước lũ rất lớn, hồ ao trong kinh thành có rắn
lớn xuất hiện đến 20 ngày.
Vua sai đốt pháo, mở cờ, đánh trống để doạ nó.
Sau 4 tháng rắn mới đi.
Đắp thành bao sông Tô Lịch, làm điện Tường Quang.
Vua nghe lời vu cáo của Hiệu uý Hữu Vĩnh (không
rõ họ) giết hết 15 vương công họ tông thất. Cho
gọi cung nhân của Mẫn Lệ công và cung nhân của triều
trước để thông dâm.
Mùa thu, tháng 9, sai thiếu bảo Lễ bộ thượng thư
kiêm Đông các đại học sĩ, kiêm Quốc tử giám tế tửu
tri kinh diên sự Đôn Thư bá Lê Tung soạn bài Đại
Việt thông giám tổng luận2243 (Tung trước tên là
Bang Bản, người làng An Lạc, huyện Thanh Liêm).
Mùa đông, tháng 10, ngày 17, Lại khoa đô cấp sự
trung Phạm Trí Năng tâu rằng: Kể [25a] từ nay, khi
bổ dụng quan chức, Lại bộ phải theo như lệ đời Hồng
Đức, chọn những viên nào ở chức lâu năm, đủ lệ bộ
khảo khoá, có công tích, lòng dân thuận phục mới
được thăng bổ. Nếu Lại bộ thuyên bổ không đúng thì
Hình bộ sẽ theo luật mà trị tội.
Tháng 12, ngày mồng 4, bọn Lễ bộ thượng thư chưởng
bộ sự, Phò mã đô uý Hưng quận công Nguyễn Trinh
tâu rằng: Bản kê sách lễ tập viết và sách vở cùng
một thoi mực cho Phúc quốc trưởng công chúa2244
có nên do Ngự dụng giám làm danh sách hay không,
và xin chiếu phát thêm lễ vật để bày bàn thờ bảy
chục vị học trò [của Khổng Tử]. (Dùng 80 bàn độc,
18 vòng hương đen, 18 bó bạch mộc hương nhỏ, 20
cây nến, 2 lạng chè, 1 cân dầu, 1 lạng thảo vong2245
, thịt hươu muối, thịt hươu khô, dưa muối, lúa mới,
quả táo, rau cần, đậu xanh mỗi thứ 18 mâm, 2 chĩnh
rượu, 36 bó củi, đến ngày thì làm lễ.
Vở thì dùng thứ giấy phương chỉ như giấy viết châm).
[25b] Lấy Trần Sùng Dĩnh làm Hộ bộ thượng thư.
Ất Hợi, [Hồng Thuận] năm thứ 7 [1515] , (Minh Chính
Đức năm thứ 10). Mùa xuân, tháng giêng, sai Thuỵ
quận công Ngô Bính và Nguyên quận công Trịnh Duy
Sản làm Đô tướng, Ngự sử đài thiêm đô
ngự sử Nguyễn Khiêm Bính làm Tán lý quân vụ đi
đánh Phùng Chương ở vùng núi Tam Đảo. Chương thua
chạy.
Tháng 2, vua thân hành xem tập trận ở xã Định Công2246
, khi về, ngự chơi nhà hoàng phi Lê thị2247 .
Thiều Khê bá Ngô Thứ nổi loạn bị giết.
Năm này, bắt các trấn nộp thuyền gỗ để đi đánh
Ai Lao.
Bấy giờ lúa chiêm có cây sinh một hạt thóc hai
nhân gạo.
Lấy Công bộ hữu thị lang Lê Tán Tương làm quyền
Lại bộ hữu thị lang.
Tháng 8, tháng 9, nước to.
Mùa đông, tháng 10, ngày mồng 7, An Hoà hầu Nguyễn
Hoằng Dụ tâu xin thu lúa đồn điền [26a] để chi dùng
cho nhà nước.
Bọn Đặng Hân và Lê Hất làm loạn ở vùng huyện Ngọc
Sơn2248 , Thanh Hoa. Ngày 27, vua sai tướng thống
lãnh binh sĩ, lấy Đỗ Nhạc làm Tán lý quân vụ đi
đánh dẹp.
Bính Tý, [Hồng Thuận] năm thứ 8 [1516] , (Từ tháng
4 trở đi là Chiêu Tông Quang Thiệu năm thứ 1; Minh
Chính Đức năm thứ 11). Mùa xuân, tháng giêng, bấy
giờ là kỳ đại tập các quân, Trần Công Ninh nổi loạn
ở xứ đò Hối, huyện Yên Lãng2249 . Ngày 23, vua sai
Đông các đại học sĩ Đỗ Nhạc trấn giữ Kinh thành,
vua đích thân đem các đại thần văn võ và đô đốc
năm phủ đi theo. Quân ra cửa Bắc Thần, vua ngự ở
hành tại bên sông Nhị Hà, ra lệnh cho các tướng
qua sông tiến đánh, phá tan quân giặc, giết được
rất nhiều. Rồi luận công các tướng sĩ, trao quan
chức cho từng người.
Trước đây, vua thích làm nhiều công trình thổ mộc,
đắp [26b] thành rộng lớn mấy ngàn trượng, bao quanh
điện Tường Quang, quán Chân Vũ, chùa Thiên Hoa ở
phường Kim Cổ, từ phía đông đến phía tây bắc, chắn
ngang sông Tô Lịch, trên đắp hoàng thành, dưới làm
cửa cống, dùng ngói vỡ và đất đá nện xuống, lấy
đá phiến và gạch vuông xây lên, lấy sắt xuyên ngang.
Lại sai làm thuyền chiến, sai thợ vẽ kiểu, sai bọn
nữ sử trần truồng chèo thuyền chơi trên Hồ Tây,
vua cùng chơi, lấy làm vui thích lắm. Người thợ
Vũ Như Tô làm điện lớn hơn trăm nóc, dùng hết tiền
của và sức dân trong nước. Lại làm Cửu Trùng đài,
trước điện đào hồ thông với sông Tô Lịch để dẫn
nước vào, thả thuyền Thiên Quang cho mặc sức du
ngoạn. Hồ ấy quan co khúc khuỷu, mở cửa cống có
thể chở thuyền nhẹ ra vào để rong chơi, cực kỳ xa
xỉ.
Dân chúng đau khổ, binh lính mệt nhọc. Quân năm
phủ đắp thành [27a] chưa xong được, đến đây lại
có lệnh bắt các nha môn ở trong ngoài kinh thành
phải làm, tập hợp nhau lấy hồ, khiêng đất. Vua hàng
ngày bất thần ngự chơi các nơi, chỗ nào vừa ý thì
thưởng cho bài vàng, bài bạc. Có chỗ đã làm xong
lại phải làm lại, sửa đổi xây đắp lại, hết năm này
qua năm khác, liên miên không dứt. Quân lính đắp
thành mắc chứng dịch lệ đến một phần mười.
Tháng 3, nước to.
Ngày mồng 6, Thuần Mỹ điện giám Trần Cảo ở trang
Dưỡng Chân, huyện Thuỷ Đường làm loạn2250 . Cảo
thấy lời sấm nói rằng, phương đông có vượng khí
thiên tử, liền ngầm mưu việc đại nghịch, trá xưng
là cháu chắt của Trần Thái Tông, là họ ngoại của
Quang Thục hoàng hậu2251 , cùng với con là Cung
và bè
đảng là bọn Phan Ất (tức người Chiêm, tên là Đồng
Lợi, nguyên là gia nô của Trịnh Duy Đại), Đình Ngạn,
Đình Nghệ, Công Uẩn, Đình Bảo, Đoàn Bố dấy quân
ở chùa Quỳnh Lâm2252 huyện Đông Triều, chiếm cứ
các nơi ở hai huyện Thuỷ Đường và Đông Triều, trấn
Hải Dương. Cảo mình mặc [27b] áo đen, quân sĩ đều
cạo trọc đầu, tự xưng là Đế Thích giáng sinh, tiếm
xưng niên hiệu là Thiên Ứng.
Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, Trần Cảo đem quân
qua các huyện Tiên Du, Quế Dương, Gia Lâm, tiến
sát đến bến Bồ Đề, bị cách sông không sang được.
Vua đích thân đi đánh, ngự ở điện Trường Thọ (tức
là điện Quỳnh Vân), ra lệnh điều động các tướng.
Bọn Đông Nham bá Lại Thúc Mậu, Quảng Phúc bá Nguyễn
Khắc Nhượng, Minh Vũ bá Trịnh Hồng chỉ huy quan
quân qua sông đánh mạnh đến các vùng Bồ Đề, Lâm
Hạ2253 . Vua sai bắn ba tiếng súng, các quân xông
lên đánh, cả phá quân giặc. Cảo thua chạy về Ngọc
Sơn2254 . Ngày mồng 3, vua sai Định quận công Phùng
Tiến, Diên Hưng bá Trịnh Khổng Chiêu, Phú Lộc bá
Trịnh Ngạc đem quan quân đi đánh mấy lần không được.
Tiến và Khổng Chiêu đều bị tử trận. Trịnh Ngạc bị
bắt, Cảo muốn cho làm quan, nhưng Ngạc [28a] không
chịu khuất mà chết. Hoằng Dụ đem quân đóng ở dinh
Bồ Đề.
Trịnh Duy Sản giết vua ở cửa nhà Thái Học. Trước
đây, Duy Sản vì nhiều lần can ngăn trái ý vua, bị
đánh bằng trượng. Duy Sản mới cùng với bọn Lê Quảng
Độ, Trình Chí Sâm mưu việc phế lập, bèn sửa soạn
thuyền bè, khí giới ở bến Thái Cực2255 , nói phao
lên là đi đánh giặc. Đêm mồng 6, hồi canh hai, đem
hơn 3000 người ở các vệ Kim ngô và Hộ vệ vào cửa
Bắc Thần. Vua nghe tin ấy, ngờ là có giặc đến, bèn
ngự ra ngoài cửa Bảo Khánh. Ngày mồng 7, mờ mờ sáng,
có Thừa chỉ Nguyễn Vũ theo vua đi tắt qua cửa nhà
Thái Học. Đến hồ Chu Tước, phường Bích Câu2256 ,
vua gặp Duy Sản và hỏi: "Giặc ở phương nào?".
Duy Sản không trả lời, quay nhìn chỗ khác cười ầm
lên. Vua quất ngựa chạy về phía tây. Duy Sản sai
vũ sĩ là tên Hạnh [28b] cầm giáo đâm vua ngã ngựa
chết rồi giết chết. Nguyễn Vũ cũng chết theo vua.
Đem xác vua về quán Bắc Sứ, khâm liệm2257 rồi đem
thiêu (có thuyết nói: Để xác ngang trên mình ngựa,
đem về cửa Nam Thiệu ở viện Đãi Lậu, chỗ phủ Tể
tướng). Khâm Đức hoàng hậu (tên thuỵ là Đôn Tiết),
cũng tự nhảy vào lửa chết. Quân sĩ đem hai quan
tài về chôn ở làng Ngự Thiên, giáng phong vua làm
Linh Ẩn Vương (nay có điện Quang Hiếu ở xã Mỹ Xá,
huyện Ngự Thiên). Hậu họ Nguyễn, tên huý là Đạo,
con gái viên quản lĩnh ở hương Văn Giang. Nguyễn
Vũ người làng Thiên Mỗ2258 , huyện Từ Liêm, do đỗ
tứ trường kỳ thi Hương, viết chữ thảo đẹp, lại đem
thơ quân ứng nghĩa2259 , từ đầu, làm quan đến Binh
bộ tả thị lang, được vua rất yêu quý. Khoa thi Hội
năm Giáp Tuất2260 . Vũ đã 58 tuổi, văn viết lủng
củng, đã không được trúng tuyển. Vua cho thi lại,
lấy đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân. Không bao
lâu, làm tới Hình bộ thượng thư kiêm Bảo Thiên điện
Đông [29a] các đại học sĩ, Hàn lâm viện thừa chỉ
nhập thị kinh diên, ngày đêm uống rượu đánh bạc
ở nội điện, bị người bấy giờ coi khinh. Đến nay
đi theo vua, bảo con rằng: "Ăn lộc của vua,
phải chết vì nạn của vua", cũng bị Duy Sản
giết.
Linh Ẩn gian dâm với vợ lẽ của cha, để tang cha
mẹ ít ngày, mượn tên của anh để cướp nước của người
khác2261 , xa hoa dâm dục quá độ, hình phạt nặng,
thuế khoá
nhiều, giết hết các thân vương, can qua xảy ra
khắp nơi, người thời ấy gọi là "vua lợn",
điềm nguy vong đã được thấy đó!
Bấy giờ, Duy Sản đã giết vua, liền bàn mưu với
người tông thất và đại thần, định lập Quang Trị,
con của Mục Ý Vương2262 , nhưng Vũ Tá hầu Phùng
Mại không nghe, bàn lập con trưởng của Cẩm Giang
Sùng là Y. Tường quận công Phùng Dĩnh sai lực sĩ
giết Mại ở Nghị sự đường trong cung cấm rồi lập
[29b] Quang Trị (khi ấy 8 tuổi). Mới được 3 ngày,
chưa kịp đổi niên hiệu, thì Trịnh Duy Đại đem về
Tây Đô2263 .
Bấy giờ An Hoà hầu Nguyễn Hoằng Dụ đóng quân ở
Bồ Đề, nghe tin Duy Sản làm việc thí nghịch, liền
nổi giận đem quân vượt sông, đốt phá phố xá ở kinh
thành, định cùng với con em gia thuộc tính việc
báo phục, bèn chém Vũ Như Tô ở ngoài cửa kinh thành.
Trước đây, Tô xuất thân là thợ, đem kỹ xảo mê hoặt
vua, được lạm bổ làm đô đốc kiêm coi các sở ở Công
bộ. Bấy giờ, đương làm điện lớn trăm nóc chưa xong,
dân gian ai cũng nghiến răng tức giận. Đến khi vua
bị hại, Như Quang Trị sau bị Duy Đại giết.
Tô cũng bị quăng xác ra ngoài chợ, quan dân ai
cũng chỉ trỏ xác hắn mà chê cười, có người còn nhổ
nước bọt.
Ngày hôm ấy, Trịnh Duy Sản và Lê Nghĩa Chiêu cùng
các bậc huân cựu tông thất đại thần cùng nhau đón
con trưởng của Cẩm Giang Vương là Y lập lên lên
làm vua, khi ấy 14 tuổi. Bọn Duy Sản, Nghĩa Chiêu
thấy Hoằng Dụ đốt [30a] phá kinh thành, bèn sai
lực sĩ Đàm Cử đón vua ngự ra ngoài, về thành Tây
Đô ở Thanh Hoa, hội thề dấy quân khởi nghĩa. Chỉ
có Lê Quảng Độ ra đầu hàng Trần Cảo. Lúc ấy, thành
đã thất thủ, xã tắc bỏ phế, dân chúng vào thành
tranh nhau lấy vàng bạc, của báu, bạch đàn, xạ hương,
lụa là tơ gai đầy trong dân gian; sách vở, hồ tiêu,
hương liệu các thứ vứt bỏ trên đường phố cao đến
1,2 tấc, không thể kể xiết. Người mạnh khoẻ tranh
cướp vàng bạc, có người lấy được đến ba, bốn trăm
lạng, người yếu cũng được đến hơn hai trăm lạng.
Cung khuyết, kho tàng do vậy mà hết sạch.
Sứ bộ tuế cống trước đây là bọn Binh bộ hữu thị
lang Nguyễn Trọng Quỳ, Hứa Tam Tỉnh, Nguyễn Quý
Nhã, về đến châu Bằng Tường, nghe tin Trần Cảo làm
loạn, chiếm giữ vùng Lạng Nguyên2264 đường sá bị
tắc. Thông sự Hà Công Miễn và Đỗ Khánh Dư [30b]
bàn đem tiền của nhà nước giao cho Cảo, đến năm
Quang Thiệu thứ 6, bị bọn Trọng Quỳ giết chết2265
.
Ngày 11, Trần Cảo lấy được Kinh thành, tiếm đặt
niên hiệu là Thiên Ứng, ra triều đường làm việc,
dùng Lê Quảng Độ coi việc nước. Bấy giờ, Đô lực
sĩ Thiết sơn bá Trần Chân người xã La Ninh2266 huyện
Từ Liêm, tập hợp các cựu dũng sĩ và hương binh con
em được 5,6 nghìn người, dấy binh ở chợ Hoàng Hoa2267
. Cảo nghe tin, bèn chia đường sai Phan Ất từ xã
Bảo Đà, huyện Thanh Oai tiến đánh. Chân cũng từ
xã Dư Dụ, huyện Thanh Đàm kéo đến. Chân đem quân
đón đánh trước, tiến đến Cồn bắn2268 đánh nhau dữ
dội với Ất, khí giới hết cả, liền lấy vò vại nhỏ
ném vào quân của Ất. Chân bị thương ở răng, miệng
rất đau, lại vì quân bị cô lập không có cứu viện,
khó lòng giữ lâu, bèn đang đêm rút về đóng quân
ở chợ Hoàng Hoa. Khi ấy bọn Dương Bảo cũng có hịch
giúp nước đánh giặc Cảo.
[31a] Vua từ thành Tây Đô, tập hợp giữa quân ba
phủ2269 sai Trịnh Duy Sản theo đường Thiên Quan,
Ứng Thiên tiến phát; Nguyễn Hoằng Dụ theo đường
phủ Trường Yên, Lý Nhân tiến phát; chính dinh Bình
Phú hầu Nguyễn Văn Lự2270 và Vĩnh Hưng hầu Trịnh
Tuy2271 đem quân thuỷ bộ cùng tiến thẳng đến Đông
Kinh. Đồng thời gửi hịch cho các phủ huyện. Ngày
19, vua đến Tiêu Viên2272 . Trần Chân đi trước quân
sĩ, một mình đến hành tại bái yết vua.
Ngày 23, bọn Chiêu An Sơn Nam dinh phó tướng An
Tín bá Trịnh Hy, Đề sát Lê Sạn2273 , tán lý Lê Dực2274
, ký lục Trương Huyền Linh kế tiếp tiến vây ngoài
cửa Đại Hưng. Cảo dẫn bọn phản nghịch lên lầu cửa
Đại Hưng, phất cờ, bắn súng để chống lại quan quân.
Một lát sau, thấy ba toán quân trọc đầu từ cầu Muống2275
, tiến vào cung Thuỵ Quang. Trịnh Tuy lùi dần, rút
về Hồng Mai động thì gặp [31b] quân của Nguyễn Hoằng
Dụ, nên lại tiến vào. Khi ấy, Trịnh Duy Sản chỉ
huy các quân thủy bộ cùng tiến, vây bốn mặt thành.
Duy Sản đánh giặc từ bến Thái cực đến bến Đông Hà2276
. Quân giặc thua to. Trịnh Hy vây từ ngoài cửa Đại
Hưng. Cảo đóng cửa thành cố thủ. Duy Sản vây phía
tây bắc thành, lại gặp bọn giặc phản nghịch ở Sơn
Tây là Hà Công Chân đem quân tiến sát thành định
giết Cảo và tranh lập với vua. Duy Sản cố sức đánh,
Công Chân bị thua và tử trận. Bấy giờ, Tả kiểm điểm
Lê Liễn đánh thua, bị tử trận ở Dịch Vọng (tên xã)2277
. Cảo mở cửa thành chạy qua sông Thiên Đức2278 ,
trốn lên Lạng Nguyên.
Ngày 24, vua đóng ở Thanh Đàm (tên xã).
Ngày 25, Lương Văn hầu Nguyễn Thì Ung cùng với
bọn Đỗ Nhạc rước vua về Kinh.
Ngày 27, vua khôi phục ngôi báu, đại xá, lấy năm
này làm Quang Thiệu năm thứ 1. Khi ấy, Quang Trị
ở Tây Đô. Sau [32a] bị Văn quận công Trịnh Duy Đại
giết, hai em của Trị cũng bị hại.
Tội ác của Sản, Đại thực quá lắm. Ngày sau, phải
chết bất đắc kỳ tử bởi tay người khác cũng là đáng
lắm!
Mùa hạ, tháng 6, ngày 28, Thái phó Hùng quốc công
Lê Nghĩa Chiêu bàn định lệnh thưởng công cho ai
bắt được cha con Trần Cảo. Nếu bắt được Cào thì
được thưởng cho 50 người. Một người đứng đầu được
ban chức Hữu đô đốc, trật tòng nhất phẩm, được ấn
phong ba đời, không muốn làm quan thì được ban 300
lạng vàng, 2.000 mẫu ruộng; một người đứng thứ hai
được trao chức đô chỉ huy sứ, trật chánh tam phẩm,
được ấn phong ba đời; một người đứng thứ ba được
trao chức đô chỉ huy sứ đồng tri, trật tòng tam
phẩm; 10 người theo bắt được trao chức chỉ huy thiêm
sự, trật chánh tứ phẩm; 13 người theo bắt tiếp [32b]
được trao chức chỉ huy đồng tri. Nếu bắt được con
của tên phản nghịch Cảo thì thưởng cho 20 người,
một người đứng đầu được trao chức đô đốc đồng tri.
Mùa thu, tháng 8, bắt được đồ đảng của Trần Cảo
là Phan Ất ở huyện Đông Triều, đóng cũi giải về
Kinh sư, đem chém ở phường Đông Hà.
Sai Trịnh Duy Sản tiết chế các doanh thủ bộ, lấy
Ngự sử đài thiên đô ngự sử Phạm Khiêm Bính làm tán
lý quân vụ đi đánh dẹp vùng Hải Dương; Vĩnh Hưng
hầu Trịnh Tuy, An Mỹ hầu Lại Thúc Mậu và Đàm Cử
(người xã Lãng Sơn Đông2279 huyện Quế Dương) đem
quản bộ đi đánh dẹp vùng Kinh Bắc; Do Lễ bá Nguyễn
Bá Tuấn về vỗ yên các huyện ở Từ Sơn (tên phủ).
Bá Thuần về đến Quế Dương, bị người làng giết. Bọn
Tuy tiến đến đóng đinh ở Thị Cầu, huyện Vũ Ninh2280
.
Tháng 9, ngày 13, Lê Nghĩa Chiêu lại bàn lệnh thưởng
công bắt tướng nguỵ.
[33a] Bắt được đại tướng nguỵ: khó thì thưởng 10
người, dễ thì thưởng cho 5 người; một người công
đầu bắt được tướng nguỵ, khó thì trao chức đô chỉ
huy sứ trật tòng tam phẩm, dễ thì trao chức đô chỉ
huy thiêm sự trật chánh tứ phẩm.
Bắt được phó tướng nguỵ: khó thì thưởng cho 8 người,
dễ thì thưởng cho 4 người.
Lại định lệnh thưởng công những công thần bắt được
tên phản nghịch Cảo và các quan chức nguỵ. Lại định
lệnh thưởng công các lực sĩ, dũng sĩ, võ sĩ, tuấn
sĩ và con cháu công thần bắt được tướng nguỵ.
Mùa đông, tháng 11, lại sai Trịnh Duy Sản, Nguyễn
Hoằng Dụ cùng với Minh Vũ hầu Trịnh Củng, Quảng
Phúc bá Nguyễn Khắc Nhượng thống lĩnh quan quân
đi đánh Trần Cảo ở chùa Sùng Nghiêm trên sườn núi
xã Trâu Sơn, huyện Chí Linh2281 .
Khi ấy, Duy Sản thấy quân sĩ khó nhọc đã lâu mà
giặc Cảo vẫn chưa diệt được, bèn làm bài văn để
uý lạo các tướng sĩ2282 . Lại sai tỳ tướng Thiết
sơn bá Trần Chân2283 , quay về [33b] Kinh sư đánh
bọn Đa Sĩ. Trước đó, Đa Sĩ cậy có công lao hoành
hành trong Kinh, cưỡng hiếp con gái chưa chồng,
gian dâm vợ của người khác, cho nên Duy Sản sai
Chân về đánh. Bấy giờ, có sao sa xuống trung doanh.
Quân Duy Sản tiến đến Chí Linh (tên huyện), giáp
chiến với quân Cảo ở xã Nam Giản2284 . Viên tỳ tướng
tên là Hạnh chết tại trận. Duy Sản thấy giặc khiêu
chiến, có ý muốn đánh, các tướng can không được.
Giặc lại khiêu chiến. Duy Sản tức giận chia đường
tiến đánh, tự mình xông lên trước quân lính. Duy
Sản và Nguyễn Thượng đều bị Trần Cảo bắt được, đem
về hành quán ở Vạn Kiếp giết chết. Cảo tiến thẳng
đến Bồ Đề, vua sai Thiết Sơn bá Trần Chân tiến đánh,
phá tan được, chém giết rất nhiều. Cảo phải chạy
trốn về Lạng Nguyên không dám ra đánh nữa, lấy sông
Nguyệt2285 làm ranh giới. Chân cầm cự với quân Cảo.
Cảo truyền ngôi cho con là Cung, tiếm xưng niên
hiệu là Tuyên hoà. Sau Cảo cạo [34a] đầu làm sư,
ẩn trốn được thoát. Nay các thôn Bảo Lộc, An Lạc,
Chu Nguyên2286 vẫn còn đền thờ Cảo, có lẽ Cảo chết
ở đó.

XEM
TIẾP
|