Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư
Quyển II
Kỷ Nhà Triệu (207 - 110 TCN)
K ỷ N h à T r i ệ u38
Vũ Đế
Ở ngôi 71 năm [207 - 136 TCN], thọ 121 tuổi [256
- 136 TCN].
Họ Triệu, nhân lúc nhà Tần suy loạn, giết trưởng
lại Tần, chiếm giữ đất Lĩnh Nam, xưng đế, đòi ngang
với nhà Hán, hưởng nước truyền ngôi 100 năm mới
mất, cũng là bậc vua anh hùng.
Họ Triệu, tên húy là Đà, người huyện Chân Định39
nước Hán, đóng đô ở Phiên Ngung (nay ở tỉnh Quảng
Đông)40 .
Giáp Ngọ, năm thứ 1 [207 TCN] , (Tần Nhị Thế năm
thứ 3). Vua chiếm lấy đất Lâm Ấp41 và Tượng Quận,
tự lập làm Nam Việt Vương.
Ất Mùi, năm thứ 2 [206 TCN] , (Tây Sở Bá Vương
Hạng Tịch năm thứ 1; Hán Vương Lưu Bang năm thứ
I). Năm ấy nhà Tần mất.
[1b] Đinh Dậu, năm thứ 4 [204 TCN] , (Sở Hạng Tịch
năm thứ 3; Hán Lưu Bang năm thứ 3). Mùa đông, tháng
10, ngày 30, nhật thực. Tháng 11, ngày 30, nhật
thực.
Mậu Tuất, năm thứ 5 [203 TCN] , (Sở Hạng Tịch năm
thứ 4; Hán Lưu Bang năm thứ 4). Mùa thu, tháng 7,
sao Chổi mọc ở khu vực sao Đại Giác.
Kỷ Hợi, năm thứ 6 [202 TCN] , (Hán Cao Đế năm thứ
5). Mùa xuân, tháng 2, Hán Vương lên ngôi hoàng
đế. Năm ấy Tây Sở mất.
Quý Mão, năm thứ 10 [198 TCN], (Hán Cao Đế năm
thứ 9). Vua sai hai sứ coi giữ hai quận Giao Chỉ
và Cửu Chân.
Ất Tỵ, năm thứ 12 [196 TCN], (Hán Cao Đế năm thứ
11) Nhà Hán đã định được thiên hạ, nghe tin vua
cũng đã xưng vương ở nước Việt, mới sai Lục Giả
sang phong vua làm Nam Việt Vương, trao cho ấn thao42
và con so bổ đôi43 , thông sứ với nhau, bảo vua
giữ yên đất Bách Việt, chớ cướp phá. Khi sứ đến,
vua ngồi xổm mà tiếp Lục Giả. Giả nói: "Vương
vốn là [2a] người Hán, họ hàng mồ mả đều ở nước
Hán, nay lại làm trái tục nước mình, muốn chiếm
đất này làm kẻ địch chống chọi với nhà Hán, há chẳng
lầm hay sao? Vả lại, nhà Tần mất con hươu44 , thiên
hạ đều tranh nhau đuổi, chỉ có Hán Đế khoan nhân
yêu người, dân đều vui theo, khởi quân từ đất Phong
Bái mà vào Quan Trung trước tiên để chiếm giữ Hàm
Dương, dẹp trừ hung bạo. Trong khoảng 5 năm, dẹp
yên loạn lạc, bình định bốn biển, đó không phải
là sức người làm nổi, tức là trời cho. Hán Đế nghe
vương làm vua ở đất này, từng muốn quyết một phen
được thua, nhưng vì dân chúng lao khổ vừa xong cho
nên phải bỏ ý định, sai sứ mang ấn thao cho vương,
đáng lẽ vương phải ra ngoài giao45 nghênh đón bái
yết để tỏ lòng tôn kính. Nay đã không làm thế, thì
nên sắm lễ mà tiếp sứ giả mới phải, sao lại cậy
dân Bách Việt đông mà khinh nhờn sứ giả của thiên
tử? Thiên Tử nghe biết, phát binh sang hỏi tội,
thì vương làm thế nào?". Vua ra dáng sợ hãi,
đứng dậy nói: "Tôi ở đất này lâu ngày [2b]
quên mất cả lễ nghĩa". Nhân hỏi Giả rằng: "Tôi
với Tiêu Hà, Tào Tham ai hơn?"46 Giả nói: "Vương
hơn chứ". Lại hỏi: "Tôi với vua Hán ai
hơn?". Giả nói: "Hán Đế nối nghiệp của
Ngũ Đế Tam Vương, thống trị người Hán kể hàng ức
vạn người, đất rộng hàng muôn dặm, vật thịnh dân
giàu, quyền chính chỉ do một nhà, từ khi trời đất
mở mang đến nay chưa từng có. Nay dân của vương,
chẳng qua mười vạn ở, ở xen khoảng núi biển, chỉ
ví như một quận của nhà Hán, ví với Hán Đế sao được?".
Vua cười và nói: "Tôi lấy làm giận không được
nổi dậy ở bên ấy, biết đâu chẳng bằng nhà Hán?"
Giả ngồi im lặng, sắc mặt tiu nghỉu. Bèn giữ Giả
ở lại vài tháng. Vua nói: "Ở đất Việt này không
ai đủ để nói chuyện được. Nay ông đến đây hàng ngày
tôi được nghe những chuyện chưa từng nghe."
Cho Giả đồ châu báu giá nghìn vàng để làm vật bỏ
bao. Đến khi Giả về, lại cho thêm nghìn vàng nữa.
[3a] Bính Ngọ, năm thứ 13 [195 TCN], (Hán Cao Đế
năm thứ 12). Mùa hạ, tháng 4, vua Hán băng.
Canh Tuất, năm thứ 17 [191 TCN], (Hán Huệ Đế Doanh
năm thứ 4). Mùa hạ, nhà Hán dựng Nguyên Miếu ở phía
bắc sông Vị.
Quý Sửu, năm thứ 20 [188 TCN], (Hán Huệ Đế năm
thứ 7) Mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng một, nhật
thực. Mùa hạ, tháng 5, nhật thực, mặt trời bị che
khuất hết. Mùa thu, tháng 8, vua Hán băng.
Ất Mão, năm thứ 22 [186 TCN], (Hán Cao Hậu Lữ Trĩ
năm thứ 2). Mùa hạ, tháng 6, ngày 30, nhật thực.
Đinh Tỵ, năm thứ 24 [184 TCN], (Hán Cao Hậu năm
thứ 4). Nhà Hán cấm nước Nam Việt mua đồ sắt ở cửa
quan. Vua nói: "Khi Cao Đế lên ngôi, ta cùng
thông sứ chung đồ dùng. Nay Cao Hậu nghe lời gièm
pha, phân biệt đồ dùng Hán, Việt. Việc này tất là
mưu kế của Trường Sa Vương47 muốn dựa uy đức của
nhà Hán mưu lấy nước ta mà làm vua cả, tự làm công
của mình".
[3b] Mậu Ngọ, năm thứ 25 [183 TCN], (Hán Cao Hậu
năm thứ 5). Mùa xuân, vua lên ngôi hoàng đế, đem
quân đánh Trường Sa, đánh bại mấy quận rồi về.
Canh Thân, năm thứ 27 [181 TCN], (Hán Cao Hậu năm
thứ 7). Nhà Hán sai Lâm Lư hầu Chu Táo sang đánh
Nam Việt để báo thù việc đánh Trường Sa. Gặp khi
nắng to ẩm thấp, bệnh dịch phát, bèn bãi quân. Vua
nhân thế dùng binh uy và của cải để chiêu vỗ Mân
Việc và Âu Lạc ở phía tây (tức là Giao Chỉ và Cửu
Chân), các nơi ấy đều theo về, từ đông sang tây
rộng hơn vạn dặm. Vua ngồi xe mui vàng, dùng cờ
tả đạo48 , cho là nghi vệ ngang với nhà Hán.
Tân Dậu, năm thứ 28 [180 TCN], (Hán Cao Hậu năm
thứ 8). Mùa thu, tháng 7, Cao Hậu băng, các đại
thần đón Đại vương Hằng lên ngôi, tức là Văn Đế.
Nhâm Tuất, năm thứ 29 [179 TCN], (Hán Văn Đế Hằng
năm thứ 1). Vua Hán vì thấy mồ mả tổ tiên của vua
đều ở Chân Định [4a] mới đặt người thủ ấp để trông
coi, tuế thời cúng tế, gọi các anh em của vua cho
làm quan to, ban cho hậu. Vua Hán hỏi Tể tướng Trần
Bình có thể cử ai sang sứ Nam Việt được, Bình nói:
"Lục Giả thời Tiên đế đã từng sang sứ Nam Việt".
Vua Hán gọi Giả cho làm Thái trung đại phu, lấy
một người yết giả49 làm phó sứ, đem thư sang cho
vua. Thư nói: "Kính hỏi thăm Nam Việt Vương
rất lao tâm khổ ý. Trẫm là con vợ lẽ của Cao Đế,
phải đuổi ra ngoài làm phiên vương ở đất Đại, vì
đường sá xa xôi, kiến thức hẹp hòi quê kệch, nên
chưa từng gửi thư. Cao Hoàng Đế lìa bỏ bầy tôi,
Hiếu Huệ Hoàng Đế qua đời, Cao Hậu tự lên trông
coi việc nước, không may có bệnh, người họ Lữ chuyên
quyền làm bậy, một mình khống chế ngự được, mới
lấy con người họ khác nối nghiệp Hiếu Huệ Hoàng
Đế. Nhờ anh linh tông miếu và sức lực của các công
thần, đã giết hết bọn ấy. Trẫm vì các vương hầu
và quan lại không cho từ chối, không thể không nhận,
nay đã lên ngôi. Mới rồi nghe nói vương có gửi thư
cho tướng [4b] quân Lâm Lư hầu, muốn tìm anh em
thân và xin bãi chức hai tướng quân ở Trường Sa.
Trẫm theo thư của vương, đã bãi chức tướng quân
Bác Dương hầu rồi, còn anh em thân của vương hiện
ở Chân Định, trẫm đã sai người đến thăm hỏi và sửa
đắp phần mộ tiên nhân của vương rồi. Ngày trước
nghe tin vương đem quân đánh biên giới, cướp phá
mãi không thôi, dân Trường Sa khổ sở mà Nam Quận
khổ nhất, nước của vương há được lợi riêng hay sao?
Tất phải chết nhiều quân lính, hại các tướng lại
tài giỏi, làm cho vợ góa chồng, con mồ côi, cha
mẹ mất con, được một hại mười, trẫm không nỡ làm
thế. Trẫm muốn phân định đất phong xen kẽ để chế
ngự lẫn nhau50 , đem việc ra hỏi, bọn quan lại đều
nói: "Cao Hoàng Đế sở dĩ lấy Trường Sa làm
địa giới, vì [quá chỗ đó] là đất của vương, không
nên tự tiện thay đổi". Nay dù lấy được đất
đai của vương cũng không đủ lớn thêm, lấy được của
cải của vương cũng không đủ giàu thêm, cõi đất từ
Ngũ Lĩnh về nam, vương cứ việc trị lấy. Tuy vậy,
vương xưng là [5a] đế, hai đế cùng lập mà không
có xe sứ thông hiếu, thế là tranh nhau. Tranh mà
không biết nhường thì người có nhân không làm. Trẫm
nguyện cùng vương đều bỏ hiềm trước, từ nay trở
đi thông hiếu như xưa. Vì vậy mới sai Lục Giả sang
đưa tờ dụ, để tỏ với vương bản ý của trẫm. Vương
cũng nên nghe theo, chớ làm những việc cướp phá
nữa. Nhân gửi biếu vương 50 chiếc áo bông thượng
hạng, 30 chiếc áo bông trung hạng, 20 chiếc áo bông
hạ hạng. Mong rằng Vương hãy nghe nhạc tiêu sầu
và thăm hỏi nước láng giềng".
Khi Giả đến, vua tạ lỗi nói: "Kính vâng chiếu
chỉ, xin làm phiên vương, giữ mãi lệ cống".
Rồi đó vua hạ chiếu rằng: "Trẫm nghe: hai người
hùng không đứng cùng nhau, hai người hiền không
ở cùng đời. Hoàng Đế nhà Hán là bậc thiên tử hiền
tài, từ nay ta triệt bỏ xe mui vàng và cờ tả đạo
là nghi chế của hoàng đế". Nhân viết thư rằng:
"Man Di đại trưởng lão phu, thần Đà, mạo muội
đáng chết, hai lạy dâng thư lên hoàng đế bệ hạ.
Lão phu vốn là lại cũ ở đất Việt, Cao Đế ban cho
ấn [5b] thao làm Nam Việt Vương. Hiếu Huệ Hoàng
Đế lên ngôi, vì nghĩa không nỡ tuyệt nên ban cho
lão phu rất hậu. Cao Hậu lên coi việc nước lại phân
biệt Hoa - Di, ra lệnh không cho Nam Việt những
khí cụ làm ruộng bằng sắt và đồng; ngựa, trâu, dê
nếu cho thì cũng chỉ cho con đực, không cho con
cái. Lão phu ở đất hẻo lánh, ngựa, trâu, dê đã già.
Tự nghĩ nếu không sắm lễ vật cúng tế, thì tội thực
đáng chết, mới sai nội sử Phan, trung úy Cao, ngự
sử Bình, ba bọn dâng thư tạ lỗi, nhưng đều không
thấy trở về. Lại nghe đồn rằng, phần mộ của cha
mẹ lão phu bị đập phá, anh em họ hàng đều bị giết.
Vì vậy, bọn lại bàn nhau rằng: "Nay bên trong
không được phấn chấn với nhà Hán, bên ngoài không
lấy gì để tự cao khác với nước Ngô". Vì vậy
mới đổi xưng hiệu là đế, để tự làm đế nước mình,
không dám làm điều gì hại đến thiên hạ. Cao Hoàng
Hậu nghe tin cả giận, tước bỏ sổ sách của Nam Việt,
khiến cho việc sai người đi sứ không thông. Lão
phu trộm ngờ là vì Trường Sa Vương gièm [6a] pha,
cho nên mới đem quân đến đánh biên giới. Lão phu
ở đất Việt 49 năm, đến nay đã ẵm cháu rồi, những
vẫn phải dậy sớm, ngủ muộn, nằm không yên chiếu,
ăn không biết ngon, mắt không trông sắc đẹp, tai
không nghe tiếng chuông trống, chỉ vì không được
làm tôi nhà Hán mà thôi. Nay may được bệ hạ có lòng
thương đến,
được khôi phục hiệu cũ, cho thông sứ như trước,
lão phu dù chết xương cũng không nát. Vậy xin đổi
tước hiệu, không dám xưng đế nữa. Kính cẩn sai sứ
giả dâng một đôi ngọc bích trắng, 1.000 bộ lông
chim trả, 10 sừng tên, 500 vỏ ốc màu tía, 1 giỏ
cà cuống, 40 đôi chim trả sống, 2 đôi chim công.
Mạo muội liều chết, hai lạy dâng lên hoàng đế bệ
hạ".
Lục Giả đem thư ấy về báo, vua Hán rất mừng. Từ
đấy Nam Bắc giao hảo, thôi việc binh đao, dân được
yên nghỉ.
Quý Hợi, năm thứ 30 [178 TCN], (Hán Văn Đế năm
thứ 2). Mùa đông, tháng 10, ngày 30, nhật thực.
[6b] Giáp Tý, năm thứ 31 [177 TCN], (Hán Văn Đế
năm thứ 3). Mùa đông, tháng 10, ngày 30 nhật thực.
Tháng 11, ngày 30, nhật thực.
Tân Tỵ, năm thứ 48 [160 TCN], (Hán Văn Đế Hậu Nguyên,
năm thứ 4). Mùa hạ, tháng 4, ngày 30, nhật thực.
Giáp Thân, năm thứ 51 [157 TCN], (Hán Văn Đế năm
thứ 7). Mùa hạ, tháng 6, vua Hán băng, có chiếu
dặn để tang ngắn. Mùa thu, tháng 9, sao Chổi mọc
ở phương tây.
Ất Dậu, năm thứ 52 [156 TCN], (Hán Cảnh Đế Khải,
năm thứ 1). Nhà Hán chiếu sai các quận quốc dựng
miếu Thái Tông.
Bính Tuất, năm thứ 53 [155 TCN], (Hán Cảnh Đế năm
thứ 2). Mùa đông, tháng 11, có sao Chổi mọc ở phương
tây.
Đinh Hợi, năm thứ 54 [154 TCN], (Hán Cảnh Đế năm
thứ 3). Mùa xuân, tháng giêng, có sao Chổi đuôi
dài mọc ở phương tây. Tháng ấy, ngày 30, có nhật
thực.
[7a] Mậu Tý, năm thứ 55 [153 TCN], (Hán Cảnh Đế
năm thứ 4). Mùa đông, tháng 10, ngày 30, nhật thực.
Quý Tỵ, năm thứ 60 [148 TCN], (Hán Cảnh Đế Trung
Nguyên năm thứ 2). Mùa hạ, tháng 4, có sao Chổi
mọc ở phía tây bắc. Mùa thu, tháng 9, ngày 30, có
nhật thực.
Giáp Ngọ, năm thứ 61 [147 TCN], (Hán Cảnh Đế năm
thứ 3). Mùa thu, tháng 9, có sao Chổi mọc ở phía
tây bắc. Tháng ấy, ngày 30, nhật thực.
Ất Mùi, năm thứ 62 [146 TCN], (Hán Cảnh Đế năm
thứ 4). Mùa đông, tháng 10, ngày 30, nhật thực.
Đinh Dậu, năm thứ 64 [144 TCN], (Hán Cảnh Đế năm
thứ 6). Mùa thu, tháng 7, ngày 30, nhật thực. Bấy
giờ vua sai sứ sang nhà Hán thì xưng là vương, giữ
lễ triều yết cũng như các nước chư hầu, ở trong
nước thì theo hiệu cũ [đế].
[7b] Mậu Tuất, năm thứ 65 [143 TCN], (Hán Cảnh
Đế Hậu Nguyên, năm thứ 1). Mùa thu, tháng 7, ngày
30, nhật thực.
Canh Tý, năm thứ 67 [141 TCN], (Hán Cảnh Đế [Hậu
Nguyên] năm thứ 3). Mùa đông51 , tháng 10, mặt trời,
mặt trăng đều sắc đỏ. Tháng 12, sắc mặt trời đỏ
tía, năm sao đi ngược chiều ôm lấy chòm sao Thái
Vi; mặt trăng đi xuyên vào Thiên Đình (Thiên Đình
tức là 10 ngôi sao cung viên Thái Vi ở góc hữu sao
Long Tinh, ở khoảng sao Dực sao Chẩn; ấy là cung
của thiên tử; tòa của ngũ đế).
Mùa xuân, tháng giêng, vua Hán băng.
Nhâm Dần, năm thứ 69 [139 TCN], (Hán Vũ Đế Triệt,
Kiến Nguyên năm thứ 2). Mùa xuân, tháng giêng, ngày
30, nhật thực. Mùa hạ, tháng 4, có sao to bằng mặt
trời mọc ban đêm.
Quý Mão, năm thứ 70 [138 TCN], (Hán Kiến Nguyên
năm thứ 3). Mùa thu, tháng 7, sao Chổi mọc ở phía
tây bắc. Tháng 9, ngày 30, nhật thực.
Giáp Thìn, năm thứ 71 [137 TCN], (Hán Kiến Nguyên,
năm thứ 4). Vua băng, thụy là Vũ Đế. Cháu là Hồ
lên nối ngôi. (Về sau, nhà Trần [8a] phong là Khai
Thiên Thể Đạo Thánh Vũ Thần Triết Hoàng Đế).
Lê Văn Hưu nói: Đất Liêu Đông không có Cơ Tử thì
không thành phong tục mặc áo đội mũ [như Trung Hoa],
đất Ngô Cối không có Thái Bá thì không thể lên cái
mạnh của bá vương. Đại Thuấn là người Đông Di nhưng
là bậc vua giỏi trong Ngũ Đế. Văn Vương là người
Tây Di mà là bậc vua hiền trong Tam Đại. Thế mới
biết người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp,
người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Vũ
Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước,
đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão
phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt
ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm
vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế mà
giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao
thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân,
thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương Bắc
không thể [8b] lại ngấp nghé được.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Truyện [Trung Dung] có
câu: "Người có đức lớn thì ắt có ngôi, ắt có
danh, ắt được sống lâu". [Vũ] Đế làm gì mà
được như thế? Cũng chỉ vì có đức mà thôi. Xem câu
trả lời Lục Giả thì oai anh vũ kém gì Hán Cao. Đến
khi nghe tin Văn Đế đặt thủ ấp trông coi phần mộ
tổ tiên, tuế thời cúng tế, lại ban thưởng ưu hậu
cho anh em, thì bấy giờ vua lại khuất phục nhà Hán,
do đó tông miếu được cúng tế, con cháu được bảo
tồn, thế chẳng phải là nhờ đức ư? Kinh Dịch nói:
"Biêt khiêm nhường thì ngôi tôn mà đức sáng,
ngôi thấp mà không ai dám vượt qua". Vua chính
hợp câu ấy.
Văn Vương
Ở ngôi 12 năm, thọ 52 tuổi.
Vua lấy nghĩa để cảm nước láng giềng, đánh lui
địch, yên biên cảnh, cũng gọi là bậc vua có ý muốn
thịnh trị vậy.
[9a] Tên húy là Hồ, con trai Trọng Thủy, cháu Vũ
Đế.
Bính Ngọ, năm thứ 2 [135 TCN], (Hán Kiến Nguyên
năm thứ 6). Mùa thu, tháng 8, có sao Chổi mọc ở
phương đông, đuôi dài hết trời.
Mân Việt Vương Sính xâm lấn biên ấp nước ta. Vua
giữ ước với nhà Hán, không tự tiện dấy quân, sai
người đem thư nói việc đó với nhà Hán. Nhà Hán khen
là nghĩa, vì vua mà phát đại binh, sai Vương Khôi
xuất quân từ Dự Chương, Hàn An Quốc xuất quân từ
Cối Kê, để đánh Mân Việt.
Hoài Nam Vương [Lưu] An dâng thư can rằng:
"Việt là đất ở ngoài cõi. Dân cắt tóc vẽ mình,
không thể lấy pháp độ của nước đội mũ mang đai mà
trị được. Từ thời Tam đại thịnh trị, người Hồ, người
Việt đã không nhận chính sóc, không phải là vì mạnh
mà không hàng phục được, uy không chế ngự được,
mà vì đất ấy không thể ở được, dân ấy không thể
chăn được, không bõ làm phiền đến Trung Quốc vậy.
Nay họ đánh lẫn nhau mà bệ hạ phát quân đến cứu,
thế là trái lại đem Trung Quốc mà [9b] phục dịch
di dịch vậy.
Vả người Việt khinh bạc, tráo trở, không theo pháp
độ, không phải mới có một ngày. Nay mới không vâng
chiếu mà cất quân đi đánh giết, thần sợ sau này
việc binh cách không biết đến lúc nào thôi. Vừa
rồi mấy năm liền không được mùa, sinh kế của dân
chưa lại như cũ, nay phát binh lấy lương, đi mấy
nghìn dặm lại thêm rừng sâu tre rậm, nhiều rắn độc
thú dữ, tháng hè mùa nắng, các bệnh thổ tả hoặc
loạn phát ra luôn, tuy chưa từng ra quân đọ kiếm
mà chết chóc tất đã nhiều rồi. Thần nghe rằng sau
việc quân lữ, tất là mất mùa, là bởi cái khí sầu
khổ phá sự điều hòa của khí âm dương, cảm đến tinh
khí
của trời đất, tai biến do đấy mà sinh ra. Bệ hạ
đức sánh trời đất, ơn đến cỏ cây, một người đói
rét không được hưởng trọn tuổi trời mà chết, bệ
hạ cũng lấy làm thương xót trong lòng. Hiện nay
trong nước không có tiếng chó sủa báo động mà khiến
quân lính phải dãi dầu [10a] ở đồng nội, ngấm ướt
ở núi hang, khiến dân ở biên cương phải đóng cửa
sớm mở cửa muộn, bữa mai không kịp bữa hôm, thần
An trộm xin bệ hạ thận trọng việc đó.
Vả người Việt nhân tài vật lực yếu mỏng không biết
đánh bộ, lại không biết dùng xe ngựa cung nỏ, thế
mà không thể đem quân vào được, là vì họ giữ được
đất hiểm, mà người Trung Quốc thì không quen thủy
thổ.
Thần nghe ở đường sá người ta nói rằng: Mân Việt
Vương bị em là Giáp giết chết, Giáp cũng đã bị giết
rồi, dân nước ấy chưa thuộc về ai. Nếu bệ hạ sai
trọng thần đến nơi thăm hỏi, ban đức cấp thưởng
để chiêu dụ họ, thế tất họ sẽ dắt trẻ dìu già theo
về thánh đức. Nếu [bệ hạ] không dùng đất ấy làm
gì, thì nước đã mất làm cho còn, dòng đã tuyệt khiến
nối lại, phong làm vương hầu, như thế tất họ phải
đem mình làm tôi, đời đời nộp cống. Bệ hạ chỉ dùng
cái ấn vuông một tấc, dây thao một trượng hai, mà
trấn vỗ được đất ngoài, không phải nhọc mệt tên
lính nào, không phải cùn một chiếc giáo nào, mà
uy đức đều được cả. Nay đem quân [10b] vào đất họ,
họ tất sợ hãi, trốn vào rừng núi; nếu ta bỏ về,
thì họ lại họp đàn tụ lũ, nếu ta ở để giữ, thì hết
năm này sang năm khác, quân lính mệt mỏi, lương
thực thiếu hết, một phương có việc gấp, thì bốn
mặt đều sợ. Thần sợ rằng biến cố sẽ sinh, gian tà
sẽ nổi, đều là bắt đầu từ đấy cả.
Thần nghĩ rằng: quân của thiên tử chỉ đi đánh kẻ
dưới phạm lỗi, chứ không đi đánh nhau để tranh giành,
vì là không ai dám đọ sức. Nếu người Việt làm liều
chống lại quan chấp sự mà trong quân kiếm củi đẩy
xe có kẻ nào không về đủ thì dù có chém được đầu
của Việt Vương, thần cũng lấy làm xấu hổ52 . Bệ
hạ lấy chín châu làm nhà, sinh dân đều là thần thiếp
cả, đất của di địch nào có đủ làm nhàn hạ được một
ngày mà phải phiền đến ngựa đổ mồ hôi mệt nhọc?
Kinh Thi có câu: "Đạo vương tin thực, đất Từ
theo về". Ý nói vương đạo rất lớn mà phương
xa mến phục. Thần An trộm lo rằng tướng lại đem
10 vạn quân đi chỉ làm cái trách nhiệm của một người
[11a] sứ giả mà thôi."
Khi ấy quân nhà Hán chưa qua đèo, Mân Việt Vương
đã phát binh giữ chỗ hiểm để chống cự. Em Mân Việt
Vương là Dư Thiện cùng với người trong họ bàn nhau
rằng: "Vì vương tự tiện đem quân đánh Nam Việt
không xin phép nhà Hán, cho nên nhà Hán đem quân
đến đánh. Quân Hán nhiều và mạnh, dù may mà mình
có đánh được chăng nữa sau họ lại kéo sang nhiều
hơn, chung quy nước cũng bị diệt, chi bằng giết
vương để tạ lỗi với nhà Hán mà xin bãi binh".
Bèn giết Sính, sai sứ đem đầu nộp cho Vương Khôi.
Khôi liền cho đóng quân lại, bảo cho Hàn An Quốc,
rồi sai sứ mang đầu Sính chạy về báo. Vua Hán sai
Trang Trợ sang tỏ ý cho vua biết. Vua rập đầu nói:
"Thiên tử vì quả nhân đem quân giết vua Mân
Việt, quả nhân dù chết cũng không báo đáp được ân
đức ấy". Mới sai thái tử là Anh Tề sang nhà
Hán làm con tin. Nhân bảo Trợ rằng: "Nước tôi
mới bị cướp, sứ giả cứ về trước, quả nhân đang ngày
đêm sắm sửa hành trang để vào triều kiến thiên tử".
Trợ về rồi, bầy tôi đều can [11b] vua rằng: "Quân
nhà Hán giết [Mân Việt Vương] Sính là có ý muốn
cảnh cáo nước Việt ta. Vả lại tiên đế đã nói thờ
nhà Hán cốt không thất lễ thì thôi. Tóm lại chớ
nên tin lời nói khéo, vào chầu vua Hán thì không
về được nữa, đó là thế mất nước đấy." Vua bèn
nói thác là có bệnh rồi không sang yết kiến nữa.
Đinh Mùi, năm thứ 3 [134 TCN], (Hán Nguyên Quang,
năm thứ 1). Mùa thu, tháng 7, ngày 30, nhật thực.
Giáp Dần, năm thứ 10 [127 TCN], (Hán Nguyên Sóc
năm thứ 2). Mùa xuân, tháng 3, ngày 30, nhật thực.
Ất Mão, năm thứ 11 [126 TCN], (Hán Nguyên Sóc năm
thứ 3). Vua ốm nặng, Thái tử Anh Tề ở Hán về.
Bính Thìn, năm thứ 12 [125 TCN], (Hán Nguyên Sóc
năm thứ 4). Vua mất, thụy là Văn Vương. Con là Anh
Tề nối ngôi.
[12a] Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Văn Vương giao thiệp
với nước láng giềng phải đạo, nhà Hán khen là có
nghĩa, đến mức dấy binh đánh giúp kẻ thù; lại biết
nghe lời can, thác bệnh không sang chầu nhà Hán,
giữ phép nhà để mưu cho con cháu, có thể gọi là
không xấu hổ với ông nội. Minh Vương Ở ngôi 12 năm.
Vua không cẩn thận mối vợ chồng, gây thành loạn
cho quốc gia, không có gì đáng khen.
Tên húy là Anh Tề, con trưởng của Văn Vương.
Đinh Tỵ, năm thứ 1 [124 TCN], (Hán Nguyên Sóc năm
thứ 5). Lấy Lữ Gia làm Thái phó.
Kỷ Mùi, năm thứ 3 [122 TCN], (Hán Nguyên Thú năm
thứ 1). Mùa hạ, tháng 5, ngày 30, nhật thực.
Nhâm Tuất, năm thứ 6 [119 TCN], (Hán Nguyên Thú
năm thứ 4). Mùa xuân, sao Chổi mọc ở phía đông bắc.
Mùa hạ, sao Chổi dài mọc [12b] ở phương tây.
Ất Sửu, năm thứ 9 [116 TCN], (Hán Nguyên Đỉnh năm
thứ 1).
Mậu Thìn, năm thứ 12 [113 TCN], (Hán Nguyên Đỉnh
năm thứ 4). Trước kia vua làm thế tử, sang làm con
tin cho nhà Hán ở Trường An, lấy con gái người họ
Cù ở Hàm Đan, sinh con tên là Hưng. Đến khi lên
ngôi, giấu ấn của tiên đế đi, dâng thư sang nhà
Hán xin lập Cù thị làm hoàng hậu, Hưng làm thế tử.
Nhà Hán mấy lần sai sứ giả sang khuyên vua vào chầu.
Vua sợ vào yết kiến phải theo pháp độ nhà Hán ngang
với các chư hầu ở trong, cố ý cáo ốm không đi, bèn
sai con là Thứ công vào làm con tin. Năm ấy vua
mất, thụy là Minh Vương. Con là Hưng nối ngôi.
Ai Vương
Ở ngôi 1 năm [112 TCN]. Mẫu hậu ngang nhiên dâm
loạn, quyền thần chuyên chính, vua hèn tuổi trẻ,
giữ nổi thế nào được. Tên húy là Hưng, con thứ của
Minh Vương.
Năm ấy, vua đã lên ngôi, tôn mẹ là Cù thị là thái
hậu. Trước kia, thái hậu chưa lấy Minh Vương, đã
từng thông dâm với An Quốc Thiếu Quý người Bá Lăng.
An Quốc là họ, Thiếu Quý là tên. Năm ấy nhà Hán
sai An Quốc Thiếu Quý sang dụ vua và thái hậu vào
chầu, như đối với các chư hầu ở trong, lại sai biện
sĩ là bọn Gián nghị đại phu Chung Quân tuyên dụ,
dũng sĩ là bọn Ngụy Thần giúp việc, vệ úy Lộ Bác
Đức đem quân đóng ở Quế Dương để đợi sứ giả. Khi
ấy vua còn ít tuổi, Cù hậu là người Hán, Thiếu Quý
đến, lại tư thông. Người nước biết, phần nhiều không
theo thái hậu. Thái hậu sợ loạn nổi, muốn dựa uy
nhà Hán, nhiều lần khuyên vua và các quan xin nội
phụ nhà Hán. [13b] Bèn nhờ sứ nhà Hán dâng thư,
xin theo như các chư hầu ở trong, cứ 3 năm một lần
vào chầu, triệt bỏ cửa quan ở biên giới. Vua Hán
bằng lòng, ban cho vua và Thừa tướng Lữ Gia ấn
bằng bạc và các ấn nội sử, trung úy, thái phó,
còn các chức khác được tự đặt lấy. Bỏ hình phạt
cũ thích chữ, cắt mũi, dùng pháp luật nhà Hán như
các chư hầu ở trong. Các sứ giả đều ở lại để trấn
giữ vỗ về53 .
Kỷ Tỵ, năm thứ 1 [112 TCN], (Hán Nguyên Đỉnh năm
thứ 5). Vua và thái hậu đã sửa soạn hành trang lễ
vật quý giá để vào chầu. Bấy giờ Tể Tướng Lữ Gia
tuổi đã nhiều, làm tướng trải ba triều, người trong
họ làm trưởng lại đến hơn 7 chục người, con trai
đều lấy con gái vua, con gái đều gả cho con em vua
và người tôn thất, cùng thông gia với Tần Vương
ở quận Thương Ngô, trong nước rất được lòng dân
hơn cả vua. Gia nhiều lần dâng thư can vua, vua
không nghe, nhân thế có lòng muốn làm phản, thường
cáo ốm không tiếp [14a] sứ giả nhà Hán. Các sứ giả
nhà Hán đều chú ý đến Gia, nhưng thế chưa thể giết
được. Vua và thái hậu cũng sợ bọn Gia khởi sự trước,
muốn nhờ sứ giả nhà Hán trù mưu giết bọn Gia. Bèn
đặt tiệc rượu mời sứ giả đến dự, các đại thần đều
ngồi hầu rượu. Em Gia làm tướng, đem quân đóng ở
ngoài cung. Tiệc rượu mới bắt đầu, thái hậu bảo
Gia rằng: "Nam Việt nội thuộc [Trung Quốc]
là điều lợi cho nước, thế mà tướng quân lại cho
là bất tiện là tại sao?", cốt để chọc tức sứ
giả. Sứ giả còn đương hồ nghi, chần chừ chưa dám
làm gì. Gia thấy tai mắt họ có vẻ khác thường, lập
tức đứng dậy đi ra. Thái hậu giận, muốn lấy giáo
đâm Gia, vua ngăn lại. Gia bèn ra chia lấy quân
lính của em dẫn về nhà, cáo ốm không chịu gặp vua
và sứ giả, ngầm cùng các đại thần mưu làm loạn.
Vua vốn không có ý giết Gia, Gia cũng biết thế,
vì vậy đến mấy tháng không hành động gì. Thái hậu
muốn một mình giết Gia nhưng sức không làm nổi.
[14b] Vua Hán nghe tin Gia không nghe mệnh, mà vua
và thái hậu thì cô lập, yếu ớt không chế ngự nổi,
sứ giả thì nhút nhát không quyết đoán, lại thấy
vua và thái hậu đã nội phụ rồi, chỉ một mình Lữ
Gia làm loạn, không đáng dấy quân, muốn sai Trang
Sâm đem 2 nghìn người sang sứ. Trang Sâm nói: "Lấy
sự hòa hiếu mà sang, thì vài người cũng đủ, lấy
vũ lực mà sang, thì 2 nghìn người không làm gì được".
Sâm từ chối không nhận. Vua Hán bèn bãi chức Sâm.
Tướng Tế Bắc cũ là Hàn Thiên Thu hăng hái nói: "Một
nước Việt cỏn con, lại có vương và thái hậu làm
nội ứng, chỉ một mình thừa tướng Lữ Gia làm loạn,
xin cấp cho 3 trăm dũng sĩ, thế nào cũng chém được
Gia về báo". Bấy giờ nhà Hán sai Thiên Thu
và em Cù thái hậu là Cù Lạc đem 2 nghìn người tiến
vào đất Việt. Lữ Gia bèn hạ lệnh cho trong nước
rằng: "Vua còn nhỏ tuổi, thái hậu vốn là người
Hán, lại cùng với sứ giả nhà Hán dâm loạn, chuyên
ý muốn nội phụ với nhà Hán, đem hết [15a] đồ châu
báu của Tiên Vương dâng cho nhà Hán để nịnh bợ,
đem theo nhiều người đến Trường An rồi bắt bán cho
người ta làm đầy tớ, chỉ nghĩ mối lợi một thời,
không đoái gì đến xã tắc họ Triệu và lo kế muôn
đời". Bèn cùng với em đem quân đánh, giết vua
và thái hậu, cùng tất cả bọn sứ giả nhà Hán, rồi
sai người đi báo cho Tần Vương ở Thương Ngô và các
quận ấp, lập con trưởng của Minh Vương là Thuật
Dương hầu Kiến Đức làm vua. Vua bị giết, tên thụy
là Ai Vương.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Tai họa của Ai Vương,
tuy bởi ở Lữ Gia mà sự thực thì gây mầm từ Cù Hậu.
Kể ra sắc đẹp đàn bà có thể làm nghiêng đổ nước
nhà người ta thì có nhiều manh mối, mà cái triệu
của nó thì không thể biết trước được. Cho nên các
tiên vương tất phải đặt ra lễ đại hôn54 , tất phải
cẩn thận quan hệ vợ chồng, tất phải phân biệt hiềm
nghi, hiểu những điều nhỏ nhặt, tất phải chính vị
trong ngoài, tất phải ngăn ngừa việc ra vào, tất
phải dạy đạo [15b] tam tòng, thì sau đó mối họa
mới không do đâu mà đến được. Ai Vương ít tuổi không
thể ngăn giữ được mẹ, Lữ Gia coi việc nước, việc
trong việc ngoài lại không dự biết hay sao? Khách
của nước lớn đến, thì việc đón tiếp có lễ nghi,
chỗ ở có thứ tự, cung ứng có số, thừa tiếp có người,
sao đến nỗI để thông dâm với mẫu hậu? Mẫu hậu ở
thẳm trong cung, không dự việc ngoài: khi nào có
việc ra ngoài, thì có xe da cá, có màn đuôi trĩ,
cung tần theo hầu, sao để đến nỗi thông dâm với
sứ khách được? Bọn Gia toan dập tắt lửa cháy đồng
khi đang cháy rực, sao bằng ngăn ngay cái cơ họa
loạn từ khi chưa có triệu chứng gì có hơn không?
Cho nên nói: Làm vua mà không biết nghĩa Xuân Thu
tất phải chịu cái tiếng cầm đầu tội ác; làm tôi
không biết nghĩa Xuân Thu tất mắc phải tội cướp
ngôi giết vua, tức như là Minh Vương, Ai Vương và
Lữ Gia vậy.
Thuật Dương Vương
[16a] Ở ngôi 1 năm [111 TCN].
Xã tắc họ Triệu, Cù hậu làm cho nghiêng, gốc đã
nhổ trước rồi, ngọn cũng theo mà đổ.
Tên húy là Kiến Đức, con trưởng của Minh Vương
và người vợ Việt.
Bấy giờ, mùa đông, tháng 11, Tể tướng Lữ Gia đã
lập vua lên ngôi, mà quân của Hàn Thiên Thu đã vào
cõi, đánh phá một vài ấp nhỏ. Gia bèn mở một đường
thẳng để cấp lương cho quân, [khi quân nhà Hán]
đến còn cách Phiên Ngung 40 dặm, thì Gia xuất quân
đánh, giết được bọn Thiên Thu. Sai người đem sứ
tiết của nhà Hán cho vào trong hòm để trên núi Tái
Thượng (tức là đèo Đại Dũ) dùng lời khéo để tạ tội,
[một mặt] phát binh giữ chỗ hiểm yếu. Vua Hán nghe
tin, sai Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức xuất phát
từ Quế Dương, Lâu thuyền tướng quân Dương Bộc xuất
phát từ Dự Chương, Qua Thuyền tướng quân55 Nghiêm
(sử chép thiếu họ) xuất phát từ Linh Lăng, Hạ lại
tướng quân Giáp [16b] (sử chép thiếu họ) đem quân
xuống Thương Ngô, Trì Nghĩa hầu Quý56 (sử chép thiếu
họ) đem quân Dạ Lang xuống sông Tường Kha, đều hội
cả ở Phiên Ngung.
Canh Ngọ, năm thứ 1 [111 TCN], (Hán Nguyên Đỉnh
năm thứ 6). Mùa đông, Dương Bộc nhà Hán đem 9 nghìn
tinh binh hãm Tầm Hiệp, phá Thạch Môn (Lữ Gia chất
đá giữa sông gọi là Thạch Môn) lấy được thuyền thóc
của ta kéo luôn cả các thuyền ấy đi, đem mấy vạn
người đợi Phục ba tướng quân Lộ Bác Đức. Bác Đức
nói vì đường xa nên chậm, rồi cùng với Lâu thuyền
tướng quân hội quân tiến đến Phiên Ngung. Bấy giờ
[Lộ Bác Đức] có hơn 1 nghìn người cùng tiến [với
quân Dương Bộc]. Dương Bộc đi trước đến Phiên Ngung.
Vua và Lữ Gia cùng giữ thành. Dương Bộc tự chọn
chỗ thuận tiện đóng ở mặt đông nam; Lộ Bác Đức đóng
ở mặt tây bắc. Vừa chập tối, Dương Bộc đánh bại
[quân Triệu], phóng lửa đốt thành. Bác Đức không
biết quân trong thành nhiều hay ít bèn đóng doanh,
sai sứ chiêu dụ. Kẻ nào ra hàng đều cho ấn thao
và tha cho về để chiêu dụ nhau. Lâu thuyền57 [17a]
tướng quân Dương Bộc cố sức đánh, đuổi [quân Triệu]
chạy ngược vào dinh quân của Lộ Bác Đức. Đến tờ
mờ sáng thì trong thành đầu hàng. Vua và Gia cùng
với vài trăm người, đang đêm chạy ra biển. Bác Đức
lại hỏi những người đầu hàng biết chỗ ở của Gia,
bèn sai người đuổi theo. Hiệu úy tư mã là Tô Hoằng
bắt được vua, quan lang Việt là Đô Kê (có bản chép
là Tôn Đô) bắt được Gia. Bấy giờ quân của Hạ lại
và Qua thuyền tướng quân, cùng quân Dạ Lang của
Trì Nghĩa hầu chưa đến mà nước Việt ta đã bị Lộ
Bác Đức và Dương Bộc dẹp yên rồi. (Bấy giờ nước
Việt ta sai ba quan sứ58 đem 300 con trâu, 1.000
chung rượu và sổ hộ của 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân
và Nhật Nam đến xin hàng; Lộ Bác Đức nhân đó cho
ba người ấy làm thái thú ở 3 quận để trị dân như
cũ). Từ đó [nhà Hán] lấy đất chia làm 9 quận là:
Nam Hải (quận của nhà Tần, nay là đất Quảng Đông
nhà Minh), Thương Ngô (nhà Đường gọi là Ích Châu59
, xưa là Âu Lạc, đất của nước Việt ta), Uất Lâm
(nhà Tần là quận Quế Lâm, Hán Vũ Đế đổi làm tên
này), Hợp Phố (nhà Tần là Tượng Quận, nay thuộc
Liêm Châu), Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (đều là
Tượng Quận thời Tần)60 , Châu Nhai, Đạm Nhĩ (đều
ở trong biển lớn). Từ đấy nhà Hán bắt đầu [17b]
đặt Thứ sử, Thái thú. Chế độ nhà Hán đặt Thứ sử
cai trị một châu, Thái thú cai trị một quận (quận
là cấp dưới của châu) ....
Lê Văn Hưu nói: Lữ Gia can ngăn Ai Vương và Cù
thái hậu không nên xin làm chư hầu nhà Hán, đừng
triệt bỏ cửa quan ở biên giới, có thể gọi là biết
trọng nước Việt vậy. Song can mà không nghe, thì
nghĩa đáng đem hết bầy tôi đến triều đình, trước
mặt vua trình bày lợi hại về việc nước Hán, nước
Việt đều xưng đế cả, có lẽ Ai Vương và thái hậu
cũng nghe ra mà tỉnh ngộ Nếu lại vẫn không nghe
theo, thì nên tự trách mình mà lánh ngôi [tể tướng],
nếu không thế thì dùng việc cũ họ Y61 , họ Hoắc,
chọn một người khác trong hàng con của Minh Vương
để thay ngôi, cho Ai Vương được như Thái Giáp62
và Xương Ấp mà giữ toàn tính mệnh, như thế thì không
lỗi đường tiến thoái. Nay lại giết vua để hả lòng
oán, lại không biết cố chết để giữ lấy nước, khiến
cho nước Việt bị chia cắt, phải làm tôi nhà Hán,
tội của Lữ Gia đáng chết không dung.
[18a] Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Ngũ Lĩnh đối với
nước Việt ta là ải hiểm cửa ngõ của nước cũng như
Hổ Lao của nước Trịnh, Hạ Dương của nước Quắc. Làm
vua nước Việt tất phải đặt quân chỗ hiểm để giữ
nước, không thể để cho mất được. Họ Triệu một khi
đã không giữ được đất hiểm ấy thì nước mất dòng
tuyệt, bờ cõi bị chia cắt. Nước Việt ta lại bị phân
chia, thành ra cái thế Nam-Bắc vậy. Sau này các
bậc Đế Vương nổi dậy, chỗ đất hiểm đã mất rồi, khôi
phục lại tất nhiên là khó. Cho nên Trưng Nữ Vương
tuy đánh lấy được đất Lĩnh Nam, nhưng không giữ
được nơi hiểm yếu ở Ngũ Lĩnh, rốt cuộc đến bại vong.
Sĩ Vương tuy khôi phục toàn thịnh, nhưng bấy giờ
còn là chư hầu, chưa chính vị hiệu, sau khi chết
lại mất hết; mà các nhà Đinh, Lê, Lý, Trần chỉ có
đất từ Giao Châu trở về Nam thôi, không khôi phục
được đất cũ của Triệu Vũ Đế, cái thế khiến nên như
vậy.
Trở lên là. họ Triệu, từ Vũ Đế năm Giáp Ngọ đến
Thuật Dương Vương năm Canh Ngọ là hết, gồm 5 đời,
cộng 97 năm [207 - 111 TCN].
Chú thích:
38 Toàn thư, cũng như nhiều bộ sử thời phong kiến,
quan niệm nhà Triệu là một triều đại chính thống
của nước ta, và viết thành Kỷ Nhà Triệu. Quan niệm
đó, từ thế kỷ XVIII đã bị phê phán, mà người bác
bỏ đầu tiên là Ngô Thì Sĩ, tác giả Việt Sử Tiêu
Án.
39 Nay là huyện Chinh Định, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc.
40 Tức Quảng Châu ngày nay. Ở Quảng Đông vẫn còn
huyện Phiên Ngung.
41 Theo Sử Ký (q. 113: Nam Việt Liệt Truyện): "Khi
nhà Tần đã bị diệt, Đà lập tức đánh lấy Quế Lâm,
Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vương". Ở đây,
văn bản của Toàn Thư, do sao chép hoặc khắc in,
đã nhầm lẫn từ Quế Lâm thành Lâm Ấp.
42 NGuyên văn: "Tỉ thụ" = quả ấn và dây
thao để buộc (và trang sức) quả ấn.
43 Nguyên văn: "Phẫu phù" = vật bằng vàng
bạc, ngọc đá, v.v.... cấp cho người được phong quan
tước, khi cần xác định thì khớp hai nửa với nhau;
tác dụng cũng như phù tiết, nhưng phù tiết thường
là hình ống làm bằng tre gỗ, để cấp cho các viên
quan đi thi hành mệnh lệnh.
44 Dùng ai từ đồng âm (lộc là con hươu, và lộc là
phúc lộc) để nói bóng việc nhà Tần mất nước.
45 Giao: vùng ngoại ô đô thành.
46 Tiêu Hà, Taò Tham: hai người có công đầu trong
việc phò tá Hán Cao Tổ, nối tiếp giữ chức thừa tướng
nhà Hán.
47 Tước của Ngô Nhuế đời Hán Cao Tổ được phong làm
phiên vương ở Trường Sa (nay là phần đất phía đông
tỉnh Hồ Nam).
48 Tả đạo: loại cờ lớn trang sức bằng lông đuôi
cừu, dựng trên xe nhà vua.
49 Yết giả: chức quan đời Tần, Hán, giữ việc giao
thiệp với nước ngoài.
50 Nguyên văn: "định địa khuyển nha chi tương
chế" (phân định đất đai theo kiểu xen kẻ như
răng chó để chế ngự lẫn nhau). Nhà Hán cắt đất phong
kiểu cho xen lọt phần đất của phiên quốc nọ với
phiên quốc kia để dễ bề chế ngự.
51 Sự việc ghi trong năm Canh Tý này (141 TCN),
trước đã nói mùa đông, sau lại ghi việc mùa xuân,
hẳn là việc ở hai năm khác nhau. Hán Cảnh Đế ở ngôi
16 năm, chết năm Canh Tý (xem: Lịch đại đế cương
miếu thụy niên húy phả) đúng như Toàn Thư ghi tại
đây. Vì vậy, điều ghi "mùa đông, tháng 10 ..."
ở trên là ghi lại sự việc trong mùa đông năm trước.
Hoặc cũng có thể coi là văn bản Toàn thư bỏ sót
tiêu mục về năm Kỷ Hợi (142 TCN) mà sự việc về mùa
đông đã ghi nhầm vị trí như trên.
52 Câu này có khác vài chữ so với nguyên văn bức
thư của Lưu An: " .... thần do thiết vị Đại
Hán tu chi": thần cũng trộm xấu hổ cho nhà
Đại Hán (Hán thư, Hoài Nam Vương truyện).
53 Nguyên bản in là: "dụng Hán pháp, tỷ nội
chư hầu giả giai trấn phủ chi", cú pháp và
ý nghĩa đều không ổn. Ở Sử Ký (q.113 Nam Việt liệt
truyện) câu này viết rõ là: " .... dụng Hán
pháp, tỷ nội chư hầu. Sứ giả giai lưu trấn phủ chi".
Như vậy, văn bản của Toàn Thư ở câu trên đây bỏ
sót hai chữ: sứ và lưu. Chúng tôi dịch theo câu
đã chỉnh lý.
54 Đại hôn: là hôn lễ của hoàng đế.
55 Phục ba tướng quân, Lâu thuyền tướng quân, Qua
thuyền tướng quân, Hạ lại tướng quân đều là danh
hiệu cấp tướng quân đời Hán Vũ Đế (phục ba: dẹp
sóng, lâu thuyền: thuyền lầu, hạ lại: xuống thác).
Riêng về tên hiệu Qua thuyền tướng quân, Trương
An chú giải Sử Ký viết: "Người Việt thường
lặn dưới nước để lật úp thuyền, lại thường có thuồng
luồng làm hại cho nên phải cắm qua ở dưới thuyền,
nhân đó mà đặt tên" (qua là một loại vũ khí).
56 Từ Quảng chú giải Sử Ký ghi Trì Nghĩa hầu tên
là Di.
57 Nguyên bản thiếu tờ 17 a-b và đóng nhầm tờ 17
a-b của BK2, chúng tôi theo bản in khác để bổ sung
tờ thiếu này.
58 Ở năm Quý Mão (198 TCN), Toàn thư đã ghi Triệu
Vũ Đế sai hai sứ coi giữ hai quận Giao Chỉ và Cửu
Chân; ở đây lại nói sai ba quan sứ đem sổ hộ của
3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Lời cẩn án
của Cương mục (TB2,2b) dẫn sách Thủy Kinh chú của
Lịch Đào Nguyên cũng chép việc tương tự để đính
chính điều ghi trên đây: chỉ có hai sứ ở hai quận
Giao Chỉ và Cửu Chân, không nói đến quận Nhật Nam.
59 Thương Ngô là tên quận đặt thời Hán, nhà Đường
đổi gọi là Ngô Châu (nay là huyện Thương Ngô, tỉnh
Quảng Tây), chứ không phải là Ích Châu (nay là Tứ
Xuyên) như người chú thích nguyên bản đã nhầm.
60 Xem chú thích 3 tr.138.
61 Họ Y: tức Y Doãn, quan phụ chính của nhà Thương;
sau khi vua Thang chết, cháu nội là Thái Giáp đáng
được nối ngôi, nhưng Giáp kém đạo đức. Y Doãn bèn
đày Giáp đến đất Đồng, sau 3 năm, Thái Giáp hối
cải, Y Doãn lại đón về cho làm vua. Họ Hoắc: là
Hoắc Quang, quan phụ chính của nhà Hán. Sau khi
Hán Chiêu Đế chết, theo di chiếu, Quang rước lập
Xương Ấp Vương lên nối ngôi, nhưng Xương Ấp Vương
dâm loạn, Quang phế đi mà lập Tuyên Đế.
62 Xem chú thích NK1, 8b.

XEM
TIẾP
|