Lịch sử
Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư
Ngoại Kỷ Toàn Thư Q 1
Hồng Bàng, An Dương Vương
Triều Liệt Đại Phu, Quốc Tử Giám Tư Nghiệp, Kiêm
Sử Quan Tu Soạn, Thần Ngô Sĩ Liên Biên
Xét: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới
Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt.
Vua Nghiêu sai Hy thị1 đến ở Nam Giao2 để định đất
Giao Chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia chín châu3 thì
Bách Việt4 thuộc phần đất châu Dương, Giao Chỉ thuộc
về đấy. Từ đời Thành Vương nhà Chu [1063-1026 TCN]
mới gọi là Việt Thường thị5 , tên Việt bắt đầu có
từ đấy.
K ỷ H ồ n g B à n g T h ị
Kinh Dương Vương
Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông6 .
Nhâm Tuất, năm thứ 17 . Xưa cháu ba đời của Viêm
Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau
Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh8 lấy
con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương Vương].
Vua là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu
quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không
dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối
ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh
Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích
Quỷ.
Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long9
sinh ra Lạc Long Quân (Xét: Đường kỷ chép: thời
Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con
gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của
Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với
Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình
đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi).
Lạc Long Quân
Tên húy là Sùng Lãm, con của Kinh Dương Vương.
Vua lấy con gái của Đế Lai là Âu Cơ, sinh ra trăm
con trai (tục truyền sinh trăm trứng), là tổ của
Bách Việt. Một hôm, vua bảo Âu Cơ rằng: "Ta
là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc
nhau, chung hợp thật khó". Bèn từ biệt nhau,
chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở
miền Nam (có bản chép là về Nam Hải), phong cho
con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Khi trời đất mới mở mang,
có thứ do khí hóa ra, đó là Bàn Cổ thị. Có khí hóa
ra rồi sau có hình hóa, không thứ gì ngoài hai khí
âm dương cả. Kinh Dịch nói: "Trời đất nung
ủ, vạn vật thuần hóa, đực cái hợp tinh, vạn vật
hóa sinh"10 . Cho nên có vợ chồng rồi sau mới
có cha con, có cha con rồi sau mới có vua tôi. [2b]
Nhưng thánh hiền sinh ra, tất có khác thường, đó
là do mệnh trời. Nuốt trứng chim huyền điểu mà sinh
ra nhà Thương11 , giẫm vết chân người khổng lồ mà
dấy nhà Chu12 , đều là ghi sự thực như thế. Con
cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy con gái Vụ Tiên
mà sinh Kinh Dương Vương, tức là thủy tổ của Bách
Việt. Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long
Quân, Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai mà có phúc
lành sinh trăm con trai. Đó chẳng phải là cái đã
gây nên cơ nghiệp của nước Việt ta hay sao? Xét
sách Thông Giám Ngoại kỷ (4)13 nói: Đế Lai là con
Đế Nghi; cứ theo sự ghi chép ấy thì Kinh Dương Vương
là em ruột Đế Nghi, thế mà kết hôn với nhau, có
lẽ vì đời ấy còn hoang sơ, lễ nhạc chưa đặt mà như
thế chăng?
Hùng Vương
Con Lạc Long Quân (không rõ tên húy)14 , đóng đô
ở Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc)15 .
Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang
(nước này đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục,
bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức
nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam), chia nước làm
15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc,
Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ
Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu
Đức; đều là đất thần thuộc của Hùng Vương; còn bộ
gọi là Văn Lang là nơi vua đóng đô16 . Đặt tướng
văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng (chữ
Lạc Tướng, sau chép sai là Hùng Tướng17 ). Con trai
vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương.
Quan coi việc gọi là Bồ Chính, đời đời cha truyền
con nối, gọi là phụ đạo. Vua các đời đều gọi là
Hùng Vương. Bấy giờ dân ở rừng núi thấy ở sông ngòi
khe suối đều có tôm cá, nên rủ nhau đi bắt cá để
ăn, thường bị thuồng luồng làm hại, [3b] đến thưa
với vua. Vua nói: "Người man ở núi khác với
các loài thủy tộc; các thủy tộc ấy ưa cùng loài
mà ghét khác loài, cho nên mới bị chúng làm hại.
Rồi vua bảo mọi người lấy mực vẽ hình thủy quái
ở mình. Từ đấy thuồng luồng trông thấy không cắn
hại nữa. Tục vẽ mình của người Bách Việt có lẽ bắt
đầu từ đấy.
Đời Hùng Vương thứ 6, ở hương Phù Đổng, bộ Vũ Ninh
có người nhà giàu, sinh một con trai, đến năm hơn
ba tuổi ăn uống béo lớn nhưng không biết nói cười.
Gặp lúc trong nước có tin nguy cấp, vua sai người
đi tìm người có thể đánh lui được giặc. Ngày hôm
ấy, đứa trẻ bỗng nói được, bảo mẹ ra mời thiên sứ
vào, nói: "Xin cho một thanh gươm, một con
ngựa, vua không phải lo gì". Vua ban cho gươm
và ngựa, đứa trẻ liền phi ngựa vung gươm tiến lên
trước, quan quân theo sau, đánh tan quân giặc ở
chân núi Vũ Ninh18 . Quân giặc tự quay giáo đánh
lẫn nhau, chết rất nhiều, bọn sống sót đều rạp lạy,
tôn gọi đứa trẻ ấy là thiên tướng, liền đến xin
hàng cả. Đứa trẻ phi ngựa [4a] lên trời mà đi. Vua
sai sửa sang chỗ vường nhà của đứa trẻ để lập đền
thờ, tuế thời cúng tế. Về sau, Lý Thái Tổ phong
là Xung Thiên Thần Vương. (Đền thờ ở cạnh chùa Kiến
Sơ, hương Phù Đổng).
Thời Thành Vương nhà Chu [1063-1026 TCN], nước
Việt ta lần đầu sang thăm nhà Chu (không rõ vào
đời Hùng Vương thứ mấy), xưng là Việt Thường thị,
hiến chim trĩ trắng. Chu Công nói: "Chính lệnh
không ban đến thì người quân tử không coi người
ta là bề tôi của mình", rồi sai làm xe chỉ
nam đưa sứ giả về nước.
Cuối thời Hùng Vương, vua có con gái gọi là Mị
Nương, nhan sắc xinh đẹp. Thục Vương nghe tiếng,
đến cầu hôn. Vua muốn gả, nhưng Hùng hầu can rằng:
"Họ muốn chiếm nước ta, chỉ lấy việc hôn nhân
làm cớ mà thôi". Thục Vương vì chuyện ấy để
bụng oán giận. Vua muốn tìm người xứng đáng để gả,
bảo các bề tôi rằng: "Đứa con gái này là giống
tiên, người nào có đủ tài đức mới cho làm rể".
Bấy giờ có hai người từ ngoài đến, lạy dưới sân
để cầu hôn. Vua lấy làm lạ, hỏi thì họ thưa rằng
một người là [4b] Sơn Tinh, một người là Thủy Tinh,
đều ở trong cõi cả, nghe nhà vua có thánh nữ, đánh
bạo đến xin lĩnh mệnh. Vua nói: "Ta có một
người con gái, lẽ nào lại được cả hai rể hiền?".
Bèn hẹn đến ngày hôm sau, ai đem đủ sính lễ đến
trước thì gả cho người ấy. Hai người vâng lời, lạy
tạ ra về. Hôm sau, Sơn Tinh đem các đồ châu báu
vàng bạc, chim núi thú rừng đến dâng. Vua y hẹn
gả con cho. Sơn Tinh đón vợ về ở ngọn núi cao trên
núi Tản Viên. Thủy Tinh cũng đem sính lễ đến sau,
giận tiếc là không kịp, bèn kéo mây làm mưa, dâng
nước tràn ngập, đem các loài thủy tộc đuổi theo.
Vua cùng Sơn Tinh lấy lưới sắt chăng ngang thượng
lưu sông Từ Liêm19 để chặn lại. Thủy Tinh theo sông
khác, từ Ly Nhân vào chân núi Quảng Oai20 rồi theo
dọc bờ lên cửa sông Hát, ra sông lớn21 mà rẽ vào
sông Đà để đánh Tản Viên, nơi nơi đào sâu thành
vực thành chằm, chứa nước để mưu đánh úp. Sơn Tinh
có phép thần biến hóa, gọi [5a]22 người man đan
tre làm rào chắn nước, lấy nỏ bắn xuống, các loài
có vẩy và có vỏ trúng
tên đều chạy trốn cả. Rốt cuộc Thủy Tinh không
thể xâm phạm được núi Tản Viên. (Tục truyền Sơn
Tinh và Thủy Tinh từ đấy về sau đời đời thù oán,
mỗi năm mùa nước to thường vẫn đánh nhau).
Núi Tản Viên là dãy núi cao của nước Việt ta, sự
linh thiêng rất ứng nghiệm. Mị Nương đã lấy Sơn
Tinh, Thục Vương tức giận, dặn lại con cháu phải
diệt Văn Lang mà chiếm lấy nước. Đến đời cháu là
Thục Phán có dũng lược, bèn đánh lấy nước.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Thời Hùng Vương đặt chư
hầu để làm phên giậu, chia nước làm 15 bộ. Ở 15
bộ ấy đều có trưởng và tá. Vua theo thứ bậc cắt
đặt các con thứ để cai trị. Nói 50 con theo mẹ về
núi, làm sao biết không phải là như thế? Vì mẹ làm
quân trưởng, các con đều làm chúa một phương. Cứ
xem như tù trưởng người man ngày nay xưng là nam
phụ đạo, [5b] nữ phụ đạo (nay bản triều đổi chữ
phụ đạo ___ ___ thành chữ phụ đạo ___ ___ thì có
lẽ đúng như thế). Còn như việc Sơn Tinh, Thủy Tinh
thì rất là quái đản, tin sách chẳng bằng không có
sách, hãy tạm thuật lại chuyện cũ để truyền lại
sự nghi ngờ thôi).
Trở lên là [kỷ] Hồng Bàng thị, từ Kinh Dương Vương
được phong năm Nhâm Tuất, cùng thời với Đế Nghi,
truyền đến cuối thời vua Hùng Vương, ngang với đời
Noãn Vương nhà Chu năm thứ 57 [258 TCN] là năm Quý
Mão thì hết, tất cả 2.622 năm [2879 - 258 TCN].
K ỷ N h à T h ụ c
An Dương Vương
Họ Thục, tên húy là Phán, người Ba Thục23 , ở ngôi
50 năm, đóng đô ở Phong Khê (nay là thành Cổ Loa).
Giáp Thìn, năm thứ 1 [257 TCN], (Chu Noãn Vương
năm thứ 58). Vua đã thôn tính được nước Văn Lang,
đổi quốc hiệu là Âu Lạc. Trước kia vua nhiều lần
đem quân đánh Hùng Vương, nhưng Hùng Vương binh
hùng tướng mạnh, vua bị thua mãi. Hùng Vương bảo
vua rằng: "Ta có sức thần, nước Thục không
sợ ư ?" Rồi Hùng Vương bỏ không sửa sang võ
bị, chỉ ham ăn uống vui chơi. Quân Thục kéo sát
đến nơi, hãy còn say mềm chưa tỉnh, rồi thổ huyết
nhảy xuống giếng chết, quân lính quay giáo đầu hàng
Thục Vương.
Bấy giờ Thục Vương đắp thành ở Việt Thường, rộng
nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc, cho nên
gọi là Loa Thành24 , lại có tên là thành Tư Long
(người nhà Đường gọi là thành Côn Lôn, vì thành
rất cao25 ). Thành này cứ đắp xong lại sụt, vua
lấy làm lo, mới trai giới khấn trời đất và thần
kỳ núi sông, rồi khởi công đắp lại.
Bính Ngọ, năm thứ 3 [255 TCN], (Động Chu Quân năm
thứ 1). Mùa xuân, tháng 3, chợt có thần nhân đến
cửa thành, trỏ [6b] vào thành, cười mà nói rằng:
"Đắp đến bao giờ cho xong!". Vua mời vào
điện hỏi, thần nhân trả lời: "Cứ đợi giang
sứ đến". Rồi cáo từ đi ngay. Sáng hôm sau,
vua ra cửa thành, quả thấy có con rùa vàng bơi trên
sông từ phía đông đến, xưng là giang sứ, nói được
tiếng người, bàn được việc tương lai. Vua mừng lắm,
để vào mâm vàng, đặt mâm lên trên điện. Vua hỏi
về nguyên do thành sụp, rùa vàng đáp: "Đó là
do tinh khí núi sông vùng này bị con vua trước phụ
vào để báp thù nước, nấp ở núi Thất Diệu. Trong
núi có con quỷ, đó là người con hát thời trước chôn
ở đấy hóa làm quỷ. Cạnh núi có cái quán, chủ quán
tên là Ngộ Không, có một đứa con gái và một con
gà trắng, đó là dư khí của tinh, phàm người qua
lại ngủ đêm ở đấy đều phải chết vì bị quỷ làm hại.
Chúng có thể gọi nhau họp đàn lũ, làm cho sụp thành.
Nếu giết con gà trắng để trừ tinh khí ấy, thì thành
tự nhiên được [7a] bền vững. Vua đem rùa vàng đến
quán ấy, giả làm người ngủ trọ. Chủ quán nói: "Ngài
là quý nhân, xin đi ngay, chớ lưu lại đây mà bị
họa". Vua cười nói: "Sống chết có mệnh,
ma quỷ làm gì nổi ?". Rồi ngủ lại quán. Đến
đêm nghe tiếng tinh quỷ từ ngoài đến gọi mở cửa,
rùa vàng liền quát mắng, quỷ không vào được, đến
khi gà gáy thì lũ quỷ tan chạy hết. Rùa vàng xin
vua đuổi theo. Tới núi Thất Diệu thì tinh khí biến
mất, vua trở về quán. Sáng sớm, chủ quán tưởng vua
đã chết rồi, gọi người đến để khâm liệm đem chôn.
Thấy vua vẫn vui vẻ cười nói, chủ quán liền sụp
lạy nói: "Ngài làm sao được như thế, tất phải
là thánh nhân!". Vua xin con gà trắng giết
để tế. Gà chết, con gái chủ quán cũng chết theo.
Vua liền sai người đào núi, thấy có nhạc khí cổ
và xương người, đem đốt thành tro, rải xuống sông,
yêu khí mới mất hẳn. Từ đấy, đắp thành không [7b]
quá nửa tháng thì xong. Rùa vàng cáo từ ra về. Vua
cảm tạ, hỏi rằng: "Đội ơn ngài thành đắp đã
vững, nếu có giặc ngoài đến, thì lấy gì mà chống
giữ ?" Rùa vàng bèn trút chiếc móng trao cho
vua và nói: "Nước nhà yên hay nguy đều do số
trời, nhưng người cũng nên phòng bị; nếu có giặc
đến thì dùng móng thiêng này làm lẫy nỏ, nhằm vào
giặc mà bắn thì không phải lo gì". Vua sai
bề tôi là Cao Lỗ (có sách chép là Cao Thông26 )
làm nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy, đặt tên là Linh
Quang Kim Trảo Thần Nỏ.
Cao Vương nhà Đường [tức Cao Biền] dẹp nước Nam
Chiếu, khi đưa quân về qua châu Vũ Ninh, đêm nằm
chiêm bao thấy có người lạ tự xưng là Cao Lỗ, nói:
"Ngày xưa giúp An Dương Vương, có công đánh
lui giặc, bị Lạc hầu gièm pha, phải bỏ đi, sau khi
chết, trời thương không có tội gì, ban cho một dải
núi sông này, cho làm chức quản lĩnh đô thống tướng
quân, làm chủ mọi việc đánh dẹp giặc giã và mùa
màng cày cấy. Nay theo minh công đi dẹp yên quân
giặc, lại trở về bản bộ, không có lời từ biệt thì
không phải lễ. Cao Vương thức dậy, nói chuyện lại
với liêu thuộc, có làm bài thơ:
Mỹ hĩ Giao Châu địa, Du Du vạn tải lai. Cổ hiền
năng đắc kiến, Chung bất phụ linh đài. (Đẹp thay
đất Giao Châu, Dằng dặc trải muôn thâu. Người xưa
nay được thấy, Hả tấm lòng bấy lâu).
Nhâm Tý, năm thứ 9 [249 TCN], (Đông Chu Quân năm
thứ 7; [bấy giờ có] 7 nước là Tần, Sở, Yên, Triệu,
Ngụy, Hàn, Tề). Năm ấy nhà Chu mất.
[8a] Canh Thìn, năm thứ 37 [221 TCN], (Tần Thủy
Hoàng Lữ Chính năm thứ 26). Nước Tần thôn tính cả
6 nước, xưng hoàng đế. Bấy giờ người Từ Liêm, Giao
Chỉ ta, là Lý Ông Trọng27 người cao 2 trượng 3 thước,
lúc ít tuổi đến hương ấp làm lực dịch, bị trưởng
quan đánh, bèn bỏ sang nước Tần làm quan đến chức
Tư lệ hiệu úy. Thủy Hoàng lấy được thiên hạ, sai
ông đem quân đóng giữ đất Lâm Thao28 , uy danh chấn
động nước Hung Nô. Khi tuổi già, về làng rồi chết.
Thủy Hoàng cho ông là người kỳ lạ, đúc đồng làm
tượng, để ở cửa Tư Mã ở Hàm Dương, bụng tượng chứa
được mấy chục người, ngầm lay thì chuyển động được,
Hung Nô tưởng đó là hiệu úy còn sống, không dám
đến xâm phạm (Triệu Xương nhà Đường làm đô hộ Giao
Châu, đêm thường nằm chiêm bao thấy cùng Ông Trọng
giảng bàn sách Xuân Thu, Tả Truyện, nhân hỏi chỗ
ở cũ, rồi dựng đền thờ. Khi Cao Vương đi đánh Nam
Chiếu, thần thường hiển linh giúp sức. Cao Vương
cho sửa lại đền thờ, tạc gỗ làm tượng, gọi là [tượng]
Lý hiệu úy. Đề ở xã Thụy Hương huyện Từ Liêm)29
.
Đinh Hợi, năm thứ 44 [214 TCN], (Tần Thủy Hoàng
năm thứ 33). Nhà Tần phát những người trốn tránh,
người ở rể [8b] người đi buôn, ở các đạo ra làm
binh, sai hiệu úy Đồ Thư đem quân lâu thuyền, sai
Sử Lộc đào ngòi vận lương, đi sâu vào đất Lĩnh Nam,
đánh lấy miền đất Lục Dương, đặt các quận Quế Lâm
(nay là huyện Quý của đất Minh, Quảng Tây)30 , Nam
Hải (nay là tỉnh Quảng Đông) và Tượng Quận (tức
là An Nam)31 ; cho Nhâm Ngao32 làm Nam Hải úy, Triệu
Đà làm Long Xuyên lệnh (Long Xuyên là thuộc huyện
của Nam Hải), đem những binh phải tội đồ 50 vạn
người đến đóng đồn ở Ngũ Lĩnh, Ngao và Đà nhân đó
mưu xâm chiếm nước ta. (Chuế tế: con trai không
có tiền nộp sính lễ, lấy thân ở gửi nhà vợ nên gọi
là chuế tế [ở gửi rể] như cái bướu ở mình người
ta, là vật thừa. Lục Lương là người Lĩnh Nam phần
nhiều ở chỗ núi rừng, trên cạn (lục), tính người
mạnh tợn (cường lương) nên gọi là Lục Lương).
Tân Mão, năm thứ 48 [210 TCN], (Tần Thủy Hoàng
năm thứ 37). Mùa đông, tháng 10, Thần Thủy Hoàng
mất ở Sa Khâu. Nhâm Ngao và Triệu Đà đem quân sang
xâm lấn. Đà đóng quân ở núi Tiên Du, Bắc Giang33
đánh nhau với vua. Vua đem nỏ thần ra bắn, Đà thua
chạy. Bấy giờ Ngao đem thủy quân đóng ở Tiểu Giang
(tức là [con sông] ở phủ [9a] Đô hộ, sau lầm là
Đông Hồ, tức là bến Đông Hồ ngày nay)34 , vì phạm
thổ thần nên bị bệnh, phải rút về. Nhâm Ngao bảo
Đà rằng: "Nhà Tần sắp mất, dùng mưu kế đánh
Phán thì có thể dựng nước được". Đà biết vua
có nỏ thần, không thể địch nổi, bèn lui giữ núi
Vũ Ninh, sai sứ đến giảng hòa. Vua mừng, bèn chia
từ Bình Giang (nay là sông Thiên Đức ở huyện Đông
Ngàn) trở lên phía Bắc thuộc quyền cai trị của Đà,
trở về phía Nam thuộc quyền cai trị của vua. Đà
sai con là Trọng Thủy vào hầu làm túc vệ, cầu hôn
con gái vua là Mỵ Châu. Vua bằng lòng. Trọng Thủy
dỗ Mỵ Châu để xem trộm nỏ thần, rồi ngầm bẻ gãy
lẫy nỏ, thay cái khác vào, giả vờ về Bắc thăm cha
mẹ, bảo Mỵ Châu rằng: "Ân tình vợ chồng không
thể quên nhau, nếu lỡ hai nước không hòa, Nam Bắc
cách biệt, ta lại tới đây thì làm thế nào mà tìm
thấy nhau?". Mỵ Châu nói: "Thiếp có cái
nệm gấm lông ngỗng, thường mang theo mình, đi đến
đâu thì rút lông ngỗng rắc ở chỗ đường rẽ để làm
dấu". Trọng Thủy về báo cho Đà biết.
[9b] Quý Tỵ, năm thứ 50 [208 TCN] (Tần Nhị Thế
Hồ Hợi, năm thứ 2). Nhâm Ngao ốm sắp chết, bảo Đà
rằng: "Tôi nghe nói bọn Trần Thắng làm loạn,
lòng dân chưa biết theo về đâu. Đất này ở nơi xa
lánh, sợ bọn giặc xâm phạm đến đây, muốn cùng ông
chặt đường (đường vào đất Việt do nhà Tần mở), tự
phòng bị, đợi xem chư hầu biến động thế nào".
Đến khi ốm nặng, lại nói: "Đất Phiên Ngung
(nhà Hán gọi là Nam Thành) dựa núi cách sông, đông
tây dài mấy nghìn dặm, vả có người Tần cùng giúp,
cũng đủ dựng nước, dấy vương, làm chủ một phương.
Các trưởng lại trong quận này không người nào đáng
cùng mưu bàn, cho nên tôi gọi riêng ông để bảo".
Rồi Ngao lấy Đà thay mình. Ngao chết, Đà liền gửi
hịch đến các cửa ải Hoành Phố, Dương Sơn, Hoàng
Khê, nói: "Quân giặc sắp đến, phải gấp chặt
đường, họp binh tự giữ". Hịch đến nơi, các
châu quận đều hưởng ứng. Bấy giờ Đà giết hết các
trưởng lại do nhà Tần đặt, đem thân thích phe cánh
thay làm thú lệnh. Đà đem quân đến đánh vua, vua
không biết lẫy nỏ đã mất [10a], ngồi đánh cờ cười
mà bảo: "Đà không sợ nỏ thần của ta sao?".
Quân của Đà tiến sát đến nơi, vua giương nỏ thì
lẫy đã gãy rồi. Vua thua chạy, để Mỵ Châu ngồi trên
ngựa, cùng chạy
về phía nam. Trọng Thủy nhận dấu lông ngỗng đuổi
theo. Vua đến bờ biển, hết đường mà không có thuyền,
liền gọi rùa vàng mấy tiếng: "Mau đến cứu ta!"
Rùa vàng nổi lên mặt nước, mắng rằng: "Kẻ ngồi
sau ngựa là giặc đấy, sao không giết đi?".
Vua rút gươm muốn chém Mỵ Châu, Mỵ Châu khấn rằng:
"Trung tín trọn tiết, bị người đánh lừa, xin
hóa thành ngọc châu để rửa thù nhục này". Cuối
cùng vua vẫn chép Mỵ Châu, máu chảy loang mặt nước,
loài trai nuốt vào bụng, hóa làm hạt minh châu.
Vua cầm sừng tê văn dài 7 tấc xuống biển mà đi (tức
như ngày nay gọi là sừng tê rẽ nước. Tục truyền
núi Dạ Sơn xã Cao Xá ở Diễn Châu là nơi ấy). Trọng
Thủy đuổi theo đến nơi, thấy Mỵ Châu đã chết, thương
khóc ôm xác đem về chôn ở Loa Thành, hóa làm đá
ngọc. Trọng Thủy nhớ tiếc Mỵ Châu, trở lại chỗ Mỵ
Châu [10b] tắm gội trang điểm khi trước, thương
nhớ không nguôi, cuối cùng nhảy xuống giếng mà chết.
Người sau được hạt minh châu ở biển Đông, lấy nước
giếng ấy mà rửa, sắc ngọc càng sáng hơn.
Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Chuyện rùa vàng đáng tin
chăng? Chuyện thần giáng đất Sần35 , chuyện đá biết
nói36 cũng có thể là có. Vì việc làm của thần là
dựa theo người, thác vào vật mà nói năng. Nước sắp
thịnh, thần minh giáng để xem đứa hóa; nước sắp
mất, thần cũng giáng để xét tội ác. Cho nên có khi
thần giáng mà hưng, cũng có khi thần giáng mà vong.
An Dương Vương hưng công đắp thành có phần không
dè đặt sức dân, cho nên thần thác vào rùa vàng để
răn bảo, chẳng phải là vì lời oán trách động dân
mà thành ra như thế ư? Nhưng thế cũng còn là khá.
Đến như lo họa hoạn về sau mà nài xin với thần,
thì lòng riêng đã nảy. Lòng riêng một khi nảy mầm
thì lẽ trời theo đó mà mất, [11a] sao thần lại chẳng
gieo cho tai họa! Rùa vàng trút móng thiêng trao
cho, bảo là có thể đánh lui được quân địch, đó là
mầm họa chăng? Như chuyện thần ban cho nước Quắc
ruộng đất mà sao đó nước Quắc cũng mất theo. Sau
[An Dương Vương] quả nhiên như vậy. Thế chẳng phải
là thần theo người mà hành động sao? Nếu không có
lời nài xin [với rùa vàng], cứ theo đạo lý mà làm,
biết đâu quốc thống lại chẳng được lâu dài? Đến
như chuyện Mỵ Châu rắc lông ngỗng chỉ đường, thì
chưa chắc đã có. Nếu có thì chỉ một lần là phải,
thế mà sau này con gái Triệu Việt Vương lại bắt
chước mà cũng nói như thế, là làm sao? Có lẽ người
chép sử cho rằng nhà Thục và nhà Triệu mất nước
đều do con rể, cho nên nhân một việc mà nói hai
lần chăng? Thế thì việc ma quỷ làm đổ thành cũng
đáng tin sao? Trả lời rằng: Đại loại cũng như chuyện
Bá Hữu làm quỷ dữ, sau người nước Trịnh lập con
cháu của Hữu, [hồn của Hữu] có chỗ nương tựa rồi
thì hết37 . Thế là trừ bỏ yêu khí, quỷ không [11b]
có chỗ phụ vào nữa thì phải thôi. Đến như sử chép
An Dương Vương bại vong là do nỏ thần bị đỗi lẫy,
Triệu Việt Vương bại vong vì mũ đâu mâu mất móng
rồng, đều là mượn lời để cho vật trở thành thiêng
mà thôi. Đại phàm việc giữ nước chống giặc tự có
đạo lý của nó, đúng đạo lý thì được nhiều người
giúp mà nước hưng, mất đạo lý thì ít người giúp
mà nước mất, không phải vì những thứ ấy.
Trở lên là [kỷ] An Dương Vương, khởi từ năm Giáp
Thìn đến năm Quý Tỵ là hết, tất cả 50 năm [257 -
208 TCN].
Chú Thích:
1 Hy thị: Tương truyền vua Nghiêu sai anh em họ
Hy (Hy thị) và họ Hòa (Hòa thị) đi bốn phương để
trông coi công việc thiên văn lịch pháp. Hy Thúc
là em Hy Trọng đến ở miền đất phương Nam (Kinh Thư,
Nghiêu điển)
2 Kinh Thư chép vua Nghiêu sai Hy Thúc đến ở Nam
Giao (Hy Thúc trạch Nam Giao). Khổng An Quốc thời
Tây Hán chú giải Kinh Thư, chỉ cho Nam Giao là phương
Nam. Mãi đến thời Đường, Tư Mã Trinh mới giải thích
Nam Giao là Giao Chỉ ở phương Nam.
3 Theo thiên Vũ Cống trong Kinh Thư, chín châu
là Ký, Duyện, Thanh, Từ, Dương, Kinh, Dự, Lương
Ung.
4 Bách Việt: là từ mà người Hán dùng để gọi chung
các tộc người khác Hán sống ở miền nam Trung Quốc
thời xưa. Từ này lần đầu tiên thấy chép trong Sử
Ký (Ngô Khởi Truyện của Tư Mã Thiên.
5 Việt Thường Thị: tên nước thời cổ ở phía Nam
Trung Quốc có quan hệ với nhà Chu (hiến chim trĩ
cho Thành Vương), lần đầu tiên được ghi trong sách
Thượng Thư Đại Truyện. Có nhiều giải thích khác
nhau, có thuyết nói rằng Việt Thường Thị ở miền
quận Cửu Đức, tức miền Hà Tĩnh (Thủy Kinh Chú, Cựu
Đường Thư); có thuyết nói Việt Thường thị ở vị trí
nước Lâm Ấp đời sau (Văn Hiến thông khảo, Minh Sử,
Minh nhất thống chí).
6 Thần Nông: theo truyền thuyết Trung Quốc, là
một trong 5 vị đế thời thượng cổ, dạy dân biết cày
bừa trồng trọt, cũng gọi là Viêm Đế.
7 Theo Mục lục kỷ niên của Đại Việt Sử Ký và câu
kết của Kỷ Hồng Bàng thị (NK1, 5b) thì từ năm Nhâm
Tuất đến năm Quý Mão (258 TCN) cộng 2622 năm. Vậy
năm Nhâm Tuất là năm 2879 TCN. Đó chỉ là một niên
đại suy đoán trên cơ sở - như trong Phàm lệ đã nói
rõ - muốn đặt Kinh Dương Vương ngang với Đế Nghi.
8 Ngũ Lĩnh: có nhiều thuyết khác nhau, đại khái
chỉ 5 ngọn ở biên giới phía nam của Trung Quốc.
Theo Quảng Châu ký, đó là các núi: Đại Dũ, Thủy
An, Lâm Hạ, Quế Dương, Yết Dương.
9 Nguyên văn: "Thú Động Đình Quân nữ, viết
Thần Long". Theo câu này thì phải hiểu Thần
Long là tên người con gái của Động Đình Quân. Nhưng
ở đoạn dưới (tờ 2b), soạn giả lại viết: "Kinh
Dương Vương lấy con gái của Thần Long, sinh ra Lạc
Long Quân". Như vậy tên của Động Đình Quân
là Thần Long.
10 Kinh Dịch: Hệ từ.
11 Truyền thuyết Trung Quốc nói là bà Giản Địch
(vợ thứ Đế Cốc) nuốt trứng chim huyền điểu, có mang,
sinh ra ông Tiết, tổ của nhà Ân - Thương.
12 Bà Khương Nguyên giẫm vết chân người khổng lồ,
sinh ra ông Khi, tức Hậu Tắc, tổ nhà Chu.
13 Thông giám ngoại kỷ: tức phần Ngoại Kỷ của sách
Tư Trị Thông Giám (294 quyển) do Tư Mã Quang đời
Tống soạn.
14 Nguyên bản in nhỏ hai chữ "khuyết húy",
dễ nhận lầm là khuyết húy của Lạc Long Quân. Nhưng
ở trên đã nói Lạc Long Quân húy Sùng Lãm. Ở đây
nói khuyết húy của Hùng Vương.
15 Huyện Bạch Hạc thời Lê là một phần đất huyện
Phong Châu, tỉnh Vĩnh Phú ngày nay.
16 Việt Sử Lược chép nước Văn Lang gồm 15 bộ lạc,
trong đó có 10 bộ lạc giống tên như Toàn thư ghi
trên đây (Giao Chỉ, Vũ Ninh, Việt Thường, Ninh Hải,
Lục Hải, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Cửu Đức,
Văn Lang), và 5 bộ lạc với tên khác (Quân Ninh,
Gia Ninh, Thang Tuyền, Tân Xương, Nhật Nam). Lĩnh
Nam Chích Quái cũng chép đủ tên 15 bộ, nhưng trong
các bản hiện còn, tên các bộ ấy có nhiều sai khác
chênh lệch. Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi chép đúng
tên các bộ như Toàn Thư đã ghi trên đây, nhưng không
có tên bộ Văn Lang.
17 Chữ "Hùng" và chữ "Lạc"
chỉ khác nhau về phía bên trái, dễ đọc và chép lầm.
18 Lĩnh Nam Chích Quái chép Phù Đổng Thiên Vương
đánh giặc Ân dưới núi Trâu Sơn, Sách Việt Sử Tổng
Vịnh chú rằng núi Vũ Ninh thuộc huyện Quế Dương
(nay thuộc đất Quế Võ, tỉnh Hà Bắc).
19 Sông Từ Liêm: chỉ khúc sông Hồng chảy qua Chèm,
Hà Nội.
20 Tức là sông Đáy.
21 Tức là sông Hồng.
22 Nguyên bả n mất tờ in 5a - b, được thay thế
bằng tờ chép tay.
23 Về điều ghi Thục Phán người Ba Thục (Tứ Xuyên,
Trung Quốc), Cương mục có nhận xét: "Nước Thục
từ năm thứ 5 đời Thận Tĩnh Vương nhà Chu (316 TCN)
đã bị nước Tần diệt rồi, làm gì có vua nữa ? Huống
chi từ Thục đến Văn Lang còn có đất Kiện Vi (nay
thuộc Vân Nam), đất Dạ Lang, Cùng, Túc, Nhiễm Mang
v.v... cách nhau hàng hai ba ngàn dặm, có lẽ nào
Thục vượt qua được các nước ấy mà sang đánh lấy
Văn Lang? .... Hoặc giả ngoài cõi Tây Bắc giáp với
nước Văn Lang còn có họ Thục khác, mà sử cũ (tức
Toàn Thư) nhận là Thục Vương chăng ?" (CMTB1,9).
Hiện nay, có nhiều giả thuyết về nguồn gốc của Thục
Phán, trong đó có thuyết coi họ Thục là thủ lĩnh
của người Âu Việt (hay Tây Âu) ở phía bắc nước Văn
Lang mà trung tâm là vùng Cao Bằng.
24 Nay còn di tích ở huyện Đông Anh, Hà Nội.
25 Côn Lôn: tên dãy núi Trung Quốc (ở miền Tân
Cương - Tây Tạng).
26 Cao Lỗ, chép là Cao Thông trong các tài liệu
của Trung Quốc như Giao Châu Ngoại Vực Ký (do Thủy
Kinh Chú, q.14 dẫn), Thái Bình hoàn vũ ký (phần
Nam Việt Chí, q. 170), v.v....
27 Một số tài liệu Trung Quốc (như Quảng Dư Ký,
Đại Thanh Nhất Thống Chí, v.v....) chép là Nguyễn
Ông Trọng, có lẽ vì dựa theo sử liệu Việt Nam đời
Trần do kiêng húy đã đổi Lý thành Nguyễn.
28 Lâm Thao: tên huyện Trung Quốc thời Tần, nay
thuộc tỉnh Cam Túc.
29 Tức đền Chèm ở huyện Từ Liêm, Hà Nội.
30 Quế Lâm: tên quận thời Tần, nay là vùng đất
bắc và đông tỉnh Quảng Tây, chứ không chỉ riêng
huyện Minh Quý, nơi đóng trị sở của tỉnh ấy.
31 Tượng Quận: tên quận đời Tần mà trước đây nhiều
sách sử của ta và của Trung Quốc đều chú giải là
quận Nhật Nam, hay bao gồm cả ba quận Giao Chỉ,
Cửu Chân, Nhật Nam thời Hán, tức đất An Nam. Thuyết
đó là dựa vào một câu cước chú của Hán Thư (q.28
hạ, tr. 11a) về quận Nhật Nam thời Hán: "Quận
Nhật Nam - quận Tượng thời Tần ngày trước".
Nhưng từ cuối thế kỷ XIX, thuyết đó đã bị phê phán.
Chính Hán thư phần Bản Kỷ (q.7 tr.9a) chép rõ rằng:
"Năm thứ 5 hiệu Nguyên Phương (76 TCN), bãi
bỏ quận Tượng, chia đất vào hai quận Uất Lâm và
Tường Kha". Quận Uất Lâm là vùng Quảng Tây,
quận Tường Kha ở phía tây quận Uất Lâm và gồm một
phần Quý Châu. Vậy Tượng Quận là miền tây Quảng
Tây và nam Quý Châu.
32 Chữ có hai âm: "Hiêu" và "Ngao".
Chúng tôi phiên theo âm đã quen gọi.
33 Bắc Giang: tên đạo đời Đinh, tên lộ thời Lý,
Trần và đầu Lê (nay là tỉnh Hà Bắc).
34 Cương mục (TB1, 16b) chú: "Bây giờ không
biết con sông này ở đâu".
35 Thần giáng đất Sần: Tả Truyện chép rằng thần
hiện ở đất Sần thuộc nước Quắc, Quắc công sai quan
đến làm lễ tế, được thần ban cho rộng đất.
36 Đá biết nói: Tả Truyện ghi việc năm thứ 8 đời
Lỗ Ai Công ở đất Nguy Du nước Tấn có hòn đá biết
nói.
37 Bá Hữu: tức Lương Tiêu, đại phu nước Trịnh thời
Xuân Thu bị chết oan, thường hiện hồn về quấy nhiễu.
Sau, Tử Sản cho con Bá Hữu là Lương Chỉ làm quan,
hồn Bá Hữu mới thôi không báo oán nữa. (Tả Truyện,
q.13).
Đại cương Quyển II

XEM
TIẾP
|