| LỊCH
SỬ VIỆT NAM

Nhân
ngày mất của Chí sĩ Phan Chu Trinh ( 24-3-1926)
Phan
Chu Trinh: Thân thế và Sự nghiệp
Kỷ
Niệm Phan Chu Trinh (1872-1926)

Phan
Châu Trinh: “Nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam”
Ngày 24-3-1926, cách đây đúng 80 năm, một tin chấn
động loan khắp nước: chí sĩ Phan Châu Trinh đã qua
đời. Ngày 4-4 tiếp liền đó, tại Sài Gòn, đã diễn
ra đám tang của ông, mà Nguyễn Ái Quốc lúc ấy đã
báo cáo với Quốc tế Cộng sản là “trong lịch sử người
An Nam chưa từng được chứng kiến một sự kiện to
lớn như vậy bao giờ”.
Có mấy tư liệu về số người dự đám tang Phan Châu
Trinh: 30.000 người, 100.000 người, 140.000 người.
Dù là con số nào thì đấy cũng là một cuộc xuống
đường vĩ đại của người Sài Gòn - Chợ Lớn. Và hầu
hết các tỉnh trong nước đều cử người về Sài Gòn
dự tang lễ, rồi trở về địa phương mình tổ chức lễ
truy điệu: thật sự đã diễn ra một quốc tang, trong
toàn quốc, trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt của
chủ nghĩa thực dân.
Vì sao cái chết của con người ấy đã có thể gây
ra trận “động đất” dữ dội đến vậy?
Huỳnh Thúc Kháng, cùng Trần Quý Cáp là hai người
đồng chí thân thiết nhất của Phan Châu Trinh, dường
như đã trả lời câu hỏi đó bằng đánh giá sau đây,
thoạt nghe có thể rất lạ; ông viết: “Phan Châu Trinh
là nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam”.
Nên chú ý: ông không nói “nhà yêu nước”, cũng không
nói “người chiến sĩ giải phóng dân tộc”, những danh
hiệu cũng hết sức cao quý. Nhà cách mạng - khác
với người yêu nước, người chiến sĩ giải phóng dân
tộc - là người chủ trương không chỉ chống ngoại
xâm, giành độc lập cho đất nước; nhà cách mạng là
người chủ trương và thực hiện một cuộc thay đổi
tận gốc xã hội, chuyển từ một xã hội này sang một
xã hội khác, khác tận gốc, về cơ bản.
Phan Châu Trinh là một người như vậy. Ông là người
Việt Nam đầu tiên nhận ra một cách sáng rõ, toàn
diện, có hệ thống và triệt để nhất cuộc toàn cầu
hóa đang diễn ra thời bấy giờ trên thế giới, cuộc
toàn cầu hóa lần thứ nhất; thế giới đã thay đổi
một cách căn bản, đã bước sang một thời đại khác;
và Việt Nam đã thua, nước mất, dân tộc lâm vào cảnh
nô lệ tàn khốc, mọi cuộc vùng dậy cứu nước đều thất
bại bi thảm... chính là vì đã u mê mịt mù không
hề nhìn thấy được thực tế mới to lớn đó.
Từ đó, cách đặt vấn đề của Phan Châu Trinh khác
và vượt lên hẳn một tầm cao hoàn toàn mới: ông không
chỉ dừng lại ở vấn đề độc lập dân tộc, ông đặt vấn
đề độc lập dân tộc trong một phạm trù rộng, xa và
cơ bản hơn nhiều: phát triển dân tộc, trong một
thời đại đã thay đổi về cơ bản. Thậm chí còn có
thể nói rõ hơn nữa: ông chủ trương đưa dân tộc lên
tầm cao mới, để hội nhập cùng thế giới mới, phát
triển trong thế giới mới đó. Và đấy là con đường
cứu nước duy nhất, căn bản và bền vững nhất, theo
ông.
Vậy nên, bài học đầu tiên của Phan Châu Trinh là
bài học về một tầm nhìn chiến lược, chiến lược thời
đại. Chính từ đó ông chủ trương một cuộc cách mạng
xã hội chứ không chỉ là một cuộc chiến đấu chống
ngoại xâm riêng rẽ, cụ thể.
Tình thế của chúng ta ngày nay đương nhiên đã khác
rất xa thời Phan Châu Trinh. Nhưng lại vẫn có một
điều tương tự và là rất cơ bản: chúng ta cũng lại
đang đứng trước một cuộc toàn cầu hóa, cuộc toàn
cầu hóa lần thứ hai. Lại một lần nữa đặt ra với
chúng ta vấn đề tầm nhìn thời đại.
Cũng từ đó, bài học thứ hai: vì vô cùng yêu nước,
vô cùng đau đáu với số phận của dân tộc nên không
hề mị dân, không “tự hào” hão một cách mù quáng,
tự đánh lừa mình và đánh lừa quần chúng, Phan Châu
Trinh là người dám nhìn thẳng vào những yếu kém
chết người của dân tộc, hết sức quyết liệt, triệt
để.
Và quan trọng hơn nữa, ông đi tìm những nhược điểm
chết người đó ở chính chỗ cơ bản nhất của xã hội.
Về điều này, Hoàng Xuân Hãn đã có phân tích rất
sâu sắc; ông nói: “Sau khi phong trào Cần Vương
bị đàn áp tan rã hoàn toàn, Phan Châu Trinh đã đi
sâu nghiên cứu những nhược điểm cơ bản về văn hóa
xã hội Việt Nam, cụ thấy rõ nguyên nhân sâu xa đưa
đến mất nước, bị nô lệ ngày càng khốc liệt, là sự
thua kém của xã hội ta so với phương Tây (1). Phan
Châu Trinh đã đưa ra đường lối mới mẻ để tìm lối
thoát cho con đường cứu nước” (2).
Phong trào của Phan Châu Trinh được gọi là phong
trào Duy tân, đổi mới, và trước hết, cơ bản nhất
là đổi mới về văn hóa.
Nhìn lại 100 năm trước, chúng ta thật ngạc nhiên
thấy hóa ra phong trào Duy tân thực chất không có
gì khác hơn là một cuộc đại cải cách giáo dục, mà
có lẽ phải nói thật, rất có thể ngày nay chúng ta
còn phải theo khước, trong tinh thần cơ bản của
nó.
Hơn 60 trường được lập ra ở Quảng Nam, hoàn toàn
dạy và học theo lối mới, mạnh mẽ Âu hóa, chủ trương
thực học triệt để, và nhằm đào tạo nên những con
người dám và biết tư duy tự do, sống tự do, trong
một xã hội tự do...
Chính cuộc gieo rắc tri thức mới vào quảng đại
quần chúng đó, chỉ trong không đầy năm năm, từ năm
1903 đến năm 1908, đã tạo nên cuộc Trung kỳ dân
biến long trời lở đất, làm rung chuyển cả chế độ
thống trị thực dân ở Đông Dương, chấn động cả sang
chính quốc Pháp, là một báo hiệu sớm của công cuộc
Cách mạng Tháng Tám về sau này.
Một đỉnh núi cao thì càng đi ra xa càng thấy rõ
hơn chiều cao của nó, và những dòng sông bắt nguồn
từ đỉnh núi như vậy sẽ chảy đi rất xa. Những tư
tưởng cơ bản của Phan Châu Trinh còn nóng hổi với
hôm nay, thậm chí càng sống dậy sinh động hơn trong
những ngày này, khi chúng ta lại một lần nữa đứng
trước những thách thức mới của phát triển.
Tầm nhìn xa mang tính thời đại tỉnh táo, sáng suốt
đến kinh ngạc của ông, sự dũng cảm, quyết liệt của
ông trong tự vấn dân tộc, tính triệt để của ông
trong chủ trương giải quyết tận gốc vấn đề cơ bản
nhất của phát triển dân tộc - vấn đề nền tảng văn
hóa, chủ trương “cách mạng tân văn hóa của ông”...
Nhà sử học Pháp Daniel Héméry quả đã nói rất đúng:
“...Những nan đề do Phan Châu Trinh xác định từ
đầu thế kỷ XX, các thế hệ người Việt Nam còn phải
đảm nhận lâu dài”.
Tháng 3-2006
Nhà văn NGUYÊN NGỌC
Báo Tuổi trẻ

|