| THAM
KHẢO
(Những bài chọn đăng trong trang này của từ
nhiều phía, không nhất thiết là quan điểm của nhóm
Hải Ngoại Phiếm Đàm. . .)
Ngoài
những bài dưới đây, những chuyên đề ở 2
cột phải, trái luôn được chúng tôi cập nhật (HNPD)
Nhân
vật
Tại sao?

Phan
Bội Châu và Phong trào Đông Du
(Nội dung các bài sau có một vài chi tiết không
thích hợp, xin bỏ qua ( HNPĐ)
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP
Đông
Du những ngày trên đất Nhật
Học
lại Phan Bội Châu và Phong trào Đông Du
Bối
cảnh xã hội Việt Nam và Phong trào Đông Du
Phan
Bội Châu và Phan Chu Trinh
Tiểu
sử Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh

(Nội dung các bài sau có một vài chi tiết không
thích hợp, xin bỏ qua ( HNPĐ)
PHAN BỘI CHÂU
(1867-1940)
Chí sĩ yêu nước
Phan Bội Châu sinh ngày 26-12-1867, quê làng Ðan
Nhiễm, xã Nam Hòa, huyện Nam Ðàn, tỉnh Nghệ An,
cha là Phan Văn Phổ, một nhà nho nghèo, mẹ là Nguyễn
Thị Nhàn, một phụ nữ hiền hậu, gia đình từ đời cố,
4 đời độc đinh. 6 tuổi theo cha đi học, nổi tiếng
thông minh, 3 ngày thuộc hết cuốn Tam Tự Kinh, 7
tuổi hiểu kinh truyện, 13 tuổi thi đỗ đầu huyện.
Phan lúc đầu tên là Phan Văn San, sau mới đổi tên
là Phan Bội Châu, hiệu là Hài Thu, sau lấy hiệu
là Sào Nam, lại còn các hiệu bút danh khác như Thị
Hán, Ðộc Kinh Tử, Việt Ðiểu, Hàn Mãn Tử v.v...
Nhà nghèo lúc nhỏ sống gần gũi với nhân dân lao
động, thường đi hát đối đáp phường vải, chịu ảnh
hưởng của các cuộc khởi nghĩa Văn Thân, Phan đã
sớm có tinh thần yêu nước, 17 tuổi nghe tin Bắc
Kỳ nghĩa binh chống Pháp, ông viết bài Hịch "Bình
Tây Thu Bắc "đem dán ở cây đa đầu làng, nhưng
không ai hưởng ứng, 19 tuổi (1885) hưởng ứng chiếu
Cần Vương cùng bạn Trần Văn Lương lập đội nghĩa
quân 60 người nhưng chưa kịp hành động đã bị tan
rã. Tuy vậy ý chí cứu nước của Phan đã khơi dậy
từ đây, Phan đã nghiên cứu binh thư binh pháp, và
cũng phải lo học tập văn chương, chuốc lấy tên tuổi
bảng vàng để có danh nghĩa làm bàn đạp dong ruổi,
mặc dù Phan chẳng thích gì lối văn chương sự nghiệp
đỗ đạt làm quan, mà Phan thường ngâm hai câu thơ
của Viên Mai: Mỗi phạn bất vong duy trúc bạch, lập
thân tối hạ thị văn chương (mỗi bữa đừng quên ghi
sử sách, lập thân hèn nhất ấy văn chương).
Gia đình gặp khó khăn, mẹ và 2 em gái mất, Phan
phải đi dạy học kiếm ăn. Suốt 10 năm lận đận, vài
lần đi thi hương vi phạm trường quy, can tội "hoài
hiệp văn tự" án ghi "chung thân bất đắc
ứng thi" (suối đời không được đi thi). Năm
1896 Phan vào Huế dạy học, quan hệ văn chương với
một số nhà nho danh tiếng ở đất Kinh đô - Nhân lúc
Tế Tửu Quốc Tử Giám, Khiếu Năng Tĩnh ra đầu để "Bái
Thạch vi Huynh" (lạy đá làm anh) cho các giám
sinh, Phan cũng làm bài gửi vào trường Giám. Lúc
chấm quan Tế Tửu Khiếu năng Tĩnh phải phục cho là
một bài rất hay và chuyền cho các danh nho ở kinh
đô xem. Trong đó Hoàng Giáp Nguyễn Thượng Hiền rất
cảm phục, nhất là câu "Tam sinh điển hải chi
tư, vị phong tương bá, nhất phiến bổ thiên chi lực,
hữu thị phùng quân..." Võ Song Thiết dịch:
Một thân đội đá vá trời, thiết tha nhờ bác, ba kiếp
dời non lập biển, may mắn gặp người. Từ đó danh
tiếng của Phan càng phát huy. Biết Phan là người
có tài nên các nho thần xin vua Thành Thái xóa cái
án "Hoài hiệp văn tự, chung thân bất đắc ứng
thi".
Thế là Phan dự khoa thi hương năm Canh Tý (1900)
ở Trường Nghệ và đậu giải nguyên. Từ đây Phan có
cái hư danh che mắt đời hoạt động cách mạng. Phan
ra Bắc vào Nam liên kết với các nhà yêu nước như
Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp,
Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Hàm (tức Tiểu La nguyễn
Thành) Ðặng Nguyên Cẩn, Ngô Ðức Kế, Ðặng Thái Thân,
Hồ Sĩ Kiện, Lê Huân, Nguyễn Quyền, Võ Hoành, Lê
Ðại v.v... Năm 1904 cùng các đồng chí, Phan lập
hội Duy Tân, chủ trương dùng vũ trang bạo động,
nhờ ngoại viện đánh đuổi giặc Pháp, giành độc lập.
Năm 1905 Phan cùng Tăng Bạt Hổ sang Trung Quốc
rồi sang Nhật, lúc này Nhật Bản đã chiến thắng Nga
Hoàng. Sang Nhật, Phan gặp Lương Khải Siêu, nhờ
Lương Khải Siêu giới thiệu mà gặp Khuyến Dưỡng Nghị,
thủ tướng Nhật Bản, hôm gặp có cả Khuyến Dưỡng Nghị
phu nhân, Bá tước Ðại Ôi và một số chính khách.
Trong khi nói chuyện, phu nhân có đưa cái quạt nhờ
Phan đề cho mấy chữ, Phan Bội Châu viết ngay: Tứ
phương động, duy nễ chi hưu: nghĩa là gió tứ bể
nổi dậy cũng là nhờ mày. Cử tọa đều ngợi khen và
mọi người chú ý.
Lương Khải Siêu khuyên Phan nên dùng thơ văn tố
cáo tội ác của thực dân Pháp với thế giới và kích
động lòng yêu nước của mọi người. Thế là Phan viết
hàng chục tác phẩm với lối văn có sức thuyết phục
lớn, gửi về nước, làm cho lòng người kể cả các nho
sĩ triều quan ai đọc cũng đều xúc động, nước mất
nhà tan, căm hờn giặc Pháp. Nhiều người bỏ việc
trốn ra nước ngoài hoạt động.
Nhiều chính khách Nhật Bản khuyên Phan đưa người
sang du học. Năm 1906 Phan lại về nước, hô hào thanh
niên du học và cùng Duy Tân hội vận động đưa Cường
Ðể sang Nhật Bản làm hội chủ với chủ trương thành
lập chế độ quân chủ lập hiến như ở Nhật Bản.
Từ 1905 đến 1908 phong trào Ðông du ở trong nước
đưa sang Nhật khá sôi nổi, gần 200 thanh niên sang
Nhật theo học đủ các ngành nghề, mọi người hết sức
học tập lãnh hội kiến thức để về nước phục vụ cách
mạng.
Nhưng chính phủ Pháp ở Ðông Dương dò biết được,
liền cầu kết với chính phủ Nhật Bản giải tán tổ
chức Ðông Du và trục xuất mọi người Việt Nam lại
phải chạy sang Trung Hoa. Lúc này Cách mạng Trung
Hoa cũng đang bị Chính phủ Mãn Thanh đàn áp. Phan
Bội Châu lại phải chạy sang Xiêm (Thái Lan) cùng
với một số đồng chí mở trại cày ở Bạn Thầm để xây
dựng cơ sở.
Sau 1911 Cách mạng Tân Hợi do Tôn Văn lãnh đạo
đánh đổ triều đình Mãn Thanh thành công, Phan Bội
Châu trở lại Trung Quốc, giải tán hội Duy Tân, thành
lập "Việt Nam quang phục hội" vào năm
1912 với mục đích đánh đuổi giặc Pháp, thành lập
nước Cộng hòa dân quốc Việt Nam.
Hội tổ chức phái người về hoạt động, ngày 13/4/191
Phan Văn Tráng ném bom giết chết Tuần Vũ Nguyễn
Duy Hàn ở Thái Bình. Ngày 16/4/1913 Nguyễn Khắc
Cần, Nguyên Văn Túy ném tạc đạn vào khách sạn Hà
Nội giết chết 2 sĩ quan Pháp. Pháp đàn áp dã man
tháng 9/1913 Hội đồng đề hình xử 14 an chém trong
đó xử vắng mặt Phan Bội Châu và Cường Ðể đứng đầu
sổ.
Toàn quyền Pháp lại liên hệ với quân phiệt Trung
Quốc là Long Tế Quang, Tổng đốc Quảng Châu, tay
chân Viên Thế Khải phản bội lại cách mạng Trung
Hoa bắt cụ Phan Bội Châu ngày 24/12/1913 và giam
tại nhà ngục Quảng Châu. Do Long Tế Quang đòi Pháp
với giá rất đắt, việc thương lượng giữa toàn quyền
Pháp ở Ðông Dương với Long Tế Quang dây dưa, rồi
tiếp đó Pháp lại gặp chiến tranh với Ðức, Âu chiến
lần thứ 1, tập trung tiền và lực lượng vào cuộc
chiến, Phan vẫn nằm trong nhà tù, cho đến năm 1917
Ðảng cách mệnh Tôn Văn đánh đổ Viên Thế Khải và
bè lũ Long Tế Quang nên đã cứu Phan Bội Châu ra
khỏi nhà ngục Quảng Châu.
Các hoạt động của Quang Phục hội vẫn tiến hành
tháng 5/1916 cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân cùng
Thái Phiên, Trần Cao Vân... nổ ra ở Huế. Tháng 8/1917
cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên do Lương Ngọc Quyết
và Ðội Cấn chỉ huy đã gây cho Pháp nhiều tổn thất.
Tuy thất bại nhưng cũng đã gây một tiếng vang trong
mọi tầng lớp nhân dân. Ðặc biệt 8 giờ tối ngày 18/6/1924
tên toàn quyền Pháp Merlin đi công cán ở Nhật về
đương dự tiệc tại Quảng Châu ở khách sạn Victoria
đã bị Phạm Hồng Thái ném bom vào bàn ăn Merlin suýt
chết, nhiều thượng khách khác đã toi mạng. Lính
đuổi, Phạm Hồng Thái đã nhảy xuống sông Châu Giang
tự tử. Tiếng bom Da diện đã làm chấn động chẳng
những trong nước mà lan ra cả thế giới. Xác của
Phạm Hồng Thái đã được chôn đối diện với 72 liệt
sĩ của Hoàng Hoa Cương.
Tiếp đó, Phan Bội Châu lại cải tổ Việt Nam Quang
phục hội thành Việt Nam Quốc dân Ðảng theo Trung
Quốc dân Ðảng của Tôn Trung Sơn.
Nhưng không ngờ ngày 30/6/1925 trên đường từ Quảng
Châu theo đường sắt về Thượng Hải để sẽ đi tàu thủy
về Quảng Châu họp anh em, khi xuống tàu hỏa ở ga
bắc Thượng Hải thì bị thực dân Pháp bắt cóc bế Phan
lên ô tô, đóng sập cửa chở về Tô giới Pháp ở Thượng
Hải, chúng muốn đấu kín với âm mưu ám muội thủ tiêu
Phan, chúng đưa Phan xuống tàu binh đến Hương Cảng
để chuyển sang tàu Ang Kor của hãng Messagerie Maritimess
để đưa về Hải Phòng. Thấynguy hiểm lúc tàu chạy
ra cửa Ngô Tùng, Phan ngồi trong buồng kín, nhìn
qua cửa tò vò thấy thuyền đánh cá lố nhố trên mặt
biển, Phan liền nghĩ cách mượn họ đưa tin, Phan
lấy giấy viết đại khái nói mình là nhà cách mạng
Việt Nam bị Pháp bắt trước ga Bắc Trạm nay dẫn đi
đâu không rõ, ở cuối lại đề 3 bài thơ tuyệt mệnh
- viết xong bỏ vào cái chai không, nút chặt kỹ lưỡng
ném xuống biển. Một bọn thuyền chài vớt được, rồi
đem đăng báo - Báo Cộng hòa ở Thượng Hải đăng bài
ấy lên, làm xôn xao dư luận, các báo khác cùng hưởng
ứng và chỉ trích nhà đương cục Tàu để người ngoài
xâm phạm đến lãnh thổ mình. Pháp muốn dấu kín, đưa
Phan lên Hải Phòng rồi đưa về nhà pha Hỏa Lò Hà
Nội với cái tên Lê Văn Ðức,nhưng tờ báo Le courier
de Hải Phòng đã đăng tin này, và từ nhà pha Hỏa
Lò với các bài thơ câu đối lọt ra ngoài thì người
ta biết tên Lê Văn Ðức mới bị bắt ở tàu về chính
là Phan Bội Châu. Thế là một phong trào phản đối
được nổi bùng lên trong toàn quốc, báo chí, truyền
đơn, biểu tình, bãi khóa, viết đơn tố cáo tận Chính
phủ Pháp, Nghị viện Pháp, tổ chức nhân quyền ở Pháp
cả sang Chính phủ Trung Quốc để Pháp bắt một chí
sĩ cách mạng trên đất nước mình, gây một phong trào
quần chúng đòi phải thả Phan Bội Châu, làm cho bọn
thống trị Pháp ở Ðông Dương và chính phủ Pháp phải
lo sựo.
Ngày 23/11/1925 Toà án đề hình Pháp tại Hà Nội
đã mở phiên toà do tên Bride chủ tọa để xử án cụ
Phan Bội Châu, do ông Bùi Ðăng Ðoàn làm phiên dịch,
hai trạng sư Bonard và Larre được cử ra để cãi cho
Phan Bội Châu. Hôm ấy, người đi xem đông như kiến,
sinh viên các trường cao đẳng cũng trốn ra đi xem,
lính Tây, cảnh sát đứng đầy ra cả mặt đường để giữ
trật tự, qua bản cáo trạng của Công tố viên và Toà
án đã hỏi vặn cụ về các việc đã xảy ra: Sang Tàu
sang Nhật, các vụ giết Nguyễn Duy Hàn, 2 sĩ quan
Pháp... cụ Phan đã bác bỏ mọi lời buộc tội, không
hề có tý gì tránh né trách nhiệm. Trái lại cụ đã
nêu lên một bản cáo trạng hùng hồn, phơi bày tội
ác của giặc Pháp thay cho tiếng nói của 25 triệu
đồng bào, ai nghe cũng hả dạ. Hai trạng sư biện
hộ cho cụ Phan cũng rất xứng đáng, cuối cùng họ
kết luận: "cụ Phan Bội Châu là một nhà yêu
nước, thuần khiết nhất giữa những người yêu nước
thuần khiết nhất". Cụ Phan đứng dậy chào hai
luật sư Pháp, họ cũng kính cẩn chào lại. Công chúng
nghe hả dạ hoan nghênh. Thế nhưng Tòa án vẫn tuyên
án cụ là "Khổ sai chung thân" mọi người
phẫn nộ - Tú Khắc (người Nam Ðịnh) chạy lên vành
móng ngựa xin chịu thay cho Phan Bội Châu, nhưng
bị lính cảnh sát lôi ra.
Cuộc đấu tranh vẫn tiếp tục, từ Nam chí Bắc đều
nhao nhao phản đối, yêu cầu trả lại tự do cho Phan
Bội Châu. Cuối năm 1925, chính phủ Pháp phải bổ
nhiệm tên Varenne, một đảng viên đảng xã hội Pháp,
đã bỏ Ðảng, sang làm Toàn quyền, các cuộc biểu tình,
áp phích, báo chí, lại sôi động, đòi hỏi tên Toàn
quyền mới ân xá cho Phan Bội Châu. Cuối cùng thì
ngày 24/12/1925, toàn quyền Varenne phải ký lệnh
ân xá cho Phan Bội Châu và đưa về giam lỏng ở Huế.
Về Huế, cụ Phan được giao cho ở nhà Nguyễn Bá Trác,
một tên đã từng Ðông du theo cụ Phan sau về đầu
thú, viết báo Nam Phong, rồi làm thị lang Bộ học
của Nam Triều, đồng bào và các nhà yêu nước sợ cụ
ở đó nguy hiểm, nên tìm cách đưa cụ ra ở nơi khác.
Chúng chuyển cụ ra ở một đồng hương Nghệ Tĩnh, làm
Tham tá Tòa Sứ Thừa Thiên ở Chợ Cống, nhưng vẫn
không an tâm, anh êm trí thức bèn bàn với nhà sư
trụ trì chùa Phổ Quang ở dốc Bến Ngự, mượn gian
nhà khách ở sát cổng để cụ ở. Về sau được nhân dân
gửi tiền ủng hộ, nhất là ở Nam Kỳ, luật sư Phan
Văn Trường chủ bút tờ báo La cloche félée chủ động
tổ chức lạc quyên được trên 2000 đồng bạc Ðông Dương
giúp cụ, bạn bè bèn mua một miếng đất và làm một
cái nhà tranh ở dốc Bến Ngự, chuyển cụ từ chùa Phổ
Quang về ở ngôi nhà này mãi đến sau này.
Tuy vậy bọn mật thám vẫn bố trí một mạng lưới luôn
luôn theo dõi cụ kể cả những người ra vào nơi cụ
ở. Lòng ái quốc của cụ vẫn không nguôi, cụ viết
sách, viết tài liệu về sau viết đăng báo Tiếng dân
của cụ Huỳnh Thúc Kháng, để thức tỉnh lòng yêu nước
của mọi người. Năm 1926 cụ tới diễn thuyết tại trường
Quốc học Huế và trường nữ học Ðông Khánh. Cụ không
được đi đâu xa, mặc dầu rất nhiều nơi, anh em trí
thức muốn mời cụ đến chơi. Có lần, nhân bọn Pháp
tổ chức hội chợ ở Hà Nội, anh em sinh viên mời cụ
ra Bắc để được đón tiếp, nhưng xe cụ đi đến Thanh
Hóa thì bị chúng gữi lại bắt phải trở về Huế, không
cho đi ra Hà Nội.
Ðời sống của Cụ ở Bến Ngự cũng rất chật vật, những
người có thiện chí ủng hộ tiền cho cụ cũng đều bị
mật thám theo dõi gây khó khăn, nên cụ cũng nêu
không nên phiền hà đồng bào. Gia đình cụ phải xay
lúa giã gạo làm hàng xáo chạy chợ, phải mua lúa
gạo hẩm về xay giã ăn với rau, cà trồng trong vườn.
Thỉnh thoảng có khách đến, mới phải mua một đĩa
thịt hoặc một quả trứng để đãi khách. Tuy chỉ cơm
rau nhưng cụ vẫn theo dõi thời cuộc, nhất là những
năm 1930-1931 phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bùng
nổ, cụ rất xúc động các chiến sĩ cộng sản hy sinh,
cụ viết báo làm thơ nêu cao ý chí anh hùng của các
chiến sĩ cách mạng.
Cụ mời đồng chí Phan Ðăng Lưu, thường vụ xứ uỷ
Trung Kỳ về ở nhà cụ, một việc làm đáng xúc động
là khi đồng chí Nguyễn Chí Diễu, uỷ viên Trung ương
Ðảng Cộng sản, phụ trách xứ uỷ Trung Kỳ mất ngày
12/9/1939, mật thám ra lệnh bắt đồng chí Nguyễn
Chí Diễu phải chôn một nơi do chúng quy định. Các
đồng chí xứ uỷ lại muốn chôn một nơi thuận tiện
cho đồng chí và đồng bào đến thăm. Mật thám ra lệnh
phải chôn ngay, cuộc đấu tranh đương gay go cấp
bách, đồng chí Phan Ðăng Lưu đem chuyện đó nói với
cụ, cụ liền bảo với giọng sốt sắng "Rứa thì
đem mai táng ông Diễu ngay giữa nghĩa địa của tôi
ở Nam Giao đi, có gì rắc rối tôi chịu" thế
là đồng chí Phan Ðăng Lưu thực hiện ý định của Cụ.
Sau đám tang đồng chí Diễu (16/9/1939), trùm mật
thám Sogny đến hỏi cụ một cách xấc láo "Ông
lập nghĩa trang ở Nam Giao để sau này chôn cất những
đồng chí, đồng sự của ông? Nguyễn Chí Diễu có phải
là đồng chí đồng sự của ông không? "Cụ Phan
hỏi lại Sogny" Chính phủ bảo hộ hiểu chủ nghĩa
Phan Bội Châu như thế nào? mà hỏi Nguyễn Chí Diễu
phải hay không phải đồng chí đồng sự của tôi"
Sogny phải trả lời "Nguyễn Chí Diễu là cộng
sản, còn ông là người Dân tộc chủ nghĩa". Ðể
trả thù nó đã ra lệnh cho Tri huyện Hương Thủy lên
khu mộ Nam Giao đạp đổ tấm bia" Ước quý nghĩa
địa" do chính tay cụ viết từ 1934. Hành động
này làm cụ rất ghê tởm uất ức. Căn bệnh tiễn huyết
lại tái phát, sức cụ kiệt dần, ăn uống lại kham
khổ, tuy cụ Hùnh Thúc Kháng và anh em trong báo
Tiếng dân giúp đỡ. Nhưng cụ biết gần đến ngày chết,
cụ không muốn ăn cơm, không muốn uống thuốc để cho
mau chết. Cụ cho đào một cái huyệt sâu ngay trước
nhà, trát xi măng đậy nắp sẵn, dặn sau khi chết
để thi hài xuống đó, lấp đất bằng, để trên làm đất
trồng rau. Khi sống cụ nói không làm gì cho tổ quốc
đồng bào, thì khi chết đừng đắp nấm choán đất, để
đất trồng hoa màu có ích cho người còn sống.
Cụ Huỳnh Thúc Kháng có làm bìa văn tế sẵn đọc cụ
nghe. Cụ có bài thơ tỏ nỗi tâm sự cụ trong những
này kết liễu đời đau khổ. Cụ để lại một bài tạ tội
với Quốc dân và mong Quốc dân đồng tâm hợp lực cứu
nước.
Cụ mất đêm 29 tháng 10 năm 1940 tức ngày 29 tháng
9 âm lịch hưởng thọ 74 tuổi.
Cụ mất lúc này bên Pháp đang bị Ðức tấn công, ở
Ðông Dương quân Nhật đương đổ bộ vào Ðông Dương.
Bọn Pháp sợ xảy những cuộc biểu tình truy điệu như
hồi cụ Phan Chu Trinh, nên mượn cớ chiến tranh ra
lệnh chôn cất cụ Phan cho sớm, chúng canh phòng
cần mật.
Những người còn sống không theo lời cụ dặn, vẫn
khâm liệm, mua áo quan chôn cất cụ theo thường lệ.
Khách có mặt hôm chôn cất, ngoài gia đình cụ ở Huế
thì có cụ Minh Viên Huỳnh Thúc Kháng, anh em báo
Tiếng dân, ông Trần Ðình Nam ở Ðà Nẵng, Bà Lê Thị
Ngọc Sương ở Quảng Ngãi, còn toàn là mật thám và
quan thầy người Pháp của chúng. Hôm ấy trời lại
mưa như thác đổ, phải có người nhảy xuống huyệt
múc nước để đổ lên, nhưng huyệt sâu, nước lại chảy
xuống, phải 4 người đứng lên đè nắp quan tài mới
đổ đất xuống được. Ngày vĩnh biệt của một nhà chí
sĩ suốt đời vì Tổ quốc gặp phải một hoàn cảnh hẩm
hiu không làm lễ quốc tang được như mọi người ngưỡng
mộ - Cụ có 2 con là Phan Nghi Huynh và Phan Huy
Ðệ và một người con gái lấy Vương Thúc Oánh.
Về tác phẩm của cụ Phan Bội Châu rất nhiều, đến
nay nhiều học giả vẫn tiếp tục sưu tầm. Sau đây
xin thống kê một số tác phẩm:
1- Lưu cầu huyết lệ tân thư
2- Việt Nam vong quốc sử
3- Ký niệm lục
4- Khuyến quốc dân du học ca
5- Hải ngoại huyết thư
6- Hải ngoại huyết thư tục biên
7- Việt Nam quốc sử khảo
8- Ngục trung thư
9- Dĩ cửu niên lai sở trì chủ nghĩa
10 - Hà thành liệt sĩ
11- Truyện Lê Thái Tổ
12- Tuồng Trưng nữ vương
13- Lời gia huấn
14- Giác quần thư
15- Nam quốc dân tu tri
16- Nữ quốc dân tu tri
17- Truyện Chân tướng quân
18- Thiên hồ đế hồ
19- Truyện tái sinh sinh
20- Truyện Phạm Hồng Thái
21- Trùng quang tâm sử
22- Cao đẳng quốc dân
23- Vấn đề phụ nữ
24- Luận lý vấn đáp
25- Xã hội chủ nghĩa
26- Vấn đề giáo dục, công dụng và giá trị
27- Phan Bội Châu niên biểu
28- Khổng học đăng
29- Chu dịch
30- Sào nam văn tập.
Ngoài ra còn nhiều thơ, văn, điếu văn, truyện,
ký, câu đối, các bài đăng báo v.v... mà đến nay
còn phải tiếp tục sưu tập.
--------------------------------------------------------------------------------
PHAN CHU TRINH
(1872 - 1926)
chí sĩ yêu nước
Phan Chu Trinh tự là Tử Cán, hiệu là Tây Hồ, biệt
hiệu là Hy Mã, quê ở làng Tây Lộc, huyện Hà Ðông,
tỉnh Quảng Nam, nay là thôn Tây Hồ xã Nam Phước,
huyện Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Sinh năm 1872, mẹ
là Lê Thị Trung, người làng Phú Lâm xã Tiên Sơn
huyện Tiên Phước, cha là Phan Văn Bình, vốn là học
trò thi về sau lập công làm võ nghiệp được phong
làm Quản cơ Sơn phòng đã theo Nguyễn Hiệu khởi nghĩa
chống Pháp, lúc đầu thu được nhiều thắng lợi, về
sau lúc Nguyễn Thân và quân Pháp tấn công mạnh thì
một số cơ hội ác bá trong hàng ngũ xoay chiều tìm
cách ám hại ông (1887). Sự kiện đó gây cho Phan
Chu Trinh một ấn tượng sâu sắc sau này.
Phan Chu Trinh lúc nhỏ học vỡ lòng với mẹ, 8 tuổi
mẹ mất, năm sau học với thầy đồ trong làng nhưng
chỉ ham chơi, câu cá, bẫy chim, cha phải đem theo
để học võ. Sau cơn loạn lạc ông học lại, nhưng lần
này ông học rất chăm và tiến bộ nhanh chóng, được
cử đi học vào trường tỉnh rồi vào trường Giám ở
Huế do ông Trần Ðình Phong(a) làm Tế tửu, học cùng
bạn với các ông Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp,
Nguyễn Ðình Hiến, là những người học giỏi gọi là
tứ kiệt. Phan là một người giỏi biện luận, có việc
gì xích mích trong trường Phan đều giải quyết ổn
thỏa.
Khoa Canh tý (1900) Phan Chu Trinh thi Hương trường
Thừa Thiên đỗ cử nhân thứ 3, Huỳnh Thúc Kháng đỗ
thủ khoa. Nguyễn Ðình Hiến đỗ thứ 2, Trần Quý Cáp
đỗ tú tài. Năm sau (1901) thi hội Phan Chu Trinh
đỗ phó bảng, còn Huỳnh và Nguyễn, hỏng đến khoa
1904 Huỳnh Thúc Kháng mới đỗ đầu, Trần Quý Cáp đỗ
thứ 2.
Sau khi đậu Phan Chu Trinh được bổ sung làm Tham
biện bộ lễ, tuy làm quan ở bộ nhưng qua những nhạn
thức Phan không có ảo vọng gì về triều đình quan
lại. Năm 1903 trong bài thơ về tết, Phan nói: nước
cũ chỉ còn ngày tết tốt, thân này thầy lụy mấy đồng
hương... hoặc mượn cảnh hát bội mà viết: Ba lão
kép già ngồi vếch mỏ, mấy thằng hiệu đói đứng khoanh
tay....
Phan Chu Trinh lần đầu gặp Phan Bội Châu ở Huế,
rất phục chí khí và đảm lược của Phan Bội Châu,
nhưng không tán thành chủ trương duy trì chế độ
nền quân chủ quan liệu cho là lỗi thời, phản quyền
lợi của nhân dân. Sau năm 1904 Phan Chu Trinh, Huỳnh
Thúc Kháng, Trần Quý Cáp bàn nhau cáo quan và lo
việc cứu dân, cứu nước. Ðể tìm hiểu tình hình, tháng
2 năm 1905 ba ông quyết định đi về phía nam lúc
này phong trào còn lắng xuống, đến Bình Ðịnh nhân
gặp kỳ khảo sát hàng năm cho học sinh, 3 ông lẻn
vào thi, lấy tên là Ðào Mộng Giác, mượn đàu đề thi
thơ "Chi thành thông thánh" (Lòng thành
thông đạo thánh) do Phan Chu Trinh làm, đầu đề phú
là "Lương Ngọc danh sơn" (Cầu ngọc ở danh
sơn) do Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp làm. Các
ông mượn đề thi mà nói lên cảnh đất nước, cứ mê
say trong giấc mộng cử nghiệp thì biết bao giờ tháo
cũi sổ lồng... Ðến Cam Ranh thấy 2 chiếc tàu Nga
hoàng đậu trong vịnh, 3 ông giả làm người bán thức
ăn, thuê thuyền ra xem thấy rõ là ta còn cách xa
nền văn minh Âu Mỹ. Ði đến Phan Thiết, Phan Chu
Trinh bị ốm phải nằm lại đó dưỡng bệnh trong mấy
tháng, hai ông Huỳnh, Trần lại tiếp tục vào Nam.
ở Phan Thiết, Phan Chu Trinh bàn với anh em ông
Nguyễn Trọng Lợi (con cụ Nguyễn Thông) về việc mở
trường học, hội buôn công ty nước mắm, xưởng dệt...
Trong đó có Trường Dục Thanh (mà sau này Nguyễn
Tất Thành, tức cụ Hồ làm giáo viên) và công ty Liên
Thành.
Sau cuộc Nam du này, ba ông bàn với nhau là muốn
cứu nước, cần mở một cuộc vận động duy tân rộng
khắp trong nhân dân, mong kết quả lâu dài, không
nên nôn nóng bạo động. Phan Chu Trinh là người cầm
đầu có nhiệm vụ liên lạc với nhà cầm quyền và các
tỉnh khác, còn Huỳnh và Trần lo việc xúc tiến công
việc trong tỉnh. Phan Chu Trinh là người cầm đầu
có nhiệm vụ liên lạc với nhà cầm quyền và các tỉnh
khác, còn Huỳnh và Trần lo việc xúc tiến công việc
trong tỉnh. Phan Chu Trinh ra Hà Nội, gặp nhóm sĩ
phu ở Bắc, có lên thăm Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế,
vào Hà Tĩnh gặp Ngô Ðức Kế - Lúc về Quảng Nam ông
có nói với Huỳnh Thúc Kháng là Hoàng Hoa Thám, một
người quả cảm, bền gan, giỏi dùng binh, nhưng không
nhìn xa thấy rộng, cứ cát cứ một vùng nhỏ như thế
rồi trước sau cũng bị tiêu diệt.
Năm 1906, Phan Chu Trinh bí mật xuống Hải Phòng,
đáp tàu sang Quảng Ðông gặp Phan Bội Châu rồi cùng
sang Nhật. Phan Chu Trinh ở Nhật vài tháng rồi xem
xét công cuộc Duy Tân ở Nhật Bản, rồi trao đổi bàn
bạc với Phan Bội Châu. Phan Chu Trinh tán thành
đưa thanh niên du học nước ngoài, nhưng kiên quyết
bác bỏ chủ trương duy trì nền quân chủ, phương pháp
bạo động vũ trang và việc mưu cầu ngoại viện. Phan
Bội Châu thì tán thành việc khai dân trí, nhưng
không tán thành nhân nhượng với Pháp, đề xướng dân
chủ. Tuy vậy 2 cụ Phan đều thống nhất đánh đuổi
giặc Pháp và bàn bảo vệ kín đáo công việc của nhau.
Về nước ngày 15/8/1906 Phan Chu Trinh gửi cho toàn
quyền Beau một bức thư lời lẽ thống thiết, tố cáo
tệ quan lại hà hiếp bóc lột nhân dân. Chính phủ
lại dung túng, khinh rẻ sĩ phu, gia tăng thuế khóa
khiến cho Chính phủ và nhân dân không thông, tình
thế hết sức nguy hiểm, cần phải cải lương chính
sách bảo hộ. Về Quảng Nam, Phan gặp tên Công sứ
hỏi "Quan Tòa quyền có chỉ thị cho các công
sứ và các quan lại địa phương mở trường học mà sao
không thi hành?" Tên Công sứ đáp "Không
có tiền" Phan bèn hỏi: "nếu nhân dân tự
mở trường thì sao" Tên công sứ không dự đoán
được hậu quả nên đáp: "Nếu dân chúng muốn học
thì cứ mở trường mà học. Nếu họ không làm thế thì
không việc gì đến tôi". Thế là Phan Chu Trinh
có cơ hội đi diễn thuyết để vận động mở trường,
40 trường dân lập đã mở. Riêng làng Phú Lâm quê
ngoại Phan đã có một trường dạy hơn 100 em con nhà
nghèo cấp cho giấy bút, 3 giáo viên dạy đủ chữ Quốc
ngữ, chữ Pháp và chữ Hán. Nửa đầu 1907 với hoạt
động của Phan, các tổ chức nông hội, thương hội,
xưởng dệt, lớp học mọc lên như nấm, qua vận động
đồng bào đua nhau hớt tóc ngắn, mặc áo cụt, vải
nội, học võ ta, bỏ rượu chè, giảm xôi, thịt, cúng
bái. Các nhà khoa bảng viết rất nhiều thơ ca, ca
dao, câu hát hò khoan, hát đối đáp v.v... cổ động
dân chúng cải cách Duy Tân. Riêng Phan đã viết:
Tỉnh quốc hồn ca và một số bài ca giáo huấn, khẩu
hiệu của phong trào bấy giờ là: "Chấn dân Khí,
Khai dân Khí, hậu dân Sinh". Chấn dân khí là
nói lên lòng yêu nước tự lực tự cường, đoàn kết
chống áp bức bóc lột nhũng lãm, hô hào cắt tóc ngắn,
cắt móng tay, bỏ hương ẩm rượu chè cờ bạc... khai
dân trí, tổ chức học hiệu mới, bỏ lối học văn cử
nghiệp chống mê tín dị đoan. Hậu dân sinh là phải
học nghề nghiệp mở xưởng dệt, trồng bông nuôi tằm,
lập nông đoàn để hợp sức làm ăn, khai hoang tiết
kiệm, góp vốn mở hãng buôn, xưởng thợ, giành dựt
lại quyền lợi trong tay Hoa Kiều, phong trào ở Quảng
Nam hưởng ứng Duy Tân rất rầm rộ.
Tháng 8 năm 1907 Phan Chu Trinh được Ðông kinh
nghĩa thục mời ra diễn giảng ở Hà Nội. Nguyên khi
ở Nhật về, Phan Chu Trinh có gặp cụ Lương Văn Can
cần mở một trường Nghĩa thục như Khánh ứng nghĩa
thục ở Nhật để khai dân trí đào tạo lâu dài. Phan
Chu Trinh là người diễn thuyết hay nhất, hấp dẫn
nhất. Phan đề ra cắt tóc ngắn đi "để cho xuẩn
xuẩn vi trùng không còn đất thực dân trên đầu mà
hút máu ta nữa!" đề ra duy tân tự cường chấn
hưng công thương nghiệp, bỏ lối học văn cử từ chương...
thế là các sĩ phu và nhiều người cắt bỏ búi tóc
củ hành, mặc đồ nội hóa... lan từ Hà Nội, Quảng
Nam ra khắp tỉnh. Thấy Ðông Kinh nghĩa thục mang
tính chất chính trị, thực dân Pháp ra lệnh đóng
cửa, đầu năm 1908 Thống sứ Bắc Kỳ ra lệnh thu giấy
phép, cấm hoạt động, Phan Chu Trinh còn ở Hà Nội
- Tháng 3/1908 ở Quảng Nam lại nổi lên phong trào
quân chúng xin xâu khá sôi nổi bắt Tri phủ Ðiện
bàn kéo lên trả quan tỉnh, đuổi đề đốc Tuệ ở Tam
Kỳ, vây bắt lãnh binh Ðiềm ở Hòa Vang, biểu tình
vây nhiều phủ, huyện đường, mấy ngày đêm trên tỉnh
ngồi trước Tòa sứ, xin bỏ xâu chống thuế. Nam Triều
là khâm sứ Huế vu cho Phan Chu Trinh là chủ mưu
cầm đầu phong trào này liền điện ra Hà Nội bắt Phan
Chu Trinh giải về Huế hỏi tội. Trước hội đồng viện
cơ mật và Khâm sứ Pháp hỏi tội Phan Chu Trinh, ông
đã phản kích lại: "Các ngài ngồi trên đầudân,
ăn lộc nước, lộc ấy không phải là máu mủ của dân
sao? Thế mà cứ ngồi yên ăn lịt, không lo vì dân
mở mang kinh tế, lo việc công lợi, để cho nó vô
cùng sở xuất, không biết lấy gì nộp mà rủ nhau làm
hạ sách như thế, là lỗi tại các ngài, các ngài đã
không biết tội thì chớ, lại đổ cho người khác sao?".
Bọn chúng cứng họng nhưng vẫn viện cớ vu vơ, kết
án: "Trảm giam hậu, lưu tam thiên lý, ngộ xá
bất nguyên" (chém nhưng giam lại, đầy 3 ngàn
dặm, gặp ân xã cũng không cho về). Tháng 4/1908
Phan Chu Trinh bị đày ra Côn Ðảo. Vài tháng sau
các thân sĩ yêu nước khắp Trung Bắc Kỳ cũng lần
lượt đầy ra Côn Ðảo trong đó có cả Huỳnh Thúc Kháng.
Ngô Ðức Kế, Ðặng Nguyên Cẩn... qua các đồng chí
bị đầy Phan Chu Trinh biết rõ tình tiết các vụ xin
xâu chống thuế và các thủ đoạn đàn áp dã man của
bọn thống trị thực dân. Huỳnh Thúc Kháng lại xoay
xở, sao được bản án - Phan Chu Trinh dùng tài liệu
lập một bản điều trần tố cáo những hành vi bạo ngược
của bọn quan Pháp ở Ðông Dương gửi cho liên minh
nhân quyền can thiệp với chính phủ và Nghị viện
Pháp cải cách đừng để đến nỗi dân đói quá, bồng
con, dắt cha già, tay không, xin giảm thuế mà nhà
cầm quyền Pháp lại ra lệnh bắn giết những người
vô tội này, lại còn vu tội chém giết tù đầy các
nhân sĩ, phá trường học, bắt thày giáo, phá huỷ
hội buôn... Trước mắt yêu cầu phóng thích những
người bị tù đầy...
Bức thư dịch ra tiếng Pháp, quốc ngữ gây dư luận
cho công chúng và Hạ Nghị viện Pháp đã chú ý đến
các chính trị phạm đã kết án, do đó họ được giảm
án từ từ 1913 lần lượt đến 1921 thì những người
bị xử đầy chung thân cũng lần lượt được về quê hương
phục hồi học vị.
Nhờ có sự vận động của liên minh nhân quyền và
ông Jaurès trên đất Pháp, tháng 6/1910 Phan Chu
Trinh được phóng thích, nhưng phải quản thúc ở Mỹ
Tho. Phan biết ở ta thì không hoạt động được gì,
nên khi sắp được tha, ông nói với Huỳnh Thúc Kháng
là sẽ sang Pháp rồi tùy tình thế mà hạ con cờ. Quản
thúc ở Mỹ Tho, ông phản đối và xin sang Pháp. Kết
quả tháng 3/1991 ông cùng cậu con trái Phan Văn
Dật 14 tuổi, đáp tàu đi Pháp.
Sang Pháp lúc đến Pari ông liên lạc với liên minh
nhân quyền và tìm gặp nhiều nhân vật trong Ðảng
xã hội, Bộ thuộc địa và giao thiệp với các báo thời
đại (Le Temps), Nhật báo (Lejournal), ông viết Ðông
dương chính trị luận, nêu lên những tệ hại của bọn
quan lại Pháp Nam, nhất là vụ xin thuế 1908 và phê
bình chính sách Pháp ở Ðông dương.
Sau những vụ bom nổ ở khách sạn Hà Nội làm chết
2 sĩ quan Pháp, rồi vụ Khâm sứ Pháp đào lăng Tự
Ðức để tìm vàng, Phan đã viết báo nêu lên đó là
tất yếu của chính sách Pháp ở Ðông Dương, nếu không
thay đổi chính sách thì hậu quả không lường được.
Phan Chu Trinh đã quan hệ với luật sư Phan Văn Trường,
dịch ra tiếng Pháp và giúp đỡ về sinh hoạt, giao
dịch - Phan Chu Trinh và Phan Vưan Trường bàn nhau
lập hội "đồng bào thân ái" trong Việt
Kiều. Năm 1913 Phan Chu Trinh có giao thiệp với
Nguyễn Tất Thành qua thư từ, lúc này Phan Chu Trinh
viết "Giai nhân kỳ ngộ" và "Pháp
Việt hiệp hậu chi tân Việt Nam". Qua quá trình
giao thiệp, Phan lại quen biết với một số người
Pháp tiến bộ có cảm tình như ông Jules Roux, Marius
Moutet và gặp lại nhà báo Babut quen từ lúc viết
báo ở Việt Nam.
Mùa hè 1914, đại chiến thế giới I bùng nổ, Pháp
tham chiến đánh Ðức, Phan Chu Trinh bị chính quyền
Pháp bắt đi lính, Phan Chu Trinh phản đối vì luật
pháp không bắt người dân xứ thuộc địa đi lính -
Không ép được, chúng bèn vu cho ông thông đồng với
Ðức và bắt ông giam vào nhà ngục Santé, chúng khám
xét lục soát quần áo, đứa thì ôm vật, đứa thì tát
tai, ông bị chúng giam cầm vô cùng khắc khổ- Trong
lúc bị giam ông tìm cách liên hệ được với thiếu
tá Roux, và viết thư, đơn đưa cho con bảo giao cho
liên minh nhân quyền và Ðảng xã hội.
Thời gian ở ngục ông viết "Xăng Tề thi tập".
Ông được Jiles Roux và các ông Marius Moutet ủng
hộ, và cũng không đủ chứng cớ gì nên sau 11 tháng
ông được phóng thích. Ra khỏi tù ông bị cắt trợ
cấp, con bị cắt học bổng, đời sống vô cùng khó khăn,
ở quê nhà (1914) bà Phan qua đời. Ông phải về các
tỉnh tìm mọi cách kiếm sống, câu cá, làm thuê, rửa
ảnh, rồi về Pari, rồi lại đi Pons ở phía Tây nam
gần Toulouse, tiếp tục học nghề chữa ảnh, rửa ảnh,
dần đời sống ổn định tự mở nghề chụp ảnh thu nhập.
Ðầu năm 1917, Nguyễn Tất Thành từ Luân Ðôn trở
về Pháp cùng học nghề ảnh với Phan Chu Trinh, nhưng
Nguyễn Tất Thành lại đặc trách lập hội "Người
An Nam yêu nước".
Năm 1918, Ðức bại trận - Phan Văn Trường giải ngũ
về lại gian nhà số 6 Villa des gobelins ở Paris,
Phan Chu Trinh, Nguyễn Tất Thành cũng về đây. Năm
1919, Phan Văn Dật, con Phan Chu Trinh bị lao ruột,
ông phải cho về nước, năm 1921, thì anh Dật mất.
Tháng 6/1919, cuộc Âu chiến kết thúc, các nước
thắng trận và bại trận gồm 26 nước họp ở Versailles,
có một số nước thuộc địa tham dự, 3 ông Phan Chu
Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Tất Thành bàn nhau
viết một bản yêu cầu do Nguyễn Tất Thành đề xuất
gồm 8 điểm gửi hội nghị Versailles, đòi các quyền
tự do cho đất nước, đòi giải phóng đại xá tù chính
trị, đòi mở trường dạy nghề và kỹ thuật cho các
tỉnh v.v... bản yêu cầu viết bằng 3 thứ tiếng, Pháp,
Việt, Hán gửi cho các đại biểu Varsailles dưới ký
tên Nguyễn ái Quốc, đồng thời đăng báo, in truyền
đơn, bản quốc ngữ làm thành thơ gửi cho người Việt
trong binh lính, Việt Kiều và gửi cả trong nước,
gây cho bọn cầm quyền Pháp .... lo sợ trước làn
sóng dư luận của nhân dân Pháp ở Ðông Dương. Bọn
mật thám theo dõi 3 ông ở Paris gồm các ông là 3
tay phiến loạn.
Năm 1922, Pháp tuy chiến thắng nhưng cũng kì quệ,
bèn bày trò đấu xảo ở Marseilles để tăng cường bòn
rút thuộc địa. Chúng đưa Khải Ðịnh sang bày trò
một tên vua thuộc địa hoan hỉ phục tùng. Phan Chu
Trinh lúc này ở Marseilles, chụp ảnh, thấy Khải
Ðịnh bày nhiều trò lố lăng như thiết triều thần
tuỳ tùng quỳ lạy chúc hô vạn tuế, mừng vua qua 3
biển bình yên, .... Phan Chu Trinh thấy rất tức
giận, bèn viết một bức thư dài ngày 15/7/1922 chửi
vua thậm tệ, nêu Khải Ðịnh tội đáng chém, đại ý:
1, Tôn quyền vua, 2 - Thuở phạt không đúng, 3- Yêu
chuộng lạy quỳ: vua không phải là trời, quan và
dân không phải đày tớ, ga xe hỏa không phải là chỗ
triều đình, bến tàu không phải là nơi đường bệ,
bắt mọi người nhận mũ áo xuống bùn, coi loài người
như trâu, ngựa... 4- Xài phí xa xỉ. 5- ăn mặc lố
lăng. 6- ?n chơi vô độ, 7- Ði Pháp có mục đích không
minh bạch. Bức thư thất điều được dịch tiếng Pháp
và đăng các báo lớn, làm cho dư luận sôi nổi.
Năm 1924, tháng 6, Phạm Hồng Thái ném bom mạt sát
toàn quyền Merlin ở Sa Diện, gây một dư luận xôn
xao ở Pháp và quốc tế, cánh tả trong Hạ nghị viện
Pháp chiếm đa số đưa vấn đề Ðông Dương ra bàn, thấy
bọn thực dân cực đoan làm quá trớn, nay cần nới
tay xoa dịu. Nhờ đó mà Phan Chu Trinh được phép
về nước.
Sau 15 năm lưu vong, tháng 6/125, Phan Chu Trinh
về đến Sài Gòn, hàng ngàn người ra đón nhất là đám
học sinh, Phan Chu Trinh ở nhà số 54 phố Pellerins
do ông Phan Ðình Ðiền cho mượn. Ông được các nhân
sĩ trí thức và nhiều người trong nhân dân thăm viếng
và giúp đỡ, trong đó ông gặp lại Huỳnh Thúc Kháng,
Lê Văn Huân từ Côn Ðảo về, và Phan Văn Trường cũng
từ Pháp về trước ở Sài Gòn. Tháng 11/1925 Phan Chu
Trinh đã 2 lần đến diễn thuyết tại nhà "Hội
Việt Nam", nêu lên lòng yêu nước thực hiện
lối dân trị theo kiểu Dân chủ tư sản. Ông Ðịnh ra
thăm Phan Bội Châu ở Huế, nhưng từ tháng 12/1925
ông bị bệnh nặng, 2 bác sĩ cứu chữa nhưng không
thể cứu vãn được, ông mất lúc 11h 30' ngày 24/3/1926
hưởng thọ 54 tuổi. Một hội đồng tang lễ gồm 15 người
trong đó có Phan Văn Trường, Trần Huy Liệu, đồng
bào khắp nơi đến viếng không ngớt, khắp 3 kỳ dấy
lên một phong trào truy điệu Phan Chu Trinh từ thành
thị đến thông quê, các trường học, khởi dậy một
lòng yêu nước ngưỡng mộ nhà chí sĩ Phan Chu Trinh
làm cho bọn Pháp rất lo sợ đối phó. Ðám tang khởi
hành ngày 4/4/1926, hàng vạn người đưa đám, bọn
cầm quyền Pháp và mật thám rất tức tối mà không
đàn áp được, số tiền phúng viếng lên 16.000 đồng.
Ban tang lễ và gia đình quyết định dùng tiền ấy
làm nhà thờ và xây lăng mộ để mọi người chiêm bái
và viếng thăm.
Nghe tin Phan Chu Trinh mất, cụ Phan Bội Châu ở
Bến ngự có làm một bài văn tế nêu lên ý chí, kiên
cường, dũng cảm, không chịu khuất phục của một nhà
chí sĩ yêu nước, đọc lên ai cũng vừa tức tối vừa
căm thù đối với bọn cướp nước và bọn bán nước cầu
vinh, nhiều cuộc lễ truy điệu đã lấy bài đó đọc
lên để cổ xuý nhân tâm.
Xin trích một vài đoạn để nói lên hình ảnh ấy.
"... Cây Tần học dặn dò đường tự chủ, Lư thoa,
Mạnh Ðức, so sánh người xưa. Mượn Ðông du thăm hỏi
bạn đồng tâm, Hương cảng, Hoành tân, lỏi len đường
lối.
- Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cầm quyền trong
gió cũng gai ghê.
Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng, cửa dân chủ
khêu đèn thêm sáng chói.
...
Nào hay: trời đã éo le, người càng quỷ quái.
Chứa chan máu quốc, nước vẫn vơ hồn - Xao xác tiếng
gà, trời mờ mịt tối.
Trường nô lệ xung quanh là rắn rết, văn cứu thời
khen khéo dây oan
ổ dã man ngan ngát những hùm heo, miệng ái quốc
hóa nên buộc tội.
Thành Hà Nội ùn ùn mây ác độc, nào kẻ lánh mình,
nào người chống thuế, chữ âm mưu tô vẽ đủ trăm đường.
- Ðảo Côn Lôn rực rưcl lửa oan cừu, thấy người yêu
nước, thấy kẻ thương dân, tơ xướng loạn dệt thêu
ra một mối.
- Sương đơn gió kép, giữa hội mịt mù, mưa dập sóng
dồn, xót ông chìm nổi.
- Thân Mậu Tuất, bấy nhiêu năm tân khổ, khi đào
cây, khi lượm đá, giữa bề trần gió bụi cũng thung
dung. Ðặng Hoàng Ngô, ba bốn bác làm hàn huyên,
khi uống rượu, khi ngâm thơ, ngoài cửa ngục lầm
than mà khảng khái.
...
- án tái phạm vì lời thông Ðức, dạ sắt vàng thêm
thử lại thêm bền.
- Thư thất điều đón giá như Tây, uy sấm sét chẳng
kinh cùng chẳng hãi.
...
Anh em ta: Ðất rẽ đôi đường. Tình chung một khối.
- Gảnh tổn vong ai cũng nặng nề. Nghĩa chung thủy
lòng càng bối rối.
- Sóng gió một con thuyền chung chạ, mái chèo đương
lúc cheo leo.
Mây mù muôn dặm lúc xa khơi, dấu ngựa nhờ ai dong
ruổi...
Lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh tổ chức khắp nhiều
nơi đất nước, nhất là ở các trường học, để lại cho
sinh viên, học sinh một nỗi xúc động vừa tiếc thương
nhà chí sĩ yêu nước, vừa căm thù bọn thực dân đế
quốc, bọn bán nước cầu vinh.
Tác phẩm của Phan Chu Trinh cũng để lại rất nhiều
đến nay chưa khai thác hết. Sau đây một số tác phẩm
đã biết:
1) - Pháp Việt hiệp hậu 2) - Tỉnh quốc hồn ca I
3) - Thơ ca giáo huấn 4) - Pháp Việt hiệp hậu chi
tân Việt Nam.
5) - Tây Hồ thi tập (soạn từ lúc ở Huế từ 1904-1913)
6) - Giai nhân kỳ ngộ
7) - Tạp ký: Trung kỳ dân biến tụng oan thi mại
ký.
8)- Ðông Dương chính trị luận.
9)- Xăng tê thị tập 10) - Tình quốc hồn ca II.

|