| ĐỊA
LÝ

Kinh
đô Hoa Lư thủ đô của nước Đại Cồ Việt
Kinh
đô Hoa Lư nằm trong một vùng cảnh quan thiên tạo
là một quần thể kiến trúc trang nghiêm đồ sộ và
khoáng đạt mà không phải kinh đô cổ nào cũng có
được. Ngày nay, nơi đây còn lưu giữ nhiều di tích
đền chùa cũ, động xưa và dấu ấn của những kiến trúc
đá hết sức độc đáo.
Cách Hà Nội chừng 100km về phía Nam theo Quốc lộ
1A, cố đô Hoa Lư thuộc địa phận xã Trường Yên, huyện
Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, gọi là
Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt. Đinh
Tiên Hoàng chọn Hoa Lư, một vùng núi non kỳ vĩ và
hiểm trở làm thủ đô - "kinh đô đá".
Đại Việt sử lược ghi: "Đến năm thứ nhất niên
hiệu Khai Bảo (968) đời vua Triệu là Tống Thái Tổ,
vương xưng hoàng đế ở động Hoa Lư. Rồi dựng cung
điện, chế triều nghi, sắp đặt trăm quan, lập xã
tắc và tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng đế".
Tại đây, ông cho xây cung điện, đặt triều nghi,
đắp thành, đào hào, dựa vào thế núi xây dựng một
công trình phòng ngự kiên cố như một pháo đài hiểm,
biệt lập với bên ngoài. Kinh đô Hoa Lư được bao
quanh bởi hàng loạt núi đá vòng cung cảnh quan hùng
vĩ.
Khoảng trống giữa các sườn núi được xây kín bằng
đất ken gạch, chân thành có gạch bó, đắp cao từ
8 - 10m, hiện vẫn còn dấu vết của nhiều đoạn tường
thành.
Vua Đinh Tiên Hoàng đã biết khai thác triệt để
thiên nhiên phục vụ cho con người. Lối kiến trúc
này tiết kiệm tối đa sức người sức của.
Có thể nói, kinh đô Hoa Lư là một quân thành vững
chắc do thiên nhiên và con người làm nên. Phía bắc
thành nằm bên sông Hoàng Long nên đường giao thông
thủy rất thuận tiện. Khu vực Thành Ngoại, nay thuộc
địa phận thôn Yên Thượng, Yên Thành, xã Trường Yên,
là cung điện chính, nơi vua Đinh cắm cờ nước, hiện
là đền thờ vua Đinh, vua Lê. Trước cung điện có
núi Mã Yên, tương truyền, vua Đinh Tiên Hoàng lấy
núi này làm án.
Tại thôn Yên Thành hiện vẫn còn nhiều đền, chùa
là một phần kiến trúc trong khu cung điện chính.
Đó là chùa Nhất Trụ, được xây từ đời vua Lê Đại
Hành, trước của chùa có cột Kinh bằng đá, cao 4,16m
hình tám cạnh, khắc bài kinh Lăng Nghiêm do nhà
vua làm để dâng nhà Phật, tạo nên vẻ đẹp tâm linh,
thánh thiện và để chuyển tải sinh lực vũ trụ. Liền
đó là đền Phất Kim - thờ con gái thứ ba của vua
Đinh Tiên Hoàng, nàng công chúa thà nhảy xuống giếng
tự vẫn chứ không chịu theo người chồng phản tặc
chống lại vua cha.
Trong khu Thành Ngoại xưa hiện vẫn còn nhiều chùa
cổ khác, đều được xây dựng từ thời nhà Đinh như
chùa Đìa, chùa Tháp, Bà Ngô.
Khu Thành Nội rộng hơn, ăn thông với Thành Ngoại
bằng một ngách núi, gọi là Quèn Vòng với những cầu
Đông, cầu Rền... bằng đá, làm nơi nuôi trẻ em và
kho chứa. Bên ngoài thành có nhiều trạm gác bảo
vệ. Kinh thành nằm giữa những quả núi lớn bao bọc
chung quanh, mang nặng tính chất quân sự, vị trí
kín đáo, thuận lợi cho việc phòng thủ, tiến công,
lại xa biên thùy khó khăn trong việc giặc phương
Bắc tìm hiểu, mở những đợt tấn công chớp nhoáng.
Phía đông bắc thành có núi Cột Cờ, xưa là nơi vua
Đinh cắm cờ nước, gần đó là nơi vua đứng để duyệt
thủy quân trên sông Sào Khê. Phía đông nam khu Thành
Ngoại còn có động Am Tiên trên lưng chừng núi, xưa
là nơi vua Đinh nuôi nhốt hổ báo để trừng trị những
kẻ có tội, còn ngay dưới chân núi là Ao Giải, nơi
vua nuôi giải để ném những kẻ có tội xuống ao cho
giải ăn thịt. Ngoài ra còn có hang Muối, hang Tiền...
là nơi vua cất giữ lương thực, ngân khố...
Tất cả núi sông và khu vực thành cổ nhấp nhô do
thiên tạo và nhân tạo, giống như một vịnh Hạ Long
trên cạn đã hình thành một quần thể kiến trúc trang
nghiêm, đồ sộ, khoáng đạt mà không một kinh đô cổ
nào có được.
Tới đời Tiền Lê, khi Thái Hậu Dương Vân Nga thấy
hiểm họa giặc ngoại xâm đang đe dọa mà vua Đinh
Toàn còn ít tuổi, không thể lãnh đạo cuộc kháng
chiến đã suy tôn Lê Hoàn lên làm vua, vua Lê Đại
Hành đã cho xây thêm nhiều cung điện lộng lẫy, làm
kinh đô Hoa Lư càng hoàn chỉnh.
Suốt 42 năm tồn tại (968-1010), kinh đô Hoa Lư
chủ yếu là đại bản doanh của hai vị vua kiêm Tổng
tư lệnh quân đội: Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành.
Đó cũng là nơi ra đời của một vương triều mới: nhà
Lý.
Khi dời đô ra thành Đại La (Thăng Long), để tưởng
niệm công lao đặt nền móng xây dựng độc lập tự chủ
của đất nước và nhớ đến cố đô Hoa Lư, Lý Thái Tổ
đã lấy tên một số cầu, chùa ở kinh đô Hoa Lư đặt
cho nhiều khu vực ở Thăng Long và vẫn tồn tại đến
tận ngày nay như: Ô Cầu Dền, phố Tràng Tiền, chùa
Một Cột...
Ngày nay, đến cố đô Hoa Lư, du khách không những
được thăm lại những đền chùa cũ, những động xưa
còn nguyên vẹn đến ngày nay mà còn thấy cả nhiều
vết tích của kinh đô đá. Khu vực chính trong kinh
thành xưa, nhân dân ta đã xây dựng đền thờ vua Đinh,
vua Lê với những kiểu kiến trúc độc đáo, tinh xảo,
gợi nhớ cung điện xưa lộng lẫy vàng son nhưng vẫn
đậm chất dân gian; nghệ thuật chạm khắc trên gỗ,
đá rất đêu luyện, công phu.
Ngày trước đền Đinh, trên đỉnh Mã Yên Sơn cao tới
265 bậc là lăng mộ vua Đinh, nơi nhân dân đã đưa
thi hài vua lên an táng để con người bất tử đó vẫn
như còn ngồi trên yên ngựa để cứu dân, cứu nước.
Từ đây, du khách có thể phóng tầm mắt bao quát hết
cả cố đô, thấy rõ từng ngọn núi, dòng sông với bao
huyền thoại kỳ bí.
Cùng với những di tích trên mặt đất, gần đây ngành
khảo cổ đã phát hiện và khai quật dưới tầng đất
giữa hai đền vua Đinh, vua Lê vốn là nền cung điện
cách đây trên 1.000 năm nhiều hiện vật quý giá,
minh chứng cho những công trình kiến trúc của cố
đô Hoa Lư và trình độ phát triển về kiến trúc, nghệ
thuật kinh tế, văn hóa xã hội của dân tộc Việt thời
bấy giờ.
Công an TP Hồ Chí Minh

|