

Chùa
Hương
Sơn
Tinh, Thủy Tinh
Đi
Cống
Nguyễn
Thị Kim Khóc Lê Chiêu Thống
Những
điều chưa biết về nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp
Thi
sĩ đoản mệnh Nguyễn Nhược Pháp
Thi
sỹ đoản mệnh Nguyễn Nhược Pháp
TPCN - Hoài Thanh đã từng hoài nhớ luyến tiếc, đại
ý rằng cái người mà thơ in ra nào có bao nhiêu nhưng
được người ta mến hơn cả ấy là Nguyễn Nhược Pháp...
Bây chừ đang cữ Giêng Hai của mùa xuân xứ Bắc ngồi
đò mộc từ đền Trình ngược dòng suối Yến về Chùa
Hương, ngắm những tàn hoa gạo đang sắp bung ra những
vệt son chon von trên sườn đá, tôi cứ một mực gẫm
rằng, những gốc gạo cổ thụ ấy thi sĩ Nguyễn Nhược
Pháp đã ngắm từ những năm lẩu lâu rồi để có bài
thơ Chùa Hương bâng khuâng mãi cho mai hậu?
Như Hoài Thanh đã từng hoài nhớ luyến tiếc, đại
ý rằng cái người mà thơ in ra nào có bao nhiêu nhưng
được người ta mến hơn cả ấy là Nguyễn Nhược Pháp!
Cái năm lẩu lâu rồi ấy là bao nhiêu?
Nếu cứ căn cứ hẳn về những chi tiết trong cuốn
Văn sĩ thi sĩ tiền chiến của nhà thơ Nguyễn Vỹ (
tác giả Sương rơi/ Nặng trĩu/ trên cành/ Dương liễu...
hai từ một câu mà Hoài Thanh- Hoài Chân đã nhiệt
thành biểu dương trong Thi nhân Việt Nam. Nguyễn
Vỹ hơn Nguyễn Nhược Pháp 4 tuổi, người xứ Quy Nhơn
nhưng nổi danh lại ở Hà thành và sau này càng nổi
tiếng hơn với Gửi Trương Tửu) thì ta cũng mang máng
xác định được thời điểm ra đời của bài Chùa Hương
khoảng năm 1934 hay 1935 chi đó...
Đại để thế này: Chuyến đi chùa Hương vào tháng
Giêng Âm lịch ấy, có Nguyễn Nhược Pháp và Nguyễn
Vỹ cùng hai cô bạn (không rõ đây có phải là người
yêu của hai chàng?).
Hai cô này thuộc dạng tân thời chắc con nhà khá
giả nên một trong hai cô đem cả máy ảnh. Mà máy
chụp hình khi đó là của hiếm... Qua đò suối Yến
là cả nhóm bắt đầu xuyên qua rừng mơ (Ôi rừng mơ
thuở ấy nay còn đâu?).
Trên lối mòn khúc khuỷu cây đá gập ghềnh, cả bọn
gặp một cụ bà cùng một cô gái độ tuổi trăng tròn
bận quần lĩnh áo the đang dắt cụ bà (không rõ là
bà hay mẹ?) cả hai cùng khe khẽ niệm Phật.
Cả bọn vượt lên nhưng không hiểu sao Nguyễn Nhược
Pháp sững lại bên hai người thì cô gái bặt luôn
tiếng niệm Phật. Nguyễn Nhược Pháp khẽ hỏi tại sao
cô không niệm tiếp đi, nghe hay lắm...
Cô gái nọ đỏ bừng mặt e thẹn cúi đầu không nói
chi... Vừa lúc ấy, một trong hai cô bạn có máy ảnh
quay ngược lại thấy cảnh ấy liền bấm máy! Từ khi
đó đến lúc qua chùa Tiên Sơn rồi tối ấy ngủ lại
trong chùa sáng hôm sau mới về, cả bọn đều không
gặp lại bà cụ với cô gái nọ.
Cả hai cô lại có ý phiền trách thậm chí lạnh nhạt
với Nguyễn Nhược Pháp và Nguyễn Vỹ về động thái
người đâu gặp gỡ làm chi ấy... Nhưng về đến Hà Nội,
cô vẫn đưa tấm ảnh ghi lại cái cảnh Nguyễn Nhược
Pháp đứng bên cô gái quần lĩnh áo the đó!
(Tôi có hỏi kỹ ông Nguyễn Hồ, con út bà cả cụ Vĩnh
và anh Nguyễn Lân Bình con ông Nguyễn Dực con trai
cụ Vĩnh hiện đang lưu giữ nhiều tư liệu về cụ Nguyễn
Văn Vĩnh thì cả hai cho biết không có tấm ảnh ấy
trong bộ sưu tập hiện có của gia đình! Chao ôi,
giá như bây giờ tấm ảnh đó đang có may mắn được
ai cất giữ?).
Nhưng khi đó Nguyễn Nhược Pháp đâu có ỏ ê chi đến
tấm hình. Mà chàng đang bận tâm về một việc khác.
Chàng đưa bài thơ Chùa Hương viết chưa ráo mực cho
Nguyễn Vỹ.
Chàng tưởng tượng thêm ra bao nhiêu sự kiện từ
cái cảnh gặp gỡ bất chợt nọ và lấy làm thú vị lắm...
Bài thơ lúc đầu có tên là Cô gái chùa Hương, sau
đó đưa vào tập Ngày xưa bỏ hai chữ đầu còn lại là
Chùa Hương.
Ngay hôm ấy Nguyễn Nhược Pháp ngỏ ý với Nguyễn
Vỹ đưa bài thơ đó vào một cuốn thơ của riêng mình
mà lâu nay Nguyễn Nhược Pháp đang có ý xuất bản.
Nhưng khi đó đang kẹt tiền. Nguyễn Vỹ gợi ý là
xin ông bố (tức cụ Nguyễn Văn Vĩnh). Nhưng Nguyễn
Nhược Pháp e dè sợ ông cụ rầy trách rồi vứt vào
sọt rác khi biết Nguyễn Nhược Pháp làm bài thơ ấy!
Nguyễn Vỹ lại mách nước thế thì xin cụ bà vậy?
Nguyễn Nhược Pháp đồng ý. Và tập thơ Ngày xưa của
Nguyễn Nhược Pháp, trong đó có bài Chùa Hương ra
đời năm 1935.
Như thế nào nhỉ? Cụ bà nào vậy? Tập thơ đầu tay
và duy nhất của Nguyễn Nhược Pháp ra đời cách thời
điểm thân mẫu thi sĩ mất khá chi là xa, lúc thi
sĩ mới lên hai tuổi?
Lại nói về cái khách sạn ở phố Hàng Trống, một
trong những gia sản chỉ là con con trong gia tài
của một ông chủ nhà in Trung Bắc Tân Văn lớn nhất
xứ Bắc Kỳ Nguyễn Văn Vĩnh.
Là địa danh gặp gỡ giao du của những tao nhân mặc
khách và những người có máu mặt của Hà thành và
mỗi khi về Hà thành thời ấy, người đẹp Hai Lựu cũng
đã lọt vào mắt xanh của ông chủ bút kiêm xuất bản
hào phóng Nguyễn Văn Vĩnh.
Tôi đã hỏi kỹ ông Hồ lẫn anh Nguyễn Lân Bình rằng
tại sao trên bàn thờ gia tộc có ảnh rất nhiều người
nhưng không thấy sự hiện diện của bà Hai Lựu tức
là bà hai cụ Vĩnh là thân mẫu nhà thơ Nguyễn Nhược
Pháp?
Nhưng tất thảy đều lấy làm tiếc hình như đã bị
thất lạc từ lâu? Cả hai cũng cho biết đến bây giờ
chưa có ai biết họ tên thật của thân mẫu nhà thơ
Nguyễn Nhược Pháp cũng như xuất xứ quê quán!
Chỉ biết khi ấy bà là một người đẹp có danh phận,
là con gái yêu của một thổ ty giàu có ở mạn ngược
đâu như vùng Lạng Sơn. Và nghe đâu bà có họ gần
với Tổng đốc người Tày Vi Văn Định?
Sau này, do nhiều nguyên nhân, hậu duệ cụ Vĩnh
trong đó có ông Hồ đã không có điều kiện để tìm
hiểu gốc gác của bà Hai Lựu là mẹ kế của mình.
Chỉ biết khi ấy, người đẹp có tên là Hai Lựu này
người cao ráo, trắng trẻo, giao du rất rộng, nói
thạo tiếng Pháp ...
Ông Hồ còn đặc biệt nhớ một chi tiết đặc biệt là
bà Hai Lựu sử dụng súng ngắn rất thành thạo! Điều
trớ trêu là khi đã thành thân với cụ Vĩnh, do các
mối giao du khá rộng nên bà Hai Lựu khá thân với
bà Suzanne và đâu như đã một lần giới thiệu với
cụ Vĩnh người bạn thân của bà tức là người đẹp Suzanne
như bài trước đã nói!
Lắm loài súng sính có đôi/ Nòi tình thui thủi đi
về một-không (thơ Hoàng Cầm) không biết có vận vào
trường hợp này không nhỉ?
Trời cho cái giống đa đoan lẫn phong tình như cụ
Vĩnh thì làm sao để tuột mất người đẹp Suzanne?
Kha khá những tờ báo đứng đắn lẫn lá cải Hà thành
thời ấy hình như đã lờ lớ lơ một sự kiện vợ kế cụ
Vĩnh – bà Hai Lựu dùng súng ngắn đáp xe sang trang
trại nổi tiếng của Suzanne bên Gia Lâm định phải
quấy một phen với chính người bạn thân của mình!
Nhưng ông con út cụ Vĩnh móm mém cái cười của tuổi
tám mươi rằng cũng ghê cho bà này bởi ghen thế nhưng
nghĩ sao đó, phần để giữ thanh danh cho cụ Vĩnh,
phần chợt trỗi chút thiên lương đã hạ súng!
Nhưng thương ôi, người đẹp Hai Lựu đã chọn cho
mình một cái chết tức tưởi và bỏ lại cậu con trai
dĩnh ngộ khi đó mới lên hai tuổi chính là thi sĩ
đoản mệnh Nguyễn Nhược Pháp của chúng ta!
Chết cha ăn cơm với cá/ Chết mẹ liếm lá đầu đường...
Mồ côi mẹ, nhưng cậu bé Nguyễn Nhược Pháp may được
lọt trong vòng tay thân ái của bà vợ cả cụ Vĩnh...
Học giả Nguyễn Văn Vĩnh cao to phương phi nhưng
cứ như những lưu bút của nhà thơ Nguyễn Vỹ, thì
thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp chỉ cao 1,52m.
Khác với phụ thân luôn có chất giọng khoáng đạt
oang oang thì anh con trai thường lặng lẽ có cái
miệng mới ngó như mom móm may có cái khiếu khôi
hài kéo lại.
Cũng nói thêm chi tiết này, bồ chữ thiên hạ cụ
Vĩnh không biết sở hữu bao nhiêu và được coi là
người thông thạo nhiều ngoại ngữ đặc biệt là chữ
Hán, Pháp nhưng cụ lại cực kỳ bình dân trong việc
đặt tên cho con cái.
Ông con thứ Nguyễn Giang (bạn thân của Picasso,
sẽ nói ở một bài khác) sinh ở Bắc Giang. Ông con
thứ nữa tên là Nguyễn Dực sinh ở làng Phượng Dực
quê nhà.
Một ông thứ khác tên là Nguyễn Phổ (xem TPCN số
Tết Bính Tuất) sinh vào thời điểm chiến tranh Pháp
- Phổ.
Ngang tàng hay bình dân chả biết, nhưng cụ Vĩnh
sau lần đi Pháp vào năm 1906 lẫn coi xét cục diện
cuộc chiến tranh lần thứ nhất, cụ Vĩnh đã phán một
cục diện một sự kiện động trời của thời cuộc bằng
cái từ nước Pháp yếu và đặt luôn cái tên cho cậu
con trai sinh cuối năm 1914 chứ đâu phải như sau
này có người tán rằng, tên thi sĩ chính là sự hội
đủ của một tư tưởng quan trọng lẫn chủ đạo của triết
học Trung Hoa, phàm người ta muốn đạt mục đích gì
phải lấy cái nhu để xử thế với cương lấy yếu để
ứng phó với cái mạnh?!
Cậu bé được cha mẹ coi sóc cẩn thận cho học hành
tử tế. Bằng cớ là Nguyễn Nhược Pháp sau khi đậu
tú tài rồi vào trường Cao đẳng Luật Đông Dương.
Hình như nối chí hay có gien ông thân, Nguyễn Nhược
Pháp không sung vào bất kỳ ngạch quan lại lẫn công
chức nào mà đi làm văn làm báo...
Truyện ngắn và kịch của Nguyễn Nhược Pháp có lẽ
không phổ biến rộng và nổi tiếng bằng thơ? Ngoài
Chùa Hương, Nguyễn Nhược Pháp còn có bài thơ khá
nổi Tay Ngà và Sơn Tinh Thủy Tinh viết tặng ông
anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Giang...
Tôi đồ rằng, có lẽ Nguyễn Nhược Pháp cố hữu là
một người nhân hậu. Đã đành thường trực cái bản
tính cái thiên lương đó nên mới man mác tinh tế
thuần hậu muôn đời phong tục Việt để mai hậu lòng
người, dù bất kể thời nào cũng chùng lại cân bằng
lại với Chùa Hương?
Và trong Sơn Tinh Tuỷ Tinh cũng vậy, người ta dễ
mà cao đàm khoát luận triết lý lằng nhằng này nọ
về mối thù dai dẳng truyền kiếp nhưng Nguyễn Nhược
Pháp đã thấp thoáng chút umua làm cho nó nhẹ nhõm
lên bao nhiêu Trần gian đâu có người dai thế/ Cũng
bởi thần yêu nên khác thường!
Nhưng mà, nhưng mà... Cho dù vô tâm lẫn nhân hậu,
cho dù cái tuổi hai mươi chưa đủ độ lắng lẫn sự
chiêm nghiệm này khác nhưng tôi dám chắc cái chết
tức tưởi của người mẹ thân yêu ấy ít nhiều có ám
vào chàng trai vốn có tâm hồn nhạy cảm kia?
Nhưng may (hay dở đây) tuyệt nhiên trong sáng tác
của Nguyễn Nhược Pháp, không lề vương vất hay hệ
luỵ lẫn ám ảnh cái chết bất đắc kỳ tử của mẹ chàng!
Hay là đấng Cao Xanh ghen ghét chi đây mỹ nhân
tự cổ như danh tướng/ bất hứa nhân gian kiến bạc
đầu (người đẹp lẫn tướng tài, chớ để cho thiên hạ
thấy đầu mình bạc) bắt người tài hoa ấy đi sớm khi
Nguyễn Nhược Pháp mới tròn 24 tuổi để Nguyễn Nhược
Pháp không đủ quỹ thời gian để chi dùng cho việc
đôi hồi chiêm nghiệm?!
Nhưng ai cũng như có trời mà biết sẽ như thế nào
nếu Nguyễn Nhược Pháp thọ đến 70 và thêm nữa, Vũ
Trọng Phụng 80 tuổi? Mà Nguyễn Nhược Pháp 24 tuổi,
cũng như Vũ Trọng Phụng đã cháy hết cháy sáng đời
mình ở tuổi 27 rồi...
Năm 1935, hai mươi hai tuổi, danh đang nổi với
tập Ngày xưa. Cái chết bất đắc kỳ tử của ông cụ
thân sinh năm 1936 và gia cảnh cái đại gia thế ấy
bỗng dưng sa sút chừng như khiến cuộc đời thi sĩ
trẻ tài hoa này ngoặt sang một hướng khác?
Từ thời điểm năm 1935 cho đến khi mất, 3 năm sau,
Nguyễn Nhược Pháp không có thêm tập thơ nào cũng
như một bài nào nổi? Hoặc giả Nguyễn Nhược Pháp
không viết hay rẽ ngang kiếm một nghề chi khác kiếm
sống?
Đây có lẽ cũng là một khúc khuất trong cuộc đời
Nguyễn Nhược Pháp mà kể cả người gần gụi Nguyễn
Nhược Pháp về mặt tinh thần cũng không đề cập đến
trong cuốn Văn thi sĩ tiền chiến?
Nhưng mà thôi, một Chùa Hương có lẽ cũng đã đủ
vị thế trong chốn thơ thiêng thấm hồn dân tộc. Tuần
vận vũ trụ của trời đất này còn mùa xuân còn Giêng
Hai, non nước này còn chùa Hương thì người ta còn
nhắc đến Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp!
Xuân Ba

|