 

Nguyễn
Tuân
Vườn Xuân Lan Tạ Chủ
Năm mươi năm về trước, du khách ở vùng Thanh Hóa
thường khi đi qua chỗ bến đò ái Sơn, về hữu ngạn
con sông Mã, nhận thấy ở vệ đường tay mặt một khoảnh
vườn độ bốn, năm sào, xung quanh trồng toàn một
thứ tre đằng ngà.
Đáng chú ý nhất là cái cổng kiến trúc theo lối
cổng bên Phù Tang hải đảo. Nếu khách biết chữ Hán
và đọc được chữ thảo Bát hiền đại chủ đời Thanh,
thời khách nhận thấy ba chữ tên biệt thự viết phỏng
theo lối chữ Tăng Quốc Phiên. Trên cái nền bằng
gỗ lim sơn màu "cấn rượu", ba chữ thếp
vàng "Túy lan trang" như hoạt động trên
miếng bạch thạch cẩn vào gỗ đỏ.
Chủ nhân "Túy lan trang", một vị hưu
quan, từ ngày được nộp lại triều đình chiếc ấn vàng,
lui về chỗ huê viên, thường để hết thời giờ vào
việc vun trồng, chăm chút một thứ lan rất quý, tìm
tận ở Yên Tử sơn, hồi còn tại chức nơi tỉnh Đông
ngoài Bắc. Hoa xưa kia, quen cái khí hậu nơi đỉnh
núi cao; nhất đán hoa về nơi đồng bằng, hoa không
khỏi một phen rầu rĩ với ngày nắng hạ, đêm sương
thu chỗ xứ lạ mà lá úa giò gầy. Sớm, chiều hai buổi
thăm hoa, chủ nhân lan viên chỉ lo hoa kia chẳng
ở mãi với mình, mà cái công ngàn dặm chọn đất lành
bọc cỏ quý quảy về quê hương sẽ lấy chi đền chuộc
lại. Sau một hồi tàn tạ giữa lan viên, hoa lại bắt
đầu cười với gió xuân về. Thoảng mùi lan đượm, ngắm
lá lan xanh rờn trên mấy hàng chậu sứ túy lan lớp
đất phủ lần vỏ sò cùng hòn cuội trắng, chủ nhân
như sống một cảnh đời mới. Rồi lan kia như cảm tình
người tri kỷ, ngày một thêm hoa và chả mấy chốc
chủ nhân phải lùi lầu trang về một mé huê viên,
nhường nơi đất tốt cho cỏ quý nẩy ngọn thêm cành.
Chủ nhân lấy luôn tên giống lan đặt làm tên biệt
thự, ngụ cái ý yêu hoa và tỏ cho khách qua đường
biết vườn nhà đầy cỏ lạ.
Nhớ đến lời sư Cụ chùa Quỳnh Lâm vùng tỉnh Đông
dặn lại sau khi cho giống lan, mỗi bận xuân về,
sớm sớm, chủ nhân lại phải cho cả vườn Túy lan say
với hơi rượu thời cái vương giả hương ấy mới còn
ở với người thế gian. Ngày xuân phải bón lan bằng
hương rượu, chủ nhân rất lấy làm sung sướng được
gần vùng cất rượu ngon có tiếng ở châu Thang là
làng Vĩnh Trị. ái Sơn đối ngạn Vĩnh Trị và đứng
ở Túy lan trang trông rõ đê làng Vĩnh Trị. Những
buổi sớm mùa xuân, mặt nước con sông Mã phẳng lặng
như tờ, lại lăn tăn làn sóng nhỏ do mái chèo đập
làn nước của một chiếc thuyền nan bơi từ bến ái
Sơn sang bến làng Vĩnh Trị. Bọn người sinh nhai
chỗ duyên giang, dậy sớm đứng trên mạn thuyền để
thở cái không khí trong sạch bình minh vui cười
bảo nhau:
"Lại thuyền cô chiêu Tần bên Túy lan trang
qua Vĩnh Trị lấy rượu cho hoa!".
Phải, cô chiêu Tần - con gái ông chủ vườn Túy lan
trang đi lấy rượu về bón huê đấy!
Quan án Trần, vì cái thích chơi hoa, phải giảm
những sự chi dùng trong nhà để có đủ tiền đặt thứ
"rượu khê" cho hoa lan, trị giá hai quan
một vò bên làng Vĩnh. Mà mỗi sớm, chèo thuyền đi
lấy rượu theo lời cha dặn, cô chiêu Tần đã diễn
ra trên dòng nước sông Mã một cái cảnh tượng giống
như trong tranh thủy mặc của người Tàu. Một người
con gái mà cái dáng điệu dịu dàng đã in theo khuôn
nhịp chốn đài trang, tóc búi cánh phượng, áo mặc
rộng tay màu thiên thanh, chân đi dép cỏ mà lại
thực hành một cái ý nghĩ chan chứa màu thơ - ngày
xuân cảnh sớm, bơi thuyền lấy rượu cho hoa - đủ
làm cho lãng tử được thấy cái đẹp ấy phải đưa mình
vào mộng.
Vươn mình trên con bạch tuấn, cậu ấm Hai nghì cương,
xuống yên, buộc ngựa vào gốc thùy dương, rồi đi
tản bộ đến một cái quán dựng trên đê. Ngồi trên
bệ đắp bằng đất sét, cậu ấm Hai như chờ đợi một
người và muốn giết thời giờ, luôn tay phe phẩy cái
roi ngựa làm bằng cành liễu khô bẻ ở cổng huyện
Đông Sơn là nơi người cha ngồi chức Huyện úy. Cậu
ấm Hai ngồi chờ cô chiêu Tần đi lấy rượu về. Ngồi
đợi người yêu lâu quá sức đợi và khi cúi mặt nhìn
nền mặt đất chực chỗ quán nước, cành liễu khô đập
luôn luôn vào đôi má chiếc giày tàu bằng nhung đen
đế gai xe tám sợi, không đủ cho người quên hết những
ý nghĩ về thời gian một khắc một chầy, cậu ấm Hai
lại cất mình lên ngựa cho khuây khỏa nỗi lòng khi
vắng bạn. Con bạch tuấn được lỏng cương vế, cũng
uể oải lê bốn vó trên đường. Vó câu một bước lại
dừng, con bạch tuấn còn mê man những đám cỏ non
của ngày xuân phủ kín mặt đê dài. Rồi vẳng tiếng
hát nơi đầu sông đưa lại. Cậu ấm Hai nhận thấy được
tiếng người quen, gò đôi cương nâng cao đầu ngựa
trắng; lỏng tay buông tay khấu, lần bước dặm đê,
ngựa đã từ từ đi xuống nơi dốc chỗ bến đò. Cậu ấm
Hai, cô chiêu Tần cùng nhau thi lễ: người xuống
ngựa, khách dừng chèo, nơi giang đầu lại có cái
cảnh tượng như hệt cảnh tả trong bài thơ của Bạch
Lạc Thiên.
- Xin lỗi công tử đã dầy công chờ tiện nữ. Dưới
Nguyệt viên vào đám, đặt nhiều rượu ở bên Vĩnh Trị,
nên hôm nay qua lấy rượu cho lan phải đợi lâu. Vậy
công tử sang bản trang từ bao giờ?
- án từ nơi huyện đã xong nên bữa nay gia nghiêm
muốn qua Túy lan trang xem hoa nở. Gốc trầm Quảng
Nam buộc ở đầu ngựa này sẽ dùng để đốt lên trong
khi lệnh nghiêm và gia nghiêm cho phép tiểu sinh
ngồi trì hồ.
- Quan Lệnh doãn cho công tử mang trầm qua Túy
lan trang như mỗi lần hội diện cùng gia nghiêm,
thời bên bàn rượu, trước những giò lan nở, tiện
nữ lại một phen được nghe lại tiếng đàn thập lục
của công tử.
Quan Lệnh doãn huyện Đông Sơn là bạn thân và là
khách quý của quan án Trần bên Túy lan trang. Ngày
còn làm kẻ thư sinh, hai ông già ấy, đã cùng thi
một trường, thụ giáo một thày và xuất thân cùng
một hội. Sóng nước bể hoạn, tuy không làm chìm đắm
nổi khách công danh trong khoảng mấy chục năm trời,
nhưng cũng đã làm cho hai người đòi phen tơ tưởng
lúc xa nhau. Hoạn hải từ ngày thuyền buộc bến, quan
án Trần về ở Túy lan trang, cho là một cái diễm
phúc được vui tuổi già gần người cố hữu. Rồi muốn
cho cái tình thân ấy được thân hơn một bực nữa,
đôi bạn già ngỏ ý cho nhau rõ rằng sẽ đi lại với
nhau bằng cái tình thông gia gây nên bởi cuộc phối
hợp nay mai của hai trẻ. Đều là người hiểu rõ cái
lẽ sự vật trên thế gian, hai ông già không chịu
uốn mình theo lề thói giả dối và thực hành cái luân
lý khổ khắc với đôi trẻ thơ. Cho nên còn ở cái thời
kỳ vị hôn phu và vị hôn thê mà cậu ấm Hai cùng cô
chiêu Tần thường được gặp nhau và trò chuyện. Nếu
cuộc đời cứ theo cái nhịp êm đềm mà đưa đôi già,
đôi trẻ ấy đi với ngày lụn tháng qua, thời chân
hạnh phúc của con người ta, Tạo hóa có lẽ dành riêng
cho nhà họ Trần và nhà quan Lệnh doãn Đông Sơn.
Lạc thú hai gia đình ấy ví có thời mé lầu Túy lan
trang bày chi thiên lệ sử; khách tài tình phỏng
ngàn năm không để giận thời giống lan kia, còn cợt
mãi gió xuân về! Nếu hầu hết những hạnh phúc đều
giống nhau ở chỗ ấm cúng, êm đềm, đầy đủ thời mỗi
nghịch cảnh lại có bộ mặt riêng tùy theo cái đau
đớn của người trong cuộc.
Năm ất Dậu, đời vua Đồng Khánh, vùng Hoan ái phải
qua cơn binh lửa gây nên bởi loạn Văn thân. Cũng
có người lấy danh nghĩa mà dúng tay vào công cuộc
phá hoại; nhưng vứt đâu cho hết những kẻ lợi dụng
thời cuộc, làm cho thỏa thích lòng dục trong lúc
giao thời trắng đen không tỏ rõ. Cái thời loạn!
Mà thời loạn thời trai thời loạn chứ sao? Cô chiêu
Tần sống vào buổi non sông mờ cát bụi, đã đành trông
ngóng cái thời bình. Cậu ấm Hai gặp lúc loạn ly,
không những không có thủ đoạn của kẻ làm trai thời
loạn, mà còn tỏ cho người thời ấy biết rằng một
kẻ thư sinh chỉ có cái tâm hồn lãng mạn là một người
chọn lầm thế kỷ. Chọc trời khuấy nước, trong khi
người ta ham chuộng cái sức khỏe mà chỉ biết có
ngón đàn, hiểu có hồn hoa, thời ở tâm người tài
tử, buồn, tủi, cực đến dường nào! Trước những cái
tin máu, xương thành sông núi, trăm họ bị làm cỏ,
hai trái tim thơ ngây, của cô chiêu Tần và cậu ấm
Hai, đều đập chung một điệu hãi hùng. Riêng về phần
quan án Trần, thời thân già đã không lấy làm quan
tâm đến vóc xương khô, còn những lo cho hoa, làm
sao ngăn nổi gót chân đám người ô hợp nếu một mai
chúng tràn đến.
Quan Lệnh doãn Đông Sơn lo việc tuần tiễu quân
nghịch cũng thưa đi lại trên quan án Trần. Nơi Túy
lan trang, hoa thường vẫn nở, người thường vẫn không
chểnh mảng việc vun xới cho hoa mà chỗ lan viên
lần lần như đã thấy cảnh điêu tàn. Không phải tại
người, không phải tự hoa; chỉ tại cái không khí
nặng nề của thời loạn phảng phất trên chỗ hoa viên.
Một đêm kia, về quãng cuối năm Bính Tuất, mưa tuôn
rả rích, gió thổi vù vù, một cái đêm đông đầy những
sự bí mật tối đen.
Cô chiêu Tần, kinh động mở mắt dậy. Mé lầu trang
lửa đỏ ngất trời. Tiếng người đi lại nhộn nhịp.
Tiếng người quát tháo dữ dội. Họ nhét giẻ vào miệng
cô chiêu Tần, rồi vực đi. Chỗ bến đò ái Sơn, bốn
chiếc thuyền từ từ dời bến. Đứng trên mui thuyền
có tiếng người con gái gào khóc, một người vạm vỡ
mặc quần áo đen, quấn khăn đầu rìu, tay cầm một
cây "hồng" đốt bằng giẻ tẩm dầu, soi sáng
quắc mặt nước con sông.
Bên Túy lan trang, lửa vẫn đỏ ngòn mà tịnh không
ai cứu hỏa. Tre và gỗ chỗ lầu trang thi nhau mà
cháy trước những ngọn lửa xanh lè liếm quanh loài
thảo mộc. Lúc mà ngọn lửa đám cháy không soi rõ
những đám lan xanh rờn trên chậu sứ, thời canh đã
sang tư. Đêm tăm tối buông một bức màn bí mật, lạnh
lẽo lên trên chỗ hoa viên tàn tạ. Chỗ đầu sông,
đàn đóm lập lòe nơi bến nước, gió đêm vi vút bãi
lau già!
Sớm hôm sau, các người ở vùng đấy, ngồi triết lý
suông, giữa hai ngụm nước chè tươi nơi quán:
- Quan án Trần cũng vì bị kinh động, cảm xúc mạnh
quá mà chết. Cô chiêu Tần, thuyền cướp mang đi.
Cái biệt thự kia bị cháy ra tro. Cho hay sống vào
thời loạn, cái phú quý và cái sắc đẹp cũng nhiều
khi là cái mầm vạ lớn.
Từ khi lan vắng chủ, từ khi hoa không người nâng
giấc, giống cỏ quý kia cũng quyết tạ theo tri kỷ,
thề không ở lại với thế gian. Vả chăng người giai
nhân đã đi, cái hào hoa cũng tận. Cái thuật cất
"rượu khê" bên làng Vĩnh Trị, cũng không
ai truyền lại cho ai nữa, để lại một mối tiếc cho
"làng men" mỗi khi nhắc tới cái phong
vị hồi cận đại.
Sau cái đêm dữ dội ấy, cây cỏ nơi Túy lan trang
đều một loạt ủ rũ như để tang cho người thiên cổ.
Tơ liễu khóc mưa, tóc tùng reo gió, bóng tre lìa
bụi, đều ngậm một cái tình buồn trước cái hương
trời lăn lóc khoảnh vườn
hoang. Lan đã biết tạ chủ, thời cỏ cây kia há kém
ai!
Để lại bên sông một khoảnh đất cao hơn mặt ruộng,
đứng xa trông như một cái gò phát bằng ngọn, ngày
nay, Túy lan trang chỉ còn là một chỗ đi về của
đám mục đồng. Tụi trẻ kia không biết kính trọng
cái âm phần của giống Túy lan khi yên giấc sau lúc
tạ chủ, cho trâu bò giẫm nát cả mồ hoa!
Thiên "thảm sử Túy lan trang" cũng đi
theo với thời gian và bị xóa nhòa trong trí nhớ
người đồng thời. Ngày nay du khách đi qua vùng ái
Sơn đất Thanh Hóa, nghe thấy những danh từ "Gò
Lan tạ" và "Quán cậu Hai" phải hỏi
mãi mới ra nghĩa cũ. "Gò Lan tạ" là nền
tảng Túy lan trang và là cái nơi vùi hoa lan; "Quán
cậu Hai" là nơi cậu ấm Hai nghỉ ngựa trước
khi gặp người ngọc chỗ lầu trang, vẫn hết sức giơ
cái thân tàn chịu lấy cái gió mưa nơi đầu bến. Gò,
quán kia đã ghi vào trong tâm trí khách chơi hoa
một cái kỷ niệm buồn rầu. Vườn xuân lan tạ chủ;
đàn đóm lập lòe nơi bến nước mà gió đêm vi vút bãi
lau già...
Tiểu thuyết thứ bảy, 1935

|