|
Nguyên Hồng
Buổi chiều xám
Xan bỏ hẳn kính ra, cất vào túi áo trong rồi ngước mắt
trông, Xan hơi bàng hoàng vì sự hiện diện đột ngột này.
Trên đầu Xan, mây chì càng thấp xuống, và chung quanh
Xan, cảnh vật càng thẫm lại. Gió thổi mạnh hơn. Bụi
đường cùng lá cây cuộn lên thành tưng đám dày, chạy
rào rào và quằn quại như những chim chóc chạy trốn trước
cơn bão.
Cái lạnh càng thấy rõ nữa trong cảm giác Xan. Xan rít
tiếng khe khẽ:
- Không biết còn rét đến bao giờ hở?
Câu hỏi này làm Xan cúi mặt xuống, không dám nhìn ra
xa và nhìn kỹ chung quanh nữa. Từ những thân thể trần
truồng, co quắp, những cái dáng đi lẩy bẩy mờ mờ, và
những cặp mắt ngơ ngác của những đám người nhan nhản
ở hai bên đường và các xó hè, đến những cây cối, nhà
cửa và thời may đều âm âm hỏi theo Xan:
- Đến bao giờ nữa hở? Đên bao giờ nữa hở?
Cái không khí u uất về chiều này! Cái cảnh tượng nhợt
nhạt của chiếntranh này! Cái hoang mang của sự sống
qua những đói rét, tàn phá và chết này! Nghĩ tới đấy,
thót cái tim Xam như bị kẹp mạnh, bởi bột cái kìm, vào
ngực San như bị ai đứng dận lên. Lại như có từng núi
gạo đương đốt cháy ngùn ngùn ở trước mặt Xan. Lại như
có từng đống xác chết vây bọc lấy Xan trong đó có cả
cha mẹ, anh em, vợ con, và bao nhiêu người quen biết
của Xam, mấy tháng trước đây còn vạm vỡ, nhanh nhẹn
không thể tưởng tượng được. Và không !... không !...
có cả Xan nữa. Xan giờ đây ở nhà in và, nay vẫn còn
khét mùi dầu mắt vẫn còn những trang giấy dập thử lấp
loáng dưới ánh đèn điện và trong đầu vẫn còn âm ỉ những
tiếng máy. Xan - một kẻ trong cái hạng người cũng chỉ
có hai bàn tay làm việc mà tiền lương chưa cuối tháng
đã hết, gạo trữ không , ruộng cày cấy thì thật hoàn
toàn không bao giờ biết đến.
ình... ình... ình... sầm... một cái "cam nhông"
lao qua mặt Xan và rồi dưng lại trước một máy nước.
Không bóp còi và phóng bừa cho tới cả lúc rẽ vào đám
đông, cái xe quái gở nọ chi tí nữa là hất tung Xan đi
hoặc đè nát Xan. Ngã dúi vào một cột đèn. Xan, khi đứng
lên, không phủi quần áo vội mà chỉ trừng mặt nhìn. Sự
căm tức lại chẹn lấy cổ Xan. Đó là cái xe của quân đội
Nhật lù lù như một coi voi, bụi bậm bám đầy, với mấy
chục lính lố nhố, súng dựng ở trước ngực, tay cầm rung
rung như sắp vung lên bắn vào người tao.
Sau một câu chửi hổn hể, Xan đã toan đi, nhưng thấy
mấy tên lính phốc xuống đất, sấn vào đẩy dúi những người
chực nước mà tranh lấy cái vòi, thì Xan nảy ra một ý
nghĩ bèn thôi. Xan muốn với tất cả đâu xót trong lòng
chúng kiến một lần nữa sự dã man mà đồng bào Xan phải
chịu để xem nó còn tới mức nào trên những kiếp người
hiền lành nhẫn nhục này.
Ê ê ê... hô hô hô...
Những tiếng doạ nạt, xua đuổi và cười đùa càng làm cho
không khí đặc sệt lại. Chỗ này là một cái chợ chuyên
họp về chiều cả các thứ hàng ế với các người làm ăn
đầu tắt mặt tối. Bị cái xe cam nhông chắn gần hết lối
đi, xe cộ, gồng gánh ứ lại, chen chúc nhau ầm ĩ. Trong
khi ấy những kẻ chực nước và rửa ráy đun nấu hễ được
dịp ghé vào vòi nước là lại xô đẩy nhau, thùng xích
loảng xoảng, chửi bới lộn bậy. Bọn lính vừa phần bị
vướng, vừa phần tinh nghịch, lại đẩy lại đạp, lại giơ
thùng vùng lên để cùng cười rantrước những trẻ con vỗ
tay, reo hò... Xan tưởng đầu óc đến nứt mất.
Xan càng rừng rực cả tâm trí.
Chới vào tai Xan, ở những xe đằng đầu đường kia, lại
luôn luôn có những toán lính ngồi lên, nhảy xuống, dậm
thình thịch và cười hát hô hô. Cuối cùng, chúng thúc
cái nắp mui xe lên. Thế là mấy tên lính nữa lại ùa xuống.
Nhưng trút được mấy tên lính xuống xe thì sự đùa nghịch
đã bớt. Hơn chục tên lính còn ở trên xe lại dựng súng
lăm lăm trong tay. Xan bỗng ngạcnhiên vì nhận ra một
tên lính hình thù rất lạ trong số lính im lặng ấy. Hắn
- không ! một thứ người ở một rừng núi nào bên Triều
Tiên, Trung Quốc hay ở một xứ nào khác thì mới phải
chứ người Nhật sao lại thế - hắn cũng lùn, nhưng đó
là một lùn dày và bè ra của một thân thể to chắc. Cái
mũi hắn đội chỉ vừa dính có chỏm đầu, mà đầu thì tóc
xoăn tít mọc trùm cả gáy! Mặt hắn chỉ để nhận thấy có
hai con mắt, hai con mắt quăm quắm dưới đám lông mày
lấm tấm bạc, hai con mắt rất sáng, rất tợn nhưng không
làm người ta sợ - còn thì chỉ thấy râu ria xồm xoàm.
Một con khỉ độc!
"Con khỉ độc" nay lại mặc cái quần thùng thình
như cái váy, thắt lưng da trễ ra để hở cái rốn và lông
bụng. Nó không lồng xuống đám đông để phá phách mà đứng
ngây ra nhìn.
Trời tối gần hết. Chỉ còn một khoảng bằng cái hang nhỏ
đỏ bầm ở góc phía tây. Dưới cái ánh sáng thoi thóp này,
một ngọn múi tím đục cố ngoi lên giữa lớp sương nhờ
nhờ như khói. Bao nhiêu ngọn cây và nóc nhà về phía
tây cũng đều như có khói quấn quít. Và từ cái biến khói
ấy, tiếng chim gọi nhau, tiếng lá xao động, tiếng gió
vi vu thoang thoảng đưa lại hoá thành một thứ tiếng
xào xạc heo hút vô cùng.
Cặp mắt nhìn quằm quặm của "con khỉ độc" bỗng
chớp chớp. Gian hàng tạp hoã ngay chỗ ô tô đã bật đèn.
Từ cái cửa sáng trưng đi ra, một người đàn bà gế một
đứa nhỏ cuống quít chỉ trỏ:
- Kìa mợ đã về!... Em nín đi... chóng ngoan... Mợ về
kìa.
Đứa bé càng giãy đạp. Nó đòi bế hẳn ra hè để được thấy
hắn nếu thật mợ nó về. Người đàn bà bế nó phải chiều
theo. Y càng ríu rít nựng nịu nó, vỗ về nó. Cảnh nhộn
nhịp và những tiếng ồn ào dần dần quyến rũ đứa bé. Nó
không những nín hẳn lại còn cười khanh khách và sà xuống
nô với con chị nó đưa tay vẫy vẫy đùa cợt. Người đàn
bà bế nó mấy lần phải nhào theo đà đứa bé mà y bế có
vẻ nặng lắm.
Không phải vì trời rét nó quấn chăn bông và mặc nhiều
áo nên nó làm người đàn bà khó bế. Da dẻ hồng hào, mắt
sáng và xếch, môi tươi, cổ tay như bột nặn, đầu đội
mũ len hồng bịt kín tai, kiểu mũ tàu bay, đứa bé tự
nói rằng nó là một thằng cu khoẻ mạnh lắm. Người đàn
bà mỗi khi nâng nó lên hay xốc lại nó thì cả người đều
chuyển động. Hai bắp tay béo mẫn của y gân lên, ngực
y rung rung nổi căng, mặt y đỏ bừng.
Xan chợt giật mình.
"Con khỉ độc" bỗng quẳng súng lên mặt hòm
nước, nhảy bịch xuống đất, xổ đến người đàn bà, hai
cánh tay lông lá đưa ra như sắp ôm lấy. Người đàn bà
rú lên, quay ngoắt đi. Khủng khiếp vì cái hình thù quái
đản ấy, đứa bé cũng choé lên một tiếng rồi nhắm mắt
lại, gục mặt xuống vai người bế. Chết rồi. Khốn nạn!...
Khốn nạn! Xan mím môi lại, quắc mắt lên, chờ một cảnh
đùa nghịch dâm đãng sắp xẩy ra giữa người vú em béo
trẻ và "con khỉ độc", mà kẻ sợ đến mất trí
là một đứa trẻ ngây thơ đương cười nô hồn nhiên. Khốn
nạn! Khốn nạn!... Sự khốn nạn đã đến cùng tột rồi! Đi
bắn giết người, đi cướp đất nước, đi bóc lột của cải,
vơ vét thóc gạo trong khi mùa màng mất và sự đói kém
tàn hại hàng triệu sinh linh chưa đủ lại còn hãm hiếp
đàn bà một cách công nhiên nữa. A! Đồng bào xem! hơn
hai mươi triệu linh hồn máu mủ với Xan còn phải đợi
những điều kiện nào mới vùng dậy, đập tan những thống
khổ?
Nhưng không! không phải Xan loá mắt. "Con khỉ độc"
đã đến sát người vú em rồi mà cánh tay lông lá của hắn
giơ ra chực ôm lấy. Đã thế, thấy người vú em luống cuống
chực chạy trốn vào nhà thì hắn lùi lại. Hắn khép bớt
một cánh tay, và hắn vừa gật đầu vừa cười rất tươi bằng
hai con mắt sáng nhấp nháy:
- Ê ê ê... tý ty ty... tý ty ty...
Lần này, vừa nói hắn vừa tiến sát lại người vú. Một
tay hắn níu lấy cánh tay bế em của người vú, một tay
hắn vẫy vẫy đứa bé mà hắn ghé hẳn mặt nó vào mặt hắn,
vừa nháy nháy mắt, vừa gật đầu, khẩn khoản ra hiệu với
đứa bé đừng sợ gì nữa, hãy theo hắn bế ẵm.
Trẻ con và người lớn đã dổ xô đến. Tất cả đều bấm nhau
chỉ trỏ "con khỉ độc". Không để người vú trao
đứa bé cho mình, "con khỉ độc" ôm giằng lấy
nó mà ấp vào người. Hắn vỗ về nó, cười khà khà rồi xốc
cao nó lên trên mặt mình nhăn nhó gật đầu, nháy mắt.
Thế rồi, sau khi bàn chân bé xíu đi bít tất hồng nhảy
nhảy trên cái mặt xồm xoàm nọ thì những tiếng cười nức
nở rức lên "Con khỉ độc" lại rít miệng vào
trán, vào má đứa bé. Cái tã bông cái kim băng bị tuột.
Hai bắp đùi mập mạp của đứa bé lồ lộ tất cả lần da thịt
mơn mởn, "Con khỉ độc" liền ngoạm lấy, nhay
nhay, suốt từ háng xuống gót, lại từ gót lên háng, sau
đó thì rúc vào cái dái quả ớt của đứa bé mà hít lấy
hít để.
Như có một ánh sáng khác, một bầu trời khác mở ra trước
mắt Xan. Một buổi chiều ở đảo Phù Tang xa nước Xan kia.
Ngọn núi Phú Sĩ phơi lơ lửng vừng trán trắng xoá giữa
những sương lung linh cuồn cuộn nở. Hoa hạnh đào phơi
phới nhợp trời. Một người cha đi làm về ở một xưởng
máy mịt mù than bụi hay ở, ở một cánh đồng đất nâu xới,
mịn tơi như bột. Quần áo hãy còn nhớp nháp, tay vẫn
còn đen thui, y đã ôm chầm lấy con bé trong tay vợ đứng
đón ở trước cửa cái nhà gỗ nhỏ. Y cũng đã hôn hít, cũng
đã trao tất cả tình thường yêu và lòng hy vọng đời mình
váo da thịt của con, cái giọt máu của y sẻ ra... Ba
năm, năm năm, mười năm rồi! Hay lâu hơn nữa cũng nên,
cái buổi chiều ấy mới trở lại. Mà biết đâu, biết đâu
nó lại sẽ không mất hẳn với một con người đã bị chiến
tranh lôi đi không còn biết tới đâu không còn biết đến
bao giờ, mà cả dân tộc của bọn đi xâm chiếm và dân tộc
bị xâm chiếm, đều ê chề, tàn hại.
Xan lạnh tê cả người, Xan thôi không nhìn người lính
nọ đưa mắt trông lên tốp lính đứng trên xe. Và hung
bạo trên những con mắt một mí và những gương mặt lầm
lầm kia không còn nữa. Đó là những bộ mặt phờ phạc,
ngây độn dưới ánh chiều hấp hối đã gần lẫn hẳn với bóng
tối. Quần áo mầu nước dưa đen xỉn lại vá víu, xốc xếch,
nó cũng bẩn thỉu tồi tàn chỉ kém một tí những quần áo
rách rưới của những người chung quanh. Sự thiếu thốn
khổ sở đã kêu lên cả ở những con người này với những
tiếng kêu bị bóp một cách chặt chẽ hơn, quyết liệt hơn,
mà nếu kẻ kêu để bọn cầm đầu hay bên ngoài nghe thấy
thì cái chết đến ngay lập tức.
Trong giây phút, Xan tưởng đến bao cảnh choáng lộng
đã diễn ra làm bao kẻ phải nghẹn ngào khao khát. Những
dãy ôtô bóng lộn, những cờ bay phấp phới, những vàng
ngọc chói ngời, và những toà nhà sực nức hương hoa của
những ngày đại hội, của những dạ tiệc. Tiếng hát, tiếng
đàn, tiếng kèn... âm nhạc lúc tưng bừng, lúc lả lướt,
lúc loạn xạ, mê tơi đã cất lên át những tiếng rên âm
u của đói và chết. Cảnh hoan lạc đã được cực điểm tranghoàng
để làm quên một cuộc chiến tranh bẩn thỉu, quên rằng
ngoài mặt trận kia khói và lửa đang ngút trời, từng
lớp, từng lớp những người bỗng thành bia thịt, những
máy bán chém người không tiếc tay, giày xéo lên xác
chết để làm giầu cho một lũ lái súng, khát vàng và máu.
*
* *
Cách buổi chiều ấy không đầy hai tuần, Xan đương coi
máy chạy thì nghe được một chuyện sau đây:
"Một đêm kia ở một ga nhỏ trong một hàng cao lâu
đã đóng cửa, có một viên võ quan Nhật còn rất trẻ và
người lính già vào gọi cà phê. Cả hai uống xong rồi
vẫn ngồi thừ trên bàn, chẳng ai nói với ai một lời.
Chợt người lính choàng dậy. Y móc ở trong túi áo ra
một bức thư một tấm hình và một con búp bê nhỏ. Y đặt
tất cả lên bàn, mếu máo nhìn rồi khóc nức nở. Xem bức
thư ngắm tấm hình và mâm mê thứ đồ chơi của trẻ nọ,
viên quan cũng nước mắt đầm đìa và cũng gục mặt xuống
bàn mà mức nở. Đoàng... đoàng... hai tiếng súng vang
lên. Mọi người đều kinh hoàng. Người lính rút súng lục
của viên quan ra lúc nào không biết ghé vào thái dương
mình bóp cò. Viên quan nhanh mắt giằng được súng. Người
lính già liền tuột vội lưỡi lê, chạy vụt ra chỗ khác
mà tự rạch nát cổ và xỉa be bét vào ngực mình. Lính
đóng ở gần đấy đổ đến, thì sau một phát đạn suốt qua
thái dương với khẩu súng của chính mình, viên quan trẻ
tự bắn, chết gục xuống bên cái thây súng máu của người
lính già tuỳ tùng".
Như có một mũi kim chói vào tâm trí Xan. Máy đương rầm
rầm dưới tay Xan mà Xan cũng thần mặt ra nhìn. Cái hình
thù đầy bè bè và cái bộ mặt râu ria xồm xoàm, mắt quăm
quắm của trên lính mà Xan gặp buổi chiều hôm nọ đã tưởng
quên đi, giờ lại hiện ra trước mắt Xan. Xan lại thấy
hai cánh tay lông lá thú vật ấy giơ ra đón đứa bé bụ
bẫm, và cả cái mũi, cái miệng râu ria che kín của hắn
cứ rít vào tay, vào trán, vào má, vào đùi, nhất là vào
háng, vào dái đứa bé. Xan lại tưởng đến một buổi chiểu
xa xôi gần mờ mịt kia mà "con khỉ độc" ấy,
một người cha cũng như Xan, đã ôm ấp hôn hít lần cuối
cùng rồi dứt ruột ra đi.
Nước mắt Xan không vỡ ra nhưng một cảm giác đau xé ran
lên khắp trí tưởng Xan. Xan thở hổn hển và vội nhăn
mặt lại vì một câu hỏi:
- Người lính Nhật già kia có phải là "con khỉ độc"
không? Hay cả "con khỉ độc" ấy cũng chết rồi,
chết vì buổi nhớ, chán nản và đau khổ rổi?
1945
|