|
Nguyên Hồng
Mợ Du
- An! An!
Tiếng gọi vừa dứt, một bàn tay nắm chặt cánh tay tôi
lôi tôi đi. Tôi mở to mắt nhìn người đàn bà này. Còn
tôi, càng nhìn vẻ mặt hốt hoảng của mợ Du tôi càng hồi
hộp và nóng lòng chờ một câu nói của mợ ta. Đến đầu
phố mợ mới dừng lại, ghé miệng vào tai tôi:
- Thằng em Dũng đâu hở con? Con đi tìm nó cho mợ. Con
bảo nhỏ thằng em Dũng chứ! Nếu nó ở trong nhà thì con
chờ nó ra ngoài đường rồi hãy gọi.
Đoạn mợ ta ẩy mạnh tôi:
- Mau lên con! Mợ đứng chờ con và em Dũng ở bên đường
ông Hào đấy!
Mợ Du! Mợ Du! Một người đàn bà mà hiện giờ tôi còn nhớ
từng nét mặt, tiếng nói. Mợ có một gương mặt trắng mát,
gò má hơi cao, mắt có quầng thâm và lúc nào cũng ướt
át, lờ đờ. Tiếng nói của mợ nhẹ và ấm. Mợ đã là người
bạn buôn bán thân nhất của mẹ tôi. Nhưng từ ngày mợ
bỏ cậu Du, tôi ít thấy mẹ tôi chuyện trò với mợ, cho
đến ngày nghe đâu mợ vào Vinh cùng với một người thợ
may tây rồi đẻ con với người ấy.
Mợ Du bỏ chồng! Mợ Du phải bỏ chồng vì bị mẹ chồng và
em chồng bắt được quả tang tình tự với anh thợ may trai
trẻ, có duyên, làm cho nhà mợ! Tôi đã không hiểu tại
sao mợ Du đã có con lớn lại bậy bạ như thế. Và, như
những người lớn, tôi đã ghét và khinh mợ mỗi khi nghe
nhắc đến mợ với cái tội không thể tha thứ ấy.
Nhưng sau một đêm kia, đối với mợ Du tôi bỗng đổi ra
thành lòng thương và mến. Rồi từ đêm ấy trở đi, tôi
căm tức vô cùng trước những kẻ bêu riếu mợ hay ra vẻ
ghê tởm thằng Dũng con mợ.
Đêm ấy là một đêm trăng và tôi không nhớ về tháng tám
hay tháng chín, chỉ nhớ là một đêm trăng sáng lắm. Mợ
Du cũng bỗng nhiên hiện ra trước mặt tôi và nắm chắc
cánh tay tôi.
- An! An! Con giúp mợ việc này rồi mợ cho một xu nhé.
Tôi chau mày lại nhìn người đàn bà đã vắng mặt ở phố
tôi và không biết đi đâu đã sáu bảy tháng nay:
- Tôi chịu thôi! Mợ nhờ đứa nào thì nhờ.
Mợ Du giọng ngọt ngào van lơn:
- Con chịu khó một chút mà! Chóng ngoan! Đây mợ cho
con hai hào đây.
Đồng hào đôi sáng loáng dúi vào tay tôi có ngay một
hiệu lực rất mạnh. Tôi không còn thấy khó chịu vì sự
nhờ vả của mợ, và tôi như không còn nghĩ đến cái tai
tiếng không ra gì của mợ khiến mợ trở nên một người
chịu đựng sự khinh bỉ và nguyền rủa của cả các gia đình.
Tôi vẫn làm ra bộ khó khăn, nhìn mợ bằng cặp mắt do
dự. Mợ Du liền kéo tôi vào một hàng hiên. Mợ nói nhỏ,
giọng càng run run:
- Con vào nhà rủ thằng em Dũng ra đường chơi với mợ.
Con đừng cho ai biết! Và con rủ nó sang gốc ổi vườn
ông Hào đằng đầu phố ấy.
Tuy nhỏ tuổi, nhưng chỉ nghe mợ Du nói ngần ấy câu,
tôi nhận thấy ngay tại sao có sự gặp mặt vụng trộm giữa
hai mẹ con này, và tôi cảm thấy rõ ràng sự lo lắng và
đau khổ của một người đàn bà bị đuổi ra khỏi cửa một
gia đình nay lẩn lút trở về để được thăm nom con giây
phút.
- ừ con, - tôi đổi tiếng xưng hô - con đi gọi thằng
Dũng cho mợ, nhưng nhỡ nó đương đọc sách cho cậu nó
nghe trong khi cậu nó hút thuốc phiện thì sao?
Mợ Du chớp chớp mắt rồi lờ đờ nhìn về một cửa hàng đã
đóng cửa. Trong bóng tối giữa hàng hiên, cặp mắt mợ
Du bỗng long lanh như hai viên ngọc:
- Thì con chịu khó ngồi bên nó rồi thừa cơ bấm nó rồi
bảo nhỏ nó ra ngoài.
Tôi liền gật đầu, chạy vút đi.
May quá, tôi vừa tới cửa nhà cậu Du thì thằng Dũng ở
trong nhà đâm bổ ra gọi hàng mía. Nó không để tôi nói
thêm với nó một nhời, chạy theo tôi ngay và luôn luôn
bắt tôi đưa xem đồng hào đôi mới.
Chúng tôi vừa mới đến cổng vườn nhà ông Hào, mợ Du ở
một bụi râm bụt lao sầm ra, ôm chặt lấy thằng Dũng vừa
nức nở kêu tên Dũng:
- Dũng! Dũng! Dũng con ơi!
Mợ bế xốc Dũng lên, đẩy cánh cổng chạy vào trong cùng
vườn. Tôi theo vào. Mợ Du đặt Dũng xuống đất, mợ quỳ
hẳn đầu gối, hai tay choàng lấy người Dũng. Vẫn cái
giọng nghẹn ngào ấy:
- Dũng! Dũng! Dũng có nhớ mợ không! Bà có đánh Dũng
không? Cậu có bênh Dũng không? Dũng có nhớ mợ không?
Có thương mợ không?
Dũng không đáp, ngả đầu vào vai mẹ mếu máo:
- Hự! Hự... mợ về nhà với con cơ...
Mợ Du hôn hít vào má, vào trán, vào cằm Dũng rồi khóc
nức nở:
- Giời ơi! Giời ơi! Mợ chết mất! Dũng ơi! Dũng ơi!
Ánh trăng vằng vặc đã gội tràn trề xuống hai gương mặt
đầm đìa nước mắt áp lên nhau và hai mái tóc ngắn dài
trộn lẫn với nhau. Hương hoa cau và hoa lý sáng và ấm
đã xao xuyến lên bởi những tiếng khóc dồn dập vỡ lở
ở một góc vườn, rì rì tiếng dế.
Tôi dần thấy nghẹn ở cổ. Tôi phải bưng lấy mặt và quay
đi chỗ khác: "Mợ ơi! Mợ ơi!".
Đằng kia Dũng cũng: "Mợ ơi! Mợ ơi!".
Tiếng khóc của Dũng và cả chính tiếng khóc của tôi càng
xé lòng tôi ra.
Chợt mợ Du đứng vùng lên, hất mạnh mớ tóc xõa ra đằng
sau.
Thoáng cái, mắt mợ quắc lên sáng ngời và gương mặt trắng
mát của mợ tái hẳn đi. Mợ cắn chặt môi dưới, lắc mạnh
đầu luôn mấy cái. ánh trăng càng chảy cuồn cuộn trong
những đợt tóc đen ánh trở nên hung dài chấm gót của
mợ Dũng.
Mắt người mẹ khốn nạn, mắt đứa con đầy đọa và mắt tôi
đắm vào nhau không biết trong bao nhiêu phút, yên lặng
và tê mê...
Một lúc sau, mợ Dũng dắt Dũng ra ngoài vườn. Tôi chực
chạy ra hè trước, mợ vội chạy theo, kéo tôi lại. Mợ,
một tay nắm tay Dũng, một tay xoa đầu tôi, giọng khàn
khàn và vẫn nghẹn ngào:
- An và em Dũng về nhà nhé. Mấy hôm nữa mợ lại về. Mợ
đã dặn ông Hào rồi đấy, An và Dũng muốn thức ăn gì thì
ăn.
Nói đoạn, mợ cúi xuống lại hôn hít vào trán, vào má
vào cổ, vào gáy Dũng.
Toàn thân tôi lại rung chuyển trước sự quyến luyến này.
Nhìn sự chia lìa đau xót của hai mẹ con Dũng, tôi đã
có cảm tưởng chính tôi là Dũng, và tôi đã có ý muốn
ôm ghì lấy mợ Du, ôm ghì mãi mãi, ôm ghì lấy rồi dù
bị chết cũng cam tâm...
Từ đấy trở đi, mỗi lần mợ Du ở Vinh về là tôi đi gọi
Dũng. Tôi không còn nhớ rõ là tôi đã gọi Dũng tất cả
bao nhiêu lần. Chỉ biết rằng trong một thời gian khá
dài - hơn ba năm - lần nào sự gặp gỡ của hai mẹ con
Dũng cũng làm tôi sung sướng, và lần nào sự chia lìa
của mẹ con Dũng cũng thấm cả nước mắt tôi và làm tôi
bùi ngùi trong sự thương tiếc mênh mông như cái bàng
bạc của đêm thu đầy trăng.
... Bẵng đi 17, 18 năm tôi không một lần nào gặp Dũng
và người mẹ của Dũng đã một thời kỳ từng tai tiếng.
Dũng, tôi gần quên hẳn. Vả lại, dẫu chúng tôi có gặp
mặt nhau, tôi cũng khó nhận ra Dũng sau bao năm đằng
đẵng có thể là một nửa đời người non yếu này.
Nhưng, tôi đã được gặp mợ Du. Thì đó lại là lần cuối
cùng, cuối cùng của cả một đời tắt mãi mãi và cuối cùng
của những dòng chữ viết về một người.
ấn tượng của cái kỷ niệm này không bát ngát bàng bạc
như xưa kia nó hằn với tâm hồn tôi trong cái đêm trăng
sáng, hương hoa cau, hoa lý ngát không khí. Trưa hôm
ấy nắng. ánh nắng vàng rực, các vật ngoài trời đều chói
lòa trong những tiếng rào rào của ánh sáng bị gió thổi
cuồn cuộn như sóng.
Sau đấy, nhất là giờ đây, bất cứ một hình sắc gì của
mợ Du trong cái cảnh buổi ấy đều ngùn ngụt trước mặt
tôi qua một thứ lửa tê tái tỏa ra cả ở trong da thịt
tôi.
Lúc đó vào khoảng hai giờ, hầu hết những người đi làm
đã đến sở mình.
Ngoài phố, những ngã ba, ngã tư, sự ồn ào trào lên chỉ
ở từng khu và cảnh tấp nập không lầm lụi, rối loạn như
trưa nay. Nắng trong dần đi. Sắc xanh pha-lê trên cao
bao la thêm. Nhưng cảnh xuân ở thành thị vẫn không rõ
rệt tươi tốt bằng ở nhà quê với những cánh đồng lúa,
những đình chùa, những con đường đất nổi lên nhịp nhàng
dưới vùng trời khoáng đãng (1) và, với tiếng cười nói,
hỏi gọi của người ta cứ vang vang trong gió. éây vẻ
xuân ăn chơi, vui quên chỉ còn sót lại ở mấy phố ta
trong những nhà cửa vôi mới quét lại hớn hở lên vì nắng,
trong mấy hiệu tạp hóa và trong những đám súc sắc, xóc
đĩa (2) đương họp lén lút với những đám trẻ con bẩn
thỉu mà tôi, thằng bé An xưa kia, hễ có tiền là sống
chết cũng sục vào.
Tôi đương viết tập cho một đứa cháu thì thấy có tiếng
súc sắc, và đứa cháu tôi không nhìn trộm ra ngoài nữa
mà chạy hẳn ra. Bà ở chung nhà với tôi, đi vào, lắc
đầu:
- Thế mà chết rồi!...
Trước nét mặt nhăn nhó chỉ có vẻ buồn cười của bà ta,
tôi bật lên hỏi:
- Thưa bà ai thế? Sao thế?
Bà ta càng làm ra bộ ảo não:
- Cái người mới đến ở nhờ bà cụ Ký bên kia, bán quà
ở gần rạp hát và đầu ngõ ấy mà.
Tôi vẫn không thể nhớ ra là ai. Thấy tôi băn khoăn,
bà ta vừa gắt vừa cười:
- Cái người một hôm cậu bảo tôi gọi lại mua chuối ấy.
Tôi gọi ba bốn lượt, nhưng chị ta cứ đi lùi lũi làm
cậu tức mình, đến tối chị ta rao bán, cậu không mua
mà cho các cháu đi mua hàng khác.
Tôi "à" lên một tiếng, gật gật đầu. Bà nọ
cho thế là đã thỏa cái công việc tò mò của mình và làm
trọn cái sự cổ động lòng thương xót một kẻ xấu số rồi,
lại ngồi xuống vừa chẻ củi chan chát vừa quát tháo chỉ
bảo người nhà. Xong hai trang viết tập cho đứa cháu,
tôi giở sách ra đọc tiếp. Một dòng, hai dòng... năm
dòng, mười dòng... rồi hết một trang, sang trang bên.
Những chữ in nhỏ ấy trước còn từ từ đi vào tâm trí tôi,
hơi chập chờn, lộn xộn với những nghĩa không đằm thắm
mấy. Sau, tôi càng trấn tĩnh bao nhiêu, chú hết cảm
tưởng vào những hình ảnh, những tình tứ trong truyện,
thì chỉ thấy đầu óc càng bừng bừng. Tất cả những cái
tôi đọc để nghiền ngẫm chỉ là một sự rối loạn khô khan.
Tôi đành phải để sách xuống, mắt lim dim, chân tay duỗi
mềm mại, mặc bất cứ cái gì đến trong tâm trí. Nhưng
câu nói trên của bà cùng nhà với tôi bỗng trở lại bên
tai tôi rành mạch từng tiếng. Theo liền những tiếng
thì thầm này, một dáng người co ro, những mảng quần
áo vá víu và một mẹt quà lèo tèo hiện ra, mờ mờ, lành
lạnh. Tôi thấy lòng nao nao và sau thì khó chịu vì sự
vơ vẩn này. Tôi cau mày, định cầm sách lên đọc nốt để
còn làm mấy việc khác.
Một người ở nhờ ở vả, chết đột nhiên và cô độc không
ai thân thích ma chay, một người khốn nạn như thế nhan
nhản ra muốn xem lúc nào chả có. Đằng sau nhà tôi, trong
những xóm nhà lá của những đám người tha phương cầu
thực (3) kia, thường thường lại nổi lên những tiếng
khóc lóc, rên rỉ về sự chết chóc, mà người chết tuy
không một thân một mình nhưng cũng chỉ được đến cỗ ván
mỏng, bát cơm, quả trứng, vài thẻ nhang, và bốn người
khiêng đi vùn vụt như chạy trốn, họ chuyên sống với
cái nghề này và uống rượu...
Tôi đã nghĩ như thế. Tâm trí tôi dần trở nên sáng sủa,
tỉnh táo. Đọc hết cuốn sách, tôi ra đi thong thả ngoài
sân, khoan khoái lâng lâng.
Bọn người chuyện trò vang vang, ra vào nhà có người
đàn bà chết đã ngớt. Bà cụ chủ nhà mượn được cái mành
bèn che chắn ngay lấy chỗ người chết nằm. Trời vẫn nắng
to. Sau bức mành lọc nhẹ đi, làn ánh sáng vàng rực,
cái chõng và thi hài chăm chú trông lại rõ hơn. Tôi
thấy cả những đợt khói lừ lừ tản ra trên đầu người chết
và những đốm lửa nhang rung rung khi gió nổi lên thổi
tan tác những mảnh nắng ở ngoài trời và loạn xạ những
cát bụi trong cái khoảng mầu che cho người chết. Không
tiếng kèn tỉ tê, không tiếng khóc kể lể rên rỉ, không
nồng mùi bồ kết đốt với mùn cưa, cái tử khí đây kia
thăm thẳm, chứa đầy những độc ác, như của một nơi mà
các người chung quanh không còn ai sống...
Bất giác (4) tôi sang sân vào nhà bà cụ. Thoạt thấy
tôi, bà cụ, và mấy người đàn bà sang hỏi thăm, ra đón:
- Cậu sang chơi. Đấy! Cậu xem có khổ không, nhà chị
ta đã sắp thúng định đi chợ mua thêm hàng, nhưng ra
khỏi cửa lại về nằm lịm đi một lúc thế mà đã chết rồi.
Tôi chẳng là họ hàng gì mà phải làm ma đấy. Các bà ấy
cứ trách tôi dễ dãi quá, nhưng thôi, mình cứ ăn ở cho
hết cái tình cái nghĩa đối với những kẻ bơ vơ, khốn
khổ còn thì mặc giời kiêng cho.
Thấy tôi chăm chú nghe, bà lại kể lể tiếp, giọng rất
trơn tru, nào người đàn bà nọ nói không có chồng con
gì cả, nào đi buôn bán mãi Vàng Danh, Cẩm Phả về ốm
yếu quá định về đây lần hồi, nào bà cụ thương tình cho
ở nhờ hẳn một nửa gian, giường chiếu, bát đĩa của bà
cụ tha hồ dùng, nào bao người năn nỉ thuê nhà bà cụ
không được vì các con cái bà cụ đi làm xa, bà cụ chỉ
cần có người sạch sẽ chịu khó và hiền lành bầu bạn với
cụ và các cháu bé của cụ cho vui thôi.
Bà cụ sai cháu rải chiếu cạp điều (5) ra trường kỉ và
rót nước thân mời tôi. Chè hột có gừng, ủ trong bình,
tuy còn nóng sôi nhưng tôi vẫn thấy lờ lợ. Tôi chỉ nhấp
qua rồi sau một lúc yên lặng, đứng dậy đến chỗ người
chết nằm. Bà cụ lại bỏ khách đi theo tôi. Khi chúng
tôi đứng sát cái chõng, bà cụ trỏ vào người chết:
- Chị ta chỉ có mấy cái quần áo mặc theo đi ấy là lành
lặn thôi, còn mấy cái kia rách mướp mườn mượp tôi còn
để đấy mà cũng chẳng ai muốn lấy cả. Một bà trong ngõ
phải mua lại cái chăn của phu xe gán ngoài hàng cơm
để liệm với cái chiếu của tôi. Sáng mai một bà cho cỗ
ván nữa là xong.
Để chứng thực sự ngay thẳng và lòng ăn ở khác thường
của mình, bà cụ kéo ở xó cửa đằng kia ra một cái thúng.
Bà cụ lật vỉ buồm lên, chìa ra trước mặt tôi từng cái
xống áo cũ rách một. Chợt bà kêu lên, qua gọi đứa cháu
gái lớn:
- Khổ quá mày ơi! Những thứ chuối chăn, kẹo bỏng kia
mày còn để đây làm gì! Cho người ta không lấy thì vứt
đi chứ!
Cả tôi cũng phải cau mày lại trước những quả chuối đã
đen nhũn, lấm tấm những lỗ ngó ngoáy và những kẹo vừng,
bỏng bắp ướt át, kiến bâu chi chít. Những đồ hàng cuối
cùng của người đàn bà! Nếu y bán rẻ đi thế nào chả hết.
Nhưng đời nào y chịu lỗ vào cái vốn nghèo ngặt sống
còn của mình. Chẳng phải y, bất kỳ người đầu đường cuối
chợ buôn thúng bán bưng nào cũng thế hết, trong sự làm
ăn bát cơm đổi bằng bát mồ hôi của mình. Và đến phút
hấp hối, người đàn bà nọ vẫn không thể tin được mình
chết. ở cái buổi sáng tưng bừng hôm ấy, phố xá tấp nập,
đâu đâu cũng ồn ào đầy những hình ảnh của sự cố gắng,
mải miết để được sống, ai mà không bíu lấy sự tin tưởng
tốt đẹp?!
Những người trong xóm đi chợ đã lác đác về. Họ đi từng
tốp, chuyện ríu rít, rủ nhau tối nay tắm rửa sạch sẽ
để đi lễ đền, lễ chùa. Xuyên qua bọn họ, những người
gánh nước làm nhớp nháp thêm cái lối vào xóm chật hẹp,
mấp mô tách ra hàng mười ngõ. Bên trong ở những vườn
rau diếp, rau cải, sà lách, và những vườn trồng hoa
bán trên phố tây, những thùng tưới cứ rào rào đưa trên
những luống đất nhỏ tơi, kín sắc xanh mượt và những
sắc hồng tím, vàng, nhung, trắng, tươi mọng... Nắng
và gió tỏa ra lênh láng. ánh sáng trong suốt reo lên
trên những cây cỏ nẩy nở như thổi.
Đứng ở trong này, tôi đã thấy lòng run run. Tôi nghĩ
đến cái giây vừa thở hắt ra, vừa quằn quại của một con
người cách tôi không đầy chục thước mà tôi và cả mọi
kẻ chung quanh đều không hay biết. Tâm trí tôi lắng
sâu hơn nữa. Tôi nghĩ đến cả cái kiếp người kia chắc
chỉ toàn những sự đày đọa, cái kiếp làm thân đàn bà
không chồng con, không thân thích, đâu có kẻ thân mến
là quê hương, gia đình mình, và tất cả sự no ấm chỉ
trông cậy vào sức mình, sự chịu khó của mình.
Tôi hồi hộp nhắc cái vuông khăn tay dòng dọc đỏ phủ
mặt người đàn bà lên. Tôi lặng đi, tê tái nhìn cái bộ
xương hốc hác, gồ ghề, xám xịt. Thay cho gối, tóc y
cuốn thành một mớ đầy, vẫn còn đen nhánh, giá cắt đi
làm một cái đuôi gà thì phải dài, óng ả lắm.
- Cậu này! Cậu xem cái giấy gì và hình gì thế này?
- Vâng! Vâng!
Tôi phải quay lại với bà cụ. Tôi vội vàng đón lấy mấy
tờ giấy đã nhầu nát, nhòe nhoẹt và tấm hình nhỏ tí bà
cụ đưa cho. Không!... Không!... không phải là những
miếng giấy vứt đi, mà là bốn bức thư. Bức, chữ viết
ngòng ngoèo, bức đã thẳng dòng, bức đã có những câu
chấm gẫy gọn và những dấu chấm than và bức, chữ lại
nguệch ngoạc, nhưng rắn rỏi và lời lẽ gay gắt như trong
một bài báo tranh biện. Tất cả, dưới đều kí tên Dũng,
từ những nét ngây ngô trở nên những nét sắc trơn. Tôi
đã suýt kêu lên nhưng cổ họng nghẹn hẳn. Tôi giơ hẳn
tấm hình ra ngoài cửa xem.
Tấm ảnh chụp hai mẹ con kia rõ ràng là mợ Du và thằng
Dũng. Người mẹ ấy đôi mắt vẫn sáng, và cái sống mũi
dọc dừa, cái cằm thon trong gương mặt vẫn đầy tươi trẻ,
tinh anh (6). Còn thằng nhỏ thì bế nâng lên trước mặt
người mẹ, một tay y bịt lấy rốn nó, mặt hơi cúi xuống
với nó nhưng mắt vẫn ngước lên như trỏ cái sự vật đằng
trước cặp mắt bỡ ngỡ của nó cho nó cười thêm. Dưới tấm
ảnh mà tôi không thể nào lầm lẫn được ấy lại còn có
thêm dòng chữ này:
- Kỷ niệm ngày con Dũng của mợ lên hai nhưng mới được
tám tháng.
Và ở một góc có hai dòng chữ nhỏ như kim:
- Dũng ơi! Con của mẹ ơi! Biết đến bao giờ mẹ mới được
gặp con?!
*
* *
Mợ Du đã chết rồi?! Người mẹ khốn nạn kia bị người chồng
sau tình phụ, hay vì y chết, mợ sa sút và cho mình đã
phạm một trọng tội, mợ đành sống lén lút, để khỏi dây
dính đến Dũng? Hay mợ đã tìm đến Dũng nhưng không được
nhìn nhận? Hay Dũng chết rồi? Hay những giấy má, hình
ảnh kia chỉ là của người đàn bà chết bắt được?!
Tôi đã nhiều lúc tự hỏi nhưng chỉ thấy thêm rằng chắc
chắn mợ Du đã chết và những cảm tưởng về mợ chỉ càng
thấm thía, tê tái trong tâm hồn tôi, thằng bé An xưa
kia không còn những dòng nước mắt tràn trề để khóc nữa.
(1939 - 1943)
(Đã đăng một phần trên Tiểu thuyết thứ bảy
số 277 ra ngày 23-9-1939 trong truyện
Những đêm trắng)
Chú giải
(1) Khoáng đãng: rộng rãi, bát ngát.
(2) Súc sắc, xóc đĩa: hai hình thức cờ bạc, đỏ đen (súc
sắc: gieo những quân súc sắc bằng xương. Xóc đĩa: úp
bát xuống đĩa xóc những đồng tiền hai mặt sấp ngửa).
(3) Tha phương cầu thực: kiếm ăn nơi đất khách quê người.
(4) Bất giác: không có chủ ý gì.
(5) Chiếu cạp điều: chiếu cạp vải đỏ chung quanh - chiếu
sang, quý.
(6) Tinh anh: phần tinh túy, tốt đẹp; ở đây có nghĩa
là sáng sủa, linh lợi.
|