| Nhân
ngày mất của Nhà văn Nguyên Hồng ( 01-5-1982 )
Nguyên
Hồng (Bỉ Vỏ )
1982: Ngày mất của nhà văn Nguyên Hồng. Ông tên
thật Nguyễn Nguyên Hồng, sinh ngày 05.11.1918, tại
phố Hàng Cau, thành phố Nam Định. Cha mất sớm, ông
sống với bà nội, nhưng gần như phải tự lập để ăn
học. Năm 1934, ông phải thôi học, ra Hải Phòng dạy
học tư kiếm sống. . Sau 1954, công tác ở Hội liên
hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam. Ông về hưu năm
1970, sống ở Yên thế, tiếp tục sáng tác và mất ở
đó vào ngày 02.05.1982.
Nguyên Hồng viết văn sớm. Sáng tác của ông hướng
về những con người cùng khổ trong xã hội thành thị
Việt Nam đương thời. Ông là nhà văn sớm nhất trong
dòng văn học hiện thực phê phán,
Các tác phẩm chính của ông: tập truyện ngắn “Bảy
Hựu” (1941); "Hai Dòng Sữa” (1943), “Miếng
bánh” (1945); tiểu thuyết “Bỉ Vỏ” (1938); bộ trường
thiên tiểu thuyết Cửa Biển gồm 4 tập : Sóng gầm
(1961); Cơn bão đã đến (1968); Thời kỳ đen tối (1973);
Khi đứa con ra đời (1976); Hồi ký: Những ngày thơ
ấu (1941)…
Nguyên
Hồng - Một đời văn
Nguyên Hồng tên thật là Nguyễn Nguyên Hồng, sinh
năm 1918 tại Nam Định, mất năm 1982 tại Tân Yên
(Bắc Giang).
Nguyên Hồng viết văn sớm, ông xuất hiện lần đầu
tiên trên văn đàn bằng truyện ngắn Linh hồn đăng
trên Tiểu thuyết thứ bảy (1936). Đó là thời gian
Nguyên Hồng sống với gia đình ở Hải Phòng vừa dạy
học vừa cặm cụi viết văn. Nhà văn tương lai với
dáng người nhỏ bé, khuôn mặt xanh xao vì thiếu máu
ấy đ êm nào cũng thắp đ èn viết, viết một cách đau
khổ và say mê. Nguyên Hồng vào nghề văn bằng sự
trình bày thống thiết nỗi khổ ê chề của những con
người nhỏ bé dưới đáy xã hội vốn hàng ngày sống
chung quanh mình. Nhưng phải đến tiểu thuyết Bỉ
vỏ được Giải thưởng của Tự lực Văn đoàn, năm 1937
thì tên tuổi của Nguyên Hồng mới thực sự được khẳng
định. Ông Vũ Ngọc Phan trong cuốn Nhà văn hiện đại
(1942) nhận xét : "Tập văn đầu tiên của ông
là tập Bỉ vỏ... nhưng cái tư tưởng thâm trầm nó
bao quát cả cuốn tiểu thuyết của Nguyên Hồng là
cái tư tưởng : tuy đã sa chân vào chốn trụy lạc,
người ta vẫn có thể mang một tấm lòng trong sạch
được". Bỉ vỏ là cuộc sống thực và cũng là máu
thịt của đời Nguyên Hồng. Chính nhà văn đã có lần
tâm sự về tác phẩm này : "Chính vì những con
người đó mà tôi viết. Tôi nhớ khi mới cầm bút, tôi
chưa nghĩ đến chuyện được đăng báo hay in sách.
Nhưng tôi tin ở trái tim rất lạ của mình... viết
Bỉ vỏ, tôi tự hào ở con đường riêng của mình, nhất
định sẽ được công nhận : một lối viết chân thực
và suy cảm. Phải chiếu rọi ánh sáng vào những kiếp
người cùng khổ nhất. . . Tám Bính là một cái gì
của chính tôi, Tám Bính chính là tôi. Bỉ vỏ là văn
của tôi ".
Nếu tiểu thuyết Bỉ vỏ là bức tranh xã hội sinh
động về thân phận những "con người nhỏ bé dưới
đáy" như Tám Bính, Năm Sài Gòn... thì Những
ngày thơ ấu (Hồi ký, đăng báo 1938, in thành sách
1940) là những trang viết như giống từ con tằm rút
ruột nhả tơ - mình viết về mình dưới hình thức "tự
truyện". Ai cũng có một thời thơ ấu, nhưng
với Nguyên Hồng đó là những ngày tủi hờn và đau
khổ và cũng là những ngày sớm trưởng thành nhờ va
chạm cọ xát với đời sống muôn màu muôn vẻ. Chính
trong sự vật lộn gay go ấy cái phần "thiên
lương" trong con người Nguyên Hồng vươn lên
như một chồi cây mập mạp, mạnh mẽ đầy sự khát khao
sống và hướng về phía trước. Tất cả những điều đó
đã tạo ra cái nguồn mạch tinh thần của nhà văn Nguyên
Hồng, luôn tha thiết với cuộc sống và con người.
Là một người cùng khổ trong xã hội cũ nên Nguyên
Hồng sớm giác ngộ và đến với cách mạng. Ông tham
gia phong trào Mặt trận Dân chủ (1936-1939) ở Hải
Phòng; tháng 9.1939 bị mật thám bắt và 1940 bị đưa
đi trại tập trung ở Bắc Mê (Hà Giang). Năm 1943
Nguyên Hồng tham gia Hội Văn hóa Cứu quốc bí mật
cùng với Nam Cao, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng... Kể
từ đó, Nguyên Hồng vững bước trên con đường mới
của mình, đem văn học phụng sự cách mạng và nhân
dân.
Nếu như Bỉ vỏ là tác phẩm đánh dấu tài năng văn
chương của Nguyên Hồng trước 1945 thì Cửa biển là
cột mốc lớn trong sự chuyển biến tích cực của Nguyên
Hồng từ một nhà văn hiện thực phê phán đến một nhà
văn hiện thực kiểu mới. Cửa biển là tên chung của
bộ tiểu thuyết bốn tập : Sóng gầm (1961), Cơn bão
đã đến (1967), Thời kỳ đen tối (1973) và Khi đứa
con ra đời (1976). Cửa biển đáng chú ý không phải
vì độ dài của nó mà bởi khả năng ôm trùm bao quát
hiện thực cả một thời kỳ lịch sử sôi động đáng nhớ
từ 1939 đến Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945. Đó là
thời kỳ dân tộc ta trải qua những biến cố trọng
đại, những đau khổ tột cùng và cũng đầy hào khí
để tiến tới ngày khai sinh nền dân chủ cộng hòa
của nước Việt Nam. Bộ tiểu thuyết Cửa biển đã phát
huy hết sức mạnh ngòi bút Nguyên Hồng - sự am hiểu
vì đồng cảm đến tận cùng đời sống nhân dân lao động,
tình cảm nhân đạo sâu sắc trước nỗi thống khổ của
con người, sức mạnh tố cáo xã hội cũ và khả năng
dựng nên các tấn bi kịch xã hội. Nhưng cũng chính
ngòi bút ấy được bồi đắp thêm sức mạnh mới, đó là
ý thức miêu tả quá trình cách mạng hóa của các tầng
lớp nhân dân dưới ánh sáng nhân văn của lý tưởng
cộng sản chủ nghĩa. Nguyên Hồng đã đưa những nhân
vật nhỏ bé dưới đáy của mình tắm mình vào dòng thác
lịch sử mới, miêu tả hiện thực con người hướng tới
cách mạng. Nếu như trước (1946) với Nguyên Hồng,
những lý tưởng cách mạng chỉ hiện ra dưới dạng cảm
xúc trữ tình, những khát vọng lãng mạn, những ấn
tượng trực quan thì trong sáng tác mới mà tiêu biểu
là Của biển, cách mạng hiện ra trong toàn bộ tính
cụ thể - lịch sử chân thực - chi tiết của nó. Nguyên
Hồng là người sống trong cuộc cho nên những trang
viết của ông ngày càng trở nên sâu sắc hấp dẫn bởi
một "sự sống ròng ròng tươi nguyên".
Từ sau năm 1954, Nguyên Hồng vừa sáng tác vừa tham
gia nhiều hoạt động khác để xây đắp một nền văn
học mới. Một trong những công việc đáng kể của Nguyên
Hồng là giúp đỡ, dìu dắt các thế hệ nhà văn sinh
trưởng sau cách mạng. Nhiều nhà văn lứa tuổi năm
mươi bây giờ vẫn nhắc đến "thầy Hồng"
của họ. Ông đã dày công đọc kỹ, góp ý tỷ mỉ và truyền
kinh nghiệm nghề văn cho nhiều cây bút trẻ mà sau
này trở nên có tên tuổi. Không những thế, Nguyên
Hồng còn đúc rút những kinh nghiệm sáng tác của
mình trong hai tập tiểu luận thú vị : Bước đường
viết văn (1971) và Những nhân vật ấy đã sống với
tôi (1976) .
Đời văn Nguyên Hồng ngót nửa thế kỷ - nếu nói chính
xác là 46 năm, từ 1936-1982. Nguyên Hồng để lại
một di sản khá đồ sộ, dĩ nhiên tất cả không phải
đều là đỉnh cao. Tác phẩm cuối cùng của Nguyên Hồng
là bộ tiểu thuyết Núi rừng Yên Thế (tập 1 in 1982,
và bản thảo tập 2 khi nhà văn qua đời chưa ráo mực
được in 1985). Người ta vẫn nói Nguyên Hồng "say
đời", "say văn" nên tác phẩm nhiều
chất men say. Người ta vẫn gọi Nguyên Hồng là nhà
văn của những người nghèo khổ. Đúng nhưng chưa đủ.
Phải nói thêm là "Nguyên Hồng - nhà văn chiến
sĩ cách mạng". Nếu nói văn là người thì một
đời văn Nguyên Hồng đã làm hiển hiện điều đó. Đời
văn Nguyên Hồng là một đời văn phong phú và giản
dị.
BÙI VIỆT THẮNG
(Khoa Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội)

|